Bài vở xin
gửi về địa chỉ sau đây:
P.O. Box 2914
Anaheim, CA 92804
Đường Vào
Thơ...
Tôi
vốn là một kẻ quê mùa, áo nâu chân đất đầu trần, được sinh ra ở một làng quê bé
nhỏ hiền ḥa của một tỉnh khiêm nhường bên bờ Tiền Giang: “xứ dừa” Bến
Tre!
Cha mẹ
tôi quanh năm suốt tháng chỉ biết quanh quẩn bên khu vườn, thửa ruộng “trông
trời, trông đất, trông mây... trông mưa, trông gió...” V́ thế, tuổi ấu thơ của
tôi đă được che chở, bao bọc, bồng bềnh nhẹ trôi trên những câu ḥ điệu hát dân
gian ở những buổi cấy gặt, đ́nh đám, hội hè, ở những tiếng ru em thực êm đềm,
vời vợi, buồn buồn xa xôi.
Mẹ
tôi dạy con toàn bằng tục ngữ, ca dao! Vừa lọt ḷng, hằng ngày Mẹ đă cho tôi
uống măi ḍng suối trong mát tuyệt vời đó cùng với ḍng sữa ngọt ngào, thiêng
liêng, hiền dịu nhất của Mẹ. Tôi không c̣n nhớ rơ từ lúc nào đă thuộc ḷng những
câu ca dao thực đơn sơ, mộc mạc nhưng cũng thực đẹp như:
- Gió đưa cây cải về trời,
Rau răm ở lại chiụ lời đắng cay!
- Chim quyên xuống đất
tha mố,
Thấy em đau khổ, đứng ngồi không yên!
Hay các câu tục ngữ
thực thâm thúy:
- Có qua có lại mới toại ḷng nhau
- Ăn coi nồi, ngồi coi
hướng
- Múa ŕu qua mắt thợ
- Ở bầu th́ tṛn, ở ống
th́ dài!
Hoặc các câu hát ru em
đầy t́nh nghĩa nhưng cũng ít nhiều u uẩn đượm buồn:
- Chiều chiều ra đứng ngơ sau,
Ngóng về quê Mẹ ruột đau chín chiều!
- Thiếp thương phận
thiếp c̣n thơ,
Lấy chồng xa xứ bơ vơ một ḿnh!
- Anh buồn có chốn thở
than,
Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya!
C̣n Ba
tôi th́ bắt đầu dạy tôi học vỡ ḷng lúc gần tṛn 5 tuổi. Khi vừa tập đọc, tập
viết đựơc khá một chút, ngoài quyển “Quốc Văn Giáo Khoa Thư” rất hay, rất nổi
tiếng của cụ Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đ́nh Phúc, Đỗ Thận, mỗi trưa,
mỗi tối, tôi đều phải đọc cho Ba tôi nghe mấy chuyện đời xưa của Trương Vĩnh Kư,
chuyện Giải Buồn của Huỳnh Tịnh Của, vài đoạn thơ Lục Vân Tiên, truyện cổ tích
viết thành thơ lục bát như Con Tấm Con Cám, Thạch Sanh Lư Thông, Phạm Công Cúc
Hoa, Lâm Sanh Xuân Nương, Chàng Nhái Kiểng Tiên... do nhà sách Phạm Văn Tươi
xuất bản. Sau đó đến các bộ Truyện Tàu như Tây Du Kư, Phong Thần, Tam Quốc Chí,
Thuyết Đường, Nhạc Phi... Qua các truyện tích trong đó, những lúc theo Ba dọn
vườn, làm ruộng, thả trâu, cộ rơm, tôi c̣n được Ba giảng dạy thêm cho nhiều điều
hay lẽ phải, luân thường đạo lư thực tiễn ở đời...
Thói
quen đọc sách, mê đọc sách đó đeo đẳng tôi suốt đời. Bởi vậy, khi vừa vào
ngưỡng cửa Đaị Học Văn Khoa Sàig̣n, ân sư Vương Hồng Sển, đồng bệnh mọt sách,
thuộc nhiều Truyện Tàu, đă dành cho tôi một cảm t́nh rất đặc biệt đến nỗi nhiều
lần nói công khai: “Nếu ḿnh có con gái th́ đă chọn thằng nầy làm rể đông
sàng rồi!” (1)
Tôi
không làm sao quên được nếp sống đẹp, những sinh hoạt mộc mạc, lành mạnh, hiền
ḥa, những phong cảnh đơn sơ nhưng muôn màu sắc ở thôn quê như bướm vờn cỏ
hoa, ếch nhái ḥa nhạc buồn đêm mưa, như b́nh minh nắng ấm chim ca; trưa hè đưa
vơng buồn xa ve sầu! Chiều tàn thơ thẩn lùa trâu; C̣ qua ruộng lúa, sáo nâu bay
về! Cu kêu, gà gáy mỏi mê; tắm mưa, giỡn bóng trăng quê hữu t́nh! Mây trôi gió
thoảng ru ḿnh; hoàng hôn khói ấm mái tranh mơ màng... Lập ḷe đom đóm hiền
ngoan; soi đường dế nhủi, soi hang dế mèn...!
