|

Phản chiến từ 1965 tới 1971.
Giữa thập
niên 60, nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ
thuật, các phương tiện truyền tin tối tân
như truyền h́nh đă đem tin tức, h́nh ảnh
chiến sự tới người dân khiến cho phong trào
chống chiến tranh tại Mỹ bùng nổ mạnh. Phong
trào chống đối chính phủ Hoa Kỳ can thiệp
vào cuộc chiến Việt nam sở dĩ có ư nghĩa,
lớn mạnh là v́ đây là lần đầu tiên chiến
tranh đă được giới truyền thông đưa vào
quảng đại quần chúng.
Từ sau
1975 đến nay, nhiều người thuộc mọi giới
quân sự, chính trị, kư giả, sử gia… đă nh́n
nhận phản chiến là nguyên nhân quan trọng
nếu không nói là hàng đầu đưa tới sụp đổ
Đông Dương. Hành pháp Hoa Kỳ đă thua tại mặt
trận đất nhà, War
at home chứ không phải tại chiến
trường.
Chiến
tranh Việt Nam lần thứ hai bắt đầu từ 1957,
1958… khi CS nằm vùng tại miền Nam bắt đầu
dùng vũ khí bén nhọn dao găm, mă tấu để giết
hại các trưởng ấp nhưng thực sự bắt đầu từ
giữa thập niên 60. Năm 1964, lợi dụng t́nh
h́nh chính trị xáo trộn BV gia tăng xâm nhập,
chính phủ Hoa kỳ gửi cố vấn và viện trợ quân
sự cho miền Nam. Năm 1965 Hoa Kỳ leo thang
chiến tranh, đổ quân vào miền Nam khi BV
ngày càng gia tăng áp lực, phong trào phản
chiến cũng bắt đầu thành h́nh và phát triển
theo thời gian như sau:
Ngày
2-5-1964 một trăm sinh viên diễn hành qua
Times square tại New York city, trong khi đó
tại San Francisco có 700 người tham gia diễn
hành, ngoài ra tại Boston, Seattle, Madison
cũng có biểu t́nh nhưng ít hơn.
Ngày
24-5-1965 Một tổ chức chống chiến tranh của
sinh viên tên là Student for a Democratic
Societ lần đầu biểu t́nh tại Đại Học
Michigan gồm 2,500 người tham dự, họ đă được
35 đại học khác trong toàn quốc hưởng ứng.
Ngày
17-4-1965 có 25,000 người diễn hành tại
Washington DC chống chiến tranh Việt Nam,
tháng 5 lần đầu tiên tại Đại học Berkeley
một nhóm chống chiến tranh đă đốt thẻ trưng
binh, khoảng 30,000 người biểu t́nh tới Văn
pḥng trưng binh địa phương, họ đốt h́nh nộm
Tổng thống Lyndon Johnson.
Mặc dù có
biểu t́nh phản chiến nhưng theo thăm ḍ của
viện Gallup, tháng 5-1965 có 48% những người
được hỏi tin tưởng chính phủ, 28% không tin,
số c̣n lại không có ư kiến. Hạ tuần tháng 8
viện Gallup thăm ḍ cho thấy có 24% trong số
được hỏi chống gửi quân sang Việt Nam, 60%
đồng ư cho là không có ǵ sai trái.
Giữa
tháng 10-1965, phản chiến lên cao và lan
mạnh trở thành phong trào thế giới kéo hàng
trăm ngàn người tham gia cùng một lúc tại 80
thành phố lớn tại Mỹ và cả tại Luân Đôn,
Paris, La Mă…
Ngày
2-11-1965 Norman Morrison, 31 tuổi, nhà
tranh đấu cho ḥa b́nh tự thiêu dưới cửa sổ
tầng thứ ba của Bộ trưởng quốc pḥng
McNamara tại Ngũ Giác Đài y như nhà sư Thích
Quảng Đức năm 1963.
Ngày
27-11-1965 khoảng 40,000 người chống chiến
tranh tới bao vây Ṭa Bạch Ốc kêu gọi chấm
dứt chiến tranh, cũng trong ngày này Tổng
thống Johnson cho tăng quân leo thang từ
120,000 người tới 400,000 người tại Việt
Nam.
Qua năm
1966 t́nh h́nh phản chiến đă gia tăng hơn
trước, tháng 2 một nhóm 100 cựu chiến binh
phản chiến tới Ṭa Bạch Cung định ném trả
huy chương nhưng bị đẩy lui.
Ngày
26-3-1966 phong trào phản chiến lan rộng
toàn quốc và cả trên thế giới, tại New York
có 20,000 người tham gia tại New York. Các
cuộc thăm ḍ của viện Gallup cho biết 59%
tin rằng chính phủ gửi quân sang Việt Nam là
đúng.
Tháng
5-1966 một cuộc biểu t́nh lớn khoảng 10,000
người kêu gọi chấm dứt chiến tranh bên ngoài
Ṭa Bạch Cung, đài kỷ niệm Washington.
Thăm ḍ
viện Gallup số người ủng hộ chính phủ xuống
c̣n 41%, số chống đối tăng lên 37%, số c̣n
lại không có ư kiến. Trong khi đó tại Luân
Đôn ngày 3-7 có khoảng 4,000 người chống
chiến tranh va chạm với cảnh sát bên ngoài
ṭa đại sứ Mỹ.
Như vậy
trong năm 1966 mặc dù phản chiến có gia tăng
hơn trước nhưng số người ủng hộ chính phủ
tương đối vẫn c̣n cao hơn số người chống
chiến tranh
Năm 1967
ngày 14 tháng 1 có từ 20,000 tới 30,000
người chống chiến tranh tại Golden Gate Park
San Francisco.
Ngày
8-2-1967 Những người Thiên chúa giáo chống
chiến tranh mở chiến dịch ăn chay v́ ḥa
b́nh trên toàn quốc. Ngày 17-3-1967 một nhóm
phản chiến tới Ngũ giác đài chống chính phủ
can thiệp vào VN.
Ngày
25-3-1967 nhà tranh đấu nhân quyền
(Civil-rights leader) Luther King dẫn 5,000
người biểu t́nh chống chiến tranh tại
Chicago.
Ngày
15-4-1967 400,000 người biểu t́nh phản chiến
tại New York city, họ đi từ Central Park
tới trụ sở Liên Hiệp Quốc, cùng ngày có
100,000 người diễn hành tại Francisco.
Ngày
2-5-1967 nhà triết gia Anh Bertrand Russsell
chủ tọa phiên xử của ṭa án Russell tại
Stockholm kết án Mỹ và đồng minh phạm tội ác
chiến tranh tại VN.
