|

Ở Việt Nam, mấy năm gần đây, có một chữ khá
thịnh hành và thường gây xôn xao dư luận:
“cưỡng chế đất đai”. Nhưng việc cưỡng
chế ấy không phải chỉ giới hạn ở chuyện đất
đai. Từ lâu, chính quyền đă có một h́nh thức
khác: cưỡng chế ngôn ngữ. H́nh thức cưỡng
chế ấy có nhiều biểu hiện.
Thứ nhất,
nhà cầm quyền cộng sản
sử dụng ngôn ngữ như những nhăn hiệu để phạm
trù hóa kẻ thù.
Ngày xưa, thời kháng chiến chống Pháp, đó là
những chữ “thực dân”, “Việt gian”, “địa chủ”,
“cường hào” và “tư sản”; sau, thời chiến
tranh Nam Bắc, đó là những chữ “đế quốc”,
“chủ nghĩa thực dân mới”, “Mỹ ngụy”, “bù
nh́n”, “tay sai”, “ác ôn”, “phản quốc” và
“phản động”; sau năm 1975, “chủ nghĩa bá
quyền”, “chủ nghĩa bành trướng”, “tư sản mại
bản”, “tàn dư của chủ nghĩa thực dân” và
“phản động”; gần đây, thêm hai khái niệm mới:
“diễn tiến ḥa b́nh” và “âm mưu của các thế
lực thù địch quốc tế”. Đi đôi với các từ ngữ
ấy ấy là vô số các ẩn dụ nhằm phi nhân hóa
kẻ thù: “sài lang”, “lang sói”, “ác thú”,
“quỷ dữ”, v.v.
Những nhăn hiệu ấy có ba chức năng chính:
một, để chụp mũ bất cứ người nào đi ngược
lại chủ trương của họ; hai, để phi nhân hóa
kẻ thù: kẻ thù tồn tại không phải như những
con người mà là như những khái niệm, do đó,
việc tiêu diệt kẻ thù không c̣n nằm trong
phạm trù đạo đức thông thường nữa; và ba, để
dựng lên những con ngáo ộp hầu một mặt, dù
dọa dân chúng; mặt khác, biện minh cho những
chính sách cứng rắn, thậm chí, có tính chất
khủng bố của họ. Chức năng thứ ba là thuộc
tính của mọi chế độ độc tài: Họ luôn luôn
cần kẻ thù, cần văn hóa chiến tranh. Nếu
không có kẻ thù th́ họ thêu dệt ra kẻ thù.
Bóng ma của kẻ thù là một cách để vừa tập
trung quyền lực vừa đánh lạc hướng dư luận.
Đối diện với cái bóng ma đầy đe dọa ấy, dân
chúng nói chung dễ dàng gác bỏ mọi sự hoài
nghi hay ư hướng phản kháng.
Thứ hai,
đặc biệt suốt cả hai cuộc chiến tranh,
1946-54 và 1954-75, là
quân sự hóa các hoạt động ngôn ngữ trong đời
thường.
Văn học nghệ thuật biến thành hoặc “chiến
trường” hoặc “mặt trận” hoặc “trận tuyến”;
tác phẩm là “vũ khí”; viết lách là “tiến
công”; “nhà thơ cũng phải biết xung phong”;
“viết bài thơ trên báng súng”; “vóc nhà thơ
đứng ngang tầm chiến lũy / bên những dũng sĩ
diệt xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi”;
giới cầm bút biến thành “đội ngũ”, h́nh
thành nên cái gọi là “đội quân văn nghệ” hay
“lực lượng sáng tác”, ở đó mọi người đều là
những “chiến sĩ cầm bút” và đều tuân theo
một “cương lĩnh chiến đấu” và cùng nhau
“hiệp đồng chiến đấu”. Thơ trào phúng được
xem là một “binh chủng đặc biệt” trong khi
các bài kư sự hôi hổi sức nóng của đời sống
thực được xem là một “mũi xung kích” hoặc
“mũi nhọn tiến công” của nền văn học mới.
