Home

Trang Chính

Bản Tin

Sinh Hoạt

Tham Luận

Hoài Băo Quê Hương

Văn Học Nghệ Thuật

Thư Tín

Bài vở xin gửi về địa chỉ sau đây:
3108 E. Sawyer St.
Long Beach, CA 90805

                                                                  

 

CHUYẾN TÀU NĂM XƯA


Queen Mary, Long Beach (4/7/2014)

Tặng Trần Bạch Thu

       Năm ấy, để kỷ niệm sinh nhật của Tân, các con anh đă mời bố mẹ tham gia chuyến du lịch trên biển cùng con cháu và bạn hữu… Trải qua những ngày tàu ghé qua các đảo trong vùng biển Caribe, cùng gia đ́nh thăm viếng những cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp, nhà cửa kiến trúc ngoạn mục, Tân vẫn thấy đâu đó, thấp thoáng sự nghèo nàn, khắc khổ của người dân địa phương. Sống chen lẫn với dân chúng trên các đảo, có nhiều người da đen, có lẽ là con cháu của những người  Phi châu ngày xưa bị đưa đến đây trồng mía, làm ruộng muối... Anh chợt nhớ lại bài viết “Bước Chân Nô Lệ của Thúy Việt nhân chuyến viếng thăm Ghana ở Phi châu. Tác giả ghi lại những điều nghe thấy do người hướng dẫn viên du lịch tên Yao đă mô tả về “những khổ ải của những người da đen Phi châu bị bắt nhốt trong nhà hầm trước khi đưa xuống tàu xuyên Đại Tây Dương, mang đi bán ở tân thế giới” như sau:

        Trong khoảng thời gian từ năm 1700 đến đầu thế kỷ 20, gần 3 triệu người Phi đă bị đưa lên các con tàu của Anh để bán sang châu Âu, chủ yếu để phục vụ tầng lớp giàu có ở Anh, Pháp và Hà Lan. Ngoài ra, hàng chục triệu đàn ông, đàn bà và trẻ em châu Phi đă bị đưa sang châu Mỹ, bị bóc lột sức lao động tại các đồn điền trồng mía hay thuốc lá của thực dân châu Âu. Salaga, một thị trấn nhỏ ở trung tâm Ghana, được chọn làm địa điểm đầu tiên để tập trung những người bị bắt làm nô lệ…

        Những người nô lệ da đen đă trở thành món hàng trong tay kẻ buôn người từ châu Âu đến, được đưa vào “tồn trữ” hay “đóng gói” thật chặt trong tầng hầm của các “lâu đài” do các quan chức người Âu xây dựng trong quá tŕnh t́m và chiếm thuộc địa, chờ đợi ngày lên tàu xuyên Đại Tây Dương đến tân thế giới.

        Đó là những cái hầm tối thui, trước đây được dùng để chứa hàng hóa.  Không có cửa sổ, không có cửa thông hơi, không có đèn, không có nhà vệ sinh…  Họ ăn uống, tiêu tiểu, tràn lên nền đá từ năm nọ đến tháng kia, từ đợt người này sang đợt người khác … cho đến giờ này nền đá kia vẫn c̣n bốc mùi.

         Họ lần lượt bước qua cánh cửa “một đi không trở lại”, cố dành lấy giây phút cuối cùng  quay đầu nh́n về quê cha đất tổ, không một vẫy tay tiễn đưa, không ai nói lời từ biệt,  h́nh ảnh cuối cùng mà họ nh́n được là ṭa lâu đài đă giam giữ  họ trong nhiều tháng  qua…”

        Những khổ ải của người nô lệ da đen Phi châu bị nhốt dưới hầm chật hẹp thiếu không khí, kém vệ sinh, bị đám buôn người đối xử tàn tệ như súc vật, đă xảy ra từ lâu rồi, vào những thế kỷ trước! Và điều ấy đă được một du khách như cô Thúy Việt nhân du lịch đến xứ Ghana, nghe kể lại như một sự kiện lịch sử khủng khiếp! Nhưng không ai ngờ rằng đến cuối thế kỷ 20 này, sự kiện tương tự đă xảy ra tại Việt nam, sau năm 1975! Người chứng kiến sự kiện kinh hoàng ấy lại là nạn nhân và cũng là một nhân chứng sống mà suốt đời không thể nào quên được!

