LTG: Theo thói
quen vào mỗi ngày đầu năm, người ta thường suy gẫm nh́n lại
những sự việc và thành quả đă đạt được trong năm vừa qua, để
rồi tự đặt cho ḿnh những mục tiêu và nỗ lực mới cho một chu
kỳ mới. Trong chiều hướng đó, bài viết này được hoàn tất vào
dịp cuối năm Dương Lịch 2006 để chuẩn bị cho Số Xuân Đinh Hợi,
mạnh dạn nh́n vào thực tế của công cuộc tranh đấu cho tự do
dân chủ ở trong nước, để t́m hiểu những khó khăn, trở ngại mà
những người yêu chuộng tự do dân chủ đang phải đối phó ở quê
nhà. Với hy vọng rằng những người ưu tư đến vận mệnh của đất
nước, ở hải ngoại cũng như ở trong nước, ở bên ngoài hay bên
trong chính quyền Cộng Sản hiện nay, t́m được ở bài viết này
một niềm tin vào chính nghĩa tự do, để đi đến một đồng thuận
chung hướng về một vận hội mới của dân tộc và đất nước Việt
Nam.
Cuộc họp thượng đỉnh của Tổ Chức Hợp Tác Kinh Tế Vùng Á Châu Thái B́nh
Dương (APEC), được cử hành tại Hà Nội trong tháng 11 vừa qua, là một cơ
hội để Chính Phủ Cộng Sản Việt Nam phô trương thành tích phát triển về
kinh tế của họ trong môi trường chính trị ổn định, dưới sự khống chế chặt
chẽ của một chế độ toàn trị tại Việt Nam. Nhiều tuần lễ trước cuộc họp
Thượng Đỉnh, các tổ chức chính trị bất đồng chính kiến, ở bên trong cũng
như ngoài nước, đă tích cực hoạt động để công khai hóa những hành vi đàn
áp về mặt chính trị cũng như nhân quyền của Chính Phủ Việt Nam, trước các
nhân vật lănh đạo quốc tế đến tham dự cuộc họp thượng đỉnh về kinh tế này.
Theo bản tin của Hăng Thông Tấn
Reuters cho biết, các nhân vật ngoại giao Tây Phương đă được đọc các bản
Tuyên Ngôn, cũng như Thơ Thỉnh Nguyện của các nhóm bất đồng chính kiến,
cho rằng có thể sẽ có những cuộc biểu t́nh ôn ḥa để phản đối chế độ cai
trị độc đảng và nạn tham nhũng thối nát của giới cầm quyền hiện nay. Một
nhân vật ngoại giao cho biết một trong những Tuyên Ngôn mà ông đă đọc được
là của "Khối 8406". Tên của Khối này
được đặt ra để đánh dấu ngày công bố thành lập của nhóm, có khoảng 2000
chữ kư của các thành viên trong bản Tuyên Ngôn này. Ông c̣n cho biết thêm
"Phong Trào này không có sự hậu thuẫn của số đông quần chúng và hầu hết
người Việt không biết đến tổ chức này". Nhân vật ngoại giao này cũng cho
biết thêm rằng "Dường như số 83 triệu dân có vẻ
hài ḷng về sự ổn định và cải cách của nền kinh tế thị trường đă nâng cao
mức sống của người dân và làm giảm thiểu số người sống trong cảnh nghèo
đói". Các phương tiện truyền thông ở Việt Nam đă tích cực trong
việc tố cáo các hành vi tham nhũng thối nát cũng như chỉ trích hệ thống
giáo dục hiện nay. Tuy vậy các tổ chức hội đoàn, các nhóm áp lực cần thiết
cho một sinh hoạt chính trị đa nguyên vẫn c̣n trong t́nh trạng phôi thai,
ngay cả trong những vấn đề nghiêm trọng liên quan đến các tệ nạn xă hội và
môi trường sống hiện nay.
Từ mẫu tin ngắn của Reuters điểm qua
về t́nh h́nh chính trị, kinh tế và xă hội tại Việt Nam, người đọc có thể
thấy được phần nào sự thờ ơ lạnh nhạt của số đông quần chúng Việt Nam đối
với các sinh hoạt chính trị trong nước. Điều này khiến cho những người trí
thức yêu nước trong và ngoài nước cần đặt lại vấn đề một cách nghiêm chỉnh
để t́m hiểu tâm tư và nguyện vọng của đa số quần chúng, từ đó mới có thể
gây được hậu thuẫn lớn lao của nhân dân cho phong trào đ̣i hỏi tự do dân
chủ trong nước. Nhưng ngoài nỗ lực vận động để có được sự ủng hộ của đa số
quần chúng cho chính nghĩa của ḿnh, những người tranh đấu cho tự do dân
chủ c̣n phải đương đầu với những luận điệu đanh thép và cứng rắn của những
"trí thức xă hội chủ nghĩa", khi số người này đang cố bám lấy những miếng
cơm thừa canh cặn do các chủ nhân ông tư bản đội lốt Cộng Sản ban phát,
bằng cách ra sức đánh phá và đả kích những hệ quả tai hại của việc áp đặt
chế độ dân chủ tự do ở các nước nghèo đói, hầu củng cố sự tồn tại cho chế
độ Cộng Sản ở Việt Nam.
Thật vậy, trong những thập niên gần
đây, các xu hướng biến chuyển của chính trị toàn cầu xác nhận Dân Chủ là
một ư niệm phổ biến thịnh hành hơn bất cứ giai đoạn lịch sử nào. Con số
thống kê cho thấy khoảng hơn hai phần ba các quốc gia trên thế giới đă
thiết lập những tổ chức và cơ cấu cần thiết cho một sinh hoạt chính trị
dân chủ, theo đó dân chúng các nứơc này có thể chọn người đại diện qua các
cuộc bầu cử tự do. Tuy nhiên vào cái thời điểm mà người ta có thể gọi là
sự đắc thắng của chê độ dân chủ tự do trước những thể chế độc tài, toàn
trị. Khi thành phần trí thức và dân chúng của những quốc gia bị đặt dứơi
ách cai trị độc đoán đang tranh đấu một cách dũng cảm để dành được một nền
dân chủ cho đất nước của họ, th́ điều có vẻ nghịch lư là nhiều người đang
sống dưới chế độ dân chủ, lại thờ ơ lạnh nhạt với những sinh hoạt chính
trị trong môi trường xă hội tự do. Đó là chưa kể đến hàng mươi những thí
dụ cụ thể của nhiều quốc gia hiện đang áp dụng chế độ tự do dân chủ vào
sinh hoạt chính trị của họ, nhưng các nước này vẫn chưa thoát khỏi cảnh
nghèo đói với những cuộc khủng hoảng và bế tắc liên tục về mặt chính trị,
xă hội và kinh tế.