Một nhà thơ hay một nhà văn trung thành với
một vùng sáng tác nào đó th́ được gọi là
“bám trụ”; đi tiên phong trong một lănh vực
nào đó th́ biến thành “ngọn cờ”; tập trung
vào việc đả kích địch th́ được ví với việc
“nổ súng”; thường xuyên phê phán địch th́
được biểu dương là “nắm thắt lưng địch mà
đánh”. Trong thơ, có những “bài thơ rực lửa
chiến đấu”; trong âm nhạc, có “tiếng hát át
tiếng bom”.
Vượt ra ngoài phạm vi văn học, ở các lănh
vực khác, cũng thế. Một đám đông, dù chẳng
liên quan ǵ đến quân sự, cũng được gọi là
“đội quân”: “đội quân thất nghiệp”. Làm
quang đất đai th́ gọi là “giải phóng mặt
bằng”. Một chương tŕnh có nhiều người tham
gia và được nhà nước cổ vũ th́ được gọi là
“chiến dịch” (ví dụ: “chiến dịch làm sạch
đường phố”). Ngày mở đầu của những chiến
dịch như vậy thường được gọi là “ra quân” (“Hà
Nội ra quân chống ùn tắc giao thông”). Trấn
giữ một địa điểm nào đó để làm nhiệm vụ, cho
dù chỉ là nhiệm vụ pḥng chống lũ lụt, cũng
được gọi là “đóng chốt” hay “trực chiến” (“Chính
quyền, các cơ quan chủ quản đă cử người đóng
chốt, trực chiến tại những địa điểm nhiều
nguy cơ lũ tràn về”) (1). Cách thức ăn uống
đặc biệt cho một loại người nào đó trở thành
“chế độ” ăn uống. Tự ḿnh dằn vặt suy nghĩ
để đi đến một quyết định quan trọng nào đó
th́ được gọi là “đấu tranh tư tưởng”. Tố Hữu
có hai câu thơ tả một cánh đồng hợp tác xă ở
miền Bắc: “Hăy xem! Đồng ruộng cũng chỉnh tề
thế trận / Lúa đứng thẳng hàng quyết tâm năm
tấn.” Một nhà thơ nào đó, h́nh như là Trinh
Đường, có câu thơ tả t́nh yêu: “T́nh yêu anh,
em ạ, cũng lên ṇng.”
Thứ ba
là
hành chính hóa ngôn ngữ.
Ở xă hội nào cũng có lớp từ vựng hành chính
riêng. Xưa, có các từ sớ, tấu, chiếu, chỉ,
bẩm, báo, tŕnh, với những “quan”, những “cụ”,
những “thầy” các loại. Xă hội ngày nay cũng
vậy. Cũng có “cán bộ”, có “đồng chí”, có
“báo cáo”, có “phương án giải quyết”, có
“đăng kư” và “quản lư”, v.v. Chỉ có vấn đề
là, khác với các nơi và thời khác, dưới chế
độ cộng sản, lớp từ hành chính ấy cứ tràn ra
đời sống hàng ngày. Ở mọi nơi. Kể cả những
nơi quan hệ giữa người và người không có
chút hành chính ǵ cả.
