Home

Trang Chính

Bản Tin

Sinh Hoạt

Tham Luận

Hoài Băo Quê Hương

Văn Học Nghệ Thuật

Thư Tín

Bài vở xin gửi về địa chỉ sau đây:
3108 E. Sawyer St.
Long Beach, CA 90805

                                                                  

 

DƯỚI CHÂN MÙA XUÂN

        Vào đầu thập niên sáu mươi, Huế c̣n đương thời. Những chiều cuối tuần trai thanh gái lịch c̣n bát phố dạo chơi yên tĩnh trên hè phố Trần Hưng Đạo, Phan bội Châu. Nhưng trong sâu kín của tâm tưởng Huế là những trăn trở. Dù thành phố nhỏ, quê hương vẫn c̣n đủ những êm đềm...

        Đại lộ Lê Lợi nằm dọc hữu ngạn sông Hương vẫn nổi tiếng thơ mộng "đại lộ học tṛ". Với lối kiến trúc Tây thanh nhă, khu trường học và các cơ sở hành chánh công quyền bài trí dọc đại lộ làm tăng vẻ đẹp của con sông Hương lững lờ bên dưới, gợn bóng hoàng thành ở bên kia bờ tả ngạn.

        Đổ dốc cầu Trường Tiền về phía hữu ngạn là khu khách sạn frères Morin được biến cải thành các trường Khoa học và Văn khoa.

        Chếch bên trái trên khuôn viên Ṭa Khâm cũ, trường đại học Sư phạm mới được xây dựng không lâu có lối kiến trúc nhẹ nhàng và kiêu kỳ.

        Trường nữ Jeanne d'Arc nép ḿnh phía sau khu Morin bề thế sóng bước ngôi trường đào tạo các sage-femmes cùng kiểu kiến trúc thanh nhă cho các cô.

        Thẳng đường lên ga Huế, qua Bệnh viện trung ương và Ṭa Hành chánh tỉnh, khách c̣n gặp ngôi trường nữ khác nổi tiếng đất cố đô là trường Đồng Khánh. Đứng tần ngần ở chiếc cổng tam quan nhẹ nhàng dáng quí phái của các nàng tôn nữ, phóng một cái nh́n toàn bộ vào sân trong, ḷng khách sẽ rung động với những tà áo trắng tung tăng trên những lối đi nhỏ viền phượng đỏ. Tường vôi hồng rất phù hợp với dáng áo nhẹ tiếng nói thanh thanh tíu tít, với thoáng gợn hồng g̣ má e thẹn che vội sau vành nón tinh quái.

        Tất cả vẻ đẹp Huế là ở đó, nơi những suối tóc thề thả dài suốt đại lộ học tṛ giờ tan trường, nơi những bóng áo trắng tôn nữ thấp thoáng nơi công viên Đồng Khánh chờ đ̣ ngang qua Vân Lâu, Thành nội...

        Chỉ cách một con đường nhỏ, trường Quốc Học nam nhi bề thế và cùng đồ sộ uy nghi hơn nhiều, là chổ xuất thân của nhiều lảnh tụ, danh nhân thời cận đại. Danh xưng "quốc học" tiếp nối truyền thống "quốc tử giám" là trung tâm đào tạo sĩ phu triều Nguyễn.

        Chế độ bảo hộ thực dân thấy rơ nhu cầu đào tạo gấp rút một tầng lớp trí thức lănh đạo bản xứ đă tín nhiệm cụ Ngô Đ́nh Khả, thân sinh ông Diệm - vị thượng thư Thiên chúa giáo trung thành, lập trường Quốc Học năm 1896. Trường nhận hai nguồn đào tạo: hệ cấp thời dành cho các khoa bảng tam trường Nho giáo vào học bổ túc tiếng Pháp, và quan trọng hơn, hệ dài hạn dành cho lớp trẻ tốt nghiệp chứng chỉ tiểu học của nền giáo dục thuộc địa...