Trước những mâu thuẫn đầy phi lư
trên, bài viết này nhằm nhận định lại các vấn đề liên hệ giữa chính trị và
dân chủ, từ tŕnh độ nhận thức của cá nhân đối với các sinh hoạt chính trị
cho đến những mối tương quan giữa các đoàn thể, tổ chức chính trị đối với
đảng cầm quyền. Đặc biệt chú trọng vào những mặt tiêu cực của chế độ dân
chủ tự do mà khối Cộng Sản đang nỗ lực phê phán và khai thác, nhất là khi
có nhiều người đă lầm tưởng rằng tự do dân chủ là một phương thuốc vạn
năng để chữa trị t́nh trạng nghèo đói của các quốc gia chậm tiến. Để rồi
cùng t́m hiểu xem những người Việt trong phong trào tự do dân chủ có những
cơ may nào để đạt được sự hậu thuẫn của đa số dân chúng trong nước hay
không?
CHÍNH TRỊ LÀ LỪA ĐẢO VÀ BỘI TÍN ?
Trong một cuộc thăm ḍ ư kiến ở tại
68 quốc gia áp dụng chế độ dân chủ vào năm 2005 cho thấy quan điểm của số
đông quần chúng cho rằng các chính phủ của họ đă không hành động theo đúng
lời hứa và những nguyện vọng của dân chúng (1). Tỉ số bách phân cao nhất
ghi nhận được về việc dân chúng thiếu sự tin tưởng vào chính phủ là 75%
tại các nước thuộc khối Liên Sô trước đây, sau đó là Âu Châu với 64% rồi
đến Bắc Mỹ (60%). Điều này làm cho người đọc có cảm tưởng rằng sinh hoạt
chính trị, ngay cả trong một chế độ dân chủ ổn định, sau cùng rồi sẽ đưa
đến sự thất vọng bởi v́ chính trị là một quá tŕnh vận động và tranh đấu
gay go để nhằm đưa đến một quyết định tập thể trước nhiều quan điểm và mục
đích mâu thuẫn lẫn nhau. Để hiểu rơ hơn về điều nghịch lư này, chúng ta
cần đặt lại những câu hỏi căn bản như chính trị là ǵ? và liệu con người
có thực sự cần phải tham gia các sinh hoạt chính trị hay không?
Trong một xă hội đa đạng và phức tạp
của thế kỷ 21 hiện nay, chính trị trở nên cần thiết v́ con người trong xă
hội luôn có những quan điểm và tư tưởng mâu thuẫn nhau. Chính Trị là việc
chọn lựa giữa những mục tiêu chống chọi lẫn nhau, phần lớn là do sự phân
phối không đồng đều các tài nguyên (resources), dịch vụ và sản phẩm, vốn
luôn bị hạn chế trong bất cứ xă hội nào. Điểm then chốt ở chỗ, chính trị
là một h́nh thức làm quyết định có tính cách tập thể và một khi quyết định
đó đă được ban ra, quyết định này sẽ được áp đặt lên trên tất cả mọi
người. Trong một xă hội tiến bộ và phức tạp về mọi mặt như hiện nay, hiển
nhiên số đông dân chúng khó có thể chấp nhận cái quyết định chung chung
như vậy v́ nó không thỏa măn được tất cả các yêu cầu của mọi thành phần
dân chúng trong xă hội.
Con người thường chỉ suy nghĩ theo
kinh nghiệm sống của bản thân và những giá trị của xă hội mà họ sinh sống.
Cho nên họ phán xét những quyết định chính trị theo cách nh́n và quyền lợi
của riêng họ. Từ đó họ suy diễn rằng hầu hết những cá nhân khác cũng đều
đồng ư cho đến từng mọi chi tiết nhỏ nhặt với quan điểm của họ. Rằng nếu
tất cả mọi người đi theo cùng một con đường dưới sự hướng dẫn của một tôn
giáo hay bất cứ một hệ thống chính trị hoặc đạo đức nào đi nữa, th́ tất cả
đều có cùng một quyết định như nhau và Chính Trị sẽ không cần thiết đến
nữa. Chính v́ sự thiếu hiểu biết về nguồn gốc đa nguyên tiềm tàng sẵn có
trong xă hội đă là nguyên nhân của nhiều cuộc xung đột đẫm máu của nhiều
thế kỷ vừa qua.
Nguyên nhân của những cuộc tranh chấp
này có thể là sự chọn lựa giữa những lư tưởng được coi là đúng đắn hay sai
lầm. Chẳng hạn như vấn đề xung đột giữa hai ư niệm tự do và b́nh đẳng (đă
bị lạm dụng và xuyên tạc một cách trắng trợn bởi chủ thuyết Cộng Sản).
Hoặc những xung đột phát xuất từ những mối thù hận và thành kiến giữa
nhiều sắc dân khác nhau trong một quốc gia, như các nước nhỏ ly khai thuộc
Nam Tư trước đây, hay các sắc dân thiểu số trong cuộc xung đột nội chiến
hiện nay tại Iraq. Tuy nhiên, ngay cả khi mọi người đều đồng ư với nhau
về những mục đích mà họ cùng theo đuổi, vẫn c̣n có rất nhiều vấn đề có thể
đưa đến sự tranh chấp. Chẳng hạn như phải chọn lựa giữa những biện pháp để
đem ra thi hành, cũng như việc xếp đặt thứ tự ưu tiên và mức độ khẩn
trương của các biện pháp này.
