Nhân Hồ Cẩm Đào, Chủ Tịch Nhà Nước Trung Quốc đến thăm Việt Nam, Tú Gàn
ngồi đọc lại cổ sử để xem cha ông chúng ta đă làm thế nào để khỏi trở
thành một châu, một quận hay một huyện của Trung Quốc. Quả thật có nhiều
cái khôn của người xưa mà người thời nay phải học.
Nhà
văn Lỗ Tấn bảo rằng lịch sử Trung Hoa là lịch sử ăn thịt người. Thật ra,
đây không phải là một đặc điểm riêng của lịch sử Trung Hoa mà là một đặc
điểm chung của lịch sử loài người. Trong từng khu vực, các bộ lạc, các sắc
tộc, các quốc gia đă đánh nhau liên miên để cướp đất đai, gia súc, lương
thực, nô lệ... Có bộ tộc hay nước đă bị tiêu diệt hay biến mất, có bộ tộc
hay nước đă trở thành đế quốc, làm bá chủ cả một khu vực. Hiện tượng này
biến đổi không ngừng trong ḍng lịch sử kéo dài khoảng 5.000 năm.
Riêng giữa Việt Nam và Trung Quốc, có quá nhiều chuyện nhiêu khê đă xẩy
ra. Nước Tàu đă đô hộ Việt Nam đến 1.000 năm, nhưng nhờ chí khí bất khuất
và sự khôn khéo của cha ông chúng ta, Việt Nam c̣n tồn tại đến ngày nay.
Phải công nhận rằng các nhà viết cổ sử ngày xưa đă ghi lại các sự kiện
lịch sử khách quan hơn các “sử gia” ngày nay rất nhiều. Đọc lại cổ sử
chúng ta mới thấy rằng những chuyện ghi lại trong đó khác xa những chuyện
đă được một số “sử gia” ngày nay xào nấu lại và huyền thoại hóa. Thành ra
sử không c̣n là sử nữa!
Nước Việt đă đổi quốc hiệu không biết bao nhiêu lần: Hùng Vương đặt tên
nước là Văn Lang, Lư Nam Đế gọi là Vạn Xuân, Đinh Tiên Hoàng đổi thành Đại
Cồ Việt, Lư Thánh Tông gọi là Đại Việt, nhà Tống gọi nước ta là An Nam
quốc. Hồ Quư Ly gọi nước là Đại Ngu, quân Minh qua đổi thành Giao Chỉ. Lê
Lợi lại gọi nước là Đại Việt. Thời Tây Sơn, bên trong vẫn gọi là Đại Việt,
nhưng khi nói chuyện với Trung Quốc vẫn xưng là An Nam quốc. Sau khi thống
nhất sơn hà, vua Gia Long sai Lê Quang Định sang Tàu cầu phong và xin đổi
quốc hiệu thành Nam Việt, nhưng nhà Thanh không bằng ḷng, viện lẽ dưới
thời nhà Triệu, Nam Việt gồm cả đất lưỡng Quảng, nên nhà Thanh đă đổi Nam
Việt thành Việt Nam để khỏi lầm với tên cũ. Thành ra cái tên Việt Nam là
do nhà Thanh ban!
Chuyện đôi co giữa Trung Hoa và Việt Nam được ghi lại trong cổ sử quá
nhiều, chúng tôi chỉ xin ghi lại dưới đây hai biến cố quan trọng nhất, đó
là hai biến cố xẩy ra dưới thời Lê Lợi và Quang Trung, hai đệ nhất anh
hùng của dân tộc.
TỪ
B̀NH NGÔ ĐẠI CÁO
Năm
Đinh Mùi (1427), sau khi đánh đuổi quân Minh, Lê Lợi bảo Nguyễn Trăi làm
tờ bá cáo cho thiên hạ biết. Nguyễn Trăi viết “B́nh Ngô Đại Cáo” nghe rất
hùng hồn:
“Trận Bồ Đằng sấm vang sét dậy, miền Trà Lân trúc phá tro bay, Sĩ khí đă
hăng, quân thanh càng mạnh. Trần Trí, Sơn Thọ mất vía chạy tan; Phương
Chính, Lư An t́m đường trốn tránh. Đánh Tây kinh phá tan thế giặc, lấy
Đông đô thu lại cỏi xưa. Dưới Ninh Kiều máu chảy thành sông; bến Tụy Động
xác đầy ngoài nội. Trần Hiệp đă thiệt mạng, Lư Lương lại phơi thây. Vương
Thông hết cấp lo lường, Mă Anh khôn đường cứu đỡ...
“Mười tám, Liễu Thăng thua ở Chi Lăng, hai mươi Liễu Thăng chết ở Mă Yên.
Hai mươi lăm, Lương Minh trận vong; hai mươi tám, Lư Khánh tự vẫn...”
