Quốc Gia Hành
Chánh    >> Home


ĐỀN TRUNG LIỆT
G̉ ĐỐNG ĐA HÀ NỘI

         Mùa Xuân Kỷ Dậu (1789) vua Quang Trung đại phá 20 vạn quân Thanh đến nay (Xuân Ất Dậu, 2005) đă qua 216 năm. Để tưởng nhớ công ơn tiền nhân cùng niềm tự hào dân tộc, hàng năm người Việt khắp nơi đều cử hành Giỗ Trận và Kỷ Niệm chiến thắng Đống Đa (mùng 5 tháng Giêng). Bài viết xin miễn ghi lại trận chiến oai hùng đă được nhắc đến nhiều, chỉ giới hạn về chiến tích g̣ Đống Đa và ngôi đền Trung Liệt đă được dựng nơi đây. Hà Nội (1) hay thành Thăng Long (2) xưa kia có rất nhiều sông và hồ thiên nhiên, nhưng chỉ có hai điểm cao hơn cả là Núi NùngG̣ Đống Đa (3). Núi Nùng Sông Nhị (Hà) tiêu biểu cho đất Thăng Long ngàn năm văn vật và G̣ Đống Đa cho chiến thắng quân Thanh.

         VỊ TRÍ G̉ ĐỐNG ĐA

        Trước năm di cư (1954), khu vực Đống Đa thuộc Đại Lư Hoàn Long, được coi là ngoại ô Hà Nội (như Lăng Ông với Sài G̣n). Từ nội thành bằng đường Khâm Thiên qua ô Chợ Dừa, g̣ Đống Đa nằm bên phải. Đây cũng là khu vực Thái Hà Ấp với lăng Hoàng Cao Khải (1850-1933), Bắc Kỳ Kinh Lược Sứ, Khâm Sai đại thần (Pháp gọi là Phó Vương / Vice-Roi) rất qui mô, bề thế gần như Lăng vua chúa với đủ tượng đá quan quân, voi ngựa đứng chầu hai hàng trước mộ phần.

        Theo Việt Sử: quân Tây Sơn sau khi hạ đồn Khương Thượng, tướng Thanh Sầm Nghi Đống thua chạy đến Đống Đa rồi thắt cổ chết. Sau cuộc đại thắng, vua Quang Trung lệnh cho thu dọn chiến trường, gom tất cả xác giặc chôn vào 12 g̣ gọi là “Ḱnh Nghê quân” (g̣ chôn xác hai loại cá dữ ở biển). Qua năm tháng tất cả các g̣ đă bị soi ṃn, san bằng không c̣n dấu tích. Sau này v́ dân cư thường gặp nhiều hài cốt rải rác nên khoảng năm 1851 quan quân cho thu gom mang về G̣ Đống Đa để chôn và đắp đất thêm nên G̣ mới có chiều cao và diện tích lớn như hiện nay. Sát dưới chân G̣, một lạch (rạch) nước lớn được truyền tụng do máu giặc tạo thành. Người viết nghĩ điều này cần nh́n khoa học hơn v́ G̣ chỉ là nơi chôn xương cốt giặc nhiều năm sau chứ không phải là băi chiến trường. Ngoài ra, cũng có thể khối đất đắp nên G̣ được đào từ con lạch này chăng?

        V́ Sầm Nghi Đống đă thắt cổ chết tại khu vực này, khiến nhiều người nghĩ lầm ngôi đền trên đỉnh G̣ Đống Đa dựng để thờ Sầm. Thật ra triều đ́nh dù biết Sầm là tướng giặc, nhưng chết khí tiết, nhất là Hoa kiều tôn kính nên đă cho phép lập đền thờ (đền Sầm Công) khá bề thế trên con phố nhỏ (ngơ) mang cùng tên chạy song song với phố Hàng Buồm (4) (như Chinatown của Hà Nội). Cũng có người lại nghĩ đền thờ vua Quang Trung. Đây cũng là suy đoán không đúng v́ dưới các trào vua đầu triều Nguyễn, thời gian đền được dựng, nhà Nguyễn Tây Sơn vẫn c̣n bị coi là “ngụy”, mồ mả anh em các Vua Tây Sơn c̣n bị khai quật, không lẽ đền dựng lên để thờ Quang Trung.

        Kiến trúc đền Trung Liệt cũng giống như phần đông đền miếu cùng thời. Từ đường chính đi vào tới chân G̣ khoảng hơn trăm thước. Rải rác khắp G̣, những cổ thụ rợp bóng, phần trên đỉnh là kiến trúc và khu đất nhỏ chung quanh. Vào những ngày nghỉ, thanh thiếu niên, học sinh thường đến cắm trại, họp bạn. Sườn G̣ khá dốc, người hành hương, thăm viếng chỉ dùng những bậc gạch phía cổng chính từ đường vào.