Ngày
1-6-1967 hội Cựu Chiến Binh Việt Nam Chống
Chiến Tranh (Vietnam Veterans Against The
War) đă được thành lập.
Ngày
30-7-1967 Viện Gallup thăm ḍ cho thấy 52%
người Mỹ chống chính sách Johnson, 41% cho
là sai lầm, 56% cho rằng Mỹ sẽ thua (losing
the war) hoặc bế tắc (at an impasse).
Ngày
28-8-1967 dân biểu Tim Lee Carter Cộng Ḥa,
Kentucky nói:
“Chúng
ta c̣n mạnh, hăy đem hết quân về nước, Việt
Cộng chiến đấu hăng v́ đó là nước của họ và
chúng ta người ngoại quốc can thiệp vào nội
bộ nước họ. Khi cần chiến đấu chúng ta chỉ
chiến đấu tại đất nước ta hoặc tại bán cầu
này”
Tháng
10-1967 tuần lễ chống động viên (Stop the
draft) gây nhiều sô sát ở Oakland,
California, hàng ngàn người trên toàn quốc
trả thẻ động viên.
Ngày
21-10-1967 hàng 100,000 người biểu t́nh tại
Lincoln Memorial, Hoa Thịnh Đốn, sau đó
30,000 người diễn hành tới Ngũ Giác Đài, họ
tổ chức thức đêm không ngủ.
Như
chúng ta thấy theo thời gian từ 1965 tới
cuối 1967, tỷ lệ những người ủng hộ chính
phủ giảm dần và tỷ lệ những người phản chiến
ngày một cao hơn, con số thăm ḍ cho thấy
cán cân nghiêng nhiều về phía chống.
Tháng
2-1968 Viện Gallup thăm ḍ cho thấy 35% ủng
hộ Johnson, 50% chống, số c̣n lại không ư
kiến, trong một thăm ḍ khác có 31% là Bồ
câu (Doves) chủ trương ḥa b́nh và 61% Diều
hâu (Hawks), chủ trương đánh mạnh.
Ngày
12-3-1968 ứng cử viên phản chiến Eugene Mc
Carthy được nhiều phiếu hơn dự định trong
cuộc bầu cử sơ bộ tại New Hampshire cho thấy
ư nghĩa của phản chiến đă rơ ràng hơn.
Ngày
17-3-1968 cuộc biểu t́nh tụ họp trước ṭa
Đại sứ Mỹ tại Luân Đôn trở thành bạo động,
86 người bị thương, 200 bị bắt, hơn 10,000
người biểu t́nh ôn ḥa ở công trường
Trafalgar nhưng bị cảnh sát ngăn chận.
Tháng
3-1968 Viện Gallup thăm ḍ cho biết 49% được
hỏi cho biết can thiệp vào VN là sai lầm.
Ngày
17-4-1968 truyền thông quay phim cảnh bạo
động tại Berkeley Cali, cảnh đàn áp của cảnh
sát được chiếu tại Ba Lê, Bá Linh khiến cho
dân chúng tại đây cũng phản ứng.
Thăm ḍ
tháng 8-1968 của Viện Gallup cho biết 53%
nói gửi quân sang VN là sai lầm.
Năm 1968
sau trận tổng công kích tết Mậu Thân, truyền
thông Mỹ thổi phồng thắng lợi của CS khiến
phong trào chống đối lên cao dữ dội, người
dân Mỹ không c̣n tin tưởng vào chính phủ.
Phong trào phản chiến tạo hy vọng cho CSBV,
họ chỉ mong có thế, sau biến cố Tết mậu thân
người dân Mỹ không tin chính phủ có thể
thắng CS, vả lại trong năm 1968, số tử
thương của quân đội Mỹ tại VN tăng lên quá
cao 16,592 người (gồm lính Mỹ chết tại mặt
trận và chết v́ những lư do khác) khiến
phong trào chống chính phủ đă trở nên quyết
liệt hơn.
Tháng
3-1969 (dưới thời Nixon) Gallup thăm ḍ cho
thấy 19% dân Mỹ muốn sớm chấm dứt chiến
tranh, 26% muốn VN hóa chiến tranh, 19% ủng
hộ chính phủ, 33% muốn đánh CS tới chiến
thắng.
Tháng 7
năm 1969 viện Gallup thăm ḍ cho thấy 53%
dân chúng ủng hộ Nixon, 30% không ủng hộ
(New York times, July-31-69).
Ngày
15-10-1969 hàng triệu người Mỹ bỏ học, nghỉ
việc để tham gia chống chiến tranh tại địa
phương của ḿnh, đây là những chống đối đầu
tiên với chính phủ Nixon. Ngày 15-11-1969 có
tới nửa triệu người tham gia biểu t́nh phản
chiến tại Hoa Thịnh Đốn và một cuộc biểu
t́nh tương tự ở San Francisco do Tân ủy ban
vận động chấm dứt chiến tranh VN (New
Mobilization Committee to End the War in
Vietnam - New Mobe) và Ủy ban vận động sinh
viên chấm dứt chiến tranh VN (Student
Mobilization Committee to End the War in
Vietnam - SMC).
Tháng
10-1969 Viện Gallup thăm ḍ cho thấy 58% số
người được hỏi nói chiến tranh VN là một sai
lầm.
Sang năm
1970 t́nh h́nh găng hơn trước khi Mỹ yểm trợ
cho VNCH tấn công qua Miên cuối tháng
4-1970, ngày 4-5-1970 bốn sinh viên bị bắn
chết trong một cuộc biểu t́nh tại Đại học
Kent Ohio, một tuần sau có hằng 100 ngàn
(100,000) người biểu t́nh tại Washington D.C
chống đối việc bắn chết sinh viên và đưa
quân sang Miên. Cảnh sát dùng xe bus bao vây
xung quanh ṭa Bạch Cung để ngăn cản đám
biểu t́nh. Từ sáng sớm trước khi có biểu
t́nh, Nixon tiếp xúc họ tại đài Tưởng niệm
Lincoln nhưng không giải quyết được ǵ, cuộc
biểu t́nh vẫn tiếp diễn.
Sinh viên
toàn quốc băi khóa (National Students
Strike), hơn 450 trường đại học, trung học
đóng cửa, có 4 triệu sinh viên tham gia, kể
cả ôn ḥa cũng như bạo động, đó là cuộc băi
khóa toàn quốc duy nhất trong lịch sử Mỹ.
