Văn chương cổ điển Nga đă đóng góp biết bao công tŕnh văn hoá cho
nhân loại với những văn hào lỗi lạc, những tác phẩm vĩ đại, bất hủ, trường
giang đại hải : Một Léon Tolstoi sâu sắc đạo đức với Chiến Tranh và Hoà
B́nh, Anna Karénine, Résurrection… Một Dostoievsky đi tiên phong trong
nghệ thuật diễn tả nội tâm sâu kín của con người với Tội Ác và H́nh Phạt,
Anh Em Nhà Karamazov.. Một Pushkin nhà thi hào lớn của mọi thời đại, ta
cũng phải kể một Ivan Tourgueniev với những đoản thiên bay bướm, lăng mạn
tuyệt vời ít ai sánh kịp…
Thời kỳ Cổ điển mà người Pháp gọi là La
Littérature Russe, chấm dứt sau cuộc Cách mạng Vô sản 1917, một
nền văn chương mới ra đời gọi là Văn học Sô Viết,
La Littérature Soviettique. Thời kỳ này
văn chương phải phục vụ tuyên truyền cho Đảng và Nhà nước, nhiều nhà văn
trốn ra ngoại quốc, không có sáng tác nào đáng kể, nền văn chương đột
nhiên xuống dốc … ngoại trừ trường hợp đặc biệt Mikhail Sholokhov. Ông
sinh năm 1905 tại vùng sông Don của dân tộc Cosaque, Sholokhov trưởng
thành trong khói lửa cuộc nội chiến tàn bạo, đẫm máu giữa Hồng quân và lực
lượng nổi dậy của người Cô Giắc sông Don giành quyền tự trị. Sholokhov sinh ra trong một gia đ́nh nông dân Cô Giắc quê mùa dốt
nát, lớn lên ông đi làm thợ thuyền, nhập ngũ, làm kư giả, viết văn. Cuộc
nội chiến bùng nổ dữ dội khi ông c̣n là một cậu bé, chiến tranh đă gợi
hứng cho ông rất nhiều trong sự nghiệp sáng tác văn chương. Mới 20 tuổi
Sholokhov đă xuất bản tập truyện ngắn, năm 1928 ông bắt đầu viết tập thứ
nhất của cuốn tiểu thuyết vĩ đại Tikhy Don, Sông Don Thanh B́nh, khi ấy
mới 23 tuổi. Hồi ấy tiểu thuyết của nền văn chương Sô Viết mới bắt đầu
thành h́nh, năm năm sau, người ta ngạc nhiên về tài năng của Sholokhov và
nhận thấy ở nơi ông một thiên tài của văn học Sô Viết bắt đầu xuất hiện.
Có thể nói Mikhail Sholokhov một thiên tài hiếm hoi của thế kỷ,
sống dưới chế độ độc tài hà khắc sắt máu Staline, tác phẩm của ông nhất là
Sông Don Thanh B́nh đă được nhân dân Liên sô và chế độ ca ngợi như một
thắng lợi lớn lao của nền văn chương vô sản đồng thời cuốn truyện cũng
được thế giới Tây phương vô cùng hâm mộ. Năm 1937 bản tiếng Anh dịch phần
đầu lấy tên And Quiet Flows The Don, đến 1940 Sholokhov hoàn thành tác
phẩm vĩ đại, ông đă giữ được truyền thống vĩ đại mênh mông bát ngát,
trường giang đại hải của thời văn học cổ điển xa xưa. Người Anh dịch tiếp
phần cuối lấy tên The Don Flows Home To The Sea, người Pháp dịch ra lấy
tên Le Don Paisible. Nhà xuất bản ngoại văn Mạc Tư Khoa cũng dịch ra tiếng
Anh toàn bộ tác phẩm này lấy tên Quiet Flows The Don, lời văn trong sáng
dễ hiểu. Tác phẩm cũng đă được dịch ra hầu hết các thứ tiếng trên thế giới
và đă xuất bản hơn 30 triệu cuốn. Có người ví Sông Don Thanh B́nh như một
Chiến Tranh Và Hoà B́nh thứ hai, nhưng thực ra nó có phần hay hơn. Cũng vĩ
đại như Chiến Tranh Và Hoà B́nh nhưng hiện thực, tàn bạo hơn có thể mang
lại hứng thú cho người đọc nhiều hơn cái không khí thi vị giả tạo mà
Tolstoi đă tô điểm cho bức hoạ chiến tranh của ông với những ngọn đồi cỏ
non xanh rợn chân trời, những làn khói súng xanh như khói lam chiều…
Sholokhov đă thoát ra khỏi khuôn sáo cổ điển để mở ra một chân trời mới
của thời đại hiện thực, chiến tranh dưới ngọn bút của ông là một bức hoạ
nhuốm máu, đầy những hoang tàn đổ nát.
