Không cần phải chờ đến kết quả “bầu cử” vào ngày 26 và 27 tháng 6/2006 vừa
qua tại Quốc hội, ngay từ lúc bế mạc Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần
thứ X, ai cũng biết Ủy viên Bộ Chính trị nào sẽ đảm nhận những chức vụ Chủ
tịch Quốc hội, Chủ tịch Nước và Thủ tướng Chính phủ.
Dư luận không hề ngạc nhiên khi biết
các ông Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Tấn Dũng lần lượt
được “tấn phong”vào những vị trí then chốt đó. Điều đáng tiếc là không một
ứng cử viên nào khác xuất hiện để tranh cử và ḥa thêm vào dàn đồng ca dân
chủ tại diễn đàn nghị viện mặc dù đă có nhiều ư kiến đề nghị như vậy.
Trước khi Quốc hội bỏ phiếu chọn Chủ
tịch Quốc hội, ông Nguyễn Phú Trọng thậm chí c̣n thừa nhận đă dành phần
lớn thời gian trước đó cho công việc nghiên cứu lư luận và “chưa hiểu biết
nhiều về công tác lập pháp và hoạt động nói chung của Quốc hội”, và để
trấn an các đại biểu của dân, ông cam kết sẽ có “quyết tâm cao và phương
pháp đúng” để làm tṛn trọng trách của người đứng đầu cơ quan lập pháp tối
cao.
Đối với hoạt động nghị viện dân chủ
trên thế giới, điều này quả nhiên lạ lùng, bởi lẽ Chủ tịch Quốc hội là một
chức vụ chính trị, rất nhiều người muốn “tranh dành”, các ứng viên phải
vận động tranh cử và t́m cách chứng minh ḿnh có nhiều kinh nghiệm nghị
trường và, quan trọng hơn, có đủ khả năng điều hành một quốc hội đa thành
phần đại diện nhiều lợi ích khác nhau trong xă hội. Họ không thể là người
“khiêm tốn”, tự thừa nhận ḿnh thiếu kinh nghiệm và không cần vận động ǵ
cả, mà vẫn được … “bầu” với tỷ lệ đa số hầu như tuyệt đối.
Ở khía cạnh khác, trong những phiên họp chất vấn bộ trưởng trước diễn đàn
Quốc hội vừa qua, dân chúng một phen choáng váng khi nghe các bộ trưởng,
sau khi trả lời quanh co một số vấn đề mà đại biểu của dân cần được giải
đáp thỏa đáng, đă biện minh cho sự yếu kém trong quá tŕnh thực thi chức
trách của ḿnh bằng cách viện dẫn các quyết định của Đảng, thay v́ nêu ra
cơ sở pháp lư thuyết phục.
Rơ ràng họ, và không chỉ có họ, luôn
cố t́nh quên rằng luật pháp và lợi ích dân tộc là điều duy nhất cần phải
được thượng tôn. Thiếu vắng tinh thần thượng tôn luật pháp và mất đi sự
tín nhiệm của cộng đồng dân tộc, th́ dù có cầu viện đến bất kỳ khiêng mũ
che chắn nào chăng nữa và dẫu có tại vị lâu đến đâu chăng nữa, người dân
vẫn không tâm phục và nh́n nhận những chức phận kiểu như vậy.
Thể chế hiện hành
Cơ chế bầu cử nhiều tầng trước các kỳ
đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó những đại
biểu “ẩn danh” (tại Đại hội X con số này là 1.176) mặc nhiên “đại diện”
quốc dân chọn ra các nguyên thủ quốc gia, là một thực tế lịch sử, dù muốn
hay không, từ nhiều năm nay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền lănh
đạo đất nước.
Khoan bàn đến ưu điểm và nhược điểm
của một cơ chế bầu cử như vậy. Trước hết hăy nh́n khía cạnh “chính danh”
của quy tŕnh lựa chọn các thành viên trong bộ máy lănh đạo quốc gia hiện
nay. Đối với một thể chế nhà nước pháp trị, sự
“chính danh” gắn liền với tính hợp hiến, nghĩa là việc bầu cử nguyên thủ
quốc gia để quốc dân “chọn mặt gửi vàng” phải được minh định trong Hiến
pháp, chứ không từ bất kỳ văn kiện chính trị nào khác.
Theo Hiến pháp Việt Nam, Điều 84.7,
Quốc hội - vốn do toàn dân bầu ra - có quyền “bầu, miễn nhiệm, băi nhiệm
Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc
hội và các ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh
án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm,
cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ”.
