|
CANH TẬP TÀNG
Xác bắp
non nấu canh bùi ngót
Nếm tập tàng cho ngọt Mẹ ăn.
(Thơ Hoàng Châu)
Mấy chục năm trường nơi Bắc Mỹ Châu, vật lộn
với cuộc sống bất đắc dĩ nầy, lòng con lúc nào
cũng hướng về Mẹ và Quê Hương. Những cơn gió
tuyết hãi hùng, những ngày nắng như thiêu đốt,
những trận mưa đá ầm ầm, những hồi địa chấn
đảo điên không làm con quên được cảnh nắng
chang cát bủn hay cảnh mưa giông đầu mùa tại
quê nhà. Cảnh rồng lấy nước, gà gáy chó tru,
trăng thanh gió mát, sông nước rạt rào, điệu
hò văng vẳng, tiếng hát ru con ù ơ, lúc nào
cũng chập chờn lảng vảng bên con. Con chim mồ
côi rả rít canh trường, gió mát rười rượi qua
cửa sổ, làm con nhớ tiếng gió hú đầu kèo,
tiếng chim vịt kêu chiều thuở trước.
Có những lúc lòng con buồn dã dượi, muốn bịt
tai nhắm mắt mơ về Quê Mẹ. Buồn đến độ tiếng
thỏ thẻ của hài nhi cũng không làm cho con
nguôi ngoai. Con nhớ đến Mẹ, đến hồi Mẹ con
mình chạy giặc Tây ở đậu khắp nơi. Rồi mạo
hiểm trở về Quê Ngoại mà bám đất Quê Hương.
Các Anh Chị phải về Sàigòn để tránh cuộc chiến
càng ngày càng khốc liệt. Con và em con phải ở
lại bên cạnh Mẹ nhưng với năm sáu tuổi đầu có
giúp đỡ được gì đâu !? Mẹ phải vần công cấy,
trả công gặt quần quật quanh năm mà đắp đổi
qua ngày.
Có những khi trở trời đổi tiết, Mẹ cảm thấy uể
oải mà than:
“Mẹ
thấy ễ mình, chắc là nhuốm bịnh”. Mỗi lần Mẹ
bịnh, con thường thoa dầu “Nhị Thiên Đường”
cho Mẹ và lật đật đi kiếm lá ổi, lá bưởi, lá
xả, lá chìa vôi… về nấu xông cho Mẹ.
Mẹ cũng thường dạy con đi hái rau để nấu canh
tập tàng. Canh tập tàng nấu bằng rau từ năm
đến mười loại, nhưng tuyệt đối không có cá tép
hay thịt thà gì cả. Nếu nấu bảy loại rau thì
gọi là “thất hiền”, nếu nấu tám loại thì gọi
là “bát tiên” hay “bát bữu”, nếu nấu chín loại
thì gọi là “cửu trùng”, nếu nấu mười loại thì
gọi là “thập cẩm”. Vẫn nấu y như vậy, nhưng
nếu thêm nước cốt dừa vào thì bấy giờ gọi là
“kiểm” chớ không còn gọi là canh tập tàng nữa.
Đại để các loại rau dùng để nấu canh tập tàng
gồm có:
Bùi Ngót:
Bùi ngót là loại cây nhỏ, mọc hoang bên đường,
hai bên bờ mẫu. Lá bùi ngót nhỏ như đồng tiền,
mọc hai hàng theo loại lá kép. Trái màu hồng
như trái nhản rất đẹp, nhưng không ai ăn. Lá
và đọt bùi ngót luộc nêm chút muối ăn cả nước
ngọt như canh, không cần tép cá.
Mồng Tơi:
Thuộc loại dây leo, lá hình như lá trầu nhưng
dày hơn, có nhớt. Trái chin màu tím mộng bóng
như dâu rừng. Trẻ thơ hay dùng trái mồng tơi
thoa mặt hay vẽ trên giấy trắng. Màu tím trái
mồng tơi chin như màu mực tím rất đẹp. Lá và
đọt mồng tơi luộc ăn hay nấu canh rất ngọt.