Quiet Flows The Don đă được dư luận Đông, Tây coi như một trong
những cuốn tiểu thuyết hay nhất của mọi thời đại, hằng trăm năm mới có tác
phẩm hay như thế. Truyện đă làm sống lại cuộc nổi dậy kiêu hùng của dân
tộc Cô Giắc sông Don chống lại chính quyền vô sản để giành quyền tự chủ và
tinh thần bất khuất của những người nông dân tại quên hương Sholokhov trên
bờ sông Don, nơi đă rền vang tiếng vó ngựa của Hồng quân cũng như của kỵ
binh Cosaques. Từ thời Nga Hoàng xa xưa, người Cosaques đă có tinh thần tự
chủ giành độc lập và nay chính quyền cách mạng làm đảo lộn cơ cấu nông
nghiệp của họ. Người Cosaques đă coi Bolshevik là kẻ thù không đội trời
chung của đức tin Chính Thống Giáo.
Người Hùng Grigory của tác phẩm đă chiến đấu trong hàng ngũ Hồng
quân sau lại tham gia cuộc nổi dậy của dân tộc, cầm đầu mười ngàn tay
súng, người Cosaques tự đúc được súng đạn vũ khí và đă giành được nhiều
thắng lợi trong những trận đánh quyết liệt lúc ban đầu. Sông Don Thanh
B́nh là một bức hoạ vĩ đại toàn cảnh cuộc nổi dậy giành quyền tự chủ của
dân Cosaques, một thiên anh hùng ca tráng lệ của một dân tộc bất khuất
không bao giờ chịu làm thân phận của người bị trị. Có điều lạ, người ta
không hiểu sao Sholokhov lại được nh́n lịch sử, nh́n cuộc nội chiến một
cách khách quan như vậy? Độc giả đă trở thành nhân chứng tận mắt cuộc
chiến tranh tàn bạo ấy, tác phẩm ca ngợi tinh thần bất khuất của người
Cosaques nh́n nhận chính nghĩa của họ chống lại chính quyền Bolshevik … và
Đảng và Nhà nước Sô viết lại cho là có lợi cho họ? Khác với không khí nhẹ
nhàng êm dịu, mỹ lệ của mặt trận trong Chiến Tranh Và Hoà B́nh, Sholokhov
đă diễn tả cuộc nội chiến thật tàn bạo với những cảnh tù binh Cosaques đă
bị Hồng quân chém giết vô cùng man rợ. Có người nói chính Staline đă kư
giấy phép xuất bản Quiet Flows The Don, có lẽ họ muốn lấy ḷng dân tộc
thiểu số người Cosaques, v́ vậy mà cả thế giới đă được thưởng thức tác
phẩm bất hủ này…
Sholokhov mất năm 1984, năm 1965 ông được giải Nobel với cuốn Vỡ
Đất Hoang (Virgil Soil Upturned, Terre Defrichée), một tiểu thuyết vĩ đại
dài bằng Sông Don Thanh B́nh, cuốn này cũng được giải Lénine, một tác phẩm
tuyên truyền về đời sống trong hợp tác xă nông nghiệp, trên thực tế Vỡ
Đất Hoang ít được chú ư tới bằng Sông Don Thanh B́nh. Trong số các nhà văn
Nga được giải Nobel, Sholokhov là người duy nhất được nhà nước cho phép
lănh giải. Boris Pasternak , tác giả Bác Sĩ Jivago, Solzhenitsyn, tác giả
Ṿng Đầu Địa Ngục không dám lănh v́ áp lực chính quyền.