Vừa
hơn 7 tuổi, tôi đă phải đi học xa nhà, xa Cha Mẹ, lang thang hết gác trọ nấy đến
gác trọ khác, vừa ngơ ngác nh́n ánh đèn điện hắt hiu bé nhỏ của tỉnh
lỵ Bến Tre đến “đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu” rồi chợt bàng hoàng lạc lơng
với “đèn Sàig̣n ngọn xanh ngọn đỏ"! Cũng trong lúc đó, có một bóng dáng
bé bỏng, dịu hiền, ngây thơ, xinh đẹp ở làng kế bên mà lần đầu tiên được gặp gỡ,
tôi đă có linh cảm mơ hồ rằng ḿnh không sao học, vui sống được nếu h́nh bóng
quá yêu kiều mong manh đó vụt biến mất, cho dù lúc đó tôi c̣n quá nhỏ để có thể
hiểu t́nh cảm đó là ǵ! Nàng đúng là nàng Tiên dễ thương trong trí tưởng tượng
cuả tôi khi đọc các truỵên cổ tích thần tiên và đă thường ghé thăm tôi trong
những giấc mơ đầu đời thực trong trắng nhưng cũng thực lăng mạn! Từ đó, Nàng đă
lớn dần, tiếp tục học cùng cấp, cùng lớp, cùng trường với tôi từ Tiểu Học đến
Đại Học. Nàng chính là hồn thơ, Nàng Thơ xinh đẹp tuyệt vời, người bạn đời đă
hẹn từ muôn kiếp, người vợ hiền thục đảm đang, thủy chung, gương mẫu, người cháu
ruột (dư!) của Bà Tú Xương c̣n sót lại mà Trời Phật, Tổ Tiên đă thương dành cho
tôi!
Học
Trung Học Công Lập Bến Tre đến hết năm Đệ tứ (lớp 9 ngày nay) vừa lên 16 tuổi,
tôi phải chuyển qua Trung Học Nguyễn Đ́nh Chiểu Mỹ Tho học lớp đệ tam (lớp 10
ngày nay). Trong năm nầy tôi may mắn được học Việt văn với thi sĩ Thế Viên, tác
giả Thi Tập “Người Yêu Tôi Khóc". Ngay đầu năm học nhà thơ đă giới thiệu
Thi Tập đầu tay cuả Thầy cho môn sinh. Thi Tập “Người Yêu Tôi Khóc” và phong
cách rất nghệ sĩ của Thầy đă gây cho tôi nhiều thích thú. Tôi cảm thấy thi nhân
và thơ cũng có vẻ sống thực, gần gũi với ḿnh thêm một chút! Bài “Người Yêu Tôi
Khóc", chủ đề của tập thơ, làm tôi rất thán phục! Theo dư luận một số giáo sư
và học sinh lớn th́ động cơ chính của bài nầy là một hoa khôi nữ sinh con nhà
giàu, học cùng một cấp (nhưng khác lớp) với Nàng Tiên của tôi! Tôi c̣n nhớ được
mấy câu:
“Người yêu tôi khóc hôm qua,
Má hồng lệ nhỏ, tay ngà ch́m sao!
Tóc trôi mây nước thuở nào,
Đem bao tâm sự mà trao ân t́nh
Tôi c̣n gối mộng thư sinh,
Nỗi riêng, riêng nghĩ một ḿnh mà đau...”
(NYTK, Thế Viên)
Trong
khi đó, Nàng Thơ học Trường Nữ Trung Học Mỹ Tho (2) đối diện ngay Trường
Nguyễn Đ́nh Chiểu của tôi, chỉ cách ḷng đại lộ Hùng Vương mà thôi. Dường như
Trời Phật cũng thương cảm cho mối t́nh si vô bờ bến của tôi nên đă cho tôi thêm
một cơ hội kỳ thú: năm đệ nhất, chuẩn bị thi Tú Tài II, chúng tôi đều học cùng
Ban B (Khoa Học Toán), chung môn Toán H́nh Học với một giáo sư rất nổi tiếng
là Thầy Trần Văn Ất. Thầy bắt buộc các lớp Đệ Nhất B hai trường trao đổi bài vở
cho nhau để có thêm đuợc nhiều bài tập ôn thi. Tôi như trúng số độc đắc, được
dịp danh chánh ngôn thuận thường xuyên lân la đến thăm Nàng Thơ ở nhà trọ theo
lệnh của vị ân sư quá tốt bụng nầy!