        Tọa lạc trên đại lộ này, ngoài trụ sở Viện đại học Huế và cư xá giáo sư, trường Luật và trung học Pellerin, c̣n có trường đại học Y khoa xây cất năm 1961 nằm kế sau khuôn viên trường Quốc học và trung tâm văn hoá Pháp, xây nổi trên bờ sông Hương.

        Nói chung nền học vấn xứ Huế đă được bài trí khéo léo trong khung cảnh tranh đua thơ mộng. Cho nên dù Huế không có khả năng kinh tế, và từ lâu không c̣n là trung tâm chính trị nữa; nhưng về văn hóa, Huế đóng một vai tṛ quan trọng trong sinh hoạt miền Nam.

        Huế không giàu, nhưng cao ngạo với truyền thống "thành phố học", trung tâm đào tạo nhân tài cho miền Trung. Viện đại học Huế cũng thu hút những mầm non ưu tú của các tỉnh lân cận thuộc dăi Trung nguyên và Cao nguyên Trung phần đến học.

        Có lẽ Tuân chẳng bao giờ quên được giờ phút ngây ngất của cuộc đời ḿnh, khi lần đầu tiên đặt chân qua chiếc cổng trường Đại học Khoa học khu Morin. Ngồi lặng trong giảng đường mênh mông, qua ô cửa kính chàng phóng đôi mắt mơ mộng xuống đại lộ học tṛ giờ tan trường, chợt thấy ḿnh đă lớn hẳn lên.

        Chàng tự hào nghĩ giờ này giá ḿnh từ cửa giảng đường bước xuống chắc cả gịng suối tóc sẽ quay lại th́ thầm hứa hẹn với người sinh viên trẻ. Các chú học tṛ "Quốc học" th́ nghĩa lư ǵ? Dù trên ngực áo trắng của chú có thêu đến ba gạch đỏ (lớp đệ nhất theo qui định của trường ngày ấy)

        Tuân chợt mỉm cười. Giọng người giáo sư qua chiếc micro nhỏ gắn trên áo vét không đủ lớn để khuấy động giấc mơ của người sinh viên trẻ. Chàng thẩn thờ trước gịng suối tóc chờ một dáng áo trắng nho nhỏ…

        Vào giữa năm học th́ trường gọi Tuân lên nhận học bổng đi Nhật. Cái mơ ước của cuộc đời sinh viên một đất nước nhược tiểu có lẻ không có ǵ lớn hơn là xuất dương để học hỏi cái mới, cái lạ nơi xứ người.

        Cho nên một ngày thấy tên ḿnh và một người bạn khác trên bản thông cáo của trường gọi lên gặp ban học vụ làm thủ tục, Tuân như đứng sững giữa cơn mơ. Có bao giờ anh ngờ được một học bổng xuất ngoại lại đến tay ḿnh? Anh đă nạp hồ sơ cho Hội đồng Du học cũng chỉ cầu âu, cho tṛn những con đường chuẩn bị tương lai, thế thôi.

        Nào ngờ! Tuân tự nhủ trong cuộc đời cứ phải làm tất cả những ǵ có thể làm được. Nhật Bản lại là niềm hảnh diện ngấm ngầm trong anh, một người Đông Á, về một nền văn minh phối hợp được những tinh túy của triết Đông dựa trên nguyên tắc nhị nguyên với nền kỷ thuật phương Tây đặt gốc rể trên lô gích tuyệt đối. Cho nên nó có một sức hấp dẩn đặc biệt với Tuân, con người từ cội nguồn vẫn muốn theo lẽ trung dung làm phương châm cho cuộc sống, như lối nghĩ của dân tộc anh.

        Suốt tuổi trẻ, Tuân mê măi với phim ảnh Nhật. "La Sinh Môn" (Arika Kurosawa 1950- Giải sư tử vàng Venise 1951) đượm tinh túy Phật giáo trong nét phong phú đặc biệt của nền văn hóa Nhật, tưởng nhẹ nhàng giản dị mà suy nghĩ măi vẫn cứ thấy chân lư chập chờn đâu đó, như một chiếc lưới phù sinh vẫn giăng mắc giữa cái thiện và cái ác, giữa cái đúng và cái sai, giữa thành thật và dối trá, giữa lưỡng cực.