Từ thuở thanh niên ở lứa tuổi đôi mươi, Sholokhov đă viết và xuất
bản nhiều truyện ngắn, đa số hướng về các vấn đề xă hội. Truyện Cái Nốt
Ruồi, The Birth Mark đăng ở đầu tập truyện ngắn được coi là đặc sắc nhất.
Birth mark có nghĩa là dấu hiệu bẩm sinh, chúng ta không có tiếng tương
đương, trong truyện cũng gọi nó là mole, nốt ruồi. Chúng tôi căn cứ vào
cuốn Short Stories, nhà xuất bản Raduga, Moscow, in 1975 do Robert Daglish
dịch ra tiếng Anh, đây là một truyện ngắn hơn mười trang giấy diễn tả lại
cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn vùng sông Don Cô Giắc.
Xin sơ lược.
“Nikolai, chàng thanh niên mười tám, đại đội trưởng, chiến đấu
trong hàng ngũ Hồng quân, người vạm vỡ, già trước tuổi, trong đại đội
người ta thường gọi đùa chàng là cậu bé. Tuổi trẻ tài cao, Nikolai chỉ huy
nhiều trận suốt sáu tháng qua, cậu đă đánh tan hai đội loạn quân mà không
mất một người lính nào.
Nikolai mặc cảm v́ c̣n trẻ và ít học, cha cậu người Cosaques, cậu
c̣n nhớ hồi lên năm, lên sáu, ông đă bế cậu cho ngồi trên lưng ngựa nói
“Con giữ cái bờm cho chắc nhá”. Chuyện ấy đă lâu lắmrồi, cha cậu đă đi
biệt tích từ thời chiến tranh chống Đức hồi Thế chiến Thứ Nhất, không biết
sống chết ra sao, mẹ chàng đă mất. Nikolai thích cưỡi ngựa, tính t́nh dũng
cảm như cha, chàng cũng có một cục thịt nhỏ như trứng chim bồ câu trên mắt
cá chân trái y như cha. Mười lăm tuổi, làm ruộng kiếm ăn từng bữa, rồi
nhập ngũ trong một tiểu đoàn Hồng quân đánh Bạch Vệ.
Có lần tắm sông, người chính ủy bảo Nikolai “Cậu có cái nốt ruồi
như vậy là hên đấy”, cậu đáp “Hên cái ǵ! Tôi mồ côi từ nhỏ, kiếm ăn vất
vả suốt đời mà hên à?”. Một buổi sáng sương mù, anh trung sĩ đến báo cáo
với chàng có bọn giặc tới vùng, ông xă trưởng xin đại đội đến giải cứu họ,
Nikolai tự nhủ “Cứ chém giết nhau măi, ḿnh quá ớn cảnh máu chẩy thịt rơi
rồi, ḿnh chỉ mong đựoc đi học thêm ít chữ nghĩa”.
Hôm nay ông Đội trưởng dẫn năm chục kỵ binh Cosaques sông Don về
địa phương, họ căm thù chế độ Sô Viết, quen chịu gian khổ. Đội trưởng uống
rượu liên miên, đă bẩy năm qua, ông chưa được nh́n thấy mái nhà gia đ́nh
ḿnh. Hồi Thế chiến Thứ Nhất ông bị quân Đức cầm tù, rồi theo Bạch Vệ… và
bây giờ trong đội quân phỉ này.
Đội trưởng dẫn quân vào nhà máy xay lúa lấy thóc làm lương thực
cho ngựa ăn. Trưởng nhà máy vội báo cho Nikolai biết, chàng ta vội tập hợp
binh lính truy lùng địch. Lúc rạng đông, Nikolai căn dặn các chiến sĩ súng
máy kế hoạch tác chiến rồi đại đội tiến vào trận địa. Súng nổ liên hồi như
bắp rang, viên đội trưởng Cosaques quát tháo lính chạy vào rừng, chúng
phóng như bay chạy tháo thân trước lằn đạn đại liên của Hồng quân.