Ngoài
công ơn gián tiếp se duyên cho vợ chồng tôi, Thầy Trần Văn Ất c̣n tác động mạnh
mẽ vào tâm hồn lăng mạn, thêm sức sống cho hồn thơ tôi bằng cách giới thiệu tác
phẩm “Đời Phi Công” của Nguyễn Xuân Vinh (Lúc đó là Tư Lệnh Không Quân VNCH,
người cùng có Bằng Tốt Nghiệp Toán H́nh Học Cao Cấp ở Paris như Thầy, gửi
tặng). Đây là những bức thư t́nh thực đẹp, thực trong sáng, thực lăng mạn, có
lẽ chưa từng có trong Văn Học Sử Việt Nam mà rất nhiều thanh niên thời đó, các
bạn tôi đă dùng gối đầu giường để “ăn cắp, cắt xén” thậm chí “sao y
bản chính” để quyến rủ, dỗ ngọt các người đẹp!
Trong
“Thi Nhân Việt Nam”, khi nhận xét về nhà thơ
Lan Sơn, Hoài Thanh Hoài Chân đă buông một câu ngắn ngủi nhưng thật sâu xa đẹp
tuyệt vời như thơ: “một buổi sáng kia, t́nh yêu đă đến với Lan Sơn và người học
tṛ ấy bỗng thành thi sĩ” (Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh Hoài Chân, Xuân Thu xb,
CA/USA, tr. 83). Câu nói đó lần đầu tiên tôi được nghe ân sư Nguyễn Khắc Hoạch,
Khoa Trưởng Đại Học Văn Khoa Sàig̣n đọc khoảng năm 1962 nhưng h́nh như nó đă bất
chợt lăng đăng gần xa đâu đây trong tôi từ rất lâu khi vừa biết mơ mộng thẩn thờ
thao thức v́ tà áo trắng học tṛ quá đơn sơ hiền dịu của Cô Bé Làng Bên,
Nàng Thơ bé bỏng của tôi!
Bởi vậy tôi đă viết:
Ḥ hẹn hay không vẫn đợi chờ
Yêu em anh bỗng biết làm thơ
Xin thời gian giữ nguyên màu má
Để nghĩ rằng em chẳng hững hờ...
(T́nh Tứ, L.Tâm)
Tôi
thực không biết làm sao có được đầy đủ lời lẽ hay nhất, đẹp nhất, xứng đáng nhất
tận đáy ḷng để cám ơn Nàng! Giữa hai chúng tôi có một “nhịp cầu tri âm” rất
vững chắc, rất đáng tin cậy là Ngô Bá Phước, người bạn thân cùng tuổi tác, cùng
lớp, cùng trường, đồng thời lại là em họ của cả hai chúng tôi (Nàng gọi mẹ N.B.
Phước bằng d́ ruột. Tôi gọi ba N.B.Phước bằng chú họ!) Do đó, tôi đă may mắn có
nhiều dịp gặp Nàng ở nhà N.B.Phước, đă từng ở trọ rất gần nhau bên bờ hồ Bến Tre
thơ mộng, từng về quê cùng một chuyến xe, một chuyến đ̣, từng chào hỏi, chuyện
tṛ... bâng quơ! Lúc c̣n ở Trung Học Công Lập Bến Tre, đôi lần N.B.Phước c̣n rủ
tôi sang lớp “Chị Tư Luân” để mượn tập, mượn sách nữa! H́nh bóng quá dịu
hiền, đơn sơ, trong trắng, đẹp như tiên nửa thực nửa mơ của Nàng, không biết từ
bao giờ, đă nhẹ nhàng đi sâu vào tâm hồn rất mong manh, rất lăng mạn của
tôi! Tôi đă thao thức nhiều đêm, đă có những giấc mơ tuyệt vời như Nguyên Sa
nói: “....Và nghe em ghé vào giấc mộng.... Vành nón nghiêng buồn trong
gió đưa...” (Tương Tư, Nguyên Sa).
Từ đó, tôi bỗng nhiên
biết làm thơ... t́nh học tṛ! Rất tiếc số thơ nầy đă thất lạc hết trong khói
lửa. Có lần nhân đọc hai câu thơ của Nguyễn Bính:
Nhà nàng ở cạnh nhà tôi,
Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn!
Nghĩ đến hoàn cảnh
ḿnh, tôi liền bắt chước, nắn nót được hai câu mà chưa bao giờ dám khoe với Nàng
Thơ:
Làng Nàng ở cạnh làng
tôi,
Cách nhau vườn ruộng mưa rơi nắng buồn!
Tôi thực vô cùng hạnh
phúc được tiếp tục học chung với Nàng tại Đại Học Văn Khoa Sàig̣n với:
Hè sang phượng đỏ sân trường,
Thay màu áo mới tơ vương gót hồng!
...
Lối vào thư viện thân quen,
Dư hương c̣n đó êm đềm tiếng ai?