Nhưng liền sau đó, Lê Lợi lại sai Nguyễn Trăi viết tờ tấu, lấy danh nghĩa
là Trần Cảo, con cháu nhà Trần, xin vua Minh phong cho Trần Cảo lên làm
vua nước Nam, và xin nạp cống, v́ quân Minh khi đem quân qua đánh chiếm
nước ta đă tuyên bố rằng họ đến nước ta để dựng lại ngôi cho con cháu nhà
Trần đă bị nhà Hồ cướp.
Tờ
tấu này đă được in trong “Quân trung tứ mệnh tập” (bài số 21). Bài tấu này
khá dài, chúng tôi chỉ xin ghi lại những đoạn chính. Mở đầu, bài tấu viết
như sau:
“Thần thử nghĩ, nước thần ở biệt tại miền hẻo lánh, xa cách phong hóa
Trung Hoa. Khi Thái Tổ Hoàng Đế mới lên ngôi, trước các nước tổ tiên thần
đă vào cống. Mới rồi, nhân v́ họ Hồ cướp nước, lật đổ tông tự nhà thần;
trên dối triều đ́nh, dưới khổ dân chúng; trời giáng tai vạ, quan dân ĺa
ḷng. Thái Tông Hoàng Đế (tức Minh Thái Tổ) không nở để dân một phương khổ
sở, liền dấy quân hỏi tội. Sau khi dẹp yên, lại xuống chiếu t́m con cháu
họ Trần. Bảo rằng con cháu họ Trần đều chết hết, không c̣n ai có thể kế
lập, nên lại xin đặt quận, huyện, rồi lại đem con cháu họ Trần là bọn Trần
Nguyên Hy, Trần Nguyên Tích, Trần Quang Chỉ vài chục người đưa về kinh sư
để an trí. Lại mở đặt ba ty Đô, Bố, Án cùng các nha môn phủ huyện vệ sở,
bổ quan chia trị. Nhưng quan đặt ra không thể theo ư của triều đ́nh mà yên
vỗ người ta, lại chăm bóc lột dân để sung sướng cho ḿnh...”
Ở
phần dưới, tờ tấu đă viết tiếp như sau:
“Ngày 11 năm Tuyên Đức thứ I (1426), thần về đến nước nhà th́ thấy người
trong nước đă thu phục được hết bờ cơi đất đai của ông cha thần. Các thành
tŕ Tân B́nh, Thuận Hóa, Nghệ An, Diễn Châu, Thanh Hóa, Tiền Vệ, Xương
Giang, Trần Di, Thị Cầu, Tam Giang đều đă mở cửa cởi giáo để giảng ḥa.
Đến như quan lại ở vệ, sở, châu, huyện cùng mọi quan quân th́ thần đă thu
nuôi tất cả, không xâm phạm mảy may. C̣n quan Tống Binh Vương Thông cùng
bọn Trần Trí, Lư An, Mă Anh, Phương Chính, Nội Quan Sơn Thọ, Mă Kỳ, cũng
đă cùng thần ḥa giải. Thần đă xin bọn Vương Thông sai người đem thư về
tâu, nhưng bọn ấy vừa sợ tội vừa hoài nghi nên không dám sai đi.
“Bọn thần tự biết mang tội rất nặng, không biết tiến thoái đường nào.
Nhưng thần trộm nghĩ rằng từ xưa thánh nhân như Thang Vũ đánh kẻ có tội mà
cứu dân, hết thảy đều do lẽ trời chí công, không hề có chút tư ư ở trong.
V́ thế nên nhà Hạ, nhà Thương tuy đă mất mà con cháu c̣n được phong ở nước
Kỷ, nước Tống. Việc đánh việc phong chưa hề không thể theo ư trời. Về sau
như nhà Hán, nhà Đường thích ham công to, mà cũng chỉ ràng buộc nước thần
qua loa, không để ư đến. Huống chi điển chương của Thái Tổ Hoàng Đề ta để
lại đời sau rành rành ở đó, chiếu lập con cháu họ Trần của Thái Tông Hoàng
Đế nét mực vẫn chưa khô. Cúi nghĩ Hoàng Đế Bệ Hạ là bậc thánh thần văn vơ,
trí tuệ thông minh, đức hiếu sinh đây đó thấm đều, ḷng nhất thị xa gần
không khác, tất như Hán Vũ hạ chiếu băi Luân Đài, tất như Dương Thái rút
quân ở Tân Thị, tất tuân theo điều chương của Thái Tổ, tất thi hành chiếu
thư của Thái Tông, tất xá cho thần tội lỗi như núi g̣, tất tha cho thần
h́nh phạt bằng phủ việt, để cho thần được giữ đất cơi Nam, nộp cống cửa
khuyết. Như thế không những may mắn cho một ḿnh thần, mà dân cả nước
thần, không ai là chẳng vui mừng nhảy nhót, đội cảm nhân đức của Bệ Hạ,
chẳng khác ǵ khí xuân làm tươi cỏ héo, gió ẩm làm tan nước đông vậy.