Do đó, có thể nói rằng chính trị là một
sinh hoạt xảy ra trong đời sống hàng ngày của nhân loại. Từ những vấn đề
quan hệ đến chính quyền ở tầm mức quốc gia, cho đến những vấn đề thuộc các
mối quan hệ giữa các tổ chức dân sự trong xă hội với nhau. Hoạt động chính
trị là can dự vào tiến tŕnh bày tỏ, thảo luận, vận động để t́m cách giải
quyết các mối bất đồng và cộng tác với nhau để có được một phương sách
hoạt động chung. Ở một mức độ thấp hơn, chính trị là một cách để ḥa ḿnh
và làm việc chung với người cộng sự của ḿnh, với mục đích t́m kiếm sự hoà
giải các mối bất đồng mà không cần phải dùng đến sự cưỡng bách hoặc bạo
lực để giải quyết với nhau.
Chính Trị, đặc biệt trong một chế độ
dân chủ tự do, sẽ giúp cho con người tự t́m kiếm, với sự kiềm chế của các
bên tham dự, để đi đến một thỏa thuận hầu có thể làm việc chung với nhau.
Như Bernard Crick đă viết trong quyển sách nổi tiếng của ông "In Defence
of Politics": Chính Trị là phương cách vận động và tranh đấu mà chính phủ
của một quốc gia cần phải áp dụng cho các vấn đề có tầm mức quan trọng
trước những quan điểm mâu thuẫn lẫn nhau, để t́m kiếm sự đồng thuận...
Theo đó những phương sách hành động khác nhau luôn được đem ra thảo luận
để cân nhắc và chọn lựa. Chính Trị chỉ là một giải pháp cho vấn đề trật tự
ổn định, nhằm chọn sự ḥa giải hơn là bạo động và cưỡng bách, theo một
đường hướng mà các quyền lợi xung khắc lẫn nhau của các phe nhóm, có thể
cùng nhau thỏa hiệp để duy tŕ sự sinh tồn của cả một tập thể." Tưởng
cũng nên nói thêm rằng Bernard Crick, một lư thuyết gia chính trị người
Anh, cho rằng những lănh tụ theo đuổi lư tưởng của các ư thức hệ bằng cách
xách động dân chúng dùng bạo lực và gây chết chóc là một h́nh thức phản
chính trị (anti-politics). Điều này đă từng được xác định với quan điểm
của Mao Trạch Đọng qua câu nói: "Quyền lực bắt nguồn từ ṇng súng", hoặc
của Joseph Stalin khi ông ta nói rằng "Đức Giáo Hoàng! Thế ông có trong
tay bao nhiêu sư đoàn?". Nếu có ai tự hào cho rằng đó mới là chính trị,
th́ có lẽ chúng ta nên gọi đó là chính trị của một lũ côn đồ không hơn
không kém. Ngay cả khi họ đă nắm được chính quyền rồi, bọn người này vẫn
chưa chịu từ bỏ cái thói côn đồ chuyên dùng bạo lực để đàn áp người dân
vốn thấp cổ bé miệng.
Như vậy, tham gia vào sinh hoạt chính
trị đem lại một lợi lộc lớn lao cho tất cả mọi người, trong đó họ có quyền
chọn lựa, trong những giới hạn chung cho tất cả mọi cá nhân, một cuộc sống
mà họ không phải lo âu sợ hăi trước sự đàn áp bạo lực của nhà cầm quyền. CHÍNH TRỊ TRONG CHẾ ĐỘ TỰ DO DÂN
CHỦ
Dân chủ là một từ ngữ quen thuộc đối
với hầu hết mọi người, tuy vậy đó là một ư niệm vẫn hay bị hiểu lầm và lam
dụng, nhất là khi các chế độ toàn trị hoặc quân phiệt thường huênh hoang
rằng chế độ của họ có sự hậu thuẫn của số đông quần chúng bằng cách tự gán
cho ḿnh cái nhăn hiệu dân chủ. Theo định nghĩa của Tự Điển, Dân Chủ là
chính phủ do dân chúng tuyển chọn trực tiếp hoặc gián tiếp qua các đại
diện của họ bằng một cuộc bầu cử tự do, và do đó họ đă ban phát cho chính
phủ cái quyền năng tối thượng của ḿnh, trong việc điều hành sự quản trị
của quốc gia. Hoặc nói theo ngôn ngữ giản dị của Abraham Lincoln th́ Dân
Chủ là một chính phủ “của dân, do dân và v́ dân”.
Ngoài ra, Dân Chủ và Tự Do cũng là
hai ư niệm thường đựơc sử dụng lẫn lộn với nhau, nhưng hai từ này không có
cùng một ư nghĩa. Dân Chủ thật ra là một tập hợp gồm những quan niệm và
nguyên tắc về tự do, nhưng Dân Chủ cũng bao gồm toàn bộ những lề lối và
tập tục đă thành h́nh qua một tiến tŕnh lịch sử lâu dài đầy gian nan và
thử thách. Tóm lại, Dân Chủ là định chế hóa (institutionalization) Tự Do.
Từ định nghĩa này, người ta đă có thể xác định được những tiêu chuẩn căn
bản để đánh giá xem, qua một quá tŕnh dài thử thách, chế độ đó có phải là
một thể chế dân chủ thực sự hay không.
Dân Chủ như tŕnh bày ở trên có thể
thực hiện qua hai h́nh thức: trực tiếp hoặc qua các đại diện dân cử. Dưới
h́nh thức dân chủ trực tiếp, các công dân có quyền tham gia vào tiến tŕnh
làm những quyết định liên hệ đến tất cả mọi người, mà không cần phải qua
trung gian của một đại biểu dân cử. Một h́nh thức dân chủ như thế chỉ có
thể áp dụng trên thực tế ở các cộng đồng có số người tham dự tương đối
nhỏ. Chẳng hạn như các hiệp hội công nhân, các buổi họp khoáng đại của cổ
đông các công ty, các cộng đồng địa phương…tại những buổi họp ở các hội
trường có thể chứa được số người đến tham dự để làm những quyết định
chung. Thành phố cổ Nhă Điển của Hy Lạp, nơi có nền dân chủ đầu tiên trên
thế giới, đă thực hiện được những cuộc hội họp khoảng 5000 người tại quảng
trường của thành phố với phương thức dân chủ trực tiếp này.