Đội trưởng quay ngựa thấy một kỵ sĩ đơn độc đang lao về phía
trước, hắn múa kiếm loang loáng, áo choàng phồng lên như đôi cánh chim,
trước ngực đeo ống nḥm, ông Đội đoán biết tên này là sĩ quan bèn g̣ cương
ngựa lại, nh́n khuôn mặt trẻ của hắn lộ vẻ giận dữ , ông rút súng lục la
lớn “Lại đây, nhăi ranh, mày múa gươm tao sẽ chém chết mày”. Ông đưa súng
nhắm bắn cái áo choàng khi thấy nó hiện trước mặt, con ngựa chạy khoảng
hai chục thước th́ ngă lăn ra, Nikolai vứt áo choàng chạy lại viên đội,
vừa chạy vừa bắn. Đội trưởng Cosaques tự nhủ “Nó chỉ là thằng nhăi ranh,
mày sẽ chết”. Đợi cho Nikolai bắn hết đạn ông bèn phóng ngựa tới rồi xà
xuống như con diều hâu, ông ta cúi rạp xuống vung kiếm chém chàng thanh
niên ngă gục dưới chân.
Đội trưởng xuống ngựa tịch thu cái ống nḥm của người tử sĩ rồi
tháo đôi ủng của hắn, một bên tháo được ngay c̣n bên kia tháo măi mới ra,
chiếc vớ cũng đi theo ra luôn. Ông Đội thấy phía trên mắt cá hắn cái nốt
ruồi bằng trứng chim bồ câu, bấy giờ mới biết chàng thanh niên là con
ḿnh, phần trang chót xin dịch nguyên văn cho thêm linh động.
“…Rồi từ từ quay mắt nh́n Nikolai y như sợ đánh thức chàng, tay
ông ướt đẫm máu từ miệng chàng ộc ra, ông ta trố mắt nh́n hồi lâu rồi ôm
lấy đôi vai cậu nói.
- Con ơi! Nikolai! Con là xương thịt của cha đây!
Bỗng mặt ông tối sầm lại, la lên.
- Nói đi! Con chỉ nói một lời thôi! Tại sao vậy hả con?
Ông Đội ngả người xuống nh́n cḥng chọc vào đôi mắt đang hấp hối,
lấy tay mở mí mắt đầy máu ấy rồi lay cái xác bất động một lúc… nhưng
Nikolai nghiến chặt đôi hàm răng trên đầu lưỡi tím bầm y như sợ lỡ lời
thốt ra điều ǵ quan trọng.
Đội trưởng cầm bàn tay lạnh cóng của con trai áp vào ngực hôn rồi
đưa mũi súng lục vào miệng ông bóp c̣….
Đến chiều, đoàn kỵ mă hiện ra trước lùm cây, tiếng người tiếng
ngựa vang lên. Một con diều hâu đang rỉa đầu ông đội trưởng, thấy động nó
cất ḿnh bay bổng lên trên bầu trời mùa thu xám ngắt”
Tấn thảm kịch cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn được lồng trong
một truyện ngắn đơn sơ gọn ghẽ nhưng ư nghĩa rộng răi bao la tràn đầy t́nh
yêu nhân loại.
Cảnh chém nhau của một gia đ́nh nằm ở hai chiến tuyến khác nhau,
con chiến đấu trong hàng ngũ Hồng quân, cha lực lượng Cosaques sông Don,
tấn thảm kịch đă thể hiện quá đầy đủ một cuộc chiến tranh tội lỗi, nồi da
xáo thịt.
Nó cũng tiêu biểu cho cuộc chiến tranh tàn bạo giữa lực lượng
Coques sông Don chống lại chính quyền Bolshevik.
Nh́n xa hơn nữa đó cũng là h́nh ảnh tiêu biểu cuộc nội chiến đẫm
máu tại đất nước tác giả giữa Hồng quân và Bạch Vệ v́ những ư thức hệ khác
nhau.
Rộng hơn nữa cuộc chiến tranh của loài người được ông mô tả như
một tội ác bằng h́nh ảnh tiêu biểu cảm động đầy nước mắt.
Con diều hâu rỉa đầu lâu của một xác chết rồi cất ḿnh lên bầu
trời xám ngắt cũng đủ thể hiện h́nh một ảnh ghê tởm của chiến tranh.
Khó mà tin áng văn tuyệt tác như thế lại do một cây bút ở lứa tuổi
hai mươi, người ta thường nói tài không đợi tuổi.
Trọng Đạt
Sông Đông Êm Đềm (Click vào ảnh trên để xem video giới thiệu
Phim)