Quốc Gia Hành
Chánh    >> Home


Dòng Sông Ba

Nguyễn Duy Nhạc

            Cho đến lúc cầm sự vụ lệnh bổ nhiệm trên tay tôi mới lò dò tìm Dương Hoàng Long, người sẽ về cùng tỉnh với mình, để làm quen. Ngay lúc ấy tôi đã không khỏi ngạc nhiên nhận ra rằng mình không những biết rất ít về người bạn cùng lớp này, mà dường như mình cũng rất ít có dịp nhìn thấy anh chàng ở trường. Có lẽ đây là một trường hợp “văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình” hay xảy ra đối với các tay thợ lặn, vì trong mấy năm học hình như tôi chỉ nhìn thấy anh chàng vài lần. Chợt cảm thấy hơi có phần nể nang, nghĩ thầm đây chắc cũng phải là dân chơi có hạng, ít nữa cũng ngang cỡ mấy tay “chủ bàn bi da” ở Câu Lạc Bộ như Nguyễn Minh Kháng hay Trương Trí Hiệp.

            Nhưng quen rồi mới biết anh chàng hiền khô, dáng dấp thì nho nhã, nói chuyện rất có duyên, và cũng rất “đứng đắn với phụ nữ.”  Luôn giữ nguyên tắc đối với mình nhưng thật dễ dãi với người khác, và đặc biệt Long tốt và tận tâm với bạn bè một cách lạ thường.


Dương Hoàng Long - Giáng Sinh năm 1970 ở Đà lạt

            Một ngày đầu năm 73 Long, Đẩu và tôi ngồi cùng chuyến bay đến Tuy Hòa, một thành phố xa lạ đối với cả ba đứa. Chị Hoàng Nam, do có gia đình tại địa phương nên đã về tỉnh từ trước. Tuy Hòa, thành phố của tỉnh Phú Yên, là nơi ghi dấu bước chân nhiều đàn anh nổi tiếng như Phạm Bá Thắng, Đỗ Tiến Đức, Nguyễn Tiến Hoàng, Nguyễn Ngọc Diệp … Nhận nhiệm sở vào lúc năm hết Tết gần đến, bọn tôi vẫn hy vọng thế nào ông Tỉnh trưởng, lúc đó là Trung Tá Nguyễn Văn Tố, cũng sẽ ưu ái cho anh em về ăn Tết trước khi trở lại làm việc. Nào ngờ, do tình hình nghiêm trọng sau khi Hiệp Định Paris vừa có hiệu lực và Ban Liên Hợp Quân Sự Bốn Bên bắt đầu hoạt động, cả bọn được lệnh ở lại và chuẩn bị nhận những công việc tạm thời trong khi chờ nhiệm sở chính thức.

            Thế là ba đứa chúng tôi chuẩn bị ăn một cái Tết dã chiến nơi nhiệm sở mới với một thùng mì gói, chắc mẩm phen này sẽ được một cái Tết nằm chèo queo nơi thành phố lạ chưa quen biết ai mà ca bài “xuân này con không về.” Cả ba chúng tôi đều lười nấu nướng kể cả Nguyễn Đẩu là người đã vợ con đề huề, nên cũng chẳng thèm nghĩ gì đến chuyện sửa soạn Tết nhất làm chi cho mệt, tới đâu hay tới đó, đàng nào thì cũng đã có thùng mì làm chuẩn, chết đâu mà sợ.