Trong xă hội hiện nay, với kích thước
và sự phức tạp của các thành phần dân chúng, từ những địa phương có khoảng
50 ngh́n người cho đến một quốc gia có khoảng 50 triệu người, phương thức
thực hiện dân chủ thông thường là bầu các đại diện để thay mặt họ làm
những quyết định về chính trị, đặt ra luật lệ và quản trị các phương án kế
hoạch chung cho cả quốc gia. Cách thức bầu cử các đại diện dân cử này có
thể thực hiện bằng nhiều thể thức khác nhau. Nhưng dù được tuyển chọn dưới
bất cứ h́nh thức nào đi nữa, các đại diện dân cử này đều có trọng trách
thay mặt dân chúng và chịu trách nhiệm trước khối cử tri này về những
thành quả hoạt động của họ trong các vấn đề chính trị liên hệ đến địa
phương nơi họ đại diện. Một xă hội dân chủ
Thật ra dân chủ không chỉ là những bộ
luật về Hiến Pháp giới hạn quyền lực hành pháp và những qui định về cách
thức hoạt động của một chính phủ mà thôi. Trong một xă hội dân chủ, chính
quyền chỉ là một trong những thành phần gồm nhiều các tổ chức, công đ̣an,
đảng phái chính trị, và các hiệp hội với nhiều màu sắc khác nhau. Sự đa
dạng của một xă hội dân chủ như thế c̣n được gọi là sinh hoạt đa nguyên.
Các tổ chức này không những hoàn toàn độc lập về tài chính mà c̣n tự định
đoạt lấy đường hướng và phương thức hoạt động với các mục đích riêng biệt
của nó. Trung b́nh người ta có thể đếm khoảng hàng ngh́n những tổ chức này
trong một xă hội dân chủ, hoạt động từ những địa phương nhỏ bé cho các
thành phố to lớn phức tạp hơn. Các tổ chức này đóng vai tṛ quan trọng cho
sự tham gia của người dân trong việc đóng góp tiếng nói, quan điểm của họ
vào các vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến đời sống của dân chúng, mà không
phải lo lắng đến sự nḥm ngó và kiểm soát của chính phủ.
Dân Chủ là quyết định bằng đa số?
Nói đến dân chủ, người ta cũng thường
hay nghĩ đến việc làm những quyết định chính trị bằng luật của đa số.
Nhưng cai trị bằng đa số không có nghĩa là dân chủ. Bởi v́ không có ai cho
rằng đó là một chế độ công bằng khi nó cho phép 51 phần trăm của dân số đè
nén và áp bức 49 phần trăm của số người c̣n lại. Trong chế độ dân chủ,
quyền lực của đa số phải đi chung với sự bảo đảm về nhân quyền và do đó
bảo vệ quyền lợi của nhóm thiểu số này. Những nhóm này có thể có những mầu
sắc tôn giáo, chính trị, các sắc dân thiểu số… nói khác đi đó là những
nhóm ở thế yếu kém hơn trong những cuộc tranh luận về các vấn đề quan
trọng ở tầm mức quốc gia. Quyền của các nhóm thiểu số này sẽ không tùy
thuộc vào sự ban ơn và rộng lượng của phe đa số, cũng như không thể bị
tiêu diệt bởi phe có số phiếu lớn hơn. Quyền của nhóm thiểu số được bảo vệ
bởi luật lệ và các định chế dân chủ cho tất cả mọi công dân trong quốc
gia. Như vậy, chúng ta có thể nói rằng các yếu tố cần thiết cho một chế độ
dân chủ thực sự, dù cho xă hội đó có nhiệu mầu sắc tôn giáo, văn hóa, kinh
tế khác biệt sâu xa đến mức độ nào đi nữa, vẫn phải bao gồm quyền của đa
số; sự bảo vệ quyền của cá nhân và các nhóm thiểu số; và chính phủ phải
tôn trọng luật pháp quốc gia.
Thế nhưng chế độ dân chủ không hẳn là
một hệ thống toàn hảo như chúng ta thường nghĩ. Bởi v́ trong qua khứ, dân
chủ tự do đă từng bị bác bỏ tại nhiều nơi. Họ cho rằng nó yếu kém hơn chế
độ Quân Chủ, chế độ Quư Tộc, Phát Xít, Toàn Trị của Cộng Sản, hoặc bất cứ
một ư thức hệ nào mà các nơi này đă tin tưởng. Để có thể đạt được hiệu quả
tối đa của lư tưởng Dân Chủ, người ta cho rằng xă hội đó phải hội đủ những
điều kiện thuận lợi trước khi áp dụng chế độ tự do dân chủ, nếu không nó
sẽ đưa đến những hậu quả khôn lường. Thậm chí có thể làm quốc gia đó ch́m
đắm trong chia rẽ nội loạn và nghèo đói triền miên.
Dân Chủ có nghĩa là rối loạn?
Đă có nhiều quốc gia yêu chuộng và áp
dụng chế độ tự do dân chủ chỉ v́ khẩu hiệu “ mọi người dân một lá phiếu
đóng góp cho nền Dân Chủ”. Họ đă làm ngơ trước những điều kiện tiên quyết
cần phải có cho một chế độ dân chủ và tin rằng tự do dân chủ sẽ đem lại
những lợi lộc v́ lư tưởng về tự do nhân quyền của nó. Tuy nhiên nếu đó là
những quốc gia nghèo đói, tŕnh độ giáo dục thấp kém và thiếu một truyền
thống lâu đời về trách nhiệm của mọi cá nhân đối với mọi vấn đề trong cuộc
sống và xă hội, th́ có lẽ họ nên đặt lại vấn đề một cách cẩn thận hơn, nếu
không nó sẽ vô t́nh đưa quốc gia đến một chế độ Xă Hội Chủ Nghĩa với cái ư
nghĩa tệ hại nhất của nó, hoàn toàn trái ngược với những ước vọng lúc ban
đầu.