(Thẩn Thờ, L.Tâm)
Những
h́nh bóng, cảnh vật thơ mộng êm đềm của quê tôi, những câu tục ngữ, ca dao, câu
ḥ, điệu hát ru em, truyện cổ tích, Truyện Tàu đă nhập vào huyết quản tôi từ
tháng ngày thơ ấu, nay có điều kiện thuận lợi nên đă ḥa nhập rất dễ dàng vào
khu vườn thơ văn, kinh sử muôn sắc muôn hương với quư vị Khoa Trưởng thực tài
hoa, thừa tâm huyết như Giáo Sư Nguyễn Khắc Hoạch, Nguyễn Đăng Thục, quư ân sư
nửa cổ nửa kim, nửa thực nửa thơ như Đông Hồ, Nguyễn Văn Trung, Vương Hồng Sển,
Lê Ngọc Trụ, L.M Thanh Lăng, Trần Trọng San, Nguyễn Khắc Kham, Bửu Cầm, Nghiêm
Toản, Nguyễn Đ́nh Hoà, Phạm Thị Tự, Trần Quang Thuận, Trần Anh, Vũ Quốc Thông
...v.v...
Trong môi trường đó,
t́nh yêu của chúng tôi cũng được lớn nhanh dù vẫn trong ṿng lễ giáo truyền
thống của hai gia đ́nh:
"Mười năm chưa được cầm tay,
Đêm đêm mơ tưởng tiếng ai gọi ḿnh...”
(Áo Bay, L.Tâm)
Chúng
tôi đă sống trong những tác phẩm văn học nổi tiếng thời cổ điển, tiền chiến,
hiện đại, những chuyện t́nh lăng mạn, những vần thơ, điệu nhạc trữ t́nh, những
ray rứt về hoàn cảnh sống khó khăn của gia đ́nh, về tương lai bấp bênh ảm đạm
của bản thân và bè bạn, những đau đớn, dằn vặt kinh hoàng không nguôi của khói
lửa chiến tranh càng lúc càng dữ dội ác liệt tàn phá quê hương hiền hoà, đốt
cháy tan nát quê Mẹ khốn khổ dấu yêu…không gian an b́nh nương náu cuối cùng như
thu hẹp quá nhanh chóng sững sờ! Nếu không có Nàng, chắc chắn tôi sẽ không có
ǵ cả, thậm chí tôi cũng không c̣n là tôi nữa! Với Văn Khoa Sàig̣n, chúng tôi
đă dần đần hiểu rơ thế nào là sự cần thiết trong t́nh yêu, trong cuộc sống, đă
“Nép vào nhau đỡ tủi thân...". Do đó, chúng tôi càng chăm chỉ học hành và đọc
sách nhiều hơn nữa. Có lẽ Nàng đọc sách để học thi, để rộng tầm tri thức. C̣n
tôi th́ đọc sách để kể chuyện cho Nàng nghe và cũng v́ “thư trung hữu mỹ nử”
(trong sách có người đẹp) như cổ nhân đă dạy!
Chỗ
trọ thường xuyên của chúng tôi là Thư Viện Đại Học Văn Khoa Sàig̣n, Thư Viện
Quốc Gia, Tổng Thư Viện, các tiệm sách lớn như Khai Trí, Xuân Thu, các lề đường
Lê Lợi, Lê Văn Duyệt, Trần Quư Cáp, các tiệm cho thuê, bán sách cũ... để t́m mua
các sách báo cần thiết mà rẻ tiền! Chúng tôi thường thích đi thơ thẩn thả hồn
vào bóng mát dịu hiền của Vườn Tao Đàn, Vườn Bách Thảo (Sở Thú),
những đoạn đường thơ mộng yên tĩnh Nguyễn Du, Lê Thánh Tôn, Cương Để, Duy Tân,
Trần Quư Cáp, Lê Văn Duyệt... H́nh như hầu hết các đề tài chính của những buổi
gặp gỡ, hẹn ḥ rất dễ thương bé nhỏ đó đều là thơ văn và học hành thi cử mà
thôi:
"Cười nói bâng quơ cũng ngọt ngào,
Bao lần ngơ ngác tưởng chiêm bao..."