        ĐỀN TRUNG LIỆT TÔN THỜ BA VỊ ANH HÙNG

        Trước kia đền Trung Liệt ở khu Văn Tân (phố Nguyễn Khuyến) thờ ông Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Nguyễn Cao và có tài liệu thêm cả ông Đoàn Thọ và Trương Quốc Dụng. Khi Bắc Kỳ Kinh Lược Sứ Hoàng Cao Khải lập ấp Thái Hà đă cho dời đền về G̣ Đống Đa (5) . Như vậy có thể do chính ông Hoàng Cao Khải hay con là Hoàng Trọng Phu, Tổng Đốc Hà Đông đă cho dựng đền và chỉnh trang khu vực này v́ là phần đất thuộc tỉnh Hà Đông.

        Danh xưng đền Trung Liệt phần nào đă nói lên khí phách, công nghiệp của các Vị được tôn thờ. Hai ông Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu có công giữ thành Hà Nội, đều tuẫn tiết khi thành vào tay giặc và Nguyễn Cao, anh hùng phong trào kháng Pháp đă chọn cách chết v́ nước oai hùng chưa hề có trong lịch sử.

        NGUYỄN TRI PHƯƠNG (1800-1873) nguyên danh là Nguyễn Văn Chương, tự Hàm Trinh, hiệu Đường Xuyên người tỉnh Thừa Thiên. Sau này vua Tự Đức mới cải danh ông thành Nguyễn Tri Phương. Suốt đời ông xông pha, đánh đông dẹp bắc, thăng quan giáng chức nhưng vẫn một ḷng v́ nước. Ngày rằm tháng mười năm Quí Dậu (20-11-1873) Pháp đánh thành Hà Nội (lần thứ nhất), mặc dù triều đ́nh chủ ḥa, một số tướng tá bỏ trốn, theo giặc, ông vẫn lên thành đích thân đốc thúc quân sĩ chống cự. Bị thương nặng và bị Pháp bắt mang xuống tàu, ông cương quyết không để cứu chữa, tuyệt thực đến chết. Cùng ngày, con trai là Pḥ Mă Nguyễn Lâm và trước kia trong trận đồn Kỳ Ḥa, em ông là Nguyễn Duy đều tử trận.

        HOÀNG DIỆU (1828- 1882) tự là Quang Viễn, hiệu là Tĩnh Trai người gốc Quảng Nam, nguyên danh là Hoàng Kim Tích, 25 tuổi đậu Phó Bảng. Ông cũng từng chiến trận, trấn nhậm nhiều địa phương, thăng giáng nhiều lần, đương nhậm tổng đốc Hà-Ninh (Hà Nội - Bắc Ninh). Tám giờ sáng 25-4-1882 sau tối hậu thư Pháp tấn công, Hoàng Diệu lên mặt thành đốc binh chiến đấu dù số đông các quan bỏ trốn, hàng giặc. Sau liệu thế không chống nổi, ông cắn ngón tay lấy máu viết di biểu tạ tội: “Thành mất không sao cứu được, thật hổ với nhân sĩ Bắc thành lúc sinh tiền. Thân chết có quản ǵ, nguyện xin theo Nguyễn Tri Phương xuống đất. Quân vương muôn dặm, huyết lệ đôi hàng…” (6) rồi đến vơ miếu dùng khăn bịt đầu thắt cổ chết theo thành. Sự tuẫn tiết trên đây của hai vị anh hùng Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu đă lẫm liệt, nhưng dù sao cũng là sự đền nợ nước của vị tướng quân đang mang trọng trách, trước trận tiền. Anh hùng Nguyễn Cao cùng được tôn thờ tại đền Trung Liệt ở cương vị khác nhưng cũng chọn cái chết oanh liệt chưa tùng thấy trong lịch sử.

