Chiều nay, Ðính vừa
mở computer thì nhận được điện thư của Thăng, người em họ cho biết tin vắn
tắt “Chú Tư bị ung thư gan thời kỳ thứ ba chắc khó qua khỏi, anh làm ơn
nhắn cho chị Hoàng và anh Hân biết dùm em, số điện thoại của chú ấy là. .”
Ðính tự nhiên thấy một niềm bồi hồi lo âu xâm chiếm lấy tâm hồn anh vốn
đang thanh thản từ bấy lâu nay.
Ðính vội điện thoại cho Hoàng, cô em ở gần đây cho biết
hung tin rồi bảo.
- Chắc mình cũng phải xuống thăm chú ấy, sợ rồi không
có dịp gặp chú nữa.
Cô em cũng đồng ý.
- Ờ ờ chắc phải đi rồi. . để xem, có gì tôi sẽ nói sau.
Chú Tư năm nay đã bẩy mươi tuổi nhưng trông hình còn
trẻ lắm, hồng hào, khoẻ mạnh, thế mà ai có dè đâu đang không lại có tin
sét đánh ấy y như trời đất nổi cơn gió bụi. Chú là em thứ tư trong nhà,
tuổi nhỏ, tuy là vai chú nhưng đối với các cháu trong họ chú Tư chỉ hơn họ
bốn, năm tuổi hay tám, chín tuổi là cùng, tại đây chú bằng tuổi anh Hân,
anh Trường. Hồi còn nhỏ tại làng Ðông Lao ngoài Bắc xa xưa, các cháu đã
cùng chú rong chơi ngoài đồng lúa, bắn chim, tắm sông, câu cá...cùng cắp
sách đi học trường làng, lớn lên cùng đạp xe lên tỉnh học... các cháu cũng
là bạn thân của chú mặc dù chú ngang hàng cha mẹ...
Thế rồi đất nước chia đôi, họ hàng phần nhiều bỏ trốn
Cộng Sản vào Nam tìm tự do, họ sinh sống tại Sài Gòn, một thành phố rộng
mênh mông bát ngát ấy thế mà lại tìm được nhau, liên lạc được với nhau
thăm hỏi nhau y như thời còn sống trong lũy tre xanh miền Bắc. Chú Tư và
các cháu lại được hội ngộ, thăm hỏi trò truyện với nhau y như những ngày
còn sống sau lũy tre xanh. Rồi Cộng Sản xua quân chiếm miền Nam, họ hàng
lại kéo nhau chạy ra ngoại quốc, vài gia đình đã nhanh chân chạy thoát từ
hồi năm 75, số còn lại đi vượt biên, đi bảo lãnh, hoặc theo diện cải tạo
HO. . phần nhiều vào Mỹ, rồi cũng lại liên lạc được với nhau.
Chú Tư đi cải tạo rất lâu, gần mười năm mới được thả
về, trong số mấy người cháu trong họ bị giam giữ như Ðính, Thăng, Hân, chú
Tư là người tù lâu nhất. Họ hàng hồi ấy chờ mong mãi mới thấy chú được về.
Thời ông Diệm chú thi đỗ vào trường sư phạm, chú mừng lắm, ra làm giáo
viên có đồng lương bảo đảm, rồi chiến tranh ngày càng lan tràn mở rộng,
chú Tư bị động viên vào trường bộ binh Thủ Ðức, mãn khóa chú đi làm tại
một chi khu quận ở Kiến Hoà, mấy năm sau lại đổi ra miền Trung, chú bị
thương trong một trận giao tranh, người lính thân cận cõng chú chạy thoát.
Chú được biệt phái trở về nhiệm sở cũ ngành giáo dục, cấp bậc Đại úy bên
quân đội, chú học thêm một khóa hai năm rồi thành giáo sư trung học đệ
nhất cấp.