(Một Chút Son Môi, L.Tâm)
Đó
chính là niềm hạnh phúc thực đơn sơ nhưng cũng thực lớn lao đầm ấm tuyệt vời cuả
chúng tôi trong thời gian rất dài! Tôi làm sao có thể quên được những phút giây
thần tiên hư ảo cuối tuần được gặp Nàng ở pḥng khách nhỏ bé của ngôi nhà trọ
khiêm nhường, được hân hạnh đọc cho Nàng nghe rồi say mê diễn giải bằng tất cả
tâm hồn ḿnh những câu, những bài thơ t́nh bất hủ cuả Nguyên Sa, Xuân Diệu, Đinh
Hùng? Mái tóc nghiêng nghiêng chấm vai, đôi mắt mở thật to như châm chú, thán
phục, cho tôi biết bao mơ mộng tuyệt vời làm động cơ chính yếu nhất giúp tôi
phấn đấu không mệt mỏi để vượt qua đoạn đường bút nghiên đầy gian khổ, trong
điều kiện một thư sinh quá quê mùa, nghèo nàn, lạc lơng! Hết sức cám ơn Nguyên
Sa đă gián tiếp buộc chặt thêm sợi tơ hồng cho vợ chồng tôi, đă nói hộ tôi:
"Gặp một bữa anh đă mừng một bữa,
Gặp hai hôm thành nhị hỷ của tâm hồn,
…
Em chưa nói đă nghe lừng giai điệu,
Em chưa nh́n mà đă rộng trời xanh,
Anh trông lên bằng đôi mắt chung t́nh
Với tay trắng em vào thơ diễm tuyệt"
(Áo Lụa Hà Đông, Nguyên Sa)
Năm
1967, khi mới vào học Ban Cao Học, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, vừa xuống đến
Ba Xuyên (Sóc Trăng) để tập sự, tôi đă vội vàng đánh điện tín về cho Nàng Thơ
vỏn vẹn có ba chữ “Anh Trông Lên” (lấy ư đoạn thơ vừa kể trên). Các bạn
nữ sinh cùng nhà trọ đă tinh nghịch giành lấy bức điện tín, suốt cả giờ vẫn
không tài nào “giải mă” được, cuối cùng đành phải trả lại, xin Nàng Thơ “bật
mí”! Nàng đă ch́u các bạn sau khi được đền bù thiệt hại bằng một tiệc chè sâm
bổ lượng! Trải qua bao nhiêu binh lửa, tang thương, đến nay Nàng vẫn c̣n giữ
được nguyên vẹn bức điện tín quư báu đặc biệt để làm bằng chứng đánh dấu một
giai đoạn cực kỳ lăng mạn, đầm ấm, nồng nàn tuyệt vời của chúng tôi! Chúng tôi
chỉ đơn sơ như vậy thôi! Cho nên tôi đă viết:
Anh chẳng biết đàn, chẳng biết ca,
Đọc thơ thiên hạ để làm quà
Cho em những lúc em không giận...
Em cũng mừng vui, cũng thiết tha!
(Liêu Trai, L.Tâm)
Thời
gian nầy, có lẽ hồn thơ trong tôi đă được chấp cánh đến tận chín tầng mây xanh!
Nhưng hầu như tôi không dám làm thơ. V́ mỗi khi cầm bút lên, mới lựa được một
từ, một ư tạm xem là được th́ nhận ra đă có người khác viết rồi mà c̣n hay hơn
ḿnh rất nhiều! Tôi giật ḿnh, tự hổ thẹn, cụt hứng!
Phút
giây đó cho tôi vô cùng đồng cảm với Lư Bạch khi Ông đến viếng Hoàng Hạc Lâu
định đề thơ kỷ niệm, chợt trông thấy đă có bài thơ bất hủ của Thôi Hiệu rồi: Lư
thi tiên cũng đành mang bút đi t́m chỗ khác thôi!
Thực
ra, thỉnh thoảng khi có nhiều xúc cảm vui buồn nơi gác trọ nửa khuya, tôi cũng
có làm ít bài ghi vào nhật kư riêng mà cho đến khi cưới nhau rồi vẫn c̣n chưa
dám khoe với Nàng Thơ hiền ngoan của ḿnh! Ngày 6-9-1964, nhân một hiểu lầm nho
nhỏ, tôi đă “lén giận” Nàng, nên có mấy ḍng thơ... thất t́nh:
Ngh́n năm đất lạnh ra đi,
Con tàu vĩnh biệt không ghi lối về!
Hay là lo sợ, dặn ḍ,
năn nỉ:
Đừng mộng ngoài ṿng t́nh
yêu anh,
Màu má màu môi nhớ để dành,
Đêm đông đừng ngủ quên... cười đẹp
Mà ở trong ḷng em vắng anh!
Có bốn
câu tôi đă làm v́ xúc động thấy Nàng Thơ mang đôi bao tay màu xám của tôi tặng
nhân dịp Nàng mới mua chiếc Vélo Solex. Tôi đă ghi vào trang đầu quyển Luận Văn
Tốt Nghiệp Cao Học Hành Chánh:
Ngày không gặp dài như thân áo mới,
Vướng guốc nhung làm tội gót chân hồng,
Gants tay xám như muà thu đứng đợi,
Những chiều mưa đi học lạnh đau ḷng! (3)
Năm
1970, khi thành hôn xong, thỉnh thoảng vợ tôi hay nhắc tôi thử làm thơ, viết văn
nhưng v́ sinh kế, phải lo lắng phụ giúp gia đ́nh Cha Mẹ, anh chị em hai bên mà
sinh hoạt đang gặp quá nhiều khó khăn bởi chiến tranh càng lúc càng ác liệt khắp
thôn quê, phải tản cư sống vất vưởng nơi vùng ngoại ô Bến Tre. Tâm hồn tôi trở
nên bất an, mệt mỏi không làm được bài nào xem ra hồn. Sau biến cố tháng 4,
1975, bị đày đọa khổ sai biệt xứ trong ngục tù bạo quyền, trong điều kiện vô
cùng nghiệt ngă dở sống, dở chết, tôi không thể và cũng không c̣n đủ sức để thơ
thẩn ǵ nữa! Tuy vậy, trong những đêm dài “lửa cơ đốt ruột dao hàn cắt da”
(Cung Oán Ngâm Khúc), co rút trong tấm chăn rách nát vừa chiến đấu ác liệt với
lũ rận rệp cũng quá đói rét như ḿnh, vừa t́m mọi cách chống chọi với luồng gió
mùa Đông Bắc lạnh quái ác vô t́nh, không tài nào chợp mắt được, h́nh ảnh vợ yếu
con thơ vẫn là những liều thuốc tiên nhiệm mầu nhất để giúp tôi hy vọng, phấn
đấu sống c̣n! Tôi phải “lặng lẽ, lén lúc, âm thầm” ghi lại chút xúc cảm thực
đau xót:
... Vẫn thiếu anh mà vẫn có anh,
Áo nào con đắp suốt năm canh?