Thăm ḍ
Gallup tháng 5-1970 cho thấy 56% ư kiến nói
gửi quân sang VN là sai lầm.
Ngày
29-8-1970 có 25,000 người Mỹ gốc Mễ tham gia
biểu t́nh tại Los Angeles, cảnh sát dùng lựu
đạn cay đàn áp, đám biểu t́nh bị giải tán,
có hai người chết. Cảnh sát tấn công một
quán gần đó bắn chết Ruben Salazar, chủ
nhiệm báo Kmex bằng súng phóng lựu đạn
cay.
Theo Nixon
trong No more Vietnams (trang 126-127) t́nh
h́nh chống đối chiến tranh Đông Dương gia
tăng mạnh năm 1969. Năm 1968 thời Johnson
phản chiến nói chung bất bạo động như biểu
t́nh, đốt thẻ trưng binh nhưng sang năm 1969
khi Nixon lên làm TT đă tiến tới bạo động,
sinh viên bắn cảnh sát, dùng dao uy hiếp ban
giám đốc nhà trường, bắn súng đốt nhà, đập
cửa kính, ném bom lớp học.
Năm
1969-1970 có 1,800 cuộc chống đối biểu t́nh,
7,500 người bị bắt, 247 vụ đốt nhà, 462
người bị thương, trong số này 2/3 là cảnh
sát, 8 người chết. Bạo lực không chỉ ở
trường học mà c̣n lan ra toàn quốc. Từ tháng
1-1969 tới tháng 2-1970 có 40,000 vụ ném bom,
âm mưu ném bom hoặc đe doạ ném bom hầu hết
có liên hệ tới cuộc chiến, gây thiệt hại 21
triệu về tài sản, 43 người chết, mấy trăm
người bị thương.
Sau khi
chính phủ loan báo giúp VNCH hành quân sang
Căm Bốt tháng 4-1970 th́ một làn sóng chống
đối bạo động lan tràn trong nước. Tại đại
học Maryland có 50 người bị thương trong
cuộc đụng chạm với cảnh sát khi họ khám xét
pḥng huấn luyện sĩ quan trừ bị (ROTC). Tại
Kent, Ohio hàng trăm người biểu t́nh đứng
nh́n hai người phóng hỏa đốt pḥng ROTC (Đại
học Kent) cháy rụi, Thống đốc Ohio kêu gọi
quân đội tới can thiệp. Ít ngày sau một đám
sinh viên ném gạch đá vào quân đội, đẩy họ
lên một ngọn đồi. Lên trên đồi lính quay lại,
vài người nổ súng, 4 người chết gồm 2 người
biểu t́nh và 2 người đi coi biểu t́nh. Tháng
8 -1970 một xe van có chất nổ phát hỏa nổ
tung tại Đại học Wisconsin khiến 1 sinh viên
chết, 4 người bị thương gây thiệt hại 6
triệu đồng. Nixon cho biết hành động của
sinh viên đă khuyến khích Bắc Việt gây chiến
không chịu đàm phán.
Năm
1971, 1972 việc không thi hành quân dịch tại
VN sau này trở thành vấn đề đối với các
chính trị gia, ứng cử viên. Những người bị
chỉ trích gồm phó Tổng thống Dan Quayle,
Dick Cheney, Tổng thống Bill Clinton, George
w. Bush, Thượng nghị sĩ Norm Cloleman (Minesota).
Bên Úc
cũng có phản chiến như bên Mỹ. Ngày
23-4-1971 Cựu chiến binh Mỹ tại VN trả lại
700 huy chương trên thềm phía Tây điện
Capitol. Hôm sau có khoảng 500 ngàn người
phản chiến, được coi là cuộc biểu t́nh lớn
nhất từ sau cuộc diễn hành tháng 11-1969.
Hai tuần
sau vào ngày 5-5-1971 có 1,146 người bị bắt
tại điện Capitol v́ âm mưu đóng cửa Quốc hội.
Tổng số người bị bắt trong cuộc biểu t́nh
vượt quá con số 12,000.
Ngày
19-4-1972 chính phủ gia tăng oanh tạc BV
khiến sinh viên toàn quốc tràn vào các
trường đại học đe dọa băi khóa, tuần sau lại
biểu t́nh phản chiến tại New York, San
Francisco, Los Angeles và nhiều nơi khác.
Ngày
13-5-1972 biểu t́nh trên toàn quốc chống
Nixon cho thả ḿn phong tỏa cảng Hải Pḥng
và mở lại những cuộc oanh tạc BV. Cuộc oanh
tạc Hà Nội ngày 24-12-1972 khiến Thủ tướng
Thụy điển Olop Palme phản đối kịch liệt, ông
cho hành động đó tàn ác như Đức Quốc Xă và
Sô viết khiến bang giao Mỹ-Thụy điển lạnh
nhạt cho tới tháng 3-1974.
Nh́n
chung cho tới cuối 1968 tổng số lính Mỹ tử
thương ở Việt nam lên 35,751 ngàn người (kể
cả chết ngoài mặt trận và v́ nhiều lư do
khác) vượt quá dự đoán và cuộc chiến chưa
biết bao giờ hết khiến đa số dân Mỹ muốn
chấm dứt chiến tranh, rút quân về nước.
Người dân ủng chiến tranh VN giảm dần từ
thập niên 60 và hai năm đầu thập niên 70.
William L. Lunch và Peter W. Sperlich thu
thập dữ kiện ư kiến chung đo lường sự ủng hộ
chiến tranh từ 1965 tới 1971 như dưới đây (nguồn
Wikipedia)
Tháng, năm
- Tỷ lệ (những người ủng hộ)
8-1965 - 61%
3-1966 - 59%
5-1966 - 49%
9-1966 - 48%
11-1966 - 51%
2-1967 - 52%
5-1967 - 50%
7-1967 - 48%
10-1967 - 44%
12-1967 - 48%
2-1968 - 42%
3-1968 - 41%
4-1968 - 40%
8-1968 - 35%
10-1968 - 37%
2-1969 - 39%
10-1969 - 32%
1-1970 - 33%
4-1970 - 34%
5-1970 - 36%
1-1971 - 31%
5-1971 - 28%
Nh́n
bảng so sánh tỷ lệ người ủng hộ chúng ta
thấy số người ủng hộ ngày một giảm và như
vậy số người chống ngày càng tăng: Từ cuối
1965 tới cuối 1966 số người ủng hộ giảm từ
61% xuống c̣n 51%, từ đầu 1967 tới cuối 1967
giảm từ 52% xuống c̣n 45%, từ đầu 1968 tới
tháng 10-1968 giảm từ 42% xuống c̣n 37%, từ
đầu 1969 tới tháng 10-1969 giảm từ 39% xuống
32%, từ đầu 1970 tới giữa 1971 giảm từ 33%
xuống c̣n 28%.