        "Người phu xe" (Hiroshi Inagaki- Sư tử vàng đại hội điện ảnh Venise 1958) làm một cuộc cách mạng phá đổ những bức tường phong kiến trong t́nh yêu. Dù ǵ anh phu xe si t́nh cũng được phu nhân đáp lại, anh nghĩ thế, với nụ cười ban thưởng cho những dâng hiến của riêng anh cho người trong mộng tưởng. Đó có phải là một đền đáp cho t́nh yêu mộc mạc, giản dị mà tha thiết của anh? Anh không cần biết. Anh sung sướng đi vào cái chết, không phải v́ tuyệt vọng, mà v́ hơi rượu t́nh nồng cháy trái tim anh trước khi bị vùi vào tuyết phủ.

        Ôi cái nền lăng mạn phương Đông! Nó yêu kiều quá, đẹp quá, thơ quá trong cuộc sống vẫn có quá nhiều biến thiên cơ cực. T́nh ca đă nuôi được những dân tộc phương Đông lớn lên, vượt tầm vóc, như nghệ thuật bonsai truyền thống.

        T́nh ca đă làm những dân tộc chậm tiến vẫn cắn răng mà thu dọn đổ nát, hoang tàn từ thù hận và tham vọng sứ quân. T́nh ca vẫn cất được tiếng hát tươi vui giữa chết chóc, bạo tàn để con người vẫn được sống và văn hóa c̣n trường tồn.

        Nhưng cuốn phim đă để lại một dấu ấn sâu sắc nhất trong đầu óc anh vẫn là cuốn "Bảy người vơ sĩ đạo" (Kurosawa 54 - Oscar phim ngoại quốc xuất sắc nhất, được chọn là phim có y trang đẹp lộng lẫy). Tinh thần Samourai với Kurosawa và tài diển xuất tuyệt vời của Toshiro Mifune trong vai người hiệp sĩ tàng tàng gốc nông dân Kikuchiyo đă lột tả hết những nét đặc trưng mạnh nhất của chủ nghĩa samourai chưa thấy có trong lịch sử một dân tộc nào khác.

        Samourai vừa là một giai cấp quí tộc dấn thân cho nghĩa lớn, đượm tính hy sinh và anh hùng cá nhân, c̣n thấm đượm một nghệ thuật sống theo tinh thần Đông phương, cao hơn và có ư nghĩa hơn nhiều cái tinh thần thực dụng chuộng vật chất phương Tây; và cũng vượt hẳn con người sĩ phu Nho gia chưa được khẳng định hẳn vóc dáng suốt hơn 2500 năm tồn tại của lịch sử Khổng giáo!

        Anh đă yêu xiết bao nền văn hóa phong phú thắm đượm ấy, trong ước mơ một ngày sẽ nắm bắt tận tay, nh́n tận mắt. Tuân sung sướng giữa cơn mơ rực rỡ. Mộng ước bay cao. Anh hát trên gịng sông quê hương mỗi ngày, trong nỗi tưởng nhớ mảnh đất chôn nhau cất rốn vẫn c̣n đó dưới chân anh. Anh ôm nó vào giấc ngủ hàng đêm, mong cho chóng đến ngày lên đường.

        Nhưng. Vẫn chữ nhưng! Việc chuẩn bị đă hoàn tất. Hồ sơ, thủ tục khám sức khỏe đă xong hết từ lâu. Bộ đồ vét ba dành dụm tiền may tặng cũng đă trân trọng nằm gọn trong chiếc va ly mới toanh. Nhưng cuối cùng anh đă bị bỏ lại. Không ai giải thích tận t́nh cho anh rơ tại sao.

        Tuân rơi từ cơn mơ xuống đất, dăy dụa câm lặng với niềm đau của riêng ḿnh.