Trong từng giây phút, từng câu nói,
Em dạy cho con sống thơm lành!
Con nói ngây thơ: em cũng vui,
Mà ḷng thương nhớ anh không nguôi,
Trong con cũng có anh âu yếm,
Em vẫn thương yêu nhứt tiếng cười!
(Nguồn Sống, 04-05-78 L.Tâm)
Đó
cũng chỉ là một cơn mơ bé nhỏ mong manh nổi trôi trong một góc trời cổ tích
thanh b́nh của kiếp nào xa xôi mơ hồ mà thôi! Trong khi thực tế, vợ con tôi
đang dần dần chết khô chết héo nơi điạ ngục trần gian:
Đến
khi được ra khỏi nhà tù nhỏ th́ lại bị rơi vào cái nhà tù khổng lồ khác với đủ
loại ŕnh rập, khủng bố, đe dọa, kỳ thị, cô lập tinh vi, tàn bạo nhất. Cũng như
đa số bạn bè, các đồng bào sa cơ thất thế, tôi chỉ c̣n như một hồn ma bóng quế
dật dờ:
Ta như ma đói, như lục b́nh,
Trôi nổi dật dờ chết lặng thinh,
Con ong, con kiến c̣n lên mặt,
Giả điếc, giả câm dấu bất b́nh!
(Tủi Thân, L.Tâm)
Do đó, chỉ c̣n biết:
"Van nợ lắm khi trào nước mắt,
Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi"
(Tú Xương)
Trong
hoàn cảnh đó, hồn người cũng không c̣n nói chi hồn thơ! Đến cuối năm 1994, lúc
mới sang định cư tại Hoa Kỳ, giống như con cá đang sống ở sông hồ nước ngọt bị
quăng vào biển nước mặn, tôi thực bàng hoàng lo sợ cho tương lai của vợ con ḿnh
hơn là vui mừng v́ được tự do:
Xứ người lạ cỏ, lạ cây,
Lạ ăn lạ uống, đêm ngày trở trăn!
Ta như hạt cát sông Hằng,
Mênh mông trong đục cũng bằng sắc, không!
Trong ṿng trời đất mênh mông,
Đất lành chim đậu mà ḷng chưa yên!
Cũng may c̣n có vợ hiền,
Ba con hiếu thảo, tạm quên lưu đày!
(Đường Trần, L.Tâm)
Với
thời gian, những xúc cảm, chơi vơi hụt hẫng đau xót cho thân phận bọt bèo, nỗi
nhớ thương quê hương làng xóm, mồ mả Cha Mẹ, Tổ Tiên cũng trở lại vị trí cân
bằng, băo ḥa. Rồi niềm hy vọng cho tương lai các con, chút không khí an b́nh
tự do, chút t́nh người ấm áp của mảnh đất lành nầy... dần dần làm tôi cảm thấy
được phần nào yên ổn trong tâm hồn vốn “rất thảo mộc", rất yếu đuối, quê mùa cuả
ḿnh! Từ đó, thi hứng lại len lén thức dậy nhẹ nhàng, êm ái trong tôi! Những
ngày sáng chiều lang thang đón đợi xe bus đi, về, làm một công việc tuy tầm
thường nhưng tương đối nhàn hạ vừa với tuổi già sức yếu, tôi lại bắt đầu gắn bó
với thơ và cũng không khỏi ngậm ngùi cho thân phận nổi trôi của ḿnh.
Lỡ quan, lỡ thợ, lỡ thầy,
Mưa hay lệ tiếc h́nh hài sắc, không?
(Lẻ Loi, L.Tâm)
Những
bài thơ đầu tiên trong kiếp tha hương, tôi chỉ dám khoe với Nàng Tiên (mắc đọa),
các con hiếu ngoan của mỉnh và người bạn hiền tri kỷ tri âm Nguyễn Điền Thạnh
đang ngh́n trùng xa cách ở Việt Nam mà thôi! Đầu xuân 1999, vừa dọn vào ngôi nhà
mới có sân cỏ non phía trước, phiá sau, hoa anh đào nở rộ khoe duyên thực đẹp,
thực mong manh, hiền dịu, đầm ấm, thanh cao dễ thương vô cùng, theo yêu cầu của
con gái út Minh Thư, tôi đă “khai bút” bài “Vẫn là Thơ":
Mua nhà nào dám đ̣i hoa,
Trời thương: đào mọc trước nhà, sau sân!