 * * *

        Một buổi sáng cuối năm 1976, Tân cùng một số bạn đồng tù ở trại “học tập cải tạo” Long Thành được nghỉ lao động, ở nhà chuẩn bị di chuyển. Mỗi người nhận được một chiếc bao bố, ghi tên lên bao, “đóng gói” quần áo, mùng mền, thực phẩm khô gia đ́nh tiếp tế… vào đó để trại gởi đi trước. Trước đây, đă có những sự di chuyển “đột xuất”, âm thầm xảy ra trong đêm, dành cho một vài “học viên cải tạo” cao cấp của “ngụy quyền Sài g̣n”. Với những sự di chuyển kín đáo, bí ẩn ấy không ai biết số phận của họ sẽ ra sao? Và điều đó khiến cho những người c̣n lại trong trại càng căng thẳng lo âu… Lần di chuyển này minh bạch hơn, đông người hơn. Cán bộ quản giáo giải thích với những người sắp ra đi: sẽ được đưa đến vùng kinh tế mới ở miền Tây, để “học viên cùng gia đ́nh chăm lo lao động sản xuất, xây dựng cuộc sống mới”! Lời giải thích ấy đă gây một sự “bán tín bán nghi”. Nhất là khi anh em trong đội nhà bếp cho biết họ được lệnh lau chùi và cho dầu mỡ vào hàng trăm chiếc c̣ng số 8, do cán bộ trại vừa mang đến!

        Mấy hôm sau, vào một buổi chiều cuối năm âm u, mưa bay lất phất, những trại viên có danh sách chuyển trại tập họp tại hội trường. Dưới ánh đèn mờ ảo, đoàn người lặng lẽ sắp hàng cho cán bộ trại kiểm tra. Để có “khí thế phấn khởi” trước khi lên đường, một nữ công an bắt giọng the thé bài “Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng”, và yêu cầu mọi người hát theo. Một vài giọng miễn cưỡng cất lên với giọng buồn buồn, khàn khàn, lạc điệu … giống như tiếng kêu của những cánh chim lạc đàn trong đêm vắng! Sau đó mọi người sắp hàng đôi, đứng sát vào nhau để cán bộ công an c̣ng tay từng cặp, và sau đó những cảnh vệ mang súng áp tải họ lên xe. Xe chạy về hướng thành phố Sài g̣n, rẽ quốc lộ 1, đến bến tàu Tân Cảng. Từng đôi xuống xe, đến tập trung ngồi ở một góc cầu tàu…Tại đây, Tân thấy lố nhố hàng trăm bóng người đang ngồi lặng lẽ trong đêm.

        Tân nh́n ra chiếc tàu đang đậu sát cầu tàu. Đó là loại chở hàng hóa, khá lớn, đen ś, trên boong chất đầy những xe gắn máy Honda, những chiếc tủ lạnh trắng toát… Cạnh đó, những người đứng trên bao lơn đang hút thuốc, ṭ ṃ nh́n xuống đám “tù cải tạo” dưới bến tàu. Máy tàu chạy ŕ rào, át cả tiếng một công an cảnh vệ đứng gần đó kêu lên, khi anh ta đi mở c̣ng tay cho đám tù cải tạo Long Thành:

        - Chết bố nó rồi! Tớ làm mất ch́a khóa mở c̣ng cho hai anh này rồi!

        Tiếp theo là câu nói an ủi nhắm vào cặp nạn nhân đang thất vọng:

        - Cố gắng khắc phục nhé! Đến nơi, sẽ có bộ phận cưa c̣ng để mở cho các anh. Đừng lo!

        Tân chua chát nghĩ thầm: thế là cặp đồng tù này sẽ “sát cánh bên nhau”, cả ngày lẫn đêm, cả dưới tàu lẫn trên xe để di chuyển đến trại “cải tạo” mới!