Chú đi cải tạo bị giam lâu phần vì Việt Cộng nó ghét
nhất những người sĩ quan biệt phái, nó nghĩ đây là những người được đưa
sang ngành giáo dục để dò xét cán bộ nằm vùng của nó, có thể phần vì chú
khai thật quá, những người tù cải tạo bị giam lâu hay chóng phần lớn do
quá trình hoạt động và nhất là tại những lời khai sơ hở của chính mình.
Hồi còn cải tạo, chú xui xẻo gặp toàn những trại hắc ám, làm toàn những
việc lao động nặng như chặt tre, vác lồ ô. . nhưng chú cũng hên, mấy người
cháu ruột, anh em ruột của chú còn ở làng Ðông Lao đã lên tận trại tù thăm
nuôi chú, tại Sài Gòn bà thím tần tảo buôn bán nuôi con, nuôi chồng cải
tạo. Là người có tình với họ hàng, đươc thả về chú nghỉ ngơi ít ngày rồi
đi thăm họ hàng, chú bác. Ðính được về trước chú độ bốn năm năm, anh
thường hay lên thăm chú, họ đang hy vọng vào chương trình ra đi chính thức
dành cho người tù cải tạo.
Rồi Ðính được đi ngay đợt đầu tiên, mấy năm sau chú Tư
mới được vào Mỹ ấy thế mà đã mười mấy năm qua. Chú định cư tại Houston,
chú đã đem được cả gia đình, một vợ ba con sang Mỹ, chú đã phải trả bằng
cái giá mười năm tù cải tạo. Các cháu ở dưới ấy như anh Kim, Trường, Tân .
. bảo trợ cho chú và giúp đỡ chú trong bước đầu mới nhập cư vào Mỹ, chẳng
bao lâu, chú thím buôn bán nghe nói cũng được lắm, ba cô con gái vừa làm
vừa học rồi gia đình đã hội nhập được vào đời sống mới, thế là chú gặp lại
những người cháu và cũng là những người bạn thân, họ lại hàn huyên kể lể
với nhau y như những ngày xa xưa tại làng Ðông Lao bên trong lũy tre xanh
miền Bắc. Hồi chú chưa vào Mỹ, Ðính hay liên lạc gửi thư về cho chú, nhưng
từ ngày chú vào Mỹ, Ðính cũng ít liên lạc vì bận đi làm, từ đấy đến nay
anh chỉ gặp chú một lần khi chú lên Dallas ăn cưới con cô Hoàng cách đây
cũng tám chín năm. Năm ngoái năm kia Ðính có gọi điện thoại cho chú một
hai lần. Cô Hoàng thường hay liên lạc với chú thím, các em. . cô đã hai
lần xuống Houston ăn cưới con gái chú.
... Thế mà bây giờ chú lại vướng vào cái bệnh thập tử nhất sinh.
Hai hôm sau khi nghe tin chú Tư bịnh nặng, vợ chồng
Hoàng có rủ Ðính, Hân, hai ông anh ở gần nhà cùng đi một thể. Họ đi xe từ
sáng sớm mãi đến trưa thì tới Houston, một lúc lâu mới tìm ra nhà chú. Bốn
người cháu được bà thím đón tiếp đưa vào phòng khách, chú Tư nằm dài trên
ghế sa lông, đầu chú cạo trọc trông y như ông đại đức, cô Hoàng lớn tiếng
chào.
- Chú khoẻ không? Chúng cháu xuống thăm chú xem chú đã
đỡ chưa.
Chú sụt mất 20 cân (Anh) nhưng trông chưa đến nỗi gầy
ốm lắm, nước da chú đen hơn trước, thím Tư và cô Hoàng đỡ chú ngồi dậy nói
chuyện với khách, giọng chú thều thào yếu đuối. Hân lại gần hỏi thăm bệnh
tình thì chú nhăn mặt kể lại những cơn đau trong nội tạng của mình. Một
lúc sau cô Hoàng lên tiếng vui vẻ bảo mọi người.
- Lại đây chụp hình với chú nào, ngồi quanh chú nào.
