|
(Thân mến tặng bạn Trương văn Anh và
Trần đắc Mưu)
1) Truyện
kể rằng, khoảng năm 520 một tăng sĩ Ấn độ đến
Trung hoa bằng đường biển. Hội kiến với
Lương Vũ Đế một "hộ pháp nhân vương", thấy
rằng những hạt giống tuệ giác mình định gieo
trồng chưa có mảnh đất thích hạp, ngài lên
phương Bắc đến ngồi đối diện vách đá một nơi
trên núi Hùng nhĩ, chín năm dài chờ đợi cơ
duyên:
"Nhất bát thiên gia phạn
Cô thân vạn lý du,
Thanh mục đổ nhân thiểu
Vấn lộ bạch vân hầu."
(Một bát, cơm ngàn nhà
Thân cô, ngàn dặm xa,
Mắt xanh người ít biết
Mây trắng hỏi đường qua.)
- Và rồi, một
ngày đông lạnh, tuyết bay đầy trởi, mênh mông
cô quạnh! Thầy tu
Thần quang, vốn là kiếm khách giang
hồ, lên núi cầu đạo: quỳ đợi mấy ngày, tuyết
lên ngập gối. Tâm ngưỡng vọng của Thầy đã lên
cực độ, thầy dùng kiếm tự chặt đứt một phần
tay trái của mình để chứng tỏ quyết tâm:
"- Bạch thầy,
TÂm con không an.
- Hãy đưa TÂM đây để ta an cho.
- Con tìm TÂM mà sao không thấy nó ở đâu.
- Vậy là ta đã AN TÂM cho ngươi rồi đó."
Và Thần quang
thoát xác thành Huệ Khả, nhị tổ Thiền tông
Trung hoa cũng như sau này chú tiều phu cư sĩ
thoát xác thành lục tổ Huệ Năng.
2) Giản dị thế sao, và như vậy là thế
nào bạn nhỉ!
Bạn ơi, cảm giác
đầu tiên của mình là bi hùng và tuyệt diệu.
Nền tuyết trắng xóa, máu hồng loang đỏ, ghi
dấu truyền kỳ, tột cùng ý chí. Mình nhớ tới
một tiền thân của Phật Thích Ca chịu hiến thân
xác cho quỷ la sát ăn thịt để được nghe bài
kệ:
"Chư hành vô
thường
Thị sinh-diệt pháp
Sinh-diệt diệt dĩ
Tịch diệt vi lạc."
- Ở đây câu hỏi
là pháp AN TÂM nhưng được trình bày thật dễ
thương vì quá chân thành và mộc mạc: "Bạch
Thầy, tâm con không an!"
Là một kiếm khách hải hồ rồi là một thầy tu
hùng biện, thầy từng chiến thắng nhiều người
bằng thanh kiếm và lời nói nhưng chưa thắng
được tâm mình. Tâm
viên, ý mã: tâm ý như vượn chuyền
cành, như ngựa chạy rong trên thảo nguyên biết
đâu là phương hướng.
3) Khi NHẤT sinh NHỊ, khi có phân biệt
chủ thể - đối tượng thì phải xuất hiện
cơ cấu hưởng dụng và nhận biết (tính năng của
hiện hữu). Bộ ba căn-trần-thức do
nghiệp xoay vần, nghiệp là "chương trình" quy
định mà hệ quả là sự trình hiện vô vàn sai
biệt giới tương ứng.
- Bây giờ người ta biết là từ khi sinh mệnh
hình thành, hệ não bộ được dẫn phát bởi một
chương trình liên tục suốt thọ mạng, phát ra
những tầng số rung động tương ứng vớí những
trạng thái tâm lý. Nó là hòa trộn sinh lý -
vật lý - tâm lý và là kết quả phức hợp của vô
tận những hiện tượng, nói nhỏ thì như cực vi
nguyên tử, nói lớn thì là cả thiên hà.
- Nói theo Phật học thì một trạng thái hạnh
phúc hay đau khổ của tâm là sự tương tác của
biệt nghiệp và cộng nghiệp và sự tương tác này
được diễn tả là "trùng trùng duyên khởi", các
điều kiện hàng hàng lớp lớp tác động vào nhau
tạo ra vô vàn cấu hình được hình dung như dòng
thác đổ.
"A-đà-na thức
thậm thâm tế
Chủng tử hằng chuyển như bộc lưu,
Ngã ư phàm phu bất khai diễn
Khủng bỉ phân biệt chấp vi ngã."