        Tân nh́n về thành phố Sài g̣n đang lấp lánh ánh đèn mà ḷng buồn vô hạn. Nơi đó anh đă sống hơn mười lăm năm, với biết bao kỷ niệm vui buồn. Những ngày đầu tiên từ Huế vào học trường Chu Văn An. Những đêm mài miệt đèn sách học thi Tú tài. Những ngày đi lên giảng đường Học viện QGHC Sài g̣n cùng các đồng môn nam nữ. Những buổi hẹn ḥ với người yêu, đi xem Cinê ở một rạp nơi đường Lê Lợi; xem ca nhạc về đêm ở Bồng Lai; đến các quán ăn đường Pasteur; xuống bến tàu Bạch Đằng hóng mát, nơi đó đôi uyên ương im lặng ngồi bên nhau để dệt mộng tương lai… Kể từ tháng 5 năm 1975, chỉ một năm rưỡi xa Sài g̣n mà anh thấy nhớ thương thành phố thân yêu này quá. Anh đưa tay âm thầm chào từ biệt Sài g̣n trong đêm vắng và thầm nghĩ: rồi đây anh có cơ may nào trở lại thủ đô yêu dấu một thời của Miền Nam, gặp lại cha mẹ già, gặp lại vợ con thân yêu?

        Khi đám công an cảnh vệ dẫn những người tù  “cải tạo” di chuyển đến gần tàu, Tân tưởng sẽ lên một khoan nào trên tàu, nhưng họ lại hướng dẫn đi xuống hầm tàu, phần đáy ch́m dưới mặt nước.  Xuống đến nơi, Tân cảm thấy một làn hơi nóng hầm hập lẫn mùi ẩm mốc hôi hám bốc lên, khiến anh muốn ngạt thở. Trên vách tàu c̣n in rơ lằn đen của than đá. Dưới ánh sáng mờ ảo của những bóng đèn tṛn, thấp thoáng quang cảnh những người ngồi, đứng, qua lại t́m một chỗ sạch để nghỉ lưng… Trong đám đồng tù đông đúc ấy, Tân bỗng nhận ra một cựu quận trưởng mà trước đây khi làm việc ở Xuân Lộc, anh đă có dịp gặp vị sĩ quan lớn tuổi đó. Tân hỏi ông ta:

        - Tôi nghe nói bác đă lên tàu Việt Nam Thương Tín đi ra nước ngoài rồi, sao giờ này c̣n ở đây?

        Vị sĩ quan già cười buồn, tâm sự:

        - Sang đến Subic ở Phi, tôi nhớ nhà quá! Một số người cùng đi đă rủ tôi về. Họ nói chính quyền mới sẵn sàng đón tiếp, hứa cho ḿnh làm ăn sinh sống b́nh thường, chớ ra nước ngoài làm sao mà sống được! Không ngờ khi tụi tôi về đến Rạch giá, công an chờ sẵn, bắt nhốt vô Chí Ḥa. Sau đó họ c̣ng tay đưa xuống tàu này!

        Giọng người cựu sĩ quan đồng tù nghẹn ngào, xúc động… Tân nh́n những sợi tóc bạc rũ xuống chiếc trán nhăn nheo, mà lắc đầu ngao ngán. Giờ đây thân phận ông sĩ quan lớn tuổi kia cũng giống anh thôi. Có khác chăng, ông ta đă nhanh chân lên tàu Thương Tín, nuôi hy vọng được đến mảnh đất tự do; dẫu rằng, niềm hy vọng ấy mong manh như bọt biển, đă bị sóng gió dập vùi tan vỡ!

        Đến sáng, khi tàu ra đến giữa biển, bị chao đảo dữ dội bởi những con sóng bạc đầu mùa đông. Trên tàu, tiếng ói mửa vang lên khắp nơi. Trong các “cầu tiêu dă chiến”, những chiếc thùng nhựa - quá nhỏ và quá ít so với nhu cầu của hàng trăm tù nhân trong đáy tàu- bắt đầu đầy lên. Phân, nước tiểu và những chất ói mửa tràn ra, chảy lênh láng khắp nơi.