Những
nguyên nhân và các tổ chức.
Những lư
do chính đưa tới phản chiến như chống quân
dịch, lư do đạo đức, vấn đề hợp lư, những lư
luận thực tiễn. Chính sách động viên khiến
giới nghèo trung lưu phải nhập ngũ. Những
người phản chiến v́ lương tâm tuy ít nhưng
tích cực, việc động viên cũng không được
công bằng khiến giới b́nh dân Mỹ và da đen
chống quân dịch ngoài ra do những tin tức
không kiểm duyệt được phổ biến rộng răi trên
TV cũng ảnh hưởng mạnh mẽ tới phong trào.
Ngoài
việc chống quân dịch, giới sinh viên thường
lấy lư do đạo đức chống lại chính sách can
thiệp cũa Mỹ vào VN. Đường lối của sinh viên
khác với các thành phần dân chúng, họ tố cáo
chính phủ có tham vọng đế quốc, chỉ trích
chiến tranh vô nhân đạo. William F. Petter
viết hàng triệu trẻ em đă bị giết, bị đốt
cháy tại cuộc chiến VN, h́nh Tướng Nguyễn
Ngọc Loan bắn một tên Việt Cộng trong dịp
Tết Mậu Thân cũng tạo dư luận phản chiến ầm
ỹ.
Một yếu
tố khác của phản chiến là nhận thức về sự
can thiệp của Mỹ qua thuyết Domino về sự đe
dọa của CS không hợp lư. Có người cho thuyết
Domino chỉ là con ngáo ộp che dấu tham vọng
đế quốc, có người cho Mỹ can thiệp vào VN là
can dự vào quyền dân tộc tự quyết của họ.
Người Mỹ
bị phân hóa v́ chiến tranh VN, những người
ủng hộ cho rằng theo thuyết Domino hễ mất
một nước các nước lân cận sẽ mất y như trong
ván bài domino. Những nhà quân sự phản chiến
cho rằng sự xung đột VN là một vấn đề chính
trị, vai tṛ quân sự không thể hoàn thành
mục tiêu. Nhóm phản chiến dân sự cho chính
quyền miền Nam không hợp pháp về chính trị,
yểm trợ cho nam VN là thiếu đạo đức, vô nhân
đạo.
Khi
người dân càng bất măn với sự can thiệp của
chính phủ vào VN, một số tổ chức chống chiến
tranh được thành lập như Ủy ban bất bạo động
(Committee for Non - violent action - CNVA),
một tổ chức ḥa b́nh chịu ảnh hưởng của
Ghandi, dùng bất tuân dân sự (civil
disobedience) chống lại hành động quân sự.
Ủy ban nguyên tử phụng sự ḥa b́nh
(Committee for sane nuclear Policy - SANE)
một tổ chức quốc tế thành lập từ 1957.
Từ thập
niên 60 tại các trường đại học sinh viên
tham gia những phong trào chính trị như
chống chiến tranh, phong trào phản chiến trở
thành đảng, họ chống lại những truyền thống
Mỹ. Những hoạt động chính trị xâm nhập vào
các trường đại học rất mạnh như tổ chức sinh
viên Những Người Mỹ Trẻ Cho Tự Do (The Young
Americains For Freedom – YAF), tổ chức bảo
thủ tại một khu đại học thập niên 60, mục
đích chính phát huy chủ trương bảo thủ,
nguyên tắc chính là ngăn chặn bành trướng
Cộng Sản, ủng hộ chính phủ Mỹ trong chiến
tranh VN. Phong Trào Sinh viên Tự Do
(Student Libertarian Movement) thành lập
1972 nguyên tắc chống chiến tranh, chống
động viên.
Phong
trào ngày càng lớn mạnh, tháng 11-1965 hai
người phản chiến tự thiêu khiến cho người ta
thấy chiến tranh vô nhân đạo. Ngày 2-11, một
người tự thiêu trước Ngũ Giác Đài tên Norman
Morrison 32 tuổi thuộc giáo phái Quaker.
Ngày 9 tháng 11, một người nữa tên Roger
Allen La Porte thuộc Catholic Worker
Movement tự thiêu trước trụ sở Liên Hiệp
Quốc tại New York City, họ học theo các nhà
sư tranh đấu bên VN.
Phản
chiến bắt đầu từ cuối thập niên 60 và đầu
thập niên 70 đa số tại Mỹ, phong trào đă
khiến chính phủ báo động, người ta bắt đầu
điều tra những kẻ t́nh nghi giúp Mặt Trận
Giải Phóng Miền Nam. Biến cố Tết Mậu Thân
1968 đă khiến người Mỹ thay đổi lối nh́n của
họ về chiến tranh VN. Giới chức quân sự
trước đó báo cáo t́nh h́nh miền Nam đă được
ổn định, trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu
thân Mỹ và VNCH đă thắng lớn, CS bị thảm bại
nhưng truyền thông Mỹ kể cả khuôn mặt đáng
kính như Walter Cronkite đă nói ngược lại,
họ thổi phồng thành chiến thắng của CS khiên
người dân không tin vào chính phủ và chống
chiến tranh mạnh hơn trước, họ nghĩ chính
phủ sẽ không thể thắng cuộc chiến tại VN.
Ngày
15-10-1969 hàng trăm ngàn người đủ thành
phần phản chiến toàn quốc tuy nhiên cũng
không rơ tỉ lệ thành phần những người tham
gia. Cuộc tàn sát Mỹ Lai được dùng làm tiêu
biểu cho hành động ô nhục của quân đội.
Người Mỹ
cho rằng VNCH cần được thu phục nhân tâm nên
họ cũng đă thực hiện nhiều công tác dân dụng
để giúp dân. Những đơn vị Mỹ do quân đội
quản lư lo kiến thiết trường học, đường xá,
công sở, mở mang chương tŕnh y tế để giúp
dân và để thu phục nhân tâm. Tuy nhiên những
cuộc oanh tạc tàn phá làng mạc, những vụ
thảm sát thường dân như Mỹ Lai đă mang lại
hậu quả trái ngược v́ mất ḷng dân.