        Tuân bỏ luôn kỳ thi PCB (lư hóa sinh) v́ anh đă ngưng cua từ lâu không thể nào bắt kịp bài vở nữa. Anh ngao ngán lại muốn bỏ Huế mà đi. Anh nộp đơn thi vào bất cứ trường chuyên môn nào. Hành chánh, Vơ bị, Sư phạm...

        Định mệnh đă chọn cho Tuân con đường làm quan. Anh đậu vào trường Quốc gia Hành chánh không náo nức lắm, cho là cái nghiệp nó chọn ḿnh. Nhưng những người khác không nghĩ như anh.

        Khuôn mặt Ba rạng rỡ lên v́ ông nghĩ phước nhà đă tới, và có thể nhờ anh gịng họ sẽ chuyển một khúc quanh. Mẹ không giấu được nổi mừng vui trong chiếc bếp của bà, luôn tay lăng xăng nấu nướng, cho con trai xứng đáng của ḿnh những món ngon hợp khẩu nhất. Các em của anh vui ra mặt v́ tương lai đă có một chổ dựa vửng chắc.

        Họ hàng kéo đến mừng anh. Hàng xóm láng giềng và những bạn bè của mẹ xa gần nói về con gái của họ. Tuân lên đường tự tin, thấy ḿnh đă lớn khôn. Khi nhớ lại ngày đến bưu điện nhận điện tín gọi nhập học, đích thân ông trưởng Ty đă tiếp anh ưu ái, với những lời khích lệ chí t́nh mong anh thành đạt với may mắn đặc biệt mà định mệnh đă dành cho anh...

        Trường Quốc gia Hành chánh do Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm sáng lập, dựa theo mô thức trường "ENA Pháp- Ecole nationale d'administration", trong khuôn khổ nền hành chánh công quyền lâu đời mà Việt Nam mô phỏng.

        Tổng thống Diệm xuất thân từ trường Hậu Bổ Nam triều, làm quan đến Thượng thư bộ Lại, nên rất ưu ái những công bộc tương lai mà ông muốn đào tạo cho một guồng máy cai trị tiến bộ.

        Trực thuộc Phủ Tổng thống, trường đă lớn nhanh như thổi về phương diện cơ sở vật chất đến cán bộ giảng dạy và chất lượng huấn luyện nhờ sự bảo trợ tích cực của trường Đại học Michigan. Sinh viên ngoài học tŕnh lư thuyết rất nặng, c̣n được trang bị những kiến thức thực tiển của đời sống chính trị, kinh tế xă hội quốc gia qua các buổi nói chuyện thường xuyên của các Tổng Bộ trưởng, Cố vấn và Phụ tá tại Phủ Tổng thống về các đề tài thời sự của đât nước.

        Cuối học kỳ là những giai đoạn tập sự ở các cơ sở trung ương và địa phương để chuẩn bị luận văn tốt nghiệp.

        Các kỳ hè nam sinh viên c̣n phải qua các khoá thụ huấn quân sự nhằm trang bị tinh thần thời chiến cũng như các kỷ thuật quân sự cơ bản rất cần thiết cho người công bộc trong bối cảnh thực tế phức tạp của một xă hội chiến tranh mà các vấn đề hành chánh, an ninh quân sự tṛng tréo nhau thiên h́nh vạn trạng. ..

* * *

        Vào những ngày cuối cùng trên băng ghế trung học của Tuân, Đại tá dù Nguyễn Chính Danh đă làm một cuộc đảo chánh. Và nếu đại tá Trần Trịnh Khả không mang quân kịp về cứu giá th́ chế độ đă sụp đổ. Thần tượng đang xuống ngôi khi loạn từ bên trong và "chí sĩ " đă phải cầu cứu tướng ngoài. Chế độ như một cây xanh đang đâm cành trổ nhánh bổng rủ lá v́ những con sùng đục ruổng từ trong thân.