        NGUYỄN CAO ( …- 1887) người làng Cách Bi, tỉnh Bắc Ninh, đậu Giải Nguyên khoa Đinh Măo (1867), sung chức Bố Chánh Thái Nguyên. Ứng hịch Cần Vương, từ quan tham gia phong trào chống Pháp của Tán Quân Nguyễn Thiện Thuật tại Băi Sậy, đă tập kích Pháp vào tận khu Đồn Thủy (Hà Nội). Sau thế yếu, ông thay tên đổi họ về quê dạy học đợi thời cơ. Có tài liệu nói ông bị Pháp bắt ngày 4-4-1887 và xử chém chiều 14-4 lúc ông 59 tuổi. Cũng có tài liệu khác đáng tin cậy hơn: Pháp trọng nghĩa khí của ông và muốn chiêu dụ giới sĩ phu, ủy cho Hoàng Cao Khải mời ông cộng tác, cũng giống như với Tam Nguyên Yên Đỗ. Trước mặt Thống Sứ Pháp và Kinh Lược Hoàng Cao Khải, ông đă dứt khoát cự tuyệt. Khi thấy chiêu dụ không lay chuyển được, chúng phô bày các h́nh cụ có ư dọa nạt và chê trách ông đă trái mệnh vua (Đồng Khánh) không băi binh. Ông Nguyễn Cao thản nhiên nói: “Đừng dọa ta, để ta chết cho các ngươi xem”, nói xong lấy móng tay cấu bụng, từ từ lôi ruột ra rồi nói tiếp: “Ruột ta đây, bay hăy chỉ cho ta đọan nào là bất trung”. Pháp đem cấp cứu nhưng ông không chịu băng bó, nằm chờ chết. Phu nhân Nguyễn Cao ở quê, nghe tin ông tuẫn tiết cũng nhẩy xuống ao trầm ḿnh chết theo.

        Nếu như Hoàng Cao Khải đă cho dời đền Trung Liệt đến G̣ Đống Đa để có địa điểm, kiến trúc uy nghi xứng đáng hơn, có thể cũng là cách ông muốn bày tỏ ḷng kính trọng đối với những vị anh hùng chống Pháp dù ông đă mang tiếng thuộc thành phần hợp tác với giặc chăng? Cũng như vậy, khi trí sĩ (1902) ông c̣n trước tác rất nhiều sách về sử học và đề cao trung nghĩa.

        Nh́n lại giai đoạn lịch sử sáu mươi năm qua (1945-2005) từ khi Việt Minh (CS) cướp chính quyền, lấy chiêu bài tiêu thổ kháng chiến, bài trừ mê tín dị đoan…đă phế bỏ những di tích, giá trị cũ thay bằng xây Lăng Hồ, đài “liệt sĩ”, tôn thờ “nhà lưu niệm” các “bác” Tôn, Ruẫn, Trần Phú… Đền Trung Liệt trên G̣ Đống Đa cũng không ra ngoài số phận chung như những người có dịp trở về chứng kiến.

        Ngày nay CS lại quay 180 độ, cho “phục hoạt”, “nâng cấp” những di tích lịch sử, văn hóa dân tộc… mục đích làm món hàng thu lợi, tuyên truyền, moi tiền của các quỹ bảo trợ quốc tế…biến các nơi này thành những địa điểm cho khách đến du hí, lố lăng mất hẳn ư nghĩa tôn nghiêm, phụng tự. Chắc phải chờ đến khi giải thể được chế độ CS, lúc đó mới có thể t́m lại được được quang cảnh lễ hội truyền thống, tươi đẹp như đoạn thơ Hoàng Cầm:

Bao giờ về bên kia sông Đuống,
Anh lại t́m em,
Em mặc yếm thắm,
Em thắt lụa hồng,
Em đi trẩy hội non sông,
Cười mê ánh sáng muôn ḷng xuân xanh
.”

        Nguyễn Đ́nh Phúc
        Xuân Ất Dậu (2005)


(1): Địa danh Hà Nội do vị trí thành phố nằm phía trong (nội) sông Hồng Hà.

(2): Khi vua Lư Thái Tổ dời đô từ động Hoa Lư ra thành Đại La (1010), nhân thấy rồng vàng bay lên, cho là điềm lành đă đổi thành Thăng Long. Sau này vua Gia Long chọn Huế làm đế đô nhưng sợ mất ḷng sĩ phu Bắc Hà vẫn gọi là Thăng Long nhưng đổi chữ Long mang nghĩa thịnh vượng, may mắn (sinh ư hưng long) không dùng chữ Long là rồng như chữ xưa kia.

(3): Ngoài ra, trong Lăng Hoàng Cao Khải cũng có một g̣ đất cao gần như g̣ Đống Đa tuy nhỏ hơn, chắc cũng được đắp lên để địa thế cân xứng với hồ sen phía trước Lăng.

(4): Phố Hàng Buồm (tên Pháp Rue des voiles) ngoài nghĩa nơi buôn bán một mặt hàng (buồm) c̣n tài liệu cho là dùng cánh buồm (la voile) tượng trưng cho con tàu (le bateau) (La voile c’est le bateau) nên ta gọi người Hoa là người Tàu, hay Khách trú v́ họ đă dùng tàu (ghe) từ chính quốc đến trú ngụ (Khách).

(5): Từ điển đường phố Hà-Nội (trang 330) của Nguyễn Loan, Nguyễn Hoài.

(6): Việt Sử Toàn Thư (trang 658) của Phạm văn Sơn.