Mặc dù có
nhiều tin xấu về chiến sự nhưng dưới thời
Johnson, người dân vẫn ủng hộ hành pháp,
ngoài thuyết Domino, nhiều người cũng nghĩ
tới việc giữ thể diện trong trường hợp phải
rút quân như Tổng thống Nixon nói “Mang lại
ḥa b́nh trong danh dự”. Ngoài ra tội ác của
CS cũng đă được phổ biến sâu rộng như bài
“Bàn tay đẫm máu của Hồ chí Minh” trong báo
Reader’s Digest năm 1968.
Tuy nhiên
tư tưởng phản chiến vẫn lên cao, nhiều người
chống chiến tranh v́ căn bản đạo lư trước sự
tàn phá gây ra cho thường dân, nhiều người
cho chính phủ Hoa Kỳ xâm phạm độc lập của VN
hoặc can thiệp vào nội chiến của một nước
khác. Những người phản chiến khác cho mục
đích cuộc chiến không rơ ràng và không thể
thắng được CS.
Năm 1968
Johnson chuẩn bị tái tranh cử, ngày 31-3 ông
tuyên bố rút lui, ông cũng thông báo bắt đầu
thương thuyết với Hà Nội. Robert Kennedy ra
tranh cử sơ bộ 16-3 với chủ trương phản
chiến, rút quân, phó tổng thống Humphrey
cũng ra tranh cử sơ bộ, ông hứa tiếp tục ủng
hộ VNCH.
Nghe lời
khuyên của các nhà thông thái, cuối tháng
3-1968 Johonson tuyên bố không ra tái tranh
cử, ông đă viết trong hồi kư như sau.
“Lo
ngại lớn nhất của tôi không phải là vấn đề
Việt Nam… mà chính là sự chia rẽ bi quan tại
Mỹ… Tôi dùng bài diễn văn sắp đến như một cơ
hội để lấy lại sự cân bằng cũng như mở rộng
một sự hiểu biết tốt đẹp hơn. Tôi biết rơ
ràng rằng sự sụp đổ của mặt trận tại đất nhà
là những ǵ Hà Nội mong chờ”
Nguyễn Đức Phương - Chiến Tranh Việt Nam
Toàn Tập, trang 34.
Như vậy
chính Johnson đă công nhận hành pháp Hoa Kỳ
trúng kế của CSBV, họ đă nỗ lực đổ thêm dầu
vào ngọn lửa phản chiến tại đất nhà.
Người Mỹ
nói, đất nước dân tộc đă bị phân hóa, a
people divided. Thật vậy toàn bộ nước Mỹ bị
phân hóa v́ chiến tranh VN, phe chống chiến
tranh và phe ủng hộ chính phủ thường ẩu đả
nhau v́ lập trường trái ngược. Nhiều người
cho rằng phản chiến do những cuộc biểu t́nh
của sinh viên nhưng có lẽ quan trọng hơn là
hai nguồn chống đối khác đó là những người
nghèo và dân tộc thiểu số. Họ không được
hoăn dịch v́ lư do học vấn, dân da đen bị
gọi nhập ngũ v́ chính phủ cần nhân lực cho
cuộc chiến tranh của Tổng thống Johnson
khiến họ nghi ngờ chính phủ. Suốt thời kỳ
chiến tranh VN, có 11 triệu người Mỹ đă phục
vụ (luân phiên) cho ngành Quốc pḥng, 2
triệu người đă (luân phiên) ở VN, 600 ngàn
đă trốn quân dịch, trong số này 200 ngàn bị
buộc tội trốn quân dịch; 300 ngàn t́m cách
xin hoăn dịch bị từ chối; 170 ngàn được hoăn
dịch, khoảng từ 30 cho tới 50 ngàn người
trốn sang Canada và 20 ngàn người trốn tại
Mỹ hay ra ngoại quốc (theo “The Vietnam War,
A History In Documents”). Phong trào chống
lệnh trưng binh lên cao.
Mục sư
Martin Luther King lần đầu tiên tuyên bố
chống chiến tranh tháng 7-1965, ông ta tránh
đề cập tới chiến tranh một thời gian nhưng
cuối 1966 ông nản ḷng khi thấy chiến tranh
leo thang và phản chiến lan rộng tại Mỹ.
Trong khi ấy hai phe phản chiến và ủng hộ
chính phủ đánh nhau v́ bất đồng chính kiến.
Tháng 3-1967 Luther King dẫn đầu phong trào
antiwar tại Chicago. Ngày 4-4-1967 tại nhà
thờ Riverside Church New York ông đă lớn
tiếng chống đối chính sách chiến tranh của
chính phủ, King vừa đ̣i nhân quyền vừa chống
chiến tranh, ông bị ám sát năm 1968.
Ngay
trong quân đội cũng có những người chống
chiến tranh, năm 1967 có 6 cựu quân nhân
thành lập một tổ chức lấy tên Cựu Chiến Binh
Việt Nam Chống Chiến Tranh (Vietnam Veterans
Against The War gọi tắt là VVAW), năm 1970
VVAW có 600 hội viên, mấy năm sau tăng gấp
bội. Tháng 1-1971, họ tổ chức thuyết tŕnh
tại Detroit, 100 người cựu chiến binh dẫn
chứng tội ác chiến tranh, từ 19-4 tới
23-4-1971 họ biểu t́nh tại Washington D.C
rồi cắm dùi tại công viên Potomac Park.
Những người này đă vận động Quốc Hội để sớm
chấm dứt chiến tranh.
Bọn họ
tố cáo lính Mỹ khi hành quân vào các làng
mạc ở Việt Nam đă hăm hiếp, đốt làng, cắt
tai, chặt đầu người dân y như quân Mông cổ
dưới thời Thành Cát Tư Hăn.
Năm
1970, phó Tổng Thống Agnew tuyên bố tại
trường Wespoint rằng chỉ có một thiểu số
phóng đại những mặt xấu của bọn lưu manh côn
đồ nhưng thực ra đa số chiến sĩ ta đă chiến
đấu, chết tại những cánh đồng lúa Á Châu để
bảo vệ tự do trong khi một thiểu số lợi dụng
làm bậy. Bọn phản chiến đă dùng điểm này để
công kích nỗ lực của ta ở Việt Nam.
Những
cựu chiến binh này nói người dân Mỹ đă bị
chính phủ đánh lừa, ta không thể thắng được
cuộc chiến này nếu cứ tiếp tục như vậy, ta
phải rút bỏ Việt Nam, họ nói t́nh h́nh Việt
Nam không có ǵ để đe dọa Hoa Kỳ, thuyết môi
hở răng lạnh là sai (The Vietnam War… trang
126).