            Nhưng “ai có ngờ đâu” Tết năm ấy lại là một trong những cái Tết vui nhất của cái quãng đời làm việc thời tuổi trẻ ngắn ngủi của chúng tôi. Những ngày cuối năm tình cờ làm quen được với một nhóm giáo viên người địa phương, các anh đã nồng nhiệt mời chúng tôi cùng đón Tết cùng họ. Ngồi sau mấy chiếc Honda của các anh, chúng tôi đã được ngao du nhiều làng xã quanh thành phố trong mấy ngày Tết để đi thăm gia đình bè bạn của mấy anh bạn mới quen, đến đâu chúng tôi cũng được tiếp đón như người thân quen lâu ngày của chủ nhà. Lòng hiếu khách của người địa phương làm cho chúng tôi thật cảm động. Hóa ra chúng tôi lại có một cái Tết ấm áp và nhiều ý nghĩa ở một nơi mà ngay cả ngôn ngữ cũng còn rất lạ đối với cả ba đứa, và qua sau Tết, thùng mì vẫn còn nguyên.

            Mặc dầu là dân Đà Lạt không xa lạ gì mấy đối với miền Trung, tôi cũng gặp không ít khó khăn trong những ngày đầu giao thiệp với người Tuy Hòa. Tụi tôi vẫn phải cố gắng nhịn cười mỗi khi vào quán nghe Nguyễn Đẩu bắt chước người địa phương gọi người làm cho “ba cô” để chỉ ba “chai bia cao,” loai bia 33 chai lớn thời đó, hoặc vào quán cà phê gọi ba ly “cà phơ đé” thay vi “cà phê đá.”

            Nghiệp cà phê nhanh chóng đưa chúng tôi đến với tất cả quán cà phê trong thành phố, và bàn chân Long đã dừng lại nơi quán cà phê Vị Thủy trên phố chính Trần Hưng Đạo, nơi có người đẹp tên Thủy với dáng người nhỏ nhắn, khuôn mặt rất hiền và đôi mắt rất buồn ngồi sau quầy. Thủy vẫn còn là một nữ sinh trung học, là cháu của bà chủ tiệm Vị Thủy, một gia đình sau này trở nên thân thiết với chúng tôi, đặc biệt là với Long.

            Sau Tết, Nguyễn Đẩu được điều động về văn phòng quận thị xã Tuy Hòa, phụ giúp cho phó quận trưởng là anh Lê Văn Thái, Long thì về Trung Tâm Tu Nghiệp, còn tôi thì tạm thời về phụ tá cho phó quận trưởng Tuy An là anh Ngô Văn Hoàn.  Tuy An là nơi có Đầm Ô Loan nổi tiếng về sò huyết, và cũng là nơi đặt trụ sở của Ban Liên Hợp Quân Sự Bốn Bên. Đến tháng Tư tôi nhận lệnh về quận núi Sơn Hòa, còn có tên là Củng Sơn, thì vài tháng sau Long cũng đi nhận chức ở quận Đồng Xuân.

            Cùng là hai quận vùng cao nhưng Quận Đồng Xuân có phần nổi tiếng hơn về nhiều người đẹp, còn Quận Sơn Hòa của tôi thì là nơi cung cấp khô nai và mật ong, và có thêm một điều đặc biệt nữa, là không có đường bộ về Tuy Hòa, mọi liên lạc đi lại đều bằng đường hàng không, dầu quận lỵ chỉ cách thành phố có 40 cây số.

            Hai đứa tôi cùng với Nguyễn Đẩu vẫn thường gặp nhau nơi những quán cà phê dầu làm việc xa cách nhau, nhưng cuộc sống mỗi đứa đã có ngã rẽ khác. Đẩu thì vui vầy với vợ con, tôi thì lêu lổng bay nhảy, chỉ có Long là vẫn chân chỉ trung thành với nơi chốn anh đã chọn. Tuy tôi và Long hầu như không bao giờ hỏi nhau về chuyện “tâm tư tình cảm,” tôi vẫn biết Thủy là sự chọn lựa đầu tiên và cuối cùng của anh. Tôi sẽ không ngạc nhiên khi một ngày đẹp trời nào đó Long thông báo làm đám cưới với Thủy, và có lẽ lúc đó tôi sẽ làm phụ  rể cho Long.