Bình Bát:
Thuộc loại dây leo, lá như lá trầu nhưng không
có đuôi nhọn. Trái bình bát như hột mít nhưng
to hơn. Khi gần chín có hai màu xanh đỏ phân
biệt, khi chin mùi thì một màu đỏ thắm tươi.
Chim chóc rất thích trái bình bát chin, nên
hột bình bát vung vải và mọc tứ tung. Lá bình
bát non và ngọn luộc ăn hoặc nấu canh rất
ngọt.
Rau Dềnh:
Loại cây nhỏ, lá như lá “bông mồng gà”. Dềnh
hay dềnh dềnh có hai loại, loại xanh và loại
tím còn gọi là “dềnh dềnh tía”. Cây dềnh có
bông và có nhiều hột rơi rắc khắp nơi, nên mọc
đầy đồng. Cây non cao khoảng một tấc hơn, nhổ
cả rể gốc mà luộc hoặc nấu canh rất ngọt ngon.
Ngọn Bí Đao và Bông Bí Rợ:
Ngọn bí đao mập cở ngón tay út, ngắt phần non
chừng hai tấc, hoặc bông bí rợ vàng hái vô rửa
sạch nấu chung với các loại rau sẽ có món tập
tàng rất ngon. Bông bí rợ nấu lên có mùi thơm
rất hấp dẫn, và màu vàng của bông bí rợ trang
điểm tô canh tập tàng thêm vẻ cao lương !
Dưa Gan:
Dưa gan còn gọi là dưa đắng hay dưa lông. Dưa
lúc còn non ăn có vị đắng và có nhiều lông nhỏ
như trái bí đao non. Dưa gan chỉ ăn lúc còn
non khi hột chưa già hoặc để thật chin mùi nứt
nẻ ăn với đường cát trắng hay đường phèn rất
mát rất thơm. Dưa gan non ăn sống ngon hơn dưa
leo hay dưa chuộc hoặc xắc mỏng nấu canh rất
ngon ngọt.
Dưa Hồng hay Dưa Hường:
Trái tròn bằng trái banh “tennis” hoặc lớn hơn
chút đỉnh. Có những trái tuy đẹt nhưng bổ ra
thấy ruột ửng hồng. Dưa hường để lớn sẽ thành
dưa hấu. Dưa hường thường kho lạt với cá mè
tho, cá lóc hoặc nấu canh rất ngon rất ngọt,
không thua trái bí đao.
Mướp Hương:
Là loại giây leo, có thể làm giàng cho bò lủng
lẳng. Có hai loại mướp: Mướp khía và mướp
hương. Mướp hương mang tên vì khi nấu lên có
mùi hương ngạt ngào hấp dẫn như mùi gạo thơm
Châu Phụng Võ hay gạo nàng hương, gạo nanh
chồn. Mùi thơm mướp hương, dù ai khó tánh cách
gì cũng phải ghiền. Mướp hương gọt vỏ xắc
khoanh nấu tập tàng rất thơm ngon.
Núm Mối:
Khi trời trở mưa dầm và gió bấc lạnh lùng là
đi tìm núm mối. Núm mọc từ những ổ mối đùn từ
trước. Mỗi năm núm thuờng mọc cùng một chỗ
nhưng chênh lệch ngày tùy theo thời tiết. Núm
mối có hai loại: Núm tẻ và núm nếp. Núm nếp
cánh nhỏ hơn khi nở, nhưng chắc thịt và ngon
ngọt vô cùng. Núm mối không phải lúc nào cũng
có. Chỉ những nhà có vườn đất rộng, nhổ núm
mối phơi khô và để dành ăn quanh năm. Thường
thì người ta hay ăn núm rơm hay núm chuối thay
thế, cũng ngon, nhưng ít ngọt hơn. Tương
truyền, những người “nặng bóng vía” ít khi gặp
núm mối. Họ có thể đứng trên đám núm mối giậm
nát nhưng không thấy gì cả. Đi nhổ núm mối
không gì mừng bằng nên tục ngữ có câu “ham như
ham núm”. Đi nhổ núm mối cũng dể gặp rắn độc,
vì rắn rất thích ăn núm tươi. Ốp núm mối vào
một bẹ cây chuối hột mà nướng ăn rất ngọt. Núm
mối có thể hấp hoặc nấu canh đều ngon ngọt
không gì bằng. Cái ngon ngọt của núm mối không
cần nêm gia vị, chỉ cần một chút muối là đủ !