Chồng cô Hoàng dơ máy bấm tách tách hai ba lần, chụp
xong ai về chỗ nấy, anh Hân lại gần hỏi chuyện chú Tư, chú nói giọng thều
thào nhưng vẫn còn tỉnh táo. Khi ấy bà thím, Ðính, Hoàng ngồi quanh cái
bàn trò truyện, bà bảo chú bị đau nặng hai tháng nay, bây giờ ăn không
được, ngủ không được. Cách đây bốn năm chú bị viêm gan loại B, bác sĩ chữa
hết rồi, chú lại đổi bác sĩ rồi tưởng hết hẳn không chịu đi khám nghiệm
lại, để lâu nó mới phát nặng, nay thím lại hy vọng vào thuốc Bắc.
- Có ông bạn chú, năm nay 75 tuổi rồi bị ung thư gan,
bệnh viện nó cho về, nó nói ba tháng nữa là chết, ông ấy được ông thầy
thuốc Bắc quen bốc cho mấy chục thang thuốc uống, bây giờ hết rồi, ông ấy
chỉ chỗ cho đi mua thuốc, đã sắc cho chú uống năm ngày nay, bây giờ ăn
được, ngủ được chút đỉnh rồi.
Chú Tư thì nói với Hân, Hoàng là bác sĩ bảo bây giờ chú
bị ung thư gan thời kỳ thứ ba, nhưng thím lại nói khác.
- Bác sĩ nghi là ung thư gan thời kỳ thứ ba, mới thử
nghiệm, năm ngày nữa mới biết kết quả là ung thư gan hay không.
Thím cứ khen thuốc Bắc, thuốc Nam.
- Bây giờ nhiều người bị ung thư về Việt Nam chữa thuốc
Nam, y học dân tộc bây giờ hay lắm, người ta chữa được ung thư. Cho ông ấy
uống thuốc khó khăn lắm, ông ấy cứ chê đắng.
Ðính bèn nói nhỏ với bà.
- Thím phải dụ dỗ ông ấy, cứ nói là ông uống thuốc này
mau hết bệnh lắm, phải dụ dỗ ông ấy.
Nghe bà thím nói Ðính cũng hy vọng vào thuốc Bắc, may
ra chú gặp thầy giỏi thuốc hay có thể sống thêm năm mười năm nữa. Bà thím
lấy sấp hình mới chụp cách đấy mấy tháng, bà bác và mấy người con ở Canada
sang chơi ghé thăm chụp hình kỷ niệm với chú, trông hình chú mập mạp trẻ
trung, hồng hào béo tốt. Bà thím nói mấy tháng trước chú vẫn lái xe ra khu
chợ Việt Nam đánh cờ với mấy ông bạn già.
Tự nhiên cô Hoàng đứng dậy lại ngồi gần chú bảo.
- Mỗi người lại chụp một tấm hình riêng với chú đi nào,
mai mốt chú hết bịnh chú lên Dallas thăm các cháu chứ, chú mau khỏe để còn
đi đánh cờ nữa chứ.
Cô cầm bàn tay chú quan sát một lúc lại nói.
- Mai mốt chú hết bệnh rồi còn đi đánh cờ chứ, chú phải
ráng mau hệt bệnh đi chứ.
Ðính, Hân lại ngồi cạnh chú chụp hình, hỏi han chú một
lúc, chú kể chuyện ông bà Năm, chú thím ruột của chú chết ở Sài Gòn hồi
xưa, bây giờ con cháu lấy hài cốt đem ra Bắc chôn ở làng ta, vợ chồng ông
anh ruột của chú chết chôn tại Hoa Kỳ nay con cháu cũng đem về Sài Gòn rồi
lại đưa ra Bắc chôn. Sang Mỹ đã mười mấy năm nay chú vẫn còn giữ tinh thần
mồ mả ông bà, quê cha đất tổ.