Ngày vui hoa nở mừng xuân,
Nhớ chàng Từ Thức hai lần t́m tiên!
Biết đâu nợ, biết đâu duyên?
Ḿnh nay lạc lối đào nguyên ai ngờ?
Tha hương: đời vẫn là thơ,
Đất lành chim đậu, hoa chờ đợi ta!
Nàng Thơ và ba con đều
thích thú, khen lấy, khen để: thực đúng là “chồng hát vợ vỗ tay, cha hát con
khen hay!"
Được
trớn, lúc rảnh rang, tôi thường nắn nót thêm một số bài nữa. Mỗi ngày đi làm
về, trong bữa cơm tối, có bài nào, câu nào mới, tôi đều đọc cho vợ con nghe để
xin phê b́nh, góp ư. Vợ tôi vui lắm, thường chọn cho tôi nhiều chữ rất hay, đẹp,
có khi c̣n cho bài thơ một cái tựa rất thích hợp, rất lăng mạn nữa! Những lúc
đó ḷng tôi vô cùng xúc động hạnh phúc, ấm áp tuyệt vời! Khi tôi đọc bài “Phong
Trần” đến đoạn:
"...Th́ thôi...hết mộng hết mơ,
Hết cơm, hết gạo, dật dờ nổi trôi!
Tiếng cu vẫn gáy bồi hồi,
Khu rừng Long Khánh một thời gác cu:
Thương con chim nhỏ hiền từ,
Tiếng kêu, tiếng gáy ngỡ như thanh b́nh!
Nước trong, mây trắng, trời xanh
Cũng không ngăn được chiến tranh, hận thù!
Xuân nào trời đất âm u,
Núi xương, sông máu, tội tù khổ dân ..."
th́ Nàng Thơ vội ngắt ngang bằng một tràng pháo tay gịn giả, rồi thỏ thẻ rót
vào tai tôi: “Trời ơi! Anh làm thơ ngày càng hay quá, em thích quá... anh cố
gắng nữa đi để dành lại chút quà kỷ niệm cho con cháu, người thân, bạn bè...”
Tôi phồng cả mũi tưởng có thể bị vỡ tung ra được! Làm sao tôi có thể dám trái
cái “lệnh” quá êm ái, quá t́nh tứ dễ thương đó? Nhưng thời gian nầy, tôi cũng
chưa có được bao nhiêu bài đáng nhớ!
Cuộc sống đang êm đềm
thơ mộng, bỗng một tai họa thực khủng khiếp xảy ra cho gia đ́nh tôi đúng ngày
11-09-1999, một năm trước vụ khủng bố New York và Ngũ Giác Đài Mỹ. Vợ tôi bị
tai biến mạch máu năo rất nặng tưởng không thể nào qua khỏi được! Tôi như chết
chửa chôn. Các con tôi như ma đói, như lục b́nh thực sự rồi!
Ngày
xưa, Ông Hàn Dũ, một nhà phê b́nh rất nổi tiếng đời nhà Đường bên Trung Hoa, có
nói: “Vật bất đắc kỳ b́nh tắc minh” ! Cũng v́ thế, trong lời tựa nguyên
bản chữ Hán truyện ngắn Kim Vân Kiều, tác giả Từ Văn Trường (4) đă viết một câu
bất hủ nói lên nỗi bi phẩn tột cùng của ḿnh để giải thích lư do khiến ông phải
ghi chép lại câu chuyện thực quá thương tâm nầy:
"Thúy Kiều dĩ tử, Thanh Đằng lăo,
Hận hải mang mang, hựu nhất thanh!"
(Thúy Kiều đă chết rồi, Thanh Đằng quá già yếu,
Bể hận quá mênh mông nên phải kêu to lên một tiếng!)
Phải
chăng cả hai câu trên đều nói lên, phản ảnh được cái tâm trạng tôi, cái hồn thơ
quá bi thảm của tôi thời gian từ khi vợ tôi, gia đ́nh tôi bị lâm vào hoàn cảnh
hết sức khốn đốn, dở sống dở chết nơi xứ lạ quê người tứ cố vô thân? Cho đến
nay dù được chạy chữa tận t́nh, chồng con hết ḷng hết sức chăm sóc bằng sự hiếu
thảo, t́nh nghĩa mà nhiều người quen biết c̣n tưởng là chỉ có trong các truyện
cổ tích, đời xưa thôi, vợ tôi vẫn phải ngồi xe lăn, nói năng rất ít, rất khó,
trí nhớ bị mất rất nhiều, không thể tự chủ sinh hoạt tối thiểu được. Khi ở bệnh
viện, nursing home về, vợ tôi vẫn c̣n mang hai ống nhựa ở cổ và bụng! Hơn năm
sau vẫn c̣n lửng đửng, lờ đờ, nửa tỉnh nửa mê! Tôi c̣n tệ hơn gà trống nuôi
con! Cha con tôi đă t́m đủ mọi cách đánh thức cái trí óc thực thông minh, sáng
suốt, cái giọng nói thực ngọt ngào, dịu dàng như chim hót đó, cái nụ cười thực
ngây thơ, duyên dáng, thực t́nh tứ, thực như tiên đó... nhưng tất cả hầu như đều
hoài công, tuyệt vọng! Cho đến một hôm, t́nh cờ tôi đọc cho Nàng nghe mấy câu
trong bài “Tương Tư” của Nguyên Sa:
"Có phải em mang trên áo bay,
Hai phần gió thổi một phần mây,
Hay là em gói mây trong áo,
Rồi thở cho làn áo trắng bay?"