Không phải là hoàn toàn vô lư khi
Quang Linh, một “trí thức xă hội chủ nghĩa” đă viết một bài nẩy lửa đăng
trên talawas "Việt Nam có nên chọn con đường đa
nguyên chính trị hay không" đả kích việc áp dụng dân chủ tự do tại Việt
Nam như sau: “Ở
các nước trên, hiến pháp và hệ thống chính tri được xây dựng theo các
nguyên tắc dân chủ (đa nguyên, tam quyền phân lập) ngay từ khi giành được
độc lập, nhưng trong thực tế do các mâu thuẫn xă hội phức tạp và sự can
thiệp của nhiều thế lực khác (cả bên trong và bên ngoài), nên các cuộc
tranh giành quyền lực giữa các đảng phái chính trị rất căng thẳng và trong
cuộc tranh giành quyền lực đó các nguyên tắc dân chủ thường bị vi phạm
(như gian lận bầu cử hoặc tố cáo nhau gian lận bầu cử, không chấp nhận
thất bại, dùng các biện pháp cực đoan để gây sức ép về chính trị, tiến
hành đảo chính)… Và một khi sự tranh giành quyền lực giữa các đảng phái
dẫn đến sự hỗn loạn về mặt chính tri-xă hội th́ dễ dàng tạo cơ hội cho sự
xuất hiện các nhà độc tài hay các chính quyền quân sự. Như vậy thực ra,
các nhà độc tài và chính quyền quân sự cũng là sản phẩm bất đắc dĩ nhưng
tất yếu của chế độ chính tri đa nguyên, khi nó gặp những điều kiện xă hội,
dân tộc, tôn giáo phức tạp. Đó là thực tế sân khấu chính tri của các nước
như Philippine, Indonesia, Thái Lan, Pakistan, Myanmar… (và cả ở các nước
khác ngoài châu Á, như Chi Lê, Venezuela, Peru, Bolivia v.v…) mấy chục năm
vừa qua và đến nay khả năng khủng khoảng như vậy vẫn tiềm ẩn ở các nước
trên. Và cái chu tŕnh dân chủ > (hỗn loạn) > độc tài (quân sự) > dân chủ
>… cứ lập đi lập lại… và để đạt đến một tŕnh độ dân chủ kiểu như hiện
nay, các nước đó đă mất vài chục năm. Như vậy, nếu Việt Nam lựa chọn con
đường đa nguyên ở thời điểm hiện nay th́ lấy ǵ để đảm bảo Việt Nam không
lập lại con đường “dân chủ” mà các nước đó đă đi qua và phải mất mấy chục
năm nữa Việt Nam mới có được một chế độ dân chủ kiểu như Thái Lan và để có
nó Việt Nam phải trả giá bằng sự bất ổn về mặt xă hội và chậm phát triển
về mặt kinh tế - xă hội đó không ổn định về mặt chính trị như thế nào?...
Tôi đồng ư rằng Việt Nam có điều kiện chính trị xă hội ổn định hơn các
nước trên. Nhưng nếu mở cửa cho đa nguyên xem, bức tranh chính trị xă hội
của Việt Nam sẽ hoàn toàn khác. Lúc đó, dưới quan niệm cực đoan về tự do
dân chủ, đặc biệt khi mà t́nh đoàn kết bị bài xích, ḷng thù hận, sự kỳ
thị và chia rẽ, sự mù quáng và cuồng tín được kích động, dù có các thiết
chế dân chủ cũng không có ǵ đảm bảo rằng các mâu thuẫn về chính trị, sắc
tộc, tôn giáo, địa phương lại không bùng phát..."
Người đọc chắc hẳn không khỏi
giật ḿnh trước những lư luận đanh thép với các trường hợp thực tế điển
h́nh đưa ra trong bài viết trên. Nhưng thật ra Quang Linh đă hiểu lầm khi
ông lập luận dưới “quan niệm cực đoan về tự do dân chủ”. Bởi v́ trên thực
tế không hề có cái gọi là “quan niệm cực đoan về tự do dân chủ”, mà do sự
thiếu hiểu biết của ông về ư nghĩa của một sinh hoạt tự do dân chủ. Nếu
có hỗn loạn, chiến tranh bộc phát rồi đưa đến một nền kinh tế tŕ trệ èo
uột tại những quốc gia áp dụng tự do dân chủ này, là v́ các quốc gia trên
chưa hề có được những điều kiện cần có để áp dụng một cơ chế dân chủ có
hiệu quả. Một số những điều kiện về văn hoá, xă hội ở các nơi này là những
trở lực cho một nền dân chủ ổn định mà chúng ta có thể liệt kê như sau: Ư thức về niềm tự hào của dân tộc
Những giá trị truyền thống của dân
tộc đóng một vai tṛ quan trọng cho việc thiết lập chế độ dân chủ. Mức độ
tự hào về chủ quyền và sự độc lập của quốc gia là một ước vọng biểu thị
tinh thần tự quyết và ḷng yêu chuộng tự do của dân chúng trong nước.
Ngược lại, nếu trong một nước có nhiều sắc dân không cùng chia sẻ một ư
niệm chung sống và đoàn kết trong nước th́ khó đưa đến một chế độ dân chủ
vững bền. Chỉ có 11 phần trăm của dân số Peru là người da trắng đến từ Tây
Ban Nha, số người c̣n lại là thổ dân da đỏ bị ngăn cách v́ những lư do
kinh tế, địa dư và tôn giáo. Khối Liên Bang Sô Viết trước đây đă không có
được một nền dân chủ ổn định cũng là do sự ô hợp của nhiều sắc dân với
những khu vực địa lư khác biệt nhau.