Thăm chú thím đã được vài tiếng đồng hồ, mấy người cháu
đứng dậy xin kiếu từ ra về, họ lại gần ghế sa lông chào chú, Ðính bảo.
- Chú phải uống thuốc Bắc thuốc tây thì nó mới mau hết
bệnh, chú phải ráng uống thuốc thì nó mới mau hết.
Bà thím bèn nói chêm vào.
- Ðấy bố thấy không? anh Ðính nói bố có nghe không?
Khi ấy chú ngồi dựa vào ghế miệng méo xệch, chú khóc
thầm, chú mếu máo trông thật tội nghiệp. Cô Hoàng nói nhỏ với anh Ðính.
- Chú xúc động đấy, đến thăm chú làm chú xúc động.
Ðính nhìn trong tia mắt chú thấy một thoáng nghi ngờ,
anh tưởng như chú đang nghĩ ngợi.
“Những người cháu này lặn lội từ phương xa đến đây để
thăm mình lần cuối cùng, họ biết là mình sắp chết, họ chụp hình chụp ảnh
kỷ niệm với mình, như vậy thì mình chết chắc rồi, họ cứ nói là mình sắp
hết bệnh, họ nói dối để an ủi mình cho qua chuyện, người đời giả dối lắm,
họ không chịu nói thật với mình, mình chết là cái chắc rồi, không còn nghi
ngờ gì nữa”
Nhìn cái miệng mếu máo của chú Ðính thấy thật là ái
ngại, anh chẳng biết làm gì hơn, anh cũng chẳng muốn an ủi chú một vài câu
vì chưa chắc chú đã tin vào lời nói của mình. Nay đang đứng trên cây cầu
biên giới giữa dương gian và âm cảnh, chú vẫn còn chút tình lưu luyến cõi
hồng trần.
Bốn người cúi chào chú rồi ra sân trước, chú vẫy tay
theo chào Ðính, Hân.
Hôm sau Ðính gửi điện thư qua computer cho mấy người
anh, em họ hàng ở Cali, bên quê nhà, Canada. Bên Việt Nam gửi thư qua bảo
“cây chó đẻ, quả bầu dại” chữa ung thư hay lắm, ráng chữa cho chú, còn
nước còn tát, bên Canada chúc cho chú gặp thuốc hay thầy giỏi. .
Cuối tuần Ðính đến thăm gia đình Hoàng, anh bảo.
- Bà ấy hy vọng vào thuốc Bắc, bà ấy lại nói bác sĩ
nghi là ung thư gan thời kỳ thứ ba.
Cô em gạt đi ngay.
- Ông ấy bảo bác sĩ nói ung thư gan thời kỳ thứ ba rồi,
bà ấy không biết đâu, thuốc Bắc thì cũng tuỳ người, có hợp thuốc thì mới
được.
Ðính tin lời bà thím, anh cũng hy vọng vào thuốc Bắc
theo như bà nói, cách đây bốn, năm năm, anh có người bạn bị ung thư phổi,
bệnh viện chịu thua không chữa được, có ông thầy ở Việt Nam cho uống thuốc
ta, thế mà hắn cũng sống được bốn năm nữa. Ðộ bốn năm ngày hay một tuần
Ðính lại gọi điện thoại hỏi thăm bà thím. Hôm qua anh hỏi.
-Bác sĩ cho biết kết quả thử nghiệm chưa thím? Có biết
chắc là ung thư gan không?
Bà thím đáp.
- Chưa, tuần sau mới có.
- Thế uống thuốc Bắc có đỡ nhiều không thím? Ông ấy có
ăn ngủ được chưa?
- Cũng đơ đỡ thôi anh ạ.
Ðộ năm sáu ngày Ðính lại gọi điện thoại hỏi thăm bà
thím xem tình hình có tiến bộ hơn không, anh vẫn hy vọng vào thuốc Bắc
“ Sao . . sao. . thế chú uống thuốc có đỡ không thím?
Bác sĩ cho biết kết quả thử nghiệm chua?