        Tuân hối tiếc lắm một thời kỳ thái b́nh vừa khép lại với cuộc chính biến. V́ kể từ khi ông Diệm tuyên bố thành lập nền Cộng ḥa ngày 26 tháng 10 năm 1956 miền Nam Việt Nam từ t́nh trạng dật dờ thiếu chính thống đă nghiểm nhiên t́m được một chổ đứng khá xứng đáng trên chính trường thế giới.

        Có Mỷ ủng hộ đàng sau lưng, họ Ngô đă làm được việc. B́nh định giáo phái, sứ quân để xây dựng chính quyền trung ương, ổn định đồng tiền và giá cả, phát triển kinh tế hữu hiệu giúp đời sống người dân tăng cao thấy rơ...

        Bỗng nhiên lănh đạo lạc tay lái một cách khó hiểu. Chế độ phạm hết lổi lầm này đến lổi lầm khác, mất dần uy tín. Người ta đă nói về những mâu thuẩn đông tây, tôn giáo trong cái gia thế pha trộn tư tưởng Thiên chúa giáo và truyền thống quan lại Nho gia, lương đống của triều Nguyễn.

        Dù những cái đầu lănh đạo của họ Ngô đ́nh đa số nhiểm Tây học (nổi nhất là bào đệ Ngô Đ́nh Nhu tốt nghiệp Ecole des Chartes của Pháp) nhưng những tư tưởng khai phóng không đủ mạnh để rút cội rể gia đ́nh ấy ra khỏi ao tù phong kiến. Đó là nguyên nhân sâu của những cơ hội lịch sử miền Nam bị bỏ lở, bên cạnh những tác động chính trị của các thế lực bên ngoài...

        Bằng mưu lược Tào Tháo, anh em Diệm - Nhu lại thắng cuộc chính biến như đă thắng các tướng giáo phái sứ quân Bảy Viển, Ba Cụt, Năm Lửa (và có thể cả vị tướng nhiều huyền thoại Tŕnh Minh Thế) "Chí sĩ" đă được cứu giá, quân chính phủ cuối cùng đă đập tan cuộc đảo chánh của các tiểu đoàn dù; nhưng uy tín Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm đă sứt mẻ nặng nề và chế độ Cộng ḥa đă lănh một nắm đấm ô nhục vào giữa mặt. Cơn nội thương đang âm ỉ phát tác.

        Những lầm lẩn chính trị trầm trọng cứ tiếp diển, đưa đến vụ nổ ở đài phát thanh Huế. Việc kỳ thị tôn giáo có thật. Tệ hại hơn, những giải thích quanh co của Tổng thống Diệm cho thấy nó được chủ trương từ đầu năo chính quyền trung ương.

        Có thể ông Diệm đă kẹt giữa những vụng về chính trị đối với Phật giáo đ̣i b́nh đẳng tôn giáo, và những quyền lực chính trị mạnh hơn đă nhúng tay vào khai thác triệt để những vụng về đó.

        Phong trào Phật giáo đấu tranh bắt đầu bằng một "Ủy ban liên phái bảo vệ Phật giáo" qui tụ sự ủng hộ triệt để của đại đa số quần chúng đă dồn chính quyền công giáo thiểu số vào một thế chống đở rời rạc.

        Tổng thống Diệm mất hết uy tín trong dư luận quần chúng và đang để vuột khỏi tầm tay những cảm t́nh và hậu thuẩn c̣n sót lại nơi các thế lực phương Tây đă từng ủng hộ chế độ.

        Ông Diệm ư thức rất rơ ràng sự nghiệp chính trị của ḿnh đang sụp đổ vô phương cứu vản. Hơi thở và mạch sống của miền Nam tưởng như đă hồi phục và ươm mầm trên vùng đất úng ngập đă khơi những con kinh thoát nước, phơi phóng đất đai dưới ánh mặt trời mới. Giải đất ấy một thời tưởng đă t́m được một không khí trong lành mới cho những mầm hy vọng mới đang trổ dưới chiếc đủa thần của thiên tài lảnh tụ.