Xă hội,
đất nước bị phân hóa v́ chiến tranh VN. Nhóm
phản chiến in những tờ yết thị kêu gọi chấm
dứt chiến tranh như một bích chương kêu gọi
người da đen có in h́nh hai người lính da
đen đang hành quân:
“Thời
gian ra trận là chỉ có chết … Đa số lính da
đen ở Việt Nam phải ra tiền tuyến để chiến
đấu và chết cho cuộc chiến này, hăy chấm dứt
chiến tranh v́ nó sát hại chúng ta… (The
Vietnam War, A History In Documents trang
144) ”
Một tờ
yết thị khác cho thấy ngân quĩ chính phủ
Johnson dành cho chương tŕnh chống nạn
nghèo đói đă chuyển sang cho chiến tranh VN.
Tổng thống hy vọng vừa giải quyết nạn nghèo
đói vừa giải quyết chiến tranh, nhưng cuối
cùng chỉ giải quyết chiến tranh. Họ đăng
h́nh hai ông Tướng Thiệu, Kỳ trông rất dữ
tợn, nhe răng trợn mắt và viết.
“Bọn họ ăn hết của chúng ta, ăn hết cả nhà
cửa, thành phố, trường học y tế, môi trường...
bọn họ là Tổng thống Thiệu và Phó Tổng thống
Kỳ, các quân nhân cầm quyền ở Việt Nam. Năm
nay họ đă hút của ta 13 tỉ để xử dụng vào bộ
máy chiến tranh của họ. Số tiền này đủ để
xây 2,000 trường trung học, 10,000 chung cư
b́nh dân, phục vụ y tế cho 165, 000 bệnh
nhân, tăng chương tŕnh chống ô nhiễm lên
gấp 10 lần.
(Trang
144, sách đă dẫn)
Những tờ
yết thị, bích chương đầy những h́nh ảnh
khích động chống chiến tranh đă gây ảnh
hưởng sâu rộng trong quần chúng khiến cho
phong trào ngày càng lên cao. Những nhà báo,
kư giả, phóng viên Mỹ săn tin chiến tranh ở
Việt Nam về viết bài phóng sự chống chiến
tranh thổi phồng những khía cạnh xấu của
cuộc chiến, lên giọng đạo đức giả xuyên tạc
sự thật. Tại Âu châu phong trào phản chiến
cũng bộc phát không kém phần v́ Pháp bị Mỹ
hất cẳng ra khỏi Đông Dương 1955 nay thọc
gậy bánh xe phá Mỹ.
Sau trận
Điện Biên Phủ Pháp cay cú Mỹ đă không giúp
họ để thắng trận, năm 1955 lại bị ông Diệm
hất cẳng ra khỏi VN nên đă trả thù bằng cách
bài kích Mỹ và VNCH suốt cuộc chiến tranh
Quốc Cộng. Pháp tuyên truyền không công cho
Hà Nội, trắng trợn hơn nữa họ c̣n cho Mặt
Trận Giải Phóng miền Nam đặt văn pḥng chính
thức tại Paris. Ngoài ra CSBV cũng được CS
Quốc tế tiếp tay quảng bá tuyên truyền chống
Mỹ.
T́nh h́nh
phản chiến ở Hoa Kỳ từ 1965 đến 1971 khiến
cho Hành pháp ngày một suy yếu, đất nước bị
phân hóa, chính phủ vừa phải lo cuộc chiến
Đông Dương vừa phải đối đầu với phong trào
chống đối trong nước, nó xuất phát từ tâm lư
của anh nhà giầu sợ chết, dù được che đậy
dưới h́nh thức nào cũng không thể dấu diếm
được cái bản chất hèn nhát của anh nhà giầu.
Đầu năm 1969 có 35,751 người lính Mỹ chết
tại Việt Nam, theo tin tức Mỹ riêng năm 1968
Cộng quân mất gần 290 ngàn cán binh, cho tới
cuối 1968 có vào khoảng 500 ngàn Việt Cộngbị
giết. Tính ra số tổn thất nhân mạng của Mỹ
chỉ bằng 5% hoặc 10% so với số tử của CSBV
nhưng CS không bao giờ có một lời than,
người Mỹ đă sai lầm tham dự một cuộc chiến
tranh không cân xứng giữa một anh nhà giầu
sợ chết và một người nghèo đói đánh thí quân.
Phản
chiến đă tạo niềm tin cho CSBV, họ chỉ chờ
có thế. Vào những năm 1952, 1953 người dân
Pháp lúc ấy quá chán ghét, ghê sợ cuộc chiến
tranh Đông Dương vừa chết người tốn của,
trong suốt cuộc chiến tranh 1947-1954 đă có
19 chính phủ Pháp bị đánh đổ v́ không giải
quyết được cuộc chiến. CS chỉ trông chờ vào
phong trào phản chiến để đối phương phải
chán ghét rồi bỏ cuộc, chiến lược “cố đấm ăn
xôi” của CSVN đă từng thành công từ cuộc
chiến tranh Việt - Pháp nay họ lại đem áp
dụng vào cuộc chiến tranh chống Mỹ.
Hậu
quả.
Qua các
dữ kiện, con số thống kê nêu trên trích
trong các sách báo, chúng ta có thể kết luận
như sau:
Trong
những năm khởi đầu leo thang chiến tranh từ
1965, 1966 mặc dù có biểu t́nh phản chiến
nhưng số người ủng hộ chính phủ ở tỷ lệ 60%,
50% vẫn c̣n cao hơn số phản chiến khá nhiều.
Qua năm 1967 số người ủng hộ chính phủ giảm
c̣n 45%, 46% trong khi số phản chiến tăng
lên 50, 51%. T́nh h́nh đă tỏ ra bất lợi cho
chính phủ Johnson. Năm 1968 sau trận Tổng
công kích Tết Mậu Thân, qua sự thổi phồng
của truyền thông nhất là những phóng sự của
Walter Cronkite đă khiến cho người dân Mỹ
không tin tưởng chính phủ có thể thắng CSVN.
Phong trào phản chiến ngày càng lên cao
hơn, cuối 1968 số ủng hộ chính phủ tụt xuống
c̣n 37%, số phản chiến vượt lên trên 50%.