- Tâm nó chuyển
động liên tục và chịu tác động của toàn hiện
hữu thì làm sao mà AN được phải không bạn mình
và thử hỏi xưa nay giàu-nghèo-sang-hèn mấy ai
mà tâm được yên. Đúng là câu hỏi của muôn đời!
- Trong pháp hội Lăng Nghiêm, Đức Phật hỏi về
TÂM thầy A-nan bảy lần trả lời (thất xứ trưng
tâm) mà Phật cũng không xác nhận gì hết vì TÂM
là "chu biến", là "vô sở bất tại", là một
"trường lực" mà các hiện tượng đủ duyên thì
hiển hiện, hết duyên thì ẩn tàng, buồn là
không vui, vui là không buồn.
4) Tất cả các tri kiến tôn giáo đều nói
tới "một ân sủng của Thượng đế", một "phép lạ
của sự TĨNH THỨC" đó là NIỆM: sự chú tâm. Đó
là một trong năm tâm sở biệt cảnh của môn tâm
học Phật giáo. Từ niệm (sự chú tâm) ta đạt tới
định (sự tập trung) và tuệ (cái biết thấu
suốt). Tâm sở niệm có công năng soi sáng hòa
nhập vào cảm thọ và làm thay đổi tình trạng:
"Như ánh sáng
mặt trời
Chiếu soi loài cây cảnh,
Chánh niệm khi thắp lên
Chuyển hóa mọi tâm hành."
- Ngũ căn ngũ
lực tổng cộng là mười trong 37 phẩm trợ đạo
nồng cốt trong giáo lý nhà Phật. Khi
niệm-định-tuệ ăn sâu vào tâm (là căn) nó
phát huy năng lực (là lực) chuyển đổi hệ thần
kinh, trung hòa các độc tố trong thân, hóa
giải các phiền muộn trong tâm, đưa thân-tâm
hợp nhất trong trạng thái quân bình tĩnh lặng:
"Bụt là vầng
trăng mát
Đi ngang trời thái không,
Hồ tâm chúng sinh lặng
Trăng hiện bóng trong ngần."
"Quay về nương
tựa
Hải đảo tự thân
Chánh niệm là Bụt
Soi sáng xa gần."
Sự tĩnh thức đó
là Phật tánh, Phật tâm (Phật tức tâm - tâm tức
Phật)
5) "Ngươi đưa tâm đây ta an cho."
Thầy Thần quang giật mình, bao năm nay mình
dùng tâm nhận biết thế giới bên ngoài, tâm
rong ruổi chạy theo sáu trần, theo cảm xúc thế
gian mà cười đau khóc hận và không AN. Nghĩa
là mình chạy theo cái bóng, cái phóng ảnh mà
cho là sự thật. Bây giờ thử ngưng lại một
chút, chú tâm trở về dùng cái ý thức (cái
biết) nhìn ngay vào cái biết đó coi nó là gì
(phản quan tự kỷ - hồi quan phản chiếu) thì
sao thấy sáu trần chỉ là bóng dáng (pháp trần:
lạc tạ ảnh tử, bóng dáng rơi rớt), rồi lại
thấy cái nền tảng (cái môi trường) mà bóng
dáng đó ảnh hiện. Hình như nó giống như tấm
gương lớn tròn sáng (đại viên cảnh trí) mà
trên đó sai biệt giới ảnh hiện, thuật ngữ gọi
là "kiến tánh", thấy cái tướng của tâm là thể
sáng chói (vô lượng quang). Nhà bác học
Wheeler nói:"Vật chất không thật, chỉ là ánh
sáng bị mắc bẫy." Cái bẫy đó là "nghiệp", chức
năng cấu hình mọi hiện tượng.
- Bạn ơi, mình quá ngưỡng mộ duyên kỳ ngộ
"thầy nào trò nấy". Vị thầy thì đã 150 tuổi mà
còn chống tích trượng du hành Đông độ truyền
pháp đốn giáo đại thừa:
"Nhất hoa sinh
ngũ diệp
Thuyết pháp độ mê tình."
Chín năm dài
thong dong chờ đợi với một nhẫn lực tuyệt với,
mình nhớ bài thơ của Trúc Lâm Điều Ngự:
"Thuở nhỏ chưa
từng hiểu sắc không
Hoa xuân trăm sắc rộn tơ lòng;
Nay đà rõ mặt tuồng xoay-chuyển
Ngồi xem hoa rụng rất thong dong."