Điều này cũng thể hiện rơ ràng
trong thực tế sinh hoạt chính trị của người Việt tại hải ngoại trong nhiều
thập niên trước. Tuy cùng một dân tộc, cùng một ḷng tự hào và tranh đấu
cho tự do dân chủ, khối người Việt tản mác khắp nơi ở các khu vực địa lư
trên thế giới là một trở lực đáng kể cho nỗ lực tranh đấu chung. Nhiều tác
giả đă chỉ trích cái tính chia rẽ của người Việt và cho đó là cái tính cố
hữu của ḿnh là điều sai lầm. Bởi v́ kinh nghiệm cho thấy chia rẽ và xung
đột nội bộ xảy ra hầu hết đối với tất cả các quốc gia, kể cả các nước ở Âu
Châu như Pháp, Ư trong giai đoạn phôi thai của nền dân chủ. Phải qua một
thời gian thử thách lâu dài với những kinh nghiệm đớn đau, những chính trị
gia lăo luyện tại các quốc gia này mới lĩnh hội và tích tụ được những đức
tính cần thiết cho một nền dân chủ ổn định mà chúng ta sẽ bàn đến trong
phần sau.
Ảnh hưởng của tôn giáo
Cũng như ư niệm tự hào về dân tộc, đa
số những quốc gia có nền dân chủ ổn định lâu đời phần lớn chịu ảnh hưởng
của Cơ Đốc Giáo. Hegel cho rằng Thiên Chúa Giáo đă mở đường cho cuộc Cách
Mạng Pháp đặt nền tảng cho quyền b́nh đẳng của tất cả mọi người. Nhưng tôn
giáo tự nó không tạo ra một xă hội tự do. Thiên Chúa Giáo và Cơ Đốc Giáo
đă phải từ bỏ mục đích nhằm tạo ra một quốc gia thần quyền và trở về quan
điểm xem tôn giáo là vấn đề thuộc lănh vực cá nhân, th́ sau đó những xă
hội tự do mới bắt đầu thành h́nh. Đặc biệt, John Locke đă chủ xướng sự bao
dung (tolerence) và cổ xuư việc chấp nhận sự hoà đồng giữa các tôn giáo
khác nhau để tránh những cuộc thánh chiến có thể tiêu diệt Anh Quốc vào
thời bấy giờ . Ấn Độ Giáo và Khổng Giáo tuy nhắm vào đời sống thế tục
nhiều hơn, nhưng những giáo điều của họ có tính cách nghiêm khắc về tôn ti
trật tự trong xă hội và không công nhận sự b́nh đẳng giữa những con người
với nhau. Hồi Giáo, ngược lại chấp nhận nguyên tắc b́nh đẳng của con
người, nhưng lại không thể hoà giải với chủ nghĩa tự do và sự công nhận
những quyền tự do căn bản, nhất là tự do về tôn giáo và lương tri. Hồi
Giáo c̣n quá khích ở điểm nhằm khống chế toàn bộ sinh hoạt của đời sống cá
nhân, kể cả lĩnh vực chính trị trong quốc gia của họ. Một xă hội bất b́nh đẳng Một trở lực khác cho việc thiết
lập một chế độ dân chủ ổn định là cơ cấu xă hội của quốc gia đó thiếu sự
tôn trọng quyền b́nh đẳng giữa các con người với nhau. Theo Tocqueville,
sức mạnh và sự ổn định của nền dân chủ Mỹ là do sự kiện xă hội Mỹ đă tôn
trọng những giá trị về b́nh đẳng và dân chủ lâu dài trước khi Bản Tuyên
Ngôn Độc Lập và Hiến Pháp Mỹ được thành lập. Những người di dân từ Hoà Lan
và Anh Quốc đến Bắc Mỹ đă đem theo giá trị truyền thống của nước họ. Trong
khi Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đă du nhập vào Ba Tây, Peru và những thuộc
địa của họ tại Trung va Nam Mỹ cái ư niệm chuyên chế của một quyền hành
tuyệt đối, cùng với một xă hội gồm nhiều giai cấp thù hận lẫn nhau.
Ư niệm tôn ti trật tự giữa các giai
cấp xă hội do ảnh hưởng của Khổng Giáo từ hơn vài ngh́n năm nay ở Việt
Nam, vẫn c̣n ăn sâu bám rễ trong lối suy tư của đa số người Việt. Phần lớn
dân chúng c̣n ở tŕnh độ văn hóa thấp kém, thiếu ư thức về sự b́nh đẳng và
quyền tự do của con người, đă chấp nhận tất cả các mệnh lệnh ban ra từ
chính quyền mà không hề đặt câu hỏi hay thách đố những vi phạm trắng trợn
của nó về các quyền căn bản của con người. Chắc hẳn chúng ta đă từng nghe
những lập luận của các “trí thức xă hội chủ nghĩa” đả kích việc thiết lập
chế độ dân chủ tự do, khi họ lập đi lập lại cái điệp khúc “ Những người
dân quê chỉ cần xây cất một cây cầu trong làng xóm của họ chứ không cần
những cái lư tưởng tự do dân chủ xa vời không dính líu ǵ đến đời sống cơ
cực của họ”. Nhưng họ quên rằng đời sống con người luôn luôn sinh động và
diễn biến không ngừng. Trong vài thập niên gần đây sự mở cửa của chính
quyền Cộng Sản Việt Nam để cứu văn nền kinh tế quốc gia đă du nhập một
phần những giá trị cần thiết cho sinh hoạt dân chủ cho đất nước. Một khi
nền kinh tế phát triển và đem lại mức lợi tức no đủ cho đời sống của họ,
người dân sẽ có thời gian dư dả để t́m hiểu và trao đổi thêm với nhau
những khía cạnh của đời sống của họ về tinh thần lẫn vật chất. Từ đó ư
thức về tự do dân chủ mới có cơ hội ăn sâu và bám rễ vào khối đa số quần
chúng ở Việt Nam. Một xă hội dân sự (civil society) với
truyền thống dân chủ Như đă tŕnh bầy ở trên về sự cần thiết của
một xă hội dân chủ trong đó các hiệp hội, công đoàn và các nhóm quyền lợi
sẽ đóng một vai tṛ quan trọng cho sự ổn định của chế độ dân chủ. Bởi v́
dân chủ, theo đúng nghĩa của nó, là dân chúng biết cách tự quản trị lấy
các tổ chức nghiệp đoàn, hay thiện nguyện , cũng như những sinh hoạt của
địa phương họ, th́ họ sẽ có nhiều cơ may thành công trong việc xây dựng và
đóng góp vào sinh hoạt dân chủ ở tầm mức quốc gia.