Bỗng
nhiên, như một phép lạ, Nàng Thơ quá mong manh khô héo, xác xơ cuả tôi đă bật
cười thành tiếng thực vui, thực tuyệt vời như những ngày xưa lúc “Dù thương hôn
tóc, khăn lau má... Ấm cả bàn chân, ấm cả tay...” (Làm Tiên, L.Tâm). Cha con
tôi vội ôm chầm lấy Nàng mà khóc nức nở v́ niềm vui quá lớn đến bất ngờ! Con
gái út Minh Thư liền nói “Ngày xưa Ba Mẹ đă học chung Văn Khoa, câu chuyện giữa
hai người đều toàn văn thơ, nhứt là thơ Nguyên Sa, làm sao Mẹ có thể quên hết
được. Vậy, từ nay, Ba nên ráng đọc những bài thơ mà Ba đă từng đọc cho Mẹ nghe
và Mẹ thích nhất, chắc chắn Mẹ sẽ vui hồi phục được!”. Tôi rất đồng ư với đứa
con cưng hiếu thảo, rất mực thông minh nầy. Do đó, khi được ru trong những bài
thơ t́nh đầy kỷ niệm ngọt ngào cuả hai đứa thời cùng trường, cùng lớp, cùng
sách, vợ tôi dần dần được thuyên giảm một phần, trí óc có khá hơn đôi chút. Một
hôm Minh Thư lại thỏ thẻ “ Ba đọc thơ Nguyên Sa, Xuân Diệu, Đinh Hùng cho Mẹ
nghe đă có hiệu quả tốt rồi. Nhưng con nghĩ nếu chính Ba làm thơ nhắc lại những
kỷ niệm hoa mộng êm đẹp của Ba Mẹ, an ủi Mẹ, thế nào Mẹ cũng thích và vui nhiều
hơn nữa."
Tôi rất cảm động khen
ngợi suy nghĩ hợp lư, chu đáo của con nhưng rồi lại hẹn lần hẹn hồi măi v́ quá
bận rộn: vừa lo chăm sóc vợ bệnh vừa phải lo quán xuyến nhà cửa cơm nước cho các
con nhỏ suốt ngày đi học, đi làm rất vất vả.
Một chiều cuối tuần,
trong lúc Minh Thư cho Mẹ ăn cơm, tôi đọc 4 câu thơ:
"Trăng nằm sóng soăi trên cành liễu,
Đợi gió xuân về để lả lơi,
Hoa lá ngây t́nh không muốn động,
Ḷng em hồi hộp chị Hằng ơi!”
(Hàn Mặc Tử)
Minh
Thư rất ngạc nhiên v́ cháu chưa hề nghe qua. Tôi phải giải thích, kể sơ tiểu sử
Hàn Mặc Tử cho con biết. Minh Thư lại khuyến khích tôi làm thơ: “So với Hàn Mặc
Tử, Ba c̣n đỡ khổ hơn nhiều. Ba nên cố làm thơ cho Mẹ vui, để dạy con học tiếng
Việt, để Ba có chỗ giải trí... Con thường nghe người ta nói rằng khi một người
không c̣n hy vọng ǵ, thú vui ǵ cả th́ không thể sống được! Nay Ba đă bỏ hết
rượu, thuốc lá, bia, cà phê, trà, bỏ cả tiếng cười rất gịn, rất hào săng cuả Ba
rồi... Ba phải làm thơ để bù vào chỗ trống đó, nếu không, con sợ lắm! “ Nghe
những lời con trẻ rót vào ḷng, tôi không cầm được nước mắt! Vợ tôi khóc theo!
Từ đó, mỗi cuối tuần, ngày lễ, Minh Thư đều quanh quẩn ở nhà, dành hết mọi việc
chăm sóc Mẹ, nấu nướng để Ba rảnh rang làm thơ! Cháu c̣n lo đánh máy sạch bản
thảo, email gửi bài liên lạc với các bạn thơ của tôi nữa. Anh Chị cháu cũng
tích cực phụ lo hết mọi việc trong ngoài. Tôi rất vui, rất yên tâm. Do vậy mới
có được một số thơ Luân Tâm!
Thế
nhưng Luân Tâm là ǵ? Xin thưa: Luân là tên của vợ tôi (Bùi Thị Luân). Tâm là
ḷng. Cả hai chúng tôi có chung một tâm hồn, một tấm ḷng. Do đó thơ tôi cũng
chính là tâm hồn của Nàng dành cho tôi và các con, là t́nh yêu