Một người trò
quỳ gối chờ đợi mấy ngày, tuy tuyết rơi đầy
gối nhưng có là bao so với 9 năm "im lặng sấm
sét"
"Chín năm trời
Đại hùng
Vách núi nầy chuyển rung,
Ngàn năm về gang tấc
Sát-na đựng vô cùng."
Thì cái đau của cánh tay bị chặt đứt có là
gì!
- Và khi đến cái
đỉnh điểm của nó, của sự bức bách tột cùng của
cơ chế tự tồn (hệ kháng thể) thì năng lực của
sinh mạng phát khởi trên bộ công năng của nó.
Câu nói của tổ: "Vậy ngươi đem tâm ra đây ta
AN cho" khi đó như tiếng sấm sét nổ trên đầu.
Sấm sét của đốn giáo đại thừa! Và cái "tử công
phu" nó hoạt dung liền, nguồn năng lực đó soi
thẳng vào tâm thức bằng sự tập trung cao độ và
hoát nhiên nhận ra các cảm giác khổ đau hay
hạnh phúc, các tơ tưởng, liên tưởng, hồi
tưởng, hoài niệm...gì đó chỉ là các tín hiệu
ánh sáng cấu hình trên "trường" tâm thức. Mình
chạy theo nó, càng bám víu thì khối phức-hợp
đó càng đa dạng hơn mà thôi. Chiếu kiến thì
thấy nó trống không, khi sóng ngừng thì biển
lặng!
- Nói giản dị thì sự chú tâm làm cầu nối, làm
chất xúc tác cho sự lắng trong và tỏa sáng của
tâm thức. Niệm-định-tuệ liên hoàn viên dung
đưa tới sự làm chủ được cảm giác và ý tưởng.
Kinh điển có nói tới tầng mức thứ chín của
định là "diệt thọ - tưởng định."
6) Trong Kinh Lăng nghiêm, 25 La hán và
Bồ tát trình bày cơ duyên chứng ngộ của mình
thì cũng là quá trình niệm - định - tuệ (25
đối tượng chú tâm: 6 căn + 6 trần + 6 thức + 7
đại). Niệm lực bền bỉ đưa tới tập trung vững
chãi dẫn đến sự thấy rõ thực tướng. và vì "vạn
pháp giai không" (mọi hiện tượng đều tương
quan với nhau nên thấu suốt một pháp là tỏ rõ
hết thảy pháp) Ngài Tất-lăng-dà-bà-ta bị gai
độc đâm chân nhân đó quán chiếu vào cội gốc
của cái đau, thấy rõ tự tánh của cảm giác,
hoạt nhiên đại ngộ. Kinh nói là thấy rõ tính
viên thông của các pháp.
- Và trong pháp hội đó, đặc biệt là Bồ tát
Quán thế âm trình bày chỗ tỏ ngộ của mình do
quán chiếu nhĩ căn (phản văn, văn tự tánh).
Ngài trình bày lối tu qua một bài kệ thật là
kỳ ảo:
"Sơ ư văn
trung
Nhập lưu vong sở.
Sở nhập ký tịch,
Động-tịnh nhị tướng
Liễu nhiên bất sinh
Như thị tiệm tăng
Văn-sở văn tiệm,
Tiệm văn bất trụ,
Giác-sở giác không.
Không giác ký viên
Không-sở không diệt,
Sinh-diệt diệt dĩ
Tịch diệt hiện tiền."
Ta thấy các cặp
chủ thể-đối tượng: nhập-sở nhập, văn-sở văn,
giác-sở giác, không-sở không; cùng với các
phạm trù tương phản: động-tịnh, sinh-diệt.
Mình có thể tạm dẫn nghĩa bài kệ như vầy:
"Ban đầu trong
cái nghe
Lắng vào sâu quên tiếng.
Chỗ vào đã yên lặng
Thì hai tướng động-tịnh
Rõ ràng là chẳng sinh.
Như thế cứ tăng dần
Đến hết nghe và tiếng,
Không dừng, đi sâu mãi
Biết thẳng, không phân hai.
Trực giác đã tròn rồi
Xóa phân cách ta người,
Diệt và sinh tự tại
Biển hào quang phơi bày!"