Sang năm
1969, Nixon lên nhậm chức Tổng thống người
dân chưa chống đối mạnh v́ tin tưởng ông sẽ
mang quân về nước, t́m ḥa b́nh trong danh
dự, nhưng tháng 10-1969 họ bắt đầu băi khóa,
đ́nh công chống đối mạnh mẽ, tỷ lệ ủng hộ
tụt xuống c̣n 32%. Sau khi Nixon giúp VNCH
tấn công qua Căm Bốt cuối tháng 4-1970,
người dân càng chống đối dữ, ngày 4-5-1970
bốn sinh viên bị bắn chết trong một cuộc
biểu t́nh tại Đại học Kent Ohio, một tuần
sau có hằng 100 ngàn người biểu t́nh tại
Washington D.C chống đối việc bắn chết sinh
viên và đưa quân sang Miên.
Các chính
khách phản chiến bắt đầu dành được nhiều
phiếu của những người chống đối để vào Quốc
hội, cuộc chiến tại đất nhà đă bước sang một
giai đoạn mới. Phe phản chiến đă có thực lực
trong tay, họ nắm được Quốc hội, lá phiếu
của họ đă bắt đầu tạo ảnh hưởng đè nặng trên
vai hành pháp. Một phần các chính khách Dân
chủ mị dân, họ tiếp tay với phong trào chống
chiến tranh để giữ ghế của ḿnh, vả lại ta
thường thấy đảng nọ luôn luôn phá đảng kia.
Bầu cử
Tổng thống 7-11-1972 Nixon thắng 47 triệu
phiếu phổ phông , 60.7% số phiếu bầu , hơn
McGovern 18 triệu phiếu , thắng cử lớn nhất
từ xưa tới nay
Năm 1972
đảng Dân chủ nắm 242 ghế Hạ Viện, Cộng Ḥa
192 ghế, Dân chủ nắm đa số, họ chống đối
chiến tranh VN mạnh khiến Hành pháp gặp
nhiều khó khăn.
Cuối cùng
Lập pháp gồm những vị dân cử phản chiến từ
từ trói tay Hành pháp bằng những đạo luật
khiến cho Tổng thống mất dần quyền hành
trong cuộc chiến. Đầu năm 1973, Nixon kư
Hiệp định Paris, đem về nước 587 tù binh.
Người Mỹ
kư hiệp định Ba Lê để rút ra khỏi vũng lầy
VN đồng thời lấy lại tù binh và để tránh cho
nước Mỹ khỏi phải cấu xé nhau tan nát. TT
Nixon khi tranh cử 1968 hứa sẽ mang lại ḥa
b́nh trong nhiệm kỳ, nay tháng 11 -1972
nhiệm kỳ đă kết ông bị thúc ép phải kư Hiệp
định Paris gấp vả lại ông phải vội vă v́
Quốc hội sắp ra luật chấm dứt chiến tranh,
cắt viện trợ VN để rút quân lấy lại 580 tù
binh c̣n bị BV giam giữ.
Tháng
6-1973 Quốc Hội Mỹ biểu quyết cắt ngân khoản
cho tất cả các hoạt động quân sự Mỹ tại Đông
Dương, được áp dụng từ giữa tháng 8-1973 cấm
hoạt động quân sự trên toàn cơi Đông Dương.
Tháng 10-1973 Quốc Hội Mỹ ra Đạo luật hạn
chế quyền Tổng Thống về chiến tranh (Wars
Powers Act), đ̣i hỏi Tổng thống phải tham
khảo ư kiến Quốc Hội trước khi gửi quân đi
tham chiến.
Quân phí
của Hoa kỳ trong chiến tranh Đông Dương bị
quốc hội cắt giảm. Dần dần VNCH bị Quốc hội
Mỹ cắt giảm quân viện xương tủy từ 2,1 tỷ
tài khóa 1973 xuống c̣n một tỷ tài khóa
1974 và xuống c̣n 700 triệu tài khoá 1975,
cón số này thực ra chỉ bằng 500 triệu v́ dầu
thô lên giá, tiền mất giá (theo Henry
Kissinger, Years of Renewal trang 471).
Bầu cử
Hạ viện Năm 1974 khiến Dân chủ thắng thêm 49
ghế thành 291 ghế, Cộng ḥa mất 48 ghế chỉ
c̣n 144 ghế, Dân chủ chiếm đại đa số, 66.9%
Hạ viện, Cộng ḥa chỉ c̣n 33.1%
Quốc Hội
Dân Chủ kiên quyết chống chiến tranh VN, trả
thù cho McGovern thất bại nhục nhă trong
cuộc bầu cử Tổng thống năm 1972 bằng cắt
giảm viện trợ quân sự cho miền Nam như trên
để bỏ rơi đồng minh. Theo lới kể của
Kissinger (Years of Renewal trang 479) Hà
Nội xây dựng hệ thống đường xâm nhập tổng
cộng trên 20 ngàn km để vận chuyển nhiều xe
tăng, đại bác, hỏa tiễn, pḥng không vào
Nam. Văn Tiến Dũng nói hệ thống đường này
như những sợi thừng ngày này qua ngày khác
quấn quanh cổ, chân, tay con quỷ (VNCH) đợi
lệnh xiết cổ giết nó.
Ngày
9-8-1974 Nixon từ chức v́ vụ Watergate, Phó
TT Gerald Ford lên thay, VNCH suy yếu v́ bị
cắt giảm viện trợ trong khi BV được Nga, Tầu
tích cực giúp đỡ mở cuộc tấn công miền nam
từ cuối năm 1974 tại Phước Long. TT Thiệu
gửi thư cho TT Ford ngày 24 và 25 -1-1975
cho biết t́nh trạng thiếu thốn đạn dược tiếp
liệu. Mặc dù Ford và Kissinger nỗ lực vận
động tại Quốc hội để xin viện trợ bổ túc 300
triệu nhưng bị chống đối mạnh, họ t́m cách
tŕ hoăn viện trợ, họ cử phái đoàn dân biểu
sang Sài G̣n quan sát trong khi miền Nam
đang sụp đổ dần dần
Theo
Kissinger đám người to mồm tại Quốc hội và
truyền thông chống liên hệ giúp đỡ Sài G̣n,
sự chống đối lên tới tột đỉnh khi họ mở
chiến dịch chống cung cấp phương tiện tự vệ
cho các nước Đông Dương lâm nguy. Họ không
bao giờ ư thức được việc làm tàn ác của ḿnh,
đối với họ chỉ có sinh mạng của người Mỹ mới
là quan trọng, sinh mạng của nhân dân Đông
Dương như cỏ rác không đáng cứu vớt. Trong
số báo Los Angeles Times ngày 6-3-1975 kêu
gọi bác bỏ khoản viện trợ bổ túc mà c̣n đề
nghị cắt bỏ viện trợ quân sự dưới mức 700
triệu dù đă được chấp thuận, những người này
đă tiếp tay với Hà Nội xiết cổ VNCH.