        Nhưng "thiên thời" không đến với ông Diệm. Lănh tụ gảy gục dưới sấm sét không phải v́ ông không biết "tri thiên mệnh".

        Chắc chắn trong con người ông ngào trộn những trật tự cổ của Khổng giáo và những tư tưởng khai phóng mới của phương Tây. Sự dung hợp ấy đă có thể nẩy sinh một hệ thống giá trị mới nếu sự gặp gở giao lưu xảy ra ở một bối cảnh lịch sử khác thuận lợi hơn.

        Điều bất hạnh cho những giai đoạn đen tối kế tiếp có lẽ đă khởi sinh từ những chạm trán tư tưởng đông- tây trong ḷng chế độ thu gọn vào một đại gia đ́nh "quan lại -Thiên chúa giáo" truyền thống.

        Một bào huynh Tổng giám mục chỉ thấy độc một nhu cầu tôn giáo thông qua nguyên tắc những phát triển xă hội đồng hành với sự lớn mạnh của khối Thiên chúa giáo.

        Một bào đệ ít học hơn, ấm ức cuồng cẳng trong ngôi nhà từ đường cổ kính ở Phú cam ôm mộng làm lảnh chúa.

        Người em út nhiểm Tây học không muốn dính líu vào những tranh chấp ở quê nhà an phận với chức đại sứ ở Anh quốc.

        Linh hồn của chế độ nằm trong cái đầu thông thái thiếu b́nh thường của bào đệ Ngô đ́nh Nhu, lấy hà khắc và độc đoán theo phương thức Machiavel (le Prince) làm phương châm răn đe trong nghệ thuật cai trị. Bên cạnh ông là một người vợ cũng không được b́nh thường, dữ dằn, sống sượng đến nổi dư luận phương Tây phải gắn cho danh hiệu "Con hổ cái".

        Những thế lực xung đột ấy đă phân tán hết sức mạnh tập trung của lănh tụ kẹt cứng ở giữa. Và khi chủ trương bạo lực hổ trợ cho sự phát triển Thiên chúa giáo thắng thế trong ḷng cái “gia đ́nh trị” ấy cũng là lúc hồi chuông báo tử cho chế độ gióng lên.

        Bà cố vấn Ngô Đ́nh Nhu đă đổ thêm dầu vào lửa. Và lửa đă cháy ở ngả tư Phan Đ́nh Phùng trên thân xác của Ḥa thượng Thích Quảng Đức. Cả thế giới rúng động v́ ngọn lửa tự thiêu. Và chế độ mong manh tồn tại trên mật vụ ch́m nổi đă long những mạch vữa cuối cùng, để rồi phải sụm xuống dưới chân chùa Xá lợi.

        Phật giáo lớn nhanh như thổi trở thành một người khổng lồ đang b́ bỏm t́m phương hướng trên cánh đồng lầy quê hương. Phật giáo kết hợp trong ḷng nó tuyệt đại đa số quần chúng phức tạp gọi chung là người lương, không thuần nhất, phân tán, mâu thuẩn. Hàng giáo phẩm từ nhiều hệ phái và những chính kiến khác biệt từ lâu ẩn nhẩn nơi thanh vắng một ngày chợt thấy bối rối ở trung tâm sân khấu chính trị.

        Chủ lực phong trào Phật giáo nằm ở lực lượng thanh niên, sinh viên, học sinh. Lê Hữu Biên, Tôn Tuệ Quang (cùng khóa Quốc gia Hành chánh với Tuân), Nguyễn Trọng, Trần Thúy... của các trường và phân khoa đại học khác là những người tiên phong xây dựng Phong trào Sinh viên (Phật giáo) đấu tranh.

        Một tầng lớp trí thức trẻ dấn thân khá muộn màng trong một bối cảnh lịch sử nghiệt ngă thật sự chưa t́m được chổ đứng xây dựng của họ trong việc khởi phát một tri thức công dân trong gịng tiến hóa dân tộc. Lực lượng trẻ ấy đă xuất hiện bất chợt, thiếu chuẩn bị, thiếu kết hợp chung quanh một chủ thuyết chính trị.