Ta thấy rõ diễn
trình NIỆM-ĐỊNH-TUỆ trong lời dạy cách tu của
Bồ tát Quán âm.
7) "Bạch thầy, con tìm tâm mà không
thấy đâu cả"
"Tam tế cầu
tâm, tâm bất đắc
Thốn tâm mích vọng, vọng hoàn vô,
Vọng nguyên vô xứ tức bồ đề
Thị tắc danh vi chân đạt đạo."
Ý thức tự soi
chiếu lại nó (dĩ tâm quán tâm) thì các phóng
ảnh tự tan rã như sương móc dưới ánh sáng mặt
trời chánh niệm.
Trên bộ sự dụng
công là ở đó! Vọng tình, vọng tưởng hoàn vô,
vô xứ vì nó tự tan rã, và "bồ đề" tức thể tánh
tĩnh lặng của tâm hiển lộ. Mộc mạc thì thấy
tánh, liễu ngộ, thấy bản lai diện mục là như
thế! Ngài Huệ Khả gọi là "chân đạt đạo" .
- Thì ra, niệm kinh, niệm Phật, niệm chú, niệm
thoại đầu công án, niệm chúa, niệm Allah là
như thế! Hành giả đọc kinh thuần thục chú tâm
(TỤNG NIỆM), nhớ nghĩ Phật qua danh hiệu, qua
hình ảnh - hình tượng (TRÌ DANH NIỆM PHẬT,
QUÁN TƯỞNG NIỆM PHẬT, QUÁN TƯỢNG NIỆM PHẬT),
TRÌ TỤNG CHÂN NGÔN, QUÁN TƯỞNG CẢNH GIỚI, THAM
KHÁN THOẠI ĐẦU, HỒI QUAN PHẢN CHIẾU, DĨ TÂM
QUÁN TÂM,...) đều cùng mục đích dùng NIỆM làm
cầu nối đưa tới ĐỊNH - TUỆ và THIỀN NA
(Dhyana: định-tuệ đẳng trì) là như vậy!
- Krishnamurti suốt hơn 70 năm thuyết giảng
cũng là nói về sự chú tâm: từ chú tâm đơn
thuần đến chú tâm hồn nhiên. Ta cũng nghĩ đến
từ "anh nhi hạnh" của Đạo giáo. Vì vậy các
pháp môn đều là phương tiện và phương tiện
thiện xảo khi nó khế cơ. Mình hãy luôn nhớ như
vậy chớ có truy cầu!
"Đã lên non
pháp quên tìm báu
Lần lựa đi về tiếc uổng công!"
8) "THÌ
NHƯ THẾ LÀ TA ĐÃ AN TÂM CHO NGƯƠI RỒI ĐÓ". Hôm
đến Thiền đường Thái bình dương của Tu viện
Lộc uyển, nhìn lên mình thấy hình tượng Đức
Thích ca Mâu ni với hàng chữ NIỆM-ĐỊNH-TUỆ
(SMRTI-SAMADHI-PRAJNA). Thật là giản dị mà đầy
đủ hàm súc! Và các thầy, các sư cô, các cư sĩ
ở Đại Ẩn Sơn lặng lẽ trang nghiêm thực tập
chánh niệm trong mọi sinh hoạt hàng ngày.
- Vua Trần Thái Tông, theo truyền thuyết Lâm
tế, cũng nói là ăn cơm mặc áo, đại tiện tiểu
tiện gì cũng là thiền, nghĩa là khi ta có sự
chú tâm trong cuộc sống thì đó là sự thực tập
thìền.
9) Tôi có một người bạn có lần hỏi
Trịnh công Sơn là tại sao quá thông Phật pháp
mà lại uống rượu thường như thế thì được trả
lời là ông có cái cách của ông. Một người đã
viết lên lời ca:
"Ôi phù du, từng
tuổi xuân đã già, một ngày kia đến bờ, đời
người như gió qua.
Không còn ai, đường về ôi quá dài những đêm xa
người.
Chén rượu cay, một đời tôi uống hoài, trả lại
từng tin vui cho nhân gian chờ đợi."
Uống rượu mà có
thể kiểm soát được cảm giác và tư tưởng, không
cho nó bị chất kích thích dẫn vào mê đồ sắc
dục mà mượn nó làm đà phóng cho thi ca thấm
đậm thân phận con người thì "NIỆM LỰC" đã hơn
phàm phu nhiều lắm.