Cũng có khi đó
là chủ trương chung của nhà cầm quyền:
Để xây dựng một xă hội mới với những con
người mới, và đặc biệt, những quan hệ mới,
người ta cổ vũ việc sử dụng lớp từ hành
chính trong mọi trường hợp. Bạn bè là “đồng
chí” của nhau. Những người “đồng chí” ấy
không chuyện tṛ với nhau: Họ “trao đổi”
hoặc “báo cáo” cho nhau, rồi “tự phê” và
“phê b́nh” nhau. Sau những “báo cáo” và
những “phê b́nh” ấy, người ta không cần hiểu
rơ: Người ta chỉ cần “quán triệt”. Nếu một
người c̣n hoang mang, người khác sẽ tiếp tục
giúp “đả thông tư tưởng”. Con trai và con
gái không gặp nhau: họ “phát hiện” ra nhau;
họ không yêu nhau: họ có “quan hệ t́nh cảm”
với nhau; họ không làm đám cưới với nhau, họ
chỉ “đăng kư kết hôn”. Ngày xưa, chỉ có các
nhà tư tưởng mới “tư duy” (Tôi tư duy vậy
tôi hiện hữu, “Cogito ergo sum”, Descartes),
bây giờ, trong quần chúng, ai cũng “tư duy”
nên mặt mày ai cũng “khẩn trương” và cũng
đầy “bức xúc”, nhất là khi gặp một “sự cố”
ǵ đó mà người ta chưa có “phương án giải
quyết”.
Việc hành chính hóa ngôn ngữ ấy làm xóa mờ
ranh giới giữa cái riêng và cái chung, tính
chất cá nhân và tính chất tập thể, kích
thước xă hội và kích thước chính trị trong
đời sống con người. Từ cái nh́n bên ngoài,
chúng ta dễ thấy việc hành chính hóa ngôn
ngữ ấy là một sự hài hước, thậm chí, lố bịch,
do đó, nó trở thành đề tài của các truyện
cười nhạo báng chế độ, kiểu nói chuyện với
bố mẹ hay anh em bạn bè mà dùng chữ “báo cáo”;
xin kết hôn mà dùng những chữ to tát như
“đăng kư” hay “quản lư đời em”; hối thúc một
người nào đó mà dùng chữ “hăy khẩn trương
lên”… Tuy nhiên, từ cái nh́n trong cuộc, với
việc phổ cập của lớp từ vựng hành chính
trong đời sống hàng ngày như vậy, nhà cầm
quyền đă thành công trong việc nhồi sọ quần
chúng, biến mọi người thành một thứ công cụ
như được đúc ra từ một cái khuôn duy nhất:
người ta không c̣n sự riêng tư và sự độc đáo
nữa.
Thứ tư
là
tạo nên những từ mới hoặc áp đặt lên các từ
cũ một nội dung mới hoàn toàn trái ngược hẳn
với hiện thực vốn có.
Ví dụ cho loại này nhiều vô cùng: thay cho
chữ “trại tù”, họ gọi là “trại học tập” hay
“trung tâm phục hồi nhân phẩm”; thay cho chữ
“nhồi sọ”, họ gọi là “cải tạo tư tưởng”;
thay v́ gọi thẳng là tịch thu đất đai của
địa chủ, họ dùng chữ “cải cách ruộng đất”;
thay v́ gọi thẳng tịch thu tài sản của người
giàu, họ gọi là “đánh tư sản”; thay cho chữ
“làm quan”, họ tự xưng là “đầy tớ nhân dân”;
thay cho chữ “độc tài”, họ lại gọi là “làm
chủ tập thể”; cán bộ đồi trụy, thay v́ nói
đồi trụy, họ dùng chữ “hủ hóa”; đối với hiện
tượng tham nhũng hay thoái hóa của đảng viên,
thay v́ dùng chữ “nhiều”, họ dùng chữ “không
ít” hoặc “một bộ phận”; thay v́ thừa nhận
thất bại trước các thử thách, họ dùng cách
nói “từng bước khắc phục”; thay v́ “bắt lính”,
họ gọi là “đi nghĩa vụ quân sự”; thay v́ nói
đánh chiếm Campuchia, họ nói họ đang làm
“nghĩa vụ quốc tế”; thay v́ nói “bế tắc”, họ
dùng chữ “hạn chế tất yếu”; những ǵ họ
thích th́ họ gọi là “bản chất” và “khách
quan”; những ǵ không thích th́ họ gọi là
“hiện tượng” và “chủ quan”.
Gọi như thế, người ta bất chấp cả sự thật.