Bắp Non:
Nếu được bắp nếp đều hột vừa ngậm sữa hái vào
xác mỏng nấu canh là tuyệt. Bắp ngậm sữa hái
vào luộc chin rồi mới xác, mục đích là cho sữa
đặc lại, không chảy ra. Bắp non xác, cũng như
rau bùi ngót là món căn bản cho canh tập tàng
được ngọt.
Dừa Khô:
Lựa dừa “mắt sâu” để được “dầy cơm.”. Dừa khô
phải là dừa “quá cứng cạy” và cũng không phải
là “dừa mọng” hay dừa “trăng ăn”. Dừa mọng là
dừa quá khô bắt đầu mọc mầm bên ngoài và có
mọng bên trong lấn gần hết cơm dừa. Mọng dừa
ăn xốp xộp, có vị ngót ngót, còn cơm dừa thì
bớt chất béo đi. Dừa trăng ăn là nơi chỗ dừa
sẽ mọc mọng đã bị hư hủy, có một vòng tròn như
mây quầng bên ánh trăng rằm nên gọi là dừa
trăng ăn. Dừa trăng mới ăn, nước rất ngọt
không thua nước dừa xiêm non, nhưng cơm dừa
lại mỏng, nạo ra không béo bao nhiêu. Nếu
trăng ăn lâu ngày thì dừa đập ra có mùi hôi
dầu.
Chỉ nửa trái dừa khô nạo ra vắt lấy “nước cốt”
mà dùng. Nước dừa đập ra lại dùng thay nước
mưa nấu canh càng có vị ngọt đặc biệt. Canh
tập tàng một khi nấu với nước cốt dừa thì
không còn gọi là tập tàng nữa mà gọi là
“Kiễm”.
Mẹ dạy con bắt một nồi nước mưa chừng hai gáo
rưởi nấu cho thật sôi. Các món rau trái hay
nước cốt dừa vắt sẳn (nếu nấu kiểm). Thả bắp
xác còn tươi (nếu quá ngậm sữa), và dưa và núm
mối vào trước. Tiếp theo là tất cả các loại
rau. Đợi sôi “vài dạo” tức là sôi nhào lên
nhào xuống hai ba lần là nêm chút muối vào và
bỏ tiêu với hành lá và nhắc xuống ngay. Nếu
nấu kiểm thì không bỏ tiêu và hành lá mà thay
vào là chén nước cốt dừa.
Tôi vừa kể mấy loại căn bản để nấu tập tàng
hay kiểm. Đó là kiểm thập cẩm nếu đủ bộ. Nhưng
chỉ cần năm bảy loại kể trên nấu chung là có
món tập tàng ngon ngọt mà không cần thịt cá.
Có khi chế biến như thay vào đậu hủ, bún tàu,
đậu móng chim, đậu giáng, củ co, bạch quả,
măng tre xắt mỏng…
Canh tập tàng thường ăn với muối tiêu. Nếu là
muối hột ba thắc, thì rửa sạch trộn với tiêu
hột bỏ lên vài miếng than miễng gáo. Muối và
tiêu thơm lên thì lấy than ra, thổi cho bay
hết tro bụi, lấy chày đâm nhỏ ra. Nếu không có
tiêu thì đâm với ớt.
Một món mặn khác là cạy nửa miếng dừa “cứng
cạy” hoặc dừa khô, gọt võ lấy phần cơm trắng,
xắc mỏng mà kho với nước muối, không cần nước
mắm. Nếu thêm món xào, thì một mục măng tre
xắt mỏng xào với nước cốt dừa ăn cũng rất hấp
dẫn.