“Thần xin ghi dạ khắc xương, hết sức trung thành, dâng biểu xưng thần,
cống hiến không thiếu. Ngoài ra, việc sai người đưa biểu văn cống sản vật
th́ chưa dám tự chuyên. Vậy kính cẩn tâu bày, cúi chờ sắc chỉ.”
Trong khi đó, Lê Lợi họp với tướng Tàu là Vương Thông để ḥa đàm. Ngày 22
tháng 11 năm Đinh Mùi (1427) cùng với Vương Thông hội thề, hẹn đến 22
tháng 12 quân Minh sẽ rút về nước.
Ngày 29 tháng 11 Lê Lợi cử Sứ bộ qua tŕnh với vua nhà Minh ở Yên Kinh
(Bắc Kinh). Sứ bộ gồm có Lê Thiếu Dĩnh, Lê Cảnh Quang, Lê Đức Huy, Đặng
Hiếu Mộc và 4 người đi theo. Sứ bộ mang theo tờ biểu và bảng ghi sản vật,
trong đó có có hai tượng người, một bằng vàng (thay cho vua Minh) và một
bằng bạc (thay cho Liễu Thăng đă vị chém).
Sứ
thần cũng đem theo một bản danh sách quân Minh bị bắt và xin trả lại cho
vua Minh gồm có:
-
Các quan và quân nhân: 13.585 viên danh.
-
Quan coi quân: 280 viên.
-
Quan coi dân và điền lại: 137 viên.
-
Kỳ quân: 13.170 viên danh (Sử Kư Toàn Thư ghi là 13.180 viên).
-
Ngựa: 1.200 con.
Vua
Minh nhận được tờ biểu cầu phong của Trần Cảo do Mộc Thạnh gởi về, tuy
biết là giả dối, nhưng cũng muốn băi binh nên đồng ư phong cho Trần Cảo
làm vương. Vua liền sai Thượng Thư Bộ Công là La Như Kính cùng với Từ Vĩnh
Đạt mang chiếu sắc qua phong cho Trần Cảo làm An Nam Quốc Vương, đồng thời
ra lệnh kê khai con cháu nhà Trần hiện c̣n sống để ban sắc phong và lệ
triều cống như cũ. Nhưng khi sứ nhà Minh đem bài văn ân xá và sắc phong
đến nơi th́ Lê Lợi tŕnh rằng Trần Cảo đă lâm bệnh và qua đời rồi!
Có
sách nói rằng Trần Cảo thấy ḿnh không có công trạng ǵ nên bỏ trốn, nhưng
bị quan quân bắt lại, Trần Cảo đă uống thuốc độc tự tử. Sách khác lại nói
rằng Trần Cảo bỏ trốn, Lê Lợi sai quân đuổi theo và giết chết. C̣n rất
nhiều giả thuyết về chuyện Trần Cảo, nhưng nói chung Trần Cảo chỉ là lá
bài Lê Lợi dùng để dụ nhà Minh đi vào kế hoạch phong vương cho ông mà
thôi.
Sau
đó, Lê Lợi sai hai sứ thần là Lê Quốc Khi và Phạm Thành đi tạ ơn vua Minh,
và hai sứ khác là Hà Phủ và Hà Liễn đi cáo phó về việc Trần Cảo đă chết.
Họ cùng đi với sứ nhà Minh trở về Yên Kinh. Nhận được cáo phó về việc Trần
Cảo qua đời, vua nhà Minh lại sai La Như Kính và Từ Vĩnh Đạt trở lại nước
Nam, mang theo dụ của vua Minh nói rằng “họ Trần đời đời vẫn được ḷng
người, phải t́m cho được con cháu nhà Trần mà tâu lên và trả hết quân
nhân, khí giới.”
Nhận được dụ này, Lê Lợi sai Nguyễn Trăi viết một tờ tấu khác như sau:
“Thân tộc họ Trần, trước bị Hồ Quư Ly giết hết, không thấy c̣n ai. Năm
Tuyên Đức thứ I (1426) mới t́m được ở đất Lăo Qua Trần Cảo xưng là cháu họ
Trần. Năm Tuyên Đức thứ II (1427) Trần Cảo về nước th́ người cả nước đều
quy phụ, đă sai thần Lê Lợi cùng các đầu mục gởi thư cho quan Tổng Binh
xin rút quân. Năm Tuyên Đức thứ II đă sai Lê Thiếu Dĩnh dâng biểu trần
t́nh tạ tội. Không ngờ thấm thoát mấy ngày, Trần Cảo ốm chết. Con cháu họ
Trần thực nay không c̣n ai.