Chủ nghĩa cộng sản đă sụp đổ trên phạm vi
toàn thế giới và những mặt trái của nó đă
được vạch trần và đă trở thành hiển nhiên
với mọi người, họ vẫn tiếp tục gọi nó là
“tiến bộ”, là “đỉnh cao”, là “ưu việt” và là
“quy luật phát triển” của lịch sử. Không có
tự do bầu cử và cũng không có bất cứ một
cuộc trưng cầu dân ư nào, người ta vẫn khăng
khăng nhân danh “ư nguyện của toàn dân” để
duy tŕ sự độc quyền lănh đạo của ḿnh. Suy
nghĩ cũ mèm mà vẫn cứ ba hoa là “đổi mới tư
duy”. Gần đây, họ gọi các cuộc biểu t́nh
chống Trung Quốc ở Hà Nội và Sài G̣n là các
cuộc “tụ tập tự phát” của quần chúng; tàu
Trung Quốc đâm nát tàu đánh cá của ngư dân
Việt Nam ngoài Biển Đông được gọi là “tàu lạ”;
những vấn đề nhà cầm quyền không muốn nghe
th́ gọi là “nhạy cảm”, v.v.
Có thể nói, với những cách dùng từ hoặc định
nghĩa từ ngang ngược như vậy, người ta tiến
hành một cách quy mô, kiên tŕ và có hệ
thống một cuộc cưỡng chế trong lănh vực ngôn
ngữ. Hậu quả là nó làm thay đổi hẳn ư nghĩa
của rất nhiều từ quen thuộc hoặc làm cho
chúng trở thành rỗng tuếch, không c̣n mang
một ư nghĩa ǵ cả. Những chữ như “cách mạng”,
“giải phóng”, “công bằng”, “tự do”, “dân chủ”,
“nhân quyền”, “tiến bộ”, “phát triển”, “đỉnh
cao trí tuệ”, “làm chủ tập thể”, “quần chúng”,
“nhân dân”, thậm chí, cả chữ “yêu nước”… đều
nằm trong trường hợp như thế. Ngay cả những
chữ đơn giản như “đúng” và “sai”, “thật” và
“giả”, “tiến bộ” và “lạc hậu”, “tốt” và
“xấu”… cũng không c̣n nguyên nghĩa của chúng
nữa. Trong các cặp đối lập ấy, khái niệm thứ
nhất bao giờ cũng được sử dụng cho đảng,
hoặc rộng hơn chút, cho “phe ta”; c̣n khái
niệm sau bao giờ cũng thuộc về phe địch.
Không có ngoại lệ. Đă là địch th́ phải sai,
phải giả, phải xấu và phải lạc hậu. “Ta” th́,
ngược lại.
Trong cuốn phim tài liệu Chuyện tử tế, Trần
Văn Thủy đi hỏi ư nghĩa hai chữ “tử tế” và
“vĩ đại”, hầu như ai cũng lúng túng. Bây giờ
thử hỏi những người Việt Nam b́nh thường
những từ như “t́nh hữu nghị” hay “láng giềng
tốt” trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung
Quốc thực sự có nghĩa là ǵ, hẳn ai cũng
thấy hoang mang. Khi những người yêu nước,
v́ công phẫn trước những thái độ uy hiếp
ngang ngược và trắng trợn của Trung Quốc
xuống đường biểu t́nh, bị chính quyền, cũng
nhân danh ḷng yêu nước, trấn áp, đánh đập,
bắt bớ, sỉ nhục và bị xem như một “thế lực
thù địch”, người ta không c̣n thấy đâu là
ranh giới giữa yêu nước và bán nước nữa. Bài
thơ “Lẫn lộn lung tung” của Bùi Giáng, làm
trước năm 1975, có giá trị như một sự tiên
tri:
Tôi gọi Mỹ Tho là Mỹ Thỏ
Mỹ Thọ muôn đời là Lục Tỉnh hôm nay
Tôi gọi Sóc Trăng là Sóc Trắng
Gọi người sương phụ gái thơ ngây.
Nguyễn Hưng Quốc
(VOA) |