        Trong bối cảnh khủng hoảng niềm tin vào tư cách chính trị của tầng lớp cha anh, những trí thức trẻ muốn tự khẳng định ḿnh trong cuộc dấn thân không hành trang tư tưởng, nhưng cũng không mặc cảm, v́ không thiếu nhiệt t́nh. Họ đă kiên tŕ chống phá các khuynh hướng độc tài, quân phiệt, phản dân tộc, phản dân chủ.

        Những tấm ḷng đầy nhiệt huyết của họ đă thành công trong đấu tranh đường phố. Nhưng họ cũng đă phơi bày nhược điểm tai hại v́ thiếu tính thuyết phục cho sự ổn định ở tương lai và những mô h́nh dân chủ hiện thực.

        Sự bế tắc này rơ ràng là hệ quả của quá tŕnh lịch sử hậu thuộc địa và cuộc tranh chấp quốc - cộng dằng dai. Những người đấu tranh đường phố đă không t́m được chổ dựa chính trị. Phật giáo ư ? Làm ǵ có lănh đạo và ư hệ chính trị. Quân đội ư ? Một sức mạnh quyết định nằm trong tay những tướng lảnh thiếu hiểu biết về chính trị, nhưng lại đầy tham vọng v́ đă đánh hơi được quyền hành chánh. Mặt trận Giải phóng miền Nam ư ? Lịch sử quan của đảng Cộng sản Việt nam đă nhận lầm toàn bộ phong trào thanh niên sinh viên là của họ.

        Cho nên giữa những tham vọng tranh đoạt trong giai đoạn rối ren đó, phong trào đấu tranh của trí thức trẻ miền Nam đă không t́m thấy lối thoát lịch sử quyết định.

        Thành công duy nhất của họ là những phấn kích đem lại cho những chính khách nhút nhát, những nhân vật chính trị đang cầm quyền nhưng không mấy tin tưởng vào sự tồn tại của chế độ Ngô đ́nh, và cả những tướng tá xương sống của chế độ đang được ṭa đại sứ Mỷ và CIA ve vản để làm cuộc đảo chánh 01 tháng 11 năm 1963.

        Tin đồn đă thành sự thật. Khoảng gần 14 giờ chiều 01.11 ba chiếc jeep trí súng đại liên và quân đội quân phục tác chiến hú c̣i chạy vút qua đường Trần Quốc Toản. Sinh viên nhốn nháo tụ tập bàn tán trên các hành lang kư túc xá. Những chiếc radio bán dẩn mở to. Có tiếng nhạc quân hành. Buổi phát thanh gián đoạn một cách bất thường. Quân hành rồi quân hành.

        Đúng là có biến cố như mọi người vẫn chờ đợi. Tuyên cáo về một "Hội đồng Quân nhân Cách mạng" do tướng Bích Dương làm chủ tịch có làm cho nhiều người ngạc nhiên về vai tṛ chủ yếu của ông.

        Người có khả năng nhất quyết định cuộc đảo chánh là ông tướng trẻ gốc hoàng phái nắm chức vụ tin cẩn Tư lệnh Biệt khu Thủ đô. Ông ta từng chịu ơn mưa móc của "cụ". Nhưng mặt khác, ông vẫn là người Phật giáo gốc Huế. Chính từ đó mà có tin đồn về những “áp lực tinh thần” khiến ông có thể làm cú đảo chánh thật trên cú "bravo 2" như cái đầu thâm trầm của "ông Cố vấn" đă dự liệu...

        Các tướng tá chủ lực của Hội đồng lần lượt xướng danh, cả những tên tuổi thân tín của họ Ngô đ́nh mà ít người ngờ nỗi. Súng bắt đầu nổ rền trời Sài g̣n. Hai chiếc T28 quần trên thành Cộng ḥa đánh bom dữ dội. Đến khuya thành thất thủ. Quân đội Cách mạng vây dinh Gia Long. Không có tin tức, cũng không hiệu triệu trên một đài phát thanh bí mật nào đó.