        Tân bị say sóng, đi t́m một chỗ khô ráo, sát lưng một bạn đồng tù để nằm nghỉ. Anh nh́n những thùng phân, nước tiểu chảy ra, lan tràn xú uế khắp nơi… chợt nhớ đến h́nh ảnh những nhà cầu lộ thiên tại trại “cải tạo” Long Thành mà anh đă ở nơi đó một năm rưỡi. Cầu tiêu là những chiếc hố được đào sâu chưa đến một thước tây, bên trên bắt ngang một thanh gỗ. Mỗi cầu tiêu được che sơ sài chung quanh và bên trên nóc. Mỗi lần đi đại tiện, mùi hôi thối bốc lên đến ngạt thở. Những con ruồi nhặng to bằng hạt đậu màu xanh bay xuống hố phân, sản sinh ra những con gịi trắng, dầy đặc, lúc nhúc trong đống phân người, khiến người ngồi bên trên không khỏi rùng ḿnh kinh tởm. Về sau, khi hầm cầu đă đầy, cán bộ trại yêu cầu “học viên” đào những hố mới, nhưng không lấp hố phân cũ. Do đó, khi vắng bóng người, những chú chuột cống xù x́ bẩn thỉu, ḅ xuống hố phân sục sạo kiếm ăn!

        Nh́n những thùng vệ sinh trong hầm tàu hôm nay, anh chợt nghĩ, sẽ có lúc những con ruồi từ ngoài bay vào, những con chuột từ các xó xỉnh trong đáy tàu ḅ ra, t́m đến những thùng phân lẫn lộn nước tiểu, chất ói mửa kia. T́nh trạng vệ sinh tệ hại ấy rồi cũng sẽ giống như ở cầu tiêu trại Long Thành mà anh và các bạn đồng tù chịu đựng trong thời gian qua…

        Đă có nhiều quyển sách mô tả về hoàn cảnh bi đát của những người nô lệ da đen bị đám buôn người nhốt trong hầm tàu chật cứng, mất vệ sinh; sau đó chở sang bán ở châu Âu, châu Mỹ hơn ba thế kỷ trước. Điều đó đă khiến lương tâm loài người hổ thẹn. Nhưng hôm nay, Tân đang sống trong hoàn cảnh những tù “cải tạo” bị nhồi nhét dưới đáy tàu, nhệt nhoài, ngột ngạt, bẩn thỉu…nào có khác chi?

        Đến trưa, tiếng nói chuyện ŕ rầm trong hầm tàu tắt dần. Mọi người say sóng nên thấm mệt nằm im. Bỗng có tiếng kêu to:

        - Có người ngất xỉu! Có người ngất xỉu!

        Tiếp theo, có nhiều tiếng kêu, lập lại nhiều lần, vang rền cả ba nhà kho ở đáy tàu. Sau đó, có tiếng kẽo kẹt trên cao. Tân hé mắt nh́n lên, thấy tấm cửa sắt bên trên kéo ra, hé mở. Một luồng hơi mát từ trên boong tràn xuống, xua bớt cái nóng hầm hập lẫn mùi xú uế dưới tầng hầm sâu. Tân thầm nghĩ: thế ra những người điều khiển con tàu vẫn có thói quen đóng kín hầm tàu để “bảo quản” hàng hóa, bảo vệ gia súc mỗi khi tàu di chuyển đường dài trên biển. Và trong chuyến hải hành này có chở theo những người tù “cải tạo”, họ cũng vẫn “cẩn thận” đóng kín hầm tàu, bảo quản những “món hàng quư giá” dành cho những cuộc trao đổi về sau. Tương tự như trước đây chủ tịch Cuba, Fidel Castro đă đồng ư cho phép những người chống lại chế độ CS Cuba được sang Hoa kỳ, để đổi lấy những máy cày tinh xảo của Mỹ vậy!