Nhưng lần nào cũng thấy bà trả lời lưng chừng như nhau.
Thấm thoắt từ ngày xuống thăm chú đến nay đã mấy tuần qua, sáng nay Ðính
lại điện thoại hỏi thăm.
- Chú uống thuốc Bắc có đỡ không thím?
Lần này giọng bà thím có vẻ chán nản hơn trước.
- Nó vẫn lình xình, ông ấy vẫn kêu đau, bác sĩ chỉ cho
uống thuốc giảm đau.
- Thế bác sĩ nói sao ?
- Bác sĩ nói “no good”.
Ðính nghe xong yên lặng một lúc rồi chép miệng bảo.
- Hừm. . thôi mình cứ . . cứ . . tới đâu hay tới đấy
vậy chứ biết sao giờ. .
Rồi anh thở dài chán nản tự nhủ “ Hỏng, thế thì hỏng
rồi, bác sĩ chịu thua thì hỏng, thầy chạy là hết đường rồi”, niềm hy vọng
cuối cùng của Ðính, của bà thím cũng đã tiêu tan. Mấy hôm sau, chiều ngày
thứ bẩy Ðính ghé nhà Hoàng, cô ấy hỏi .
- Ông có gọi cho bà ấy không? Bà ấy nói sao?
- Bà ấy bảo bác sĩ nói “no good”, chắc là hỏng rồi.
- Ông ấy đã bảo bác sĩ cho biết đây là ung thư thời kỳ
thứ ba, chính ông ấy nói mà.
- Thấy bà ấy nói có ông bạn chữa thuốc Bắc hết, mình
cũng mừng cho ông ấy thế mà. .
- Nó cũng tùy người nữa, nó có hợp thuốc hay không cơ.
Sáng nay chủ nhật, Ðính đang ngủ ngon giấc bỗng có
tiếng điện thoại reo, lúc ấy mới có bẩy giờ sáng, anh không hiểu sao ai
lại gọi sớm thế.
Ðính nhấc máy nghe, tiếng cô Hoàng khóc sụt sùi ở đầu
giây kia làm anh tỉnh hẳn.
- Chú Tư đi rồi, chú đi hai giờ khuya tối hôm qua. .
Ðính thở dài bảo.
- Nhanh quá nhỉ? Mới gặp chú có bốn tuần lễ. . thế mà
- Con gái chú nó gọi điện thoại lên đây khuya hôm qua.
. chú đi cũng lẹ.
- Nhanh thật, chắc mình phải đi đưa chú ấy.
- Ừ, phải đi đưa chú một lần cuối, có gì tôi sẽ nói
sau.
Cô Hoàng vẫn khóc sụt sùi, Ðính chán nản thở dài cúp
máy, anh mất ngủ luôn cho tới khi trời sáng hẳn.
Trưa hôm ấy anh gọi xuống nhà bà thím, con gái thứ hai
chú nói bằng giọng xúc động pha nước mắt.
- Ngày mai gia đình sẽ phát tang cho bố em, thứ tư này
là lễ di quan. .
Ðính báo tin cho buồn cho họ hàng ở các nơi xa, cô em
bên Việt Nam bảo “Diễn tiến quá nhanh, thật là một kết thúc buồn, nhưng
thôi dù sao chú cũng đã được toại nguyện rồi”, trên Canada, một ông anh bà
con than “họ nhà ta lại mất đi một người”
Sáng hôm thứ tư, vợ chồng cô Hoàng, Hân, Ðính cùng nhau
lên xe từ bốn giờ rưỡi sáng, họ phải đi thật sớm cho kịp đưa ma lúc mười
một giờ. Xe chạy vùn vụt, trời còn tối đen, những ngọn đèn đường hắt ánh
điện sáng chưng soi trên mặt lộ. Tới gần Houston thì trời mưa mù mịt, nước
tuôn ào ào bên cửa kính, xe cộ chạy xung quanh đều phải đi chậm lại vì
chạy tốc độ cao trời mưa dễ gây tai nạn. Trận giông bão đầu mùa giáng
xuống thành phố ven biển này từ mấy hôm nay. Cũng may lúc xe tới nhà quàn
khi ấy chưa tới mười giờ, cơn mưa đã dứt từ lâu nhưng bầu trời còn u ám
khác thường.