“Nếu quả có c̣n ai, bọn thần tuy chưa phụng sắc, cũng đă phải gơ cửa quan
mà xin mệnh, lẽ nào ân chiếu như thế mà thần lại mang ḷng khác, việc đó
tất nhiên không có. Lại trong sắc có truyền phải trả về hết những quan
quân c̣n giữ lại. Thần lấy làm lo sợ không dám yên ḷng. Đó là khi trước
quan quân sang chinh thảo, người nước thần sợ bị giếc chóc, liền đem nhau
ra giữ ǵn pḥng bị, làm kế tự vệ, không khác ǵ chim cùng th́ mổ, thú
cùng th́ vồ. Trừ những người đă tử thương ở trước lưỡi gươm, mũ giáo ra,
những quân nhân hiện c̣n thần sai Thiếu Dĩnh dâng danh sách. Thần lại hết
sức t́m ṭi, nay theo lời những đầu mục, kỳ lăo trong nước, th́ những
người nói trên thực không c̣n ai cả.”
Vua
Minh không tin lời của Lê Lợi, nên năm Kỷ Dậu (1429) lại sai Lư Kỳ và Từ
Vĩnh Đạt đến Đông Đô truyền cho Lê Lợi phải t́m cho ra con cháu nhà Trần.
Lê Lợi liền bảo các đầu mục và kỳ lăo làm tờ trạng nói rơ đă t́m hết sức
nhưng con cháu nhà Trần không c̣n ai, nên xin phong cho Lê Lợi làm vua. Tờ
trạng viết: “Người trong nước chúng tôi đă t́m khắp mọi nơi, nhưng cháu
con họ Trần không c̣n ai cả. Lê Lợi, đại đầu mục của bản quốc, là người
khiêm tốn, cung kính, cẩn thận, trung hậu, biết đường lối vỗ về yên ủi
nhân dân, rất được ḷng dân yêu mến, có thể cáng đáng coi quản công việc
đất nước.” Sau đó, Lê Lợi sai Đào Công Soạn và Lê Đức Huy đi với Lư Kỳ và
Từ Vĩnh Đật sang Yên Kinh để dâng.
Vua
Minh xem tờ trạng này vẫn không tin. Vua bảo các thị thần: “Lời lẽ trong
bản trạng này chưa vội tin được, phải lại nêu cho t́m kiếm con nhà Trần.”
Vua lại sai viềt sắc dụ bảo Lê Lợi và các đầu mục cứ tiếp tục lùng kiếm
con cháu nhà Trần. Nếu không c̣n ai nữa th́ mọi người liên danh kư tên để
rôi xử trí. Bốn sứ thần nói trên lại cầm dụ quay về nước Nam.
Ngày 1 tháng Giêng năm Tân Hợi (1430), Lê Lợi sai Chánh sứ là Lê Nhữ Lâm,
Phó sứ là Hà Lạt cùng với Lê Bính sang Yên Kinh dâng biểu trần t́nh về
việc không c̣n t́m thấy con cháu nhà Trần và cầu phong cho Lê Lợi. Vua
Minh thấy không c̣n cách nào hơn là sai Chưởng Xưởng và Tử Kỳ mang sắc ấn
sang phong Lê Lợi làm Quyền Thự An Nam Quốc Sự (Sách Hoàng Minh Thống Kỳ
nói là phong làm An Nam Quốc Vương).
Cách Lê Lợi dùng để thắng nhà Minh nói trên cũng sẽ được Nguyễn Huệ dùng
để thắng nhà Thanh sau này.
QUA
TIẾNG TRỐNG NGỌC HỒI
Năm
1789, sau khi đánh trận Ngọc Hồi và trận Đống Đa toàn thắng, vua Quang
Trung vào thành Thăng Long, lấy được ấn tín và các giấy tờ của Tôn Sĩ Nghị
bỏ lại, trong đó có mật dụ của vua Càn Long chỉ dẫn phương cách đánh chiếm
Đại Việt. Xem tờ mật dụ này, vua Quang Trung bảo Ngô Th́ Nhiệm: “Ta xem tờ
chiếu của vua nhà Thanh chẳng qua cũng muốn mượn tiếng để lấy nước ta đó
thôi. Nay ta đă đánh thua một trận, tất là lấy làm xấu hổ, chắc không chịu
ở yên. Hai nước mà đánh nhau th́ chỉ dân khổ. Vậy nên dùng lời nói khéo để
khiến cho khỏi sự binh đao; việc ấy nhờ nhà ngươi chủ trương cho mới
được.”