        Có lẽ do tiếng kêu cứu ầm ĩ, toán cảnh vệ mang súng xuống tầng hầm, nơi những tù nhân đang nằm la liệt. Họ chọn những người c̣n khoẻ mạnh, tỉnh táo… dẫn lên boong tàu, để tḥng dây kéo những thùng phân đổ xuống biển. Không khí trong tầng hầm đă bớt hôi hám ngột ngạt; một phần do mùi hôi hám đă giảm, phần khác do chút gió biển từ trên boong tàu lọt xuống…Người tù nhân ngất xỉu sáng nay đă được anh em đồng tù cứu chữa, với phương pháp hô hấp nhân tạo.

* * *

        Sáng hôm sau, tàu đậu lại. Hôm ấy, Tân và vài bạn tù được chỉ định lên boong kéo những thùng phân để đổ xuống biển. Không khí trên boong tàu mát lạnh dễ chịu. Mặt trời đă lên cao, ánh nắng mùa đông dịu dàng. Xa xa, những ḥn đảo có h́nh thù đẹp mắt nhô lên từ làn nước biển trong xanh, lấp lánh dưới ánh mặt trời. Một vài cánh buồm màu nâu căng gió, lững lờ trôi. Vài con chim màu xám bay qua, sà xuống đậu trên sân tàu. Trước năm 1975, anh đă từng đọc bản dịch quyển tiểu thuyết t́nh cảm “Hải Âu Phi Xứ” của Quỳnh Dao, một nhà văn nữ Đài Loan. Nhưng đây là lần đầu anh thấy tận mắt con chim hải âu lưng xám, ức trắng, một loại chim lớn như con quạ, sống ở miền ôn đới mà sau này anh thường thấy ở miền Nam California. Đối với Tân, những cánh buồm màu nâu giăng ngang con thuyển nhỏ, những con chim hải âu lông xám…tất cả đều xa lạ với kẻ đă sống gần nửa đời người ở Miền Nam nước Việt. Cho nên anh cảm thấy thất vọng lo âu. Thế là anh và các bạn đồng tù cải tạo đă bị lưu đày ra đất Bắc rồi !…

        Anh không ngờ đây là chuyến tàu biệt xứ dành cho những người tù “cải tạo” như anh. Gần hai mươi năm trước, khi Hiệp định Genève được kư kết, sự tàn nhẫn, hiếu sát của VM thời đó đă khiến cho hàng triệu người yêu chuộng tự do phải ĺa bỏ quê cha đất tổ, mồ mả tổ tiên, ùn ùn di cư vào Nam. Giờ đây, chính những đồng chí của họ, với danh nghĩa “bên thắng cuộc” đă lưu đày hàng vạn sĩ quan, công chức của “bên thua cuộc” ra Miền Bắc. Họ muốn trả mối hận “sinh Bắc tử Nam” mà hàng triệu bộ đội của họ đă bỏ xác trong cuộc chiến cốt nhục tương tàn, do chính họ gây nên trong suốt gần hai mươi năm tại Miền Nam …

        Tân đứng bất động trên boong tàu, dưới ánh nắng dịu dàng, gió biển mát mẻ, cảnh vật tươi đẹp…mà ḷng lo lắng buồn phiền. Phải chăng tâm trạng của anh sớm hôm ấy cũng giống nỗi ḷng của Thúy Kiều ở lầu Ngưng Bích trong Truyện Kiều của Nguyễn Du :“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu. Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”… Anh nh́n về phương Nam. Nơi đó, gia đ́nh anh, gia đ́nh của hàng ngàn bạn đồng cảnh với anh sẽ buồn khổ biết bao khi được tin chồng con, anh em của họ đă bị “đi cải tạo ngoài Bắc”. Ở đó, có lắm trại tù hắc ám, mà người ta chỉ biết ít nhiều qua những trại nổi tiếng tàn ác như Đầm Đùn, Lư Bá Sơ đă có từ trước năm 1954. Hầu hết những trại “cải tạo” này nằm trong những nơi rừng thiêng nước độc, tù nhân bị đói khổ triền miên, bị đối xử hà khắc tàn bạo. Cho nên hầu hết tù nhân bị nhốt vào đây xem như không có ngày về.