Nhà quàn hôm nay có ba đám, phòng dành cho chú Tư ở gần
ngay cửa vào. Ðính và Hoàng vừa đứng nhìn vào trong thì thím Tư và mấy cô
con gái mặc tang phục màu trắng cổ truyền vội chạy ra ôm lấy Ðính, Hoàng
khóc như mưa như gió, khóc nức nở như trẻ con khiến Hoàng cũng xúc động
khóc theo, Ðính chỉ nhìn thím và các em với một cõi lòng tan nát, anh
chẳng biết nói sao bây giờ.
Quanh chỗ quan tài mở nắp chú đang nằm nghỉ là một dẫy
những vòng hoa tươi thắm thật đẹp của họ hàng, xui gia, các cháu. Còn một
giờ nữa mới đưa chú Tư đi, khi ấy phòng quàn chỉ mới có bẩy tám người,
thím và mấy người con gái, con rể, vợ chồng cô Hoà cháu ruột, mấy người
cháu ở Dallas xuống, thế thôi. Một lúc sau vợ chồng Tân, ông anh vừa tới,
rồi vợ chồng ông anh Trường cũng tới. Các thầy cô bên chùa đã sang làm lễ
cầu siêu, mỗi người được phát một cuốn kinh nho nhỏ để đọc theo thầy.
Sắp tới giờ di quan, chị Trường trao cho Ðính một cành
hồng bảo anh ra xếp hàng viếng chú lần cuối, mọi người lần lượt đi ngang
nhìn mặt chú yên ngủ trong quan tài mở nắp rồi tặng chú một bông hồng. Ai
nấy cùng nhau ra cửa để chuẩn bị lên xe tới nghĩa trang, Ðính nhìn quanh,
ngoài bẩy tám người trong gia đình chú, chỉ có mười người trong họ đi đưa,
bốn người ở Dallas xuống và sáu người ở tại Houston, bạn bè không thấy một
ai. Trước đây họ hàng ở dưới này đông hơn, nay có vài nhà đã dọn đi bang
khác, nhìn cảnh đưa tiễn vắng vẻ đìu hiu, Ðính bèn lại gần Trường hỏi.
- Ủa sao hội cựu tù nhân chính trị không cử người lại
đi đưa anh nhỉ?
Ông anh lạnh lùng bảo.
- Tại ông ấy không giao thiệp với người ta nên người ta
không biết.
- Chưa thấy đám ma nào vắng như thế, nghĩ cũng buồn cho
chú ấy.
Tất cả có chừng mười chiếc xe hơi chạy theo sau chú Tư,
ba người cảnh sát công lộ đi mô tô hộ tống đoàn xe chạy lên xa lộ, xe chạy
tốc độ khá cao mà cũng mất hơn nửa giờ mới đến nghĩa trang. Trời đã hết
mưa nhưng đường bên trong còn ngập nước, cỏ xanh vẫn còn sũng nước, mưa đã
hết nhưng mây đen còn vần vũ khắp trên không trông thật vô cùng ảm đạm.Vì
thiếu người nhà đòn xin bà con phụ giúp một tay khiêng áo quan xuống đặt
trên miệng huyệt. Gia đình, họ hàng vây quanh huyệt, vòng hoa được khiêng
xuống chất đầy bên cạnh lều vải, ông thầy tụng niệm xong rồi quay lại nhỏ
nhẹ bảo
-Những người tuổi tuất, tuổi mùi. tuổi. . không được
nhìn khi hạ huyệt, phải ngoảnh mặt đi.