        Khoảng 10 giờ sáng ngày 02.11, đài loan tin hai anh em ông Diệm- Nhu “tự sát” trên chiếc M 113 đón anh em ông về bộ Tổng tham mưu gặp “Hội đồng Quân nhân Cách mạng”

        Tuân mường tượng đến khuôn mặt máu me của hai anh em ông, nhất là cựu Tổng thống Diệm, để nhớ lại những ngày nào trước đại giảng đường anh và các bạn bè Quốc gia Hành chánh trong lể phục trắng, cà vạt đen vẫn làm hàng rào danh dự chào đón Ngô Tổng thống trong những dịp ông đến viếng trường.

        Khuôn mặt ông khá phúc hậu, có nét trung thần của một quan thượng thư qú gối trước hoàng thượng dâng tài lương đống. Nhưng đôi mắt ông lại khác. Nó có cái vẻ ǵ sắc sảo, uy hiếp người.

        Có lẽ v́ thế ông đă tổ chức trưng cầu dân ư, bêu rếu truất phế đức Quốc trưởng Bảo Đại trong những năm đầu ông chấp chánh chăng? Và cái nốt ruồi phá tướng nổi rơ dưới con mắt là dấu ấn thê thảm của một định mệnh? Nghe nói ông vẫn là người tin dị đoan. Cho nên các bài diển văn bao giờ cũng được kết thúc bởi câu "xin Thượng đế pḥ hộ chúng ta".

        Nhưng Thượng đế và Chúa đă bỏ ông có lẽ v́ những tội lội trần gian ông đă phạm. Chúa cũng chịu thua những cố chấp mê muội của ḷng người. Chúa không lường được những bầy tôi cung cúc lạy cụ xưng con nhưng đă đâm cho cụ một ngọn dao lút cán. Chúa cũng e dè thế lực khủng khiếp của Đệ nhất Siêu cường trên trái đất muốn làm ǵ cũng được.

        Tuân tưởng tượng măi khuôn mặt máu me của cụ Diệm, người chí sĩ trong huyền thoại tuổi thơ của anh những năm 54, 55 khi miền Nam sau hiệp định Genève chỉ là một "no man's land". Hồng hoang, dật dờ. Thiếu sinh khí. Thiếu niềm tin. Đói lănh tụ.

        Chí sĩ đă từ Mỹ quốc trở về dưới chiếc đủa thần của Đức hồng y Spellman như cứu tinh sáng giá của một dân tộc nhược tiểu, đói khổ, thù hận, bị chia cắt.

        Chí sĩ đă đến với Tuân trong những giấc mơ chờ đợi ngày về của Người, lẩm nhẩm tung hô. Em bé tội nghiệp của chúng ta đă đặt niềm tin đầu đời nơi những chói ngời của lănh tụ. Em đă cầm cờ chạy khắp xóm làng tung hô nào "cụ Ngô Đ́nh Diệm treo ấn từ quan", nào "cụ Ngô Đ́nh Diệm cứu tinh anh minh của dân tộc"...

        Em đă từng ngây ngất lấy tay áo trắng của đồng phục học sinh chùi những giọt nước mắt mừng tủi ngày cụ về Huế thăm quê hương và ra mắt đồng bào cố đô ở Phú Vân Lâu. Khuôn mặt phúc hậu hồng hào và bộ đồ "tissu" trắng ngà cụ mặc có bao giờ em quên được ?

        Thế mà bây giờ cụ đă tự kết thúc cuộc đời chính trị và danh dự của ḿnh như thế...Và xa hơn, sau cái chết thê thảm của cụ ?

        Tuân ôm lấy mặt, giấu những giọt nước mắt chua chát chỉ chực trào ra giữa đường phố đông người.

        Lê Minh Văn

 

Copyright @ 2005 quocgiahanhchanh.com
Webmaster@tranbachthu