- Và thế là Thần quang trở thành Huệ Khả - Tổ
thứ hai Thiền tông Trung hoa. Sau đó có khi
làm phụ việc trong quán ăn, có người biết được
đã hỏi là tổ sư sao lại làm thế thì ngài trả
lời là: "Việc của ta
ta biết."
10) Bạn ơi, mình trị lao phổi suốt năm
2006, mỗi sáng sớm uống khoảng 10 viên kháng
sinh thì cả ngày không ăn được gì và sữa thì
không có để uống. Thế mà qua được, bạn có biết
nhờ gì không?
Lúc đó, mỗi trưa 1 giờ trên đài VT1 có chiếu
một tập phim De Chang Kim Hàn quốc. Suốt 60
ngày, mình năn nỉ bà chủ quán cà phê Minh Châu
vặn đài nầy cho mình xem. Và khi thân tâm mình
bị bức bách thái quá thì cái "cơ chế tự tồn"
và tùy tướng của nó là "bản năng dục ái" trỗi
dậy mạnh lắm, cả hệ kháng thể khởi động toàn
bộ tế bào.
- Thì ra vô vàn cơ hội của hạnh phúc vẫn còn
nguyên đó, vẫn còn "những con người như thế"
và toàn bộ sự cao thượng của "tình yêu thăng
hoa" rót vào thân tâm mình niềm hân hoan của
sức sống giúp mình qua được thời gian điều
trị. Nhìn mình coi phim có người nói: "Ông tu
gì mà nhìn chăm bẳm vào Lee Young-ae vậy!" Tôi
cười thầm nhớ tới Krihnamurti: "Khi dục vọng
và khoái lạc, những yếu tố vẫn đục của tình
yêu lắng xuống thì tình yêu chân thật hiển lộ.
Tình yêu đó có phẩm chất của trí tuệ và từ
bi."
11) Đối chiếu chuyện tìm tâm của ngài
Huệ Khả theo khẩu lệnh "đốn ngộ trực chỉ" của
Tổ Bồ đề Đạt ma và chuyện tìm tâm của ngài
A-nan theo sự "khai thị tiệm ngộ" của Đức Phật
bạn thấy thú vị lắm. Cũng như so sánh hai cuộc
hội kiến giữa Tổ với Lương Võ Đế và với Huệ
Khả, một bên nói về "phước đức tiệm tu" một
bên là "công đức đốn ngộ": "trực chỉ nhân tâm
- kiến tánh thành Phật" thì vấn đề rất là sáng
tỏ. Và mình cũng hiểu được vì sao Tổ Hoằng
Nhẫn không chọn "thượng tọa học giả" Thần Tú
làm người kế thừa mà lại chọn cư sĩ đốn củi
giã gạo Huệ Năng!
12) Nói thì dễ chứ thật ra đây là sự
dụng công của nhiều đời kiếp. Mình là phàm phu
mà bàn về chuyện của các tổ sư thì như người ở
dưới chân núi nói về cảnh giới trên đỉnh.
Nhưng nghĩ rằng đây là thời "mạt pháp đa văn",
mình có cơ hội nói chuyện đạo dầu đúng hay sai
cũng là đáng quý, nhất là ở xứ Mỹ nầy.
- Mới ở đây mấy tháng mà tôi thấy đất nước nầy
có nhiều điều hay lắm. Nó cọ xát mài dũa làm
sao mà những người bạn tôi bên nầy đều trở
thành "rất có cá tính" trên cương vị của mình.
Tôi nghĩ là nếu không có biến cố 75, dù bây
giờ các bạn là Đốc sự ngoại hạng đi nữa thì
phong cách cũng không được như bây giờ đâu!
Tôi thực lòng nể phục tính cách của hai bạn
Trương văn Anh, Trần đắc Mưu, cũng như Lữ thế
Cần và tất cả các bạn mà tôi đã hân hạnh gặp ở
Mỹ nầy. Đúng như bạn Nguyễn viết Đức nói, tôi
học hỏi được một phần cái hay của các bạn thì
mới không hổ thẹn là cựu sinh viên QGHC.
Đây là tất cả tấm lòng tôi. Ngưng nhé! Hôm nào
có dịp sẽ tặng các bạn bài thơ năm 72 ở Ký túc
xá Học viện để các bạn có dịp cười về những
vần thơ con cóc!
Thân mến,
Santa Ana
29/08/10
Võ Hoàng Ân |