            Nhưng cái ngày đẹp trời đó đã không bao giờ đến. Một lúc nào đó tôi được biết Thủy không đáp ứng tình cảm của Long.  Điều này làm tôi cảm thấy hơi bất ngờ. Một người tốt như Long, một tấm lòng tận tụy như vậy, mà vẫn bị hắt hủi sao?  Rõ ràng là con tim người ta có những sự lựa chọn riêng của nó. Tôi không biết nếu không có biến cố năm 75, thì mối tình của Long với Thủy sẽ kết thúc như thế nào?  Làm sao biết được bao nhiêu ngả đời sẽ rẽ về đâu nếu không có những cuộc chia ly theo vận nước năm ấy?  Nhiều năm sau này tôi nghe tin Thủy thành hôn với một tài tử điện ảnh có tiếng, nhưng cũng chỉ là chuyện nghe nói, chắng biết thực hư thế nào.

            Ngày đầu tháng Tư năm 75, Long và tôi cùng chạy khỏi thành phố Tuy Hòa trên một chiếc ghe chạy dọc theo cửa Sông Ba để ra biển giữa lúc quân cộng sản pháo kích mở đầu cuộc tấn công vào thành phố.  Sáng sớm bị đánh thức bằng những tiếng đạn pháo kích vào khu trung tâm, Long và tôi may mắn xuống được một chiếc thuyền về phía bờ Nam Sông Ba. Trên mặt sông có rất nhiều thuyền cùng chạy ra cửa biển như chúng tôi. Nhìn về phía thành phố phía bên bờ Bắc, nhiều cuộn khói đen bốc lên từ những ngọn cây. Có người nói khu nhà thương bị pháo kích.

            Từ đây bắt đầu cuộc hành trình gian truân 12 ngày đêm trước khi tôi về đến nhà ở Sài Gòn. Long đã về đến nhà trước tôi. Chúng tôi lạc nhau trên đường đi bộ từ Nha Trang vào Cam Ranh. Trước khi lạc nhau không hiểu nghĩ sao tôi đã gởi hết giấy tờ của tôi cho Long giữ, và khi Long đem những giấy tờ này lại giao cho Ba Má tôi thì ông bà đã nghĩ có lẽ tôi đã bỏ xác nơi nào rồi, mặc cho Long hết lời “thanh minh thanh nga.”

            Cuộc chia lìa năm 1975 đã là một khúc quanh đưa tôi cùng ban bè đi về muôn nẻo khác. Tôi không còn gặp lại Long, cũng như nhiều bạn khác nữa. Bao nhiêu năm sau liên lạc được với một số bạn bè, tôi đã cố công hỏi thăm về Long, nhưng vô ích.  Bạn bè biết rất ít về Long, y như ngày xưa rất ít người để ý đến cái anh chàng thợ lặn này.

            Ba mươi mốt năm sau ngày “gãy gánh,” một hôm tôi nhận được một bì thơ to trong đó có 55 tấm hình đen trắng cũ của tôi, do một anh bạn khóa 18 gởi cho từ một địa chỉ ở một làng xa xôi ở tỉnh Bình Định. Anh nói trong thơ rằng Dương Hoàng Long đã nhờ anh giữ giùm và anh đã gìn giữ những tấm hình này bao nhiêu năm nay để chờ giao lại cho tôi.

            Rồi tôi sẽ về thăm cái Xã Cát Hanh ấy, tìm gặp lại người đã được Long gởi gắm những tấm hình này, may ra anh còn nhớ trong trường hợp nào Long đã trao cho anh những tài sản quí báu cuối cùng của một thời tuổi trẻ của tôi.  Tôi mong lại được nghe thêm chuyện về một người bạn lặng lẽ đi bên cạnh bạn bè, một người bạn đáng tin cậy mà tôi đã tin tưởng nhờ giữ những vật quý giá của mình, tưởng rằng anh sẽ may mắn hơn tôi.  Nào ngờ ...  Lẽ ra anh phải giao những thứ quý giá của anh cho tôi giữ mới phải ...

            Đầu năm 2009