Những món tôi vừa kể đây không phải là những
món ăn chay, nhưng tuyệt đối không thịt cá hay
cả nước mắm đồng. Người ăn kiểm hay canh tập
tàng vô hình chung lại ăn uống đúng phương
pháp dinh dưỡng và ít chất “cholesterol” trừ
nước cốt dừa, vì không phải lúc nào cũng ăn
“kiểm”.!
Ngày xưa, người con bị hàm oan trong tù ngục,
nhìn thấy tô canh hẹ mà nhớ Mẹ vô vàn. Ngày
nay ngàn trùng xa cách, con nhớ Mẹ mà nào có
tô canh tập tàng cho Mẹ.! Quê nhà mình, các
loại rau con vừa kể không thiếu; nhưng ai sẽ
là người đi hái rau nấu canh tập tàng cho Mẹ
ăn.! Chỉ một vùa muối tiêu với trái chuối xiêm
chin mùi, hay trái xoài thanh ca thơm ngọt
cũng đủ cho Mẹ già và lua vội chén cơm gạo mới
dẻo ngon. Một con cá sặc bướm nấu canh chua
bông sua đủa, ai sẽ ngồi gở nạc lựa xương cho
Mẹ bây giờ ? Con nghe chừng một tàu cau rơi
rụng quanh nhà. Ai lượm về để cắt quạt cho Mẹ
mát qua mùa Hạ.? Tu tú bay về báo tin Xuân, ai
mở rương lấy áo cập cho Mẹ ấm lúc Đông tàn
?!!!
Gió Thu se lạnh lòng lử thứ, phản lực buồn
vương khói cuối trời. Kiếp người chóng vánh
như mặt trời lặn cuối Tây, phút le lói nhạt
nhòa theo bóng tối. Đêm tối lại về trùm phủ
khắp nơi nơi. Không trăng sao, mây chất ngất
muôn trùng, lòng thổn thức nỗi hoài hương man
mác….
Mẹ ơi, Con sẽ về bên Mẹ. Ngoái trầu vàng cau
đỏ dạ cho Mẹ ăn. Hái bông trang cúng bàn thông
thiên khấn nguyện. Nén hương lòng cầu Trời
Phật chứng tri.
Lộ đá ngang nhà mình bây giờ hư bể. Nẽo Lộ
Đình còn cát bủn phỏng chưn ? Sông Bình Chánh,
Ba Lai bây giờ đã lạn. Cống ngày xưa sụp lở
thành sông. Vần công cấy, điệu hò xưa đổi mới.
Đám gặt xưa giờ vòng hái không dùng. Ai xách
giỏ bắt nhái bầu nhấp nhử câu rê chờ thời vận
? Ai canh tàn nhìn sao lặn ước tương lai ?
Con không ước mơ xa vời cao cả, chỉ đơn thuần
tô canh tập tàng, mẻ hủn hỉn kho tiêu. Một
tô sứ bát tiên hay ngư tiều canh mục, dù nứt
khờn nhưng là di vật của ông cha. Chén hột dưa
hay tứ quí bình an thơm cơm gạo mới đầu mùa;
Muổng tháp lầu, đôi đủa mung bóng dợn; dĩa lá
tre, nước mắm đồng dầm khoanh ớt đỏ xanh; than
củi trâm bầu không bao giờ tàn trong bếp khói…nay
còn đâu, than ôi.!
Mẹ ơi, con sẽ ngồi ngắm đếm hoa đèn chờ Mẹ ngủ
ngon. Mẹ trở mình mệt mỏi, con ngồi nghe niềm
xúc động dâng tràn… Con chim mồ côi trên ngọn
mít sau hè chip chiu cùng con thức trắng. Mây
kéo ngang, trời đỏ biển Phương Đông….
Con đã về đây hay còn thiếp giấc mơ nồng ?
Không biết nữa. Mơ hay Tỉnh, Con cũng về bên
Mẹ.
Nhựt Khuê
Hollywood, mùa Vu Lan Phật Lịch 2541 (1997)
|