Kinh nghiệm từ thực tế cho thấy những quốc gia đă
tiêu diệt những cấu trúc của một xă hội phong kiến trước đây, trong đó
ngoài nhà vua ra c̣n có các sứ quân, các công hầu cùng nhau cai quản những
vùng lănh địa khác nhau, để rồi tập trung quyền hành vào nhà nước trung
ương, sẽ gặp những khó khăn trong việc duy tŕ một chế độ dân chủ ổn định.
Trường hợp của Nga Sô và Trung Quốc là một thí dụ điển h́nh trong thời kỳ
tiền cách mạng, khi quyền cai trị tập trung ở Trung Ương trong tay các vị
hoàng đế của họ. Để rồi sau khi các cuộc Cách Mạng xảy ra, hai quốc gia
này đă trở nên những chế độ toàn trị sắt máu nhất của thế kỷ 20. Đó cũng
là trường hợp khó khăn của các quốc gia Tây Âu như Pháp và Tây Ban Nha.
Chế độ phong kiến của hai nơi này đă bị hoàn toàn tiêu diệt bởi việc tập
trung quyền hành vào chế độ quân chủ của Đế Quốc Pháp và Tây Ban Nha ở thế
kỷ thứ 16 và 17. Do đó làm suy yếu tập tục và khả năng của các lănh địa
trong việc tự quản trị lấy những vấn đề nội bộ ở tầm mức địa phương. Lịch
sử đă cho thấy rằng sau cuộc Cách Mạng , Pháp đă phải trải qua tất cả năm
nền Cộng Hoà đầy hỗn loạn trước khi có được một nền dân chủ ổn định như
ngày nay. Chính Trị và Văn Hoá Tất cả các yếu tố của xă hội đề cập ở
trên: niềm tự hào dân tộc, yếu tố tôn giáo, một xă hội b́nh đẳng và dân
sự, tạo nên nền văn hoá đặc sắc của quốc gia, và mức độ ảnh hưởng sâu đậm
của nó trong dân chúng sẽ quyết định sự thành công của một chế độ dân chủ
ổn định. Nó giải thích tại sao cũng cùng một khuôn mẫu của hiến pháp dân
chủ tự do được đem ra áp dụng thành công tại một quốc gia, lại gặp phải
những trở ngại và bị bác bỏ tại những quốc gia khác.
Tuy nhiên đây cũng chỉ là những nhận xét
thông thường trong lịch sử mà không phải là không có những ngoại lệ của
nó. Bằng chứng là nước Đức vào thời gian trước chế độ độc tài Đức Quốc Xă
đă có những yếu tố văn hoá cần cho một sinh hoạt dân chủ ổn định: một quốc
gia thống nhất, một nền kinh tế phát triển, chịu ảnh hưởng của Cơ Đốc
Giáo, có một xă hội dân sự lành mạnh. Nhưng v́ mức độ tự hào dân tộc quá
cao của nước Đức đă làm mù quáng các nhà lănh đạo lúc bấy giờ và đưa đến
những quyết định sai lầm về mặt chính trị, ở cùng vào thời điểm với sự
thành h́nh của những ư thức cao đẹp về việc công nhận những giá trị nhân
phẩm giữa con người với nhau.
Ngoài ra cũng có những trường hợp mà người
ta cho rằng một số các quốc gia đă không đủ yếu tố để áp dụng chế độ dân
chủ ổn định, thế nhưng thực tế đă đưa đến những kết luận trái ngược. Chẳng
hạn như Ấn Độ là một nước có nhiều giai cấp theo Ấn Độ Giáo, có một nền
kinh tế kém mở mang, nhưng đă xây dựng một nền dân chủ lâu bền sau khi thu
hồi độc lập từ năm 1947. Hoặc như các quốc gia Đông Âu và Nga Sô, khi các
nước này không có những tập tục truyền thống về dân chủ lâu đời, nhưng
ngày nay đă có tất cả những định chế cần thiết cho một chế độ dân chủ.
Do đó nếu chúng ta khẳng định rằng không
thể áp dụng tự do dân chủ vào những nước không có văn hóa và truyền thống
dân chủ th́ có lẽ chẳng bao giờ thế giới lại có những chế độ tự do dân chủ
ổn định được. Điều này chứng tỏ rằng việc áp dụng dân chủ vào một xă hội
phải bắt đầu bằng một quyết định chính trị. Và việc làm quyết định chính
trị hoàn toàn độc lập với những yếu tố văn hóa. Ở đây chính quyền sẽ đóng
một vai tṛ quan trọng trong việc uốn nắn và giáo dục dân chúng để tạo nên
một nền văn hoá thuận lợi cho nền dân chủ tự do. Bởi v́ người Mỹ không
phải sinh ra đă b́nh đẳng, mà v́ họ đă được làm cho b́nh đẳng trước khi có
sự thành lập của Hiệp Chủng Quốc, với sự tự trị của các chính phủ tiểu
bang và độc lập với chính phủ Anh Quốc.
Như thế Văn hoá không có tính cách tĩnh mà nó là
sản phẩm của con người làm ra qua một quá tŕnh lâu dài. Cho nên một chế
đô dân chủ ổn định cần có những chính trị gia đầy năng lực và khôn ngoan.