        C̣n ở Miền Nam xa xôi dịu vợi kia, gia đ́nh anh sẽ sống ra sao? Với một nách bốn con, không công ăn việc làm, không kiếm ra tiền… làm sao vợ anh nuôi nổi thân ḿnh và đàn con thơ dại. Anh có hy vọng ǵ nàng thăm nuôi, tiếp tế cho anh trong những tháng năm sắp tới, nơi chốn lao tù CS tại Miền Bắc, nơi mà người dân vốn sống thiếu thốn trong suốt thời chiến tranh ba mươi năm qua? Tân thở dài quay lại công việc kéo những thùng phân đổ xuống biển, khi người cảnh vệ quát tháo giục giă  phía sau lưng …

* * *

        Khi có lệnh di chuyển ra khỏi tàu, đoàn người  ăn mặc nhàu nát, dáng điệu bơ phờ; với cảnh vệ mang súng đi cạnh, chậm răi dưới đáy hầm tàu đi lên. Hành khách đứng trên boong tàu lănh đạm nh́n xuống… Tân đưa mắt nh́n ra quang cảnh dưới bến cảng - sau này được biết đó là cảng Hải Pḥng. Một đám công an, với đồng phục màu vàng bốn túi, mũ cối gắn sao vàng; với súng ngắn đeo bên hông, tay dắt chó săn to lớn…đứng dọc con đường từ bến cảng ra đường lộ. Những chiếc xe Nhật loại chở khách, với màn che kín mít đang đậu bên đường như đang đợi khách… Những khách “đặc biệt” từ Nam ra bị c̣ng tay từng cặp trước khi bước lên xe. C̣n một tù nhân lẻ, bị c̣ng vào ghế ngồi trong xe cho “đủ cặp”!

        Đoàn xe khởi hành, chạy về hướng Hà Nội. Ở một đoạn đường, xe hơi đi sát bên xe lửa, Tân nh́n thấy một đoàn tàu, với đầu máy kéo đen x́, cũ kỹ, chậm răi lăn bánh, tuôn khói mịt mù. Một vài cậu bé từ dưới đất nhảy lên toa tàu; sau đó lại nhảy xuống…như chơi tṛ “cút bắt” với công an kinh tế! Xe đến ngoại ô Hà Nội, chuyển hướng về nam, chạy đến địa phận Thanh Hóa th́ trời đă tối. Đoàn xe dừng lại bên đường để những “hành khách cải tạo” xuống xe đi tiêu, tiểu. Bỗng từ trong xóm ven đường có ánh đuốc sáng lên, có tiếng gọi nhau ơi ới, vang cả xóm vắng: “Ra xem “tù cải tạo Ngụy” chúng mày ơi!”. Những người tù Miền Nam đang đại tiện, tiểu tiện, nghe được những “âm thanh cuồng nộ” như thế, vội chạy về chui vào xe… Và rồi đoàn xe vội vàng lăn bánh, trước khi có những “sự cố đáng tiếc” xảy ra!

        Khi đoàn xe qua một khúc sông ở địa phận Thanh Hóa, Tân thấy một chiếc phà nằm sẵn ở bến. Sau khi chiếc xe chở đầy tù “cải tạo” nặng nề, từ từ lăn bánh xuống phà, một công nhân kéo chiếc dây cáp cho chiếc phà di chuyển qua sông! Tân nh́n người bạn tù lẻ loi bị c̣ng tay vào ghế xe. Nếu xe di chuyển xuống phà bị trượt bánh, rơi xuống sông, những cặp tù bị c̣ng chung c̣n có thể d́u nhau bơi vào bờ. C̣n anh bạn tù lẻ loi kia, chắc phải chịu cảnh chết ch́m theo xe!