Sự
tiên đoán của vua Quang Trung quả đúng. Trong 60 năm trị v́, vua Càn Long
đánh đông dẹp tây và tự hào về vơ công của ḿnh, nên khi nghe tin quân của
Tôn Sĩ Nghị bại trận, đă triệu hồi Tôn Sĩ Nghị về báo cáo và cử Phúc Khang
An làm Tổng Đốc Lưỡng Quảng, xuất binh mă chín tỉnh, lấy 50 vạn quân đi
đánh Đại Việt. Nhưng Phúc Khang An không biết chiến cuộc rồi sẽ ra sao,
nên t́m cách nghị ḥa. Quan coi việc quân sự của nhà Thanh ở Quảng Tây là
Thang Hùng Nghiệp đă viết một mật thư gởi đến Nguyễn Huệ, trong đó có đoạn
như sau:
“Xét ra vua Lê nước An Nam phụng sự Thiên Triều đă bao lâu, khi bị họ
Nguyễn Tây Sơn chiếm đoạt quốc đô, Đại Hoàng Đế (vua nhà Thanh) sai Nguyên
Nhung đem quân ra cửa Nam Quan lấy lại đất cho nhà Lê rồi lại nối phong
cho quốc vương. Không ngờ Lê Duy Kỳ hèn yếu, không có tài năng, không chấn
tác được ǵ, lại đem mẹ ngầm trốn. Thế là họ Lê không dấy lên được, sau
này (Đại Hoàng Đế) không đem An Nam giao cho nữa.
“Đại Hoàng Đế coi bốn biển là một nhà, không thèm đem An Nam thu về làm
quận huyện.
“Nhưng đáng tiếc họ Tây Sơn lại kháng cự lại Thiên Triều. Theo lẽ đó thực
là bất thuận.
“Bản đạo nghĩ An Nam vô chủ, nếu đại binh lại tiến đánh, thế tất các tỉnh
chia đường đều tiến, chẳng khỏi giết hại nhân dân. Họ Nguyễn, ngươi tự
liệu sức có thể kháng cự được măi không? V́ thế, ta mật đưa trát dụ cho
biết rằng: Họ Nguyễn Tây Sơn lúc này nhân lúc chưa có chỉ dụ, chọn ngay
một vài viên quan lập tức đem biểu đến cửa Nam Quan tâu với Đại Hoàng Đế:
“V́
Duy Kỳ không được nhân dân quy phục đă trốn tránh đi hết, nên phải đem
quân đến thay v́ trấn thủ. Không ngờ khi đi đường gặp quân Thiên Triều,
thế rất dữ dội, gặp ai cũng giết. Bó tay chịu trói, thế tất bị giết tất
cả, bởi thế những người cầm quân phải chống cự lại. Tự biết là mang tội
rất nặng. Hiện đă tra ra những người kháng cự Thiên binh và đem chém đi
rồi...
“Tờ
biểu này trang sau đề niên hiệu Thiên Triều đóng ấn “Khâm ban An Nam quốc
vương”. Như thế th́ biểu cũng thuận. Đại Hoàng Đế xét ḷng thành sẽ cho
ngươi chủ tŕ quốc sự.
“Ta
sau này cùng An Nam giao thiệp rất nhiều, bởi thế mật dụ cho biết. Sau này
họ Nguyễn Tây Sơn tŕnh bẩm cung bảo đại nhân, quyết không nên đề cập đến
trát này của bản đạo, phải giữ cho kín. Thuận nghịch, họa phúc do Tây Sơn
tự chủ. Bản đạo không nói đến lần thứ hai nữa đâu.
Nay
trát.”
Sau
khi gởi mật thư đi ba ngày, vẫn thấy quân Tây Sơn c̣n tiến công. Mặc dầu
biết thư chưa đến, Thang Hùng Nghiệp viết mật thư thứ hai như sau:
“Xét họ Lê nước An Nam hèn nhát không tài, không giữ được nghiệp tổ. Nay
lại bỏ nước ngầm trốn, th́ người ấy quyết không thể lại cho làm chủ nước
An Nam.
“Bây giờ đang định tâu xin Đại Hoàng Đế cho lập người tài năng chính trực,
để trấn thủ nước An Nam, trên dâng lễ cống, dưới thỏa đời sống của nhân
dân.
“Ngươi là họ Nguyễn Tây Sơn ở gần An Nam, chưa biết chừng được Đại Hoàng
Đế phong cho làm An Nam Quốc Vương. Bởi v́ hiện tại, trừ họ Nguyễn Tây Sơn
ra, không có người nào có thể chủ tŕ được công việc nước An Nam.