Họ là những người thấu hiểu được những phương thức vận động chính trị,
cũng như có khả năng bảo vệ và hiện thực những ước vọng của dân chúng trở
thành những tập tục và định chế chính trị dân chủ ổn định. Điều này sẽ là
điểm then chốt để đánh giá thực tâm của giới cầm quyền tại Việt Nam hiện
nay nếu họ có ư định thay đổi chế độ hay không. Bởi v́ những tập tục và
truyền thống dân chủ này sẽ phải mất nhiều thập niên để có thể bám rễ vào
cách thức suy nghĩ và hành động của quần chúng. Hơn nữa không có một thời
điểm nào thuận lợi hơn lúc này khi đất nước đang trên đà biến chuyển về
kinh tế và luật pháp trước những đ̣i hỏi của tiến tŕnh hội nhập vào sinh
hoạt quốc tế. Cho nên phong trào tranh đấu cho dân chủ tự do phát động tại
Việt Nam hiện nay là điều tất yếu, và các nhà lănh đạo cũng như chính
quyền Cộng Sản Việt Nam nên bắt lấy cơ hội này để tạo nên một môi trường
uốn nắn cách thức suy tư của dân chúng, trước khi đi đến quyết định quan
trọng để thay đổi chế độ cho Việt Nam. Những đức tính cần thiết cho một nền dân
chủ tự do Như đă tŕnh bày, sinh hoạt chính trị
trong chế độ tự do dân chủ có nghĩa là làm một quyết định trong đó có sự
tính toán nhiều khi phi đạo đức và thiếu t́nh cảm. Bởi v́ một số những ước
vọng của các nhóm thiểu số sẽ không hoàn toàn được thỏa măn theo ư nguyện
của họ, mà được chia sẻ nhiều khi không đồng đều giữa những quyền lợi trái
ngược lẫn nhau của các nhóm. Bắt nguồn từ quan niệm khế ước xă hội của
Thomas Hobbes và John Locke, các chính quyền dân chủ tự do đă học hỏi từ
những cuộc tranh chấp lâu dài với dân chúng, cũng như đă gây dựng cho dân
chúng một nền văn hoá tính toán hợp lư cho tập thể, thay v́ chỉ nhằm thỏa
măn những quyền lợi vị kỷ của nhóm thiểu số của họ mà thôi. Do đó, những
quan niệm đạo đức chọn lựa giữa những điều đúng hay sai trong sinh hoạt
của các cộng đồng trong xă hội sẽ được thay thế bởi những giá trị mới về
dân chủ như: “ dấn thân”; “hợp lư”; “ thế tục”; “cộng tác”; “thông cảm” và
“bao dung”.
Dĩ nhiên những giá trị dân chủ này, thoạt
tiên, không nằm trong những giá trị đạo đức của mỗi cá nhân. Những gía trị
này chỉ được thành h́nh như một thói quen cần phải có để sống một cách hoà
b́nh trong một xă hội tự do và thịnh vượng. Cho nên để bảo đảm cho chế độ
dân chủ thành công, công dân của một quốc gia dân chủ phải để qua một bên
những giá trị đạo đức của cá nhân họ, nếu có những mâu thuẫn giữa cá nhân
và những quyết định dân chủ, và gây dựng niềm hănh diện tự hào, đôi khi
phi lư, trong hệ thống chính trị dân chủ và đời sống của họ. Có nghĩa là
họ phải yêu chuộng dân chủ, bởi v́ đó là một chế độ tốt đẹp hơn những chọn
lựa khác. Hơn nữa, người dân không nên xem ḷng “bao dung” như là một
phương tiện để đạt đến cứu cánh, mà phải xem nó như là một đức tính thiết
yếu cho một xă hội dân chủ. Một khi người dân đă thành công trong việc
đồng hoá những “giá trị dân chủ” này với những giá trị cá nhân của họ, th́
lúc đó có thể nói rằng chúng ta đă gây dựng được một nền “văn hoá dân chủ”
trong dân chúng, cần thiết cho sự ổn định cho chế độ dân chủ lành mạnh và
lâu bền. Có như thế chúng ta mới tránh được những thù hận, chém giết mà
những quốc gia tập tễnh bước chân vào sinh hoạt dân chủ trước đây đă phạm
phải. Đến đây, người viết có thể gọi đó mới đích thực là “quan niệm cực
đoan về tự do dân chủ”, chứ không phải là quan niệm cực đoan về tự do
dân chủ có nghĩa là có thể làm bất cứ điều ǵ ḿnh muốn như ông Quang Linh
đă hiểu lầm trong lập luận của ông. Bởi v́ điều đáng buồn là ông chưa từng
sống trong một chế độ tự do dân chủ nên ông không thể hiểu được ư nghĩa
đích thực và sâu xa của nó như thế nào.
Lược qua những điều tŕnh bầy ở trên,
người đọc có thể nhận thấy rằng không những tham gia vào chính trị là một
việc cần thiết trong giai đoạn tranh đấu cho tự do dân chủ, nhưng ngay khi
đă có được sự thay đổi của chế độ, sự dấn thân vào chính trị c̣n cần thiết
hơn nữa để củng cố và bảo vệ thành quả chung đó v́ những lư tưởng cao đẹp
của nó. Chúng ta có thể hoạt động chính trị mà không cần dân chủ, nghĩa là
nhà nước của chế độ toàn trị sẽ làm những quyết định thay cho toàn thể dân
chúng mà không phải chịu một trách nhiệm ǵ đối với khối đa số này. Nhưng
chúng ta không thể nào có dân chủ nếu người dân không tham dự vào các sinh
hoạt chính trị trong nước. Bởi v́ như thế chế độ dân chủ sẽ mất hết tất cả
ư nghĩa nguyên thuỷ của nó. Chỉ có tham gia vào các sinh hoạt dân chủ,
chúng ta mới có thể nhận thức sâu xa những điều kiện và yếu tố quan trọng
để có được một nền dân chủ ổn định. Và cũng bởi v́ một lẽ đơn giản là, nếu
chúng ta không gơ cửa th́ sẽ không có ai mở cửa cho chúng ta vào. Cho nên
trách nhiệm sau cùng của nền dân chủ lành mạnh nằm ở trong tay những công
dân có trách nhiệm, bằng cách sử dụng lá phiếu một cách khôn ngoan, cùng
với sự tham gia của họ vào những quyết định hợp lư, để chứng tỏ với những
kẻ chủ trương chế độ toàn trị rằng họ không có quyền khinh miệt ư chí, sự
sáng suốt và nhân phẩm của tập thể quần chúng. Những kẻ chủ trương chế độ
toàn trị phải chấm dứt hẳn việc đối xử với số đông này như những kẻ hoàn
toàn không thể nào tin cậy để giao cho họ trách nhiệm làm những quyết định
quan trọng cho đất nước.