        Đến sáng, sau khi nặng nhọc leo lên đồi núi, qua những khu rừng, rồi đi xuống gần bờ sông Mă, đoàn xe dừng lại trước trại tù Thanh Cẩm. Trại được bao quanh bởi những bức tường đá dày, cao ngất; với vọng gác chung quanh; với một quá khứ lâu dài như trại Lư Bá Sơ ở vùng núi Thanh Hóa xây trước năm 1975. Đoàn “tân tù cải tạo” Thanh Cẩm, bước xuống xe, mệt nhọc, chán nản, uể oải trút bỏ lớp bụi đường bám trên áo quần, thân thể; trút bỏ kỷ niệm những tháng ngày tự do, êm đềm trong quá khứ ở Miền Nam.

        Và từ đó, Tân cũng như các bạn đồng tù, đă trải qua những tháng ngày lao động cực nhọc ở các đội trồng rau, trồng sắn; những buổi sáng mùa đông giá buốt phải ngâm những bó luồng (dài và to như thân cây tre) dưới sông Mă; những ngày hè cháy da phải lên núi khiêng đá về cất thêm những nhà tù “cải tạo”. Làm việc cực nhọc theo “chỉ tiêu” giao phó; ăn uống hạn chế theo “tiêu chuẩn” ấn định. Cho nên, nếu không có những đợt thăm nuôi của gia đ́nh trong Nam, tù “cải tạo” sẽ c̣n “ vĩnh viễn nằm lại trên bờ sông Mă” nhiều hơn nữa!

        Năm năm sau, Tân được gọi tên cho ra khỏi trại tù Thanh Cẩm, thoát khỏi chốn địa ngục trần gian ấy. Và măi đến mười năm sau, anh mới được chấp thuận cho đi định cư tại Hoa kỳ, đất nước tự do mà anh hằng mong ước.

* * *

        Tân ngồi dậy, bước xuống giường. Nằm măi một ḿnh trong cabin con tàu du lịch Caribbean Princess, anh vẫn không ngủ được. Bây giờ là mười hai giờ đêm. Vợ và các con, các cháu anh  vẫn chưa trở về cabin. Anh tự nhủ: mọi người giờ này vẫn c̣n vui chơi ở các cuộc giải trí trên  tàu, cớ sao anh tự “giam ḿnh” trong pḥng, giam ḿnh trong nỗi ray rức của quá khứ đau thương?

        Đă hơn ba mươi năm rồi, từ khi ra khỏi trại tù “cải tạo”, và sau đó đi tỵ nạn ở nước ngoài, anh những tưởng cuộc sống ổn định, tươi đẹp nơi quê hương thứ hai này sẽ làm anh quên được những đắng cay của cái quá khứ đau thương đó. Nhưng đêm nay, trải qua bảy ngày đêm thoải mái, thích thú trên chiếc du thuyền sang trọng, qua những ḥn đảo xinh đẹp thơ mộng của vùng biển Caribe, h́nh ảnh bi đát trên chuyến tàu đi “lưu đày biệt xứ” ở trại tù miền Bắc năm xưa lại hiện lên rơ nét. Làm sao anh quên được?

        Tân c̣n nhớ ngày mới từ trại tù Thanh Cẩm ở Miền Bắc trở về, người chị họ bên vợ từ Thanh Hóa vào Sài g̣n tham dự ngày giỗ mẹ vợ Tân. Chị là giáo viên một trường cấp 2 tại đó. Gặp Tân, chị mỉm cười gật đầu chào và nói với một giọng chân thật, thiện cảm:

        - Chào chú Tân. Nghe tin chú mới được tha về, tôi mừng cho chú!

        Rồi chị nh́n Tân với ánh mắt ái ngại:

        - Chú c̣n gầy yếu quá! Trong những năm “cải tạo”, chắc chú cực khổ lắm? Thế chú có bị đói ăn, bị đánh đập ǵ không?