Trên thực tế, có thể nói thẳng, ai cũng biết Quốc
hội chỉ “hợp thức hóa” kết quả lựa chọn tại các kỳ Đại hội Đảng.
Đặc biệt gần đây, khi dư luận gây áp lực buộc Bộ trưởng Giao thông Vận tải
Đào Đ́nh B́nh từ chức, thậm chí c̣n đề nghị cách chức ông này, cựu Thủ
tướng Phan Văn Khải đă “tiết lộ” rằng việc cách
chức hoặc miễn nhiệm một bộ trưởng thuộc thẩm quyền của Ban Bí thư Trung
ương Đảng, chứ không phải của Thủ tướng.
Tất nhiên, Hiến pháp hiện hành không cho phép Thủ tướng cách chức một bộ
trưởng, nhưng cũng không trao thẩm quyền đó cho Ban Bí thư. Theo Điều 84.7
nêu trên, chỉ Quốc hội có quyền phê chuẩn việc cách chức bộ trưởng theo đề
nghị của Thủ tướng. Như vậy, tuy thực quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách
chức bộ trưởng thuộc về Ban Bí thư, song thẩm quyền này không “chính danh”
v́ không được hiến định.
Rộng hơn, không chỉ riêng việc bổ
nhiệm, miễn nhiệm hay cách chức này, mà toàn bộ quy tŕnh thông qua quyết
định cũng như đề cử cán bộ cho hoạt động nhà nước trong và ngoài các kỳ
Đại hội Đảng, cũng đều không chính danh như vậy.
Việc điều hành hệ thống quản lư nhà
nước với cơ chế thông qua những quyết sách quan trọng và bầu chọn nguyên
thủ quốc gia, mà trên thực tế do một đảng chính trị quyết định, dù là đảng
cầm quyền, một lần nữa cho thấy Đảng, chứ không phải nhà nước, đang cai
trị quốc gia. Thể chế chính trị như vậy, trong ngành chính trị học, được
định danh là “đảng trị”, chứ không phải “pháp trị”.
Tiến đến thể chế pháp trị thực sự
Trong xu thế dân chủ hóa hoạt động
của Đảng và xă hội sau Đại hội X, cần phải từ bỏ thể chế “đảng trị” nói
trên để chuyển sang thể chế “pháp trị”, đặt đảng cầm quyền và mọi hoạt
động của đảng này dưới sự giám sát minh bạch của luật pháp.
Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm
quyền duy nhất hiện nay tại Việt Nam. Vai tṛ lănh đạo này đă được quy
định trong Hiến pháp hiện hành. Tuy nhiên, toàn bộ hoạt động của Đảng, vốn
ảnh hưởng đến sự phát triển đất nước và vận mệnh dân tộc, lại không được
luật pháp chi phối cụ thể và do vậy khiếm khuyết tính chất chính danh như
đă nêu trên. Danh không chính th́ ngôn không thuận.
Tuy không nói ra, nhưng rơ ràng rất
nhiều người đă không tâm phục khẩu phục khi bị buộc phải mặc nhiên trao
quyền “đại diện” cho 1.176 đại biểu tham gia Đại hội X - mà họ không được
biết danh tính - thay mặt họ thông qua các quyết sách quan trọng, trong đó
có việc lựa chọn nguyên thủ quốc gia. Hiến pháp không thể mặc nhiên bị các
văn kiện của Đảng “qua mặt” và Quốc hội không thể bị những quyết định của
Đảng đặt trước “việc đă rồi” trên thực tế.
Đối với một nhà nước pháp trị, mọi hoạt động liên
quan đến quốc gia đều phải minh bạch. Chuyện của một đảng cầm
quyền không chỉ là chuyện riêng của đảng ấy, và chuyện của 83 triệu dân
không chỉ là chuyện riêng của một nhóm thiểu số 3 triệu người, thậm chí
1.176 người.
Để củng cố vị trí lănh đạo của ḿnh
trong hiện tại, thay v́ phải cầu viện đến lập luận thiếu thuyết phục về sự
“lựa chọn của lịch sử” trong quá khứ,
cần phải chính danh hóa mọi hoạt động của Đảng Cộng sản bằng luật pháp,
đồng thời trao cho người dân thực quyền thách thức năng lực của những ứng
viên do Đảng giới thiệu, thậm chí đề cử những ứng viên ngoài Đảng tham gia
hoạt động nghị trường và điều hành quốc gia.
Nói cách khác, phải chuyển từ thể chế
đảng trị sang pháp trị để đạt được “ngôn thuận” trong nhân dân.