“Bản đạo trước đă sai người đem tờ biểu dụ đến đô thành nhà Lê. Ngày ấy
chủ ngươi tất đă làm tờ phúc đưa đến. Hiện lại nghe nói lũ quan mục các
ngươi đă đến Lạng Sơn, nhưng không được làm hại quan dân trăm họ xứ ấy,
phải để cho họ yên tĩnh, giữ phép, đợi chủ ngươi phúc bẩm. Nếu các ngươi
không ước thúc các quan mục, lại dám tự ư làm bậy, th́ Đại Hoàng Đế không
những không ban ân điển mà con tức giận cho hợp quân tiến đánh, không thể
khoan thứ được.
Nay
dụ.
Ngày 15 tháng Giêng năm Kỷ Dậu, Càn Long thứ V.”
Sau
khi nhận được hai văn kiện nói trên, Nguyễn Huệ thấy rằng Thang Hùng
Nghiệp không muốn đưa quân đi giao chiến nữa, nên bảo Ngô Th́ Nhiệm viết
một thư trả lời và một tờ biểu dâng lên Vua Thanh. Ngô Th́ Nhiệm viết tờ
biểu nêu lên nguyên nhân xẩy ra chiến tranh, kể tội Tôn Sĩ Nghị và xin
xưng thần nộp cống, nhưng viết quá dài và lời lẽ không khôn khéo bằng
Nguyễn Trăi, trong đó có những đoạn như sau:
“Tôi là Nguyễn Quang B́nh, ở khuất nẻo bên An Nam, bấy lâu vẫn được tắm
gội trong thánh giáo.
“Nguyên từ hai trăm năm tới nay, Quốc Vương họ Lê nắm. Kịp đến Tiên viên
Lê Đức Chuyên tuổi già, tiền phụ chính Trịnh Bồng mờ tối, biếng nhác, binh
kiêu dân oán, trong nước ră rời.
“Tôi vốn là kẻ mặc áo vải ở Tây Sơn, nhân thời thế nổi lên làm việc. Mùa
hạ năm Bính Ngọ (1786) cất quân ra diệt họ Trịnh, trả lại nước cho nhà Lê.
“Năm ấy tiền Lê Vương tạ thế, tôi lại pḥ lập Tự Tôn là Duy Kỳ lên ngôi.
Duy Kỳ là người dâm bạo, không lo chính sự nước nhà; trong th́ kỷ cương
rối bét ở triều chính, ngoài th́ gây hiềm khích với biên giới. Lại c̣n hảm
hại kẻ trung lương, giết chết người đồng tông là khác nữa. Thần dân trong
nước chạy đến kể lể với tôi, nài xin đem binh ra trừ kẻ loạn...
“Mùa đông năm ngoái (1788), Nghị điều bắt, huy động nhiều quân, kéo ra
khỏi cửa ải, mượn tiếng khôi phục nhà Lê, truyền hịch đi khắp trong nước,
đổ tội cho tôi. Hắn chực đánh xốc đến Quảng Nam, đào cây đảnh rễ, để trừ
mối lo sau cho Duy Kỳ...
“Hay
tin có binh mă thượng quốc ra khỏi cửa ải, tôi nghĩ tấc ḷng “sợ mạng trời
phục nước lớn” của ḿnh bấy nay đă bị kẻ khốn thần ngăn trở mà cái cớ Duy
Kỳ trốn bỏ nước kia lại bị che lấp không thông đạt được, sau này mối binh
tranh hùng th́ ra tai họa không phải là ít...”
Đọc
bài biểu này, Thang Hùng Nghiệp không bằng ḷng, sợ vua Càn Long phật ư,
v́ chính vua đă ra lệnh cho Tôn Sĩ Nghị đi đánh, nên không dám chuyển đi.
Ông viết một mật thư khác gởi cho Nguyễn Huệ và nói:
“Họ
Tây Sơn nhà ngươi nên nhân trước khi có chỉ dụ, mau mau làm biểu đem sang
đây, gơ cửa kêu với Đại Hoàng Đế rằng Lê Duy Kỳ không được dân vọng, nhân
dân bơ vơ tản đi bốn ngả... Rồi nên nhờ người tâu với Đại Hoàng Đế cúi
thương mọi rợ không biết ǵ, uốn theo lời xin mà tha thứ. Nên chăng cứ để
Lê Duy kỳ đứng giám quốc, kính xin nhà vua ban chiếu chỉ phán bảo cho.
“Đật lời cung thuận như vậy, chắc được Đại Hoàng Đế soi xét ḷng thành sẽ
cho nhà ngươi chủ tŕ việc nước. Bây giờ lại cho thể sai người sang kêu
cứu Thiên Triều ban cho an điển (tức cầu phong).”
Kèm
theo mật thư này là một mật thư khác, trong đó Thang Hùng Nghiệp có viết:
“Ta xem tờ biểu ta thấy lạ lùng và sợ hải quá! Như thế th́ nước người
không cần phải được Đại Hoàng Đế phong vương cho mà là muốn gây mối binh
đao vậy.”
Nhận được hai mật thư này, Nguyễn Huệ bảo Ngô Th́ Nhiệm soạn một tờ biểu
khác, trong đó có những câu như sau:
“Tôi là người áo vải ở trại Tây Sơn nước An Nam, sinh trưởng ở cỏi xa, hâm
mộ thánh giáo Trung Hoa. Gặp lúc biến cố bèn theo chinh chiến. Mùa hạ năm
Bính Ngọ (1786) có việc ở Tây thành rồi lại về Nam. Mùa Xuân năm Mậu Thân
(1788), nhân trong nước không yên, đem quân lại đến Thăng Long. Năm ấy đă
khiến sứ giả đến cửa Nam Quan, đem đủ qyốc t́nh tâu lên, cúi mong Đại
Hoàng Đế phân xử. Nhưng Lưỡng Quảng Tổng Đốc Tôn Sĩ Nghị xé thư đuổi sứ
về, rồi lại nghe lời người đàn bà nhà Lê nịnh hót nói khéo, vô cớ động
binh, gây hiểm hấn ở ngoài biên.
“Ngày mồng 5 tháng Giêng năm nay, lúc mới đến, tôi mong gặp Tôn Sĩ Nghị để
hỏi xem việc dùng binh có phải là thực do Đại Hoàng Đế không. Nhưng Sĩ
Nghị tự đón đánh, rồi bị đầy tớ của tôi đánh bại, quân sĩ giày xéo lên
nhau mà chết không biết bao nhiêu mà kể. Những quân hiệu bị bắt c̣n hơn
800 người.. tôi đă cấp cho ăn mặc và cho ở riêng một chỗ...
“Nếu t́nh h́nh trên không được bày tỏ, Thiên triều không khoan dung, muốn
động binh chinh chiến, th́ nước nhỏ không được thờ nước lớn, tôi cũng đành
nhờ trời mà thôi.”
Sử gia
Trần Trọng Kim ghi lại rằng vua Quang Trung đă cho người đưa vàng bạc qua
đút lót cho Phúc Khang An, rồi sai người cháu là Nguyễn Quang Hiển và quan
Vũ Huy Tấn đem đồ cống phẩm sang Yên Kinh vào chầu vua nhà Thanh và dâng
biểu xin phong.
Bên
ngoài có Phúc Khang An đề đạt giúp, bên trong Nguyễn Huệ đút lót cho quan
làm chủ trương của triều đ́nh nhà Thanh là Hà Thân nhờ giúp đỡ. Hà Thân
dùng lời khéo nói, nên điều ǵ cũng hợp với ư vua nhà Thanh, nên vua sai
sứ sang phong cho Quang Trung làm An Nam Quốc Vương.
ĐẾN
MÔI HỞ RĂNG LẠNH
Trong cuộc chiến tranh Đông Dương vừa qua, Trung Cộng đă bảo đảm thắng lợi
cho Việt Cộng trong cả hai cuộc chiến. Từ năm 1945 đến năm 1949, Việt Cộng
bị Pháp đuổi chạy dài. Nhưng tháng 10 năm 1949, sau khi Mao Trạch Đông
chiếm được toàn Trung Hoa và thành lập nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa,
Việt Cộng được Trung Cộng huấn luyện và yểm trợ tối đa. Có thể nói, không
có sự chiến thắng của Mao Trạch Đông năm 1949, không có Điện Biên Phủ và
không có 30 tháng tư năm 1975.
Nhưng sau đó, giữa Trung Cộng và Việt Cộng có sự bất đồng về nhiều vấn đề,
nhất là việc Việt Cộng đem quân qua chiếm Cam-bốt. Ngày 17.2.1979, Trung
Cộng đă đem quân qua “dạy cho Việt Nam một bài học”. Ngày 4.10.1979, Đảng
CSVN đă cho phát hành cuốn bạch thư có nhan đề “Sự thật về quan hệ Việt
Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua”, tố cáo những hành vi tráo trở của
Trung Cộng. Trong cuốn bạch thư này, Đảng CSVN đă mô tả cuộc xâm lăng của
Trung Cộng như sau: “Chúng hành động với sự man rợ của một đạo quân ăn
cướp thời trung cổ kết hợp với những thủ đoạn tinh vi của các quân đội xâm
lược của đế quốc ngày nay.” Từ đó, CSVN ngả hoàn toàn về phía Liên Sô, c̣n
Trung Cộng đánh Việt Cộng bằng kinh tế, cắt hết viện trợ và đưa hàng lậu
vào làm các cơ sở sản xuất của Việt Cộng sụp đổ. Việt Cộng lâm cảnh cùng
khốn.
Nhưng năm 1990, sau khi chế độ cộng sản Liên Sô và các chế độ cộng sản
Đông Âu sụp đổ, cả Đảng CSTQ lẫn Đảng CSVN đều nhận thấy rằng cần phải bỏ
qua những bất đồng cũ và kết hợp lại với nhau để tồn tại. V́ thế, “t́nh
hữu nghị Việt - Trung đời đời bền vững” đă được tái lập trong cái thế “môi
hở răng lạnh”.
Từ
năm 1991 đến nay, hai nước đă có những cuộc gặp gỡ cấp cao để giải quyết
những tranh chấp và “xiết chặt t́nh hữu nghị”: Phái đoàn cao cấp của CSVN
thăm Trung Quốc 14 lần. Lần sau cùng là cuộc viếng thăm Bắc Kinh của Thủ
tướng Phan Văn Khải vào tháng 5/2004. C̣n phái đoàn cao cấp của CSTQ
đến thăm Việt Nam 13 lần và lần quan trọng hơn cả là cuộc viếng thăm của
Chủ tịch Nước Trung Quốc Hồ Cẩm Đào từ 31/10 đến ngày 2/11/2005 vừa qua.
Hai bên đă ra một bản “Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc” gồm 9 điểm,
những dùng nhiều sáo ngữ và dài quá. Sau đây là một số điểm chính: (1)
Tiếp tục “xây dựng Tổ quốc xă hội chủ nghĩa” (mặc dầu hai bên đều biết chủ
nghĩa Mark – Lê đă quá lỗi thời). (2) Phấn đấu thực hiện trước thời hạn
mục tiêu đưa kim ngạch thương mại hai nước đạt 10 tỷ USD vào năm 2010
(trong khi đó, hàng lậu Trung Quốc vẫn tiếp tục tràn vào Việt Nam làm các
nhà kinh doanh tại Việt Nam lè lưỡi). (3) Hoàn thành công tác phân giới
cắm mốc trên toàn tuyến biên giới và kư văn kiện mới về qui chế quản lư
biên giới chậm nhất vào năm 2008, xây dựng biên giới hai nước trở thành
biên giới hoà b́nh, hữu nghị và ổn định lâu dài. (4) Hai bên cam kết thực
hiện Hiệp định phân định và Hiệp định Hợp tác nghề cá Vịnh Bắc bộ, đồng ư
tiếp tục thực hiện nghiêm túc hai Hiệp định này; cùng giữ ǵn an ninh trên
biển và trật tự sản xuất nghề cá.
CÁCH ĐỐI ĐẦU CỦA HÀ NỘI
Ông
James Miles, trưởng đại diện tuần báo The Economist ở Bắc Kinh, nhận xét
rằng trong những năm gần đây chính sách ngoại giao của Trung Quốc đă thay
đổi. Ông nói: "Trung Quốc nhận ra rằng không thể để các quan ngại về chính
trị chi phối chính sách phát triển của họ mà tốt hơn là nên tập trung vào
các quan ngại về kinh tế vốn có tầm quan trọng cao hơn".
Năm
2004, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đă công du Châu Mỹ Latin và kư 39
hiệp định thương mại với 5 quốc gia trong ṿng chỉ 16 ngày. Chuyến đi vận
động thành lập thị trương chung Mỹ Châu của Tổng Thống Bush trong tuần qua
là một nỗ lực đối đầu với Trung Quốc.
Ai
cũng thấy rằng chính sách của CSVN hiện nay là đu dây giữa Mỹ và Trung
Quốc để tồn tại. Trung Quốc coi Việt Nam và Bắc Hàn như một cái thế liên
hoàn, làm cho thế đứng của Trung Quốc vững mạnh hơn. C̣n Mỹ muốn biến Việt
Nam thành một cái nút chặn ảnh hưởng của Trung Quốc lan xuống Đông Nam Á
và trong tương lai, khi các cơ sở hạ tầng ở Việt Nam được thiết lập đầy đủ
và hoàn chỉnh, có thể đầu tư tại Việt Nam để đưa hàng đến các quốc gia
trong vùng với giá rẽ. V́ thế, ngoài người Việt tỵ nạn ra, không cường
quốc nào muốn lật đổ CSVN cả. Họ chỉ muốn biến CSVN thành thành một môi
trường kinh doanh ổn định trong tương lai mà thôi.
Nh́n lại lịch sử, chúng ta thấy rằng cha ông chúng ta không bao giờ muốn
gây sự với Trung Quốc. Khi v́ bất đắc dĩ phải đối đầu với Trung Quốc, họ
cũng đă hành động rất kiên cường, nhưng ngay sau đó lại t́m cách làm ḥa
với Trung Quốc để tránh cho đất nước những thảm họa không lường được. Hành
động của hai đại anh hùng dân tộc là Lê Lợi và Quang Trung là những thí dụ
điển h́nh nhất. CSVN không thể làm ǵ hơn là bắt chước con đường đó.