        Tân nh́n người chị vợ, người giáo viên Miền Bắc vẫn c̣n chút từ tâm thăm hỏi anh. Tuy nhiên, anh không muốn bộc lộ t́nh cảm trung thực của chính ḿnh, nên chỉ trả lời theo “bài học” trong trại “cải tạo”trước đây:

        - Cám ơn chị đă thăm hỏi. Trong những năm trong trại, chúng tôi đă được “cho ăn vừa đủ để lao động sản xuất”. C̣n những việc xảy ra trong quá khứ như chị vừa hỏi, tôi không muốn nhắc lại làm ǵ! Với tôi, sáu năm trong trại “cải tạo”, giờ đây như một cơn ác mộng đă trôi qua, và khoảng thời gian đó chỉ là khoảnh khắc ngắn ngủi của một đời người mà thôi, chị ạ!….

        Người chị vợ mới gặp Tân lần đầu, thân t́nh tiếp lời Tân:

        - Chú nói thế th́ cũng tốt thôi! Chú ạ!!

        Tân im lặng không trả lời. Nhưng làm sao anh quên được quá khứ đau thương kia?

* * *

        Tân mở cửa cabin, bước ra đứng tựa lan can ở mạn tàu. Đêm yên tĩnh với gió biển mát lạnh. Những đợt sóng đập vào thành tàu, tạo nên những cuộn lân tinh trắng xóa, nhấp nhô. Một cánh chim biển bay qua, kêu vang một góc trời. Tân sực nhớ đến những cánh hải âu màu trắng, anh đă nh́n thấy vào buổi sáng đầu tiên trên đất Bắc. Cảnh trí hôm ấy thật đẹp. Nhưng với anh, hôm ấy là một  ngày “đen tối”, khởi đầu cho những tháng năm cực nhọc, đói khổ, nhục nhằn mà anh và các bạn đồng tù “cải tạo” chịu đựng suốt bao năm sau đó.

        Đêm nay, trên chiếc du thuyền to lớn, sang trọng này, anh lại nhớ chuyến tàu kinh hoàng năm xưa. Nếu so sánh những người nô lệ da đen bị đám buôn người nhốt trong nhà hầm chật cứng, mất vệ sinh… để đưa xuống tàu, chở sang bán ở châu Âu, châu Mỹ hơn ba thế kỷ trước; rồi sau đó họ bị bán lại cho các đồn điền để làm công việc trồng mía hay thuốc lá… th́ những đồng tù “cải tạo” của Tân bị nhồi nhét dưới đáy tàu, nhệt nhoài, ngột ngạt, bẩn thỉu có khác chi? Khác chăng là những người nô lệ Phi châu đó dẫu làm việc cực nhọc vẫn có đồng lương, vẫn được cho ăn uống đầy đủ… Sau này, con cháu họ vẫn sinh sống b́nh thường, có luật pháp bảo vệ để tránh nạn kỳ thị, nhất là từ ngày Tổng thống Mỹ Lincoln kư bản Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ năm 1863. Có thế, con cháu họ mới có thể quên đi nỗi khổ đau của kiếp nô lệ mà cha ông ngày xưa đă chịu đựng…  

        Tân thở dài nh́n ra sóng nước xa xa. Trăng đă lên cao, tỏa nhẹ ánh sáng vàng nhạt trên mặt biển mênh mông tím sẫm, gợn sóng lăn tăn, lấp lánh ánh lân tinh ma quái. Đêm đă khuya, nhưng hành khách trên tàu vẫn c̣n dạo chơi bên trong các pḥng giải trí. Tân đứng một ḿnh ngoài hành lang mạn tàu mà ḷng cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết…Trong tiếng sóng ŕ rào, tiếng gió vi vu, Tân nghe như có tiếng hát của ca nhạc sĩ Nam Lộc trong bài “Xin một nụ cười” của chính tác giả:Tự do ôi tự do! tôi trả bằng nước mắt. Tự do hỡi tự do! anh trao bằng máu xương. Tự do ơi tự do! em đổi bằng thân xác. V́ hai chữ tự do, ta mang đời lưu vong…"

        Một đêm đầu tháng 7, 2014  
                  Tam Bách

 

 

Copyright @ 2005 quocgiahanhchanh.com
Webmaster@tranbachthu