Theo Cựu
Đại tướng Cao Văn Viên (Những Ngày Cuối Của
VNCH trang 86, 87, 92) Hậu quả của cắt giảm
quân viện khiến cho Không quân VNCH phải
giải tán hơn 200 phi cơ chiến đấu, oanh tạc,
vận tải thám thính, giảm giờ bay thực tập và
yểm trợ, yểm trợ giảm 50%, vận chuyễn trực
thăng giảm 70%, không vận bằng vận tải cơ bị
cắt giảm 50%. Hoạt động Hải quân bị cắt giảm
50%, hoạt động từ tháng 7-1974 ở sông ng̣i
giảm 70%, giải tán 600 giang thuyền…
Từ tháng
7-1974 quân đội chỉ xử dụng khoảng 19 ngàn
tấn đạn một tháng so với 73 ngàn tấn một
tháng thời gian trước đó, hỏa lực giảm trên
70%. Vào tháng 2-1975, số lượng đạn tồn kho
của tất cả các loại súng trường, phóng lựu,
súng cối, đại bác, lựu đạn… tuột xuống con
số nguy hiểm, chỉ c̣n đủ xử dụng từ 25 đến
31 ngày. Tháng 4-1975, đạn tồn kho ở bốn kho
dự trữ tuột dốc xuống mức thấp nhất chỉ đủ
xài từ 14 đến 20 ngày.
Và cuối
cùng trước áp lực CSBV quá mạnh, với t́nh
trạng đạn dược tiếp liệu bị cắt giảm tới
xương tủy, miền Nam sụp đổ.
Tổng
thống Johnson đă được nhiều thuận lợi lúc
cuộc chiến tại Việt Nam bắt đầu leo thang
nhưng đă đưa phản chiến lên cao. Kế hoạch
đánh giới hạn mục đích hăm dọa BV để họ phải
đàm phán là một sai lầm lớn lao, ngoài ra
ông đă giao toàn bộ kế hoạch quân sự cho
McNamara một người dân sự bất tài, không
được các Tướng lănh kính nể khiến cho cuộc
chiến kéo dài và nuôi dưởng phong trào chống
đối đưa tới thảm bại.
Nixon
lên nhậm chức đầu năm 1969 thừa hưởng một
gia tài đổ nát do Johnson để lại, khác với
Johnson đă được hưởng nhiều thuận lợi như đă
nói ở trên, Nixon phải đương đầu với nhiều
gian nan thử thách. Phong trào chống đối do
chính phủ trước để lại đè nặng lên vai ông,
Quốc hội nay đă nằm trong tay các nhà dân cử
phản chiến chỉ t́m cách trói tay hành pháp
buộc phải rút quân bỏ Đông Dương.
Nói về
những nguyên nhân đưa tới sự sụp đổ VNCH
chúng ta có thể kể: kế hoạch tái phối trí
lực lượng của Tổng thống Thiệu thất bại,
quân viện bị cắt giảm tới xương tủy, Nixon
đă bắt tay được Trung Cộng... nhưng đó chỉ
là những nguyên nhân gần
Một phần
v́ thuyết Domino lỗi thời, nhất là v́ sự
chống đối lên cao, phản chiến tuy là một
nguyên nhân xa nhưng chính nó đă đóng vai
chủ động trong tiến tŕnh xóa bỏ sự tồn tại
của VNCH và cả Đông Dương. Sự thực dù có
nhiều khuyết điểm, hành pháp Hoa Kỳ, các nhà
lănh đạo VNCH, các vị Tướng lănh… từ 1955
cho tới 1975 đă làm hết sức ḿnh để giữ vững
miền Nam nhưng phong trào phản chiến tại Mỹ
đă làm đảo lộn tất cả mọi kế hoạch chính trị
quân sự Việt-Mỹ đưa tới sụp đổ tan tành.
Phong
trào phản chiến đă lộng hành như vậy phần
lớn v́ thuyết Domino đă lỗi thời, người Mỹ
thấy đă đến lúc không cần phải giữ Đông
Dương, CS không c̣n là mối đe dọa như trước.
Cuộc
chiến tại đất nhà là điều mà chính người Mỹ
cũng không thể ngờ nó có thể tai hại đến
thế.
Trọng Đạt
Tài Liệu Tham
Khảo.
- Marilyn B.
Yuong, John J. Fitzgerald, A. Tom Grunfeld:
The Viet Nam War, A history in documents,
Oxford University Press 2002
- Wikipedia:
Opposition to the US involvement in the
Vietnam war.
-
English.illinois.edu/maps/vietnam/antiwar.html:
Mark Barringer: The Anti-war Movement in the
United States.
- Radical
times: The antiwar Movement of the 1960s,
Politic and the Antiwar Movement.
- Answer.com:
Vietnam Antiwar Movement
- Henry
Kissinger: Years of Renewal- Simon &
Schuster 1999
- Walter
Isaacson: Kissinger A Biography Simon &
Schuster 1992.
- Larry
Berman: No Peace No Honor, Nixon, Kissinger
and Betrayal in Vietnam-The Free press 2001
- Richard
Nixon: No More Vietnams, Arbor House, New
York 1985
- Marvin Kalb
and Bernard Kalb: Kissinger; Little, Brown
and company 1974
- The Word
Almanac Of The Vietnam War: John S. Bowman -
General Editor, A Bison-book 1985
- Nguyễn Đức
Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập,
1963-1975, Làng Văn 2001.
Cao Văn Viên:
Những Ngày Cuối Của Việt Nam Cộng Ḥa,
Vietnambibliography, 2003.
- PhạmVăn Sơn,
Lê Văn Dương, Nguyễn Ngọc Hạnh: Cuộc Tổng
Công Kích-Tổng Khởi Nghĩa Của Việt Cộng Mậu
Thân 1968: Khối Quân Sử, Pḥng 5 Bộ Tổng
Tham Mưu QLVNCH Xuất bản 1968, Đại Nam tái
bản tại hải ngoại.
- Nguyễn Kỳ
Phong: Vũng Lầy Của Bạch Ốc, Người Mỹ Và
Chiến Tranh Việt Nam 1945-1975, Tiếng Quê
Hương 2006.
- Nguyễn Tiến
Hưng: Khi Đồng Minh Tháo Chạy, Hứa Chấn
Minh, 2005.
- Hoàng Lạc,
Hà Mai Việt: Việt Nam 1954-1975, Những Sự
Thật Chưa Hề Nhắc Tới Texas 1990. |