Mấy người nhà đòn bắt đầu hạ quan tài từ từ xuống, bà
thím, các con cháu trong quần áo tang trắng cổ truyền đứng vây quanh, tre
già măng mọc, thế hệ này nằm xuống thế hệ khác lại lớn lên. Bà thím xúc
động giơ tay với như muốn níu kéo chú Tư lại, bà vùng vẫy như muốn ngất
xỉu, người ta phải dìu bà ấy ra ngoài lều để ngồi trên ghế. Con, cháu mỗi
người lại tặng chú một đóa hoa hồng. Bọn nhà đòn hạ tấm lều vải xuống, xe
ủi khiêng một cái nắp lớn mầu trắng để đậy lên trên quan tài, ông anh Tân
bèn lại xem rồi phàn nàn với nhà đòn, chị Trường bảo Ðính.
-Nắp kim tĩnh bị bể một chút.
- Kim tĩnh là gì hả chị?
- Là cái vỏ đúc bằng xi măng bao quanh quan tài.
Vì thế việc hạ huyệt phải đình lại một lúc, chị Trường
lại bảo.
- Chú linh lắm, chú chưa muốn xuống ngay, chú còn muốn
nán lại với gia đình thêm chút nữa đấy.
Một lúc sau nhà đòn giải thích cho gia đình biết rồi
tiến hành hạ huyệt. Họ đắp đất lên thành một nấm mộ, con cháu bèn lấy
những vòng hoa đắp lên xung quanh mộ, Ðính cũng ôm một vòng hoa đặt bên
cạnh chú. Những vòng hoa thật tươi đẹp, mầu sắc rực rỡ, hoa là biểu tượng
của món quà tuyệt vời cho cả người sống cũng như người đã chết. Ðính nhìn
lại thấy Trường đang mơ màng nhìn nấm mộ, ông anh như nhớ lại năm sáu chục
năm trước đây, tại làng Ðông Lao miền Bắc xa lơ xa lắc, hồi ấy còn trẻ con
ông đã cùng chú cắp sách đến trường, rong chơi bên đồng lúa, lớn lên di cư
vào Nam, sang Mỹ . .ông anh vẫn là bạn thân của chú. . và bây giờ mỗi
người một ngả, âm dương cách biệt đôi đường.
Thầy tụng niệm xong bèn lấy gạo vung ra quanh mộ, thầy
bảo con cháu mỗi người đốt một nén nhang vái chú một vái rồi cắm quanh mộ,
lễ nghi coi như đã hoàn tất, chú Tư đã được mồ yên mả đẹp. Ai nấy yên lặng
nhìn nhau bàng hoàng tê tái, vẻ xúc động hiện rõ trên khuôn mặt từng
người, chỉ riêng có bọn nhà đòn là vẫn tỉnh bơ đứng nhìn đám tang bằng cặp
mắt lạnh lùng, chắc họ nghĩ rằng sinh tử chỉ là sự tuần hoàn của Ðấng Hoá
Công.
Chị Tân chạy lại bảo anh em Ðính.
- Thôi các anh chị đã có công xuống tận dưới này đi đưa
chú, các anh chị đi với chúng tôi lại chùa Linh Sơn làm lễ cầu cho chú
được siêu độ.
Cô Hoàng từ chối khéo bảo.
- Tụi em cũng lên chùa nhưng nếu lạc thì về luôn.
Nói rồi cô bảo chồng, bảo các anh sửa soạn để về sớm vì
sợ trời nổi cơn mưa to gió lớn, khi ấy mây đen đã bắt đầu kéo đến. Ðính,
Hoàng, Hân vội vã chào các anh chị rồi lên xe ngay, ra khỏi cửa nghĩa
trang chú em rể lái vút lên xa lộ 45 trực chỉ hướng Bắc về Dallas, Ðính
tựa đầu vào ghế lim dim đôi mắt, trong lòng anh hoang vắng y như một bãi
sa mạc rộng mênh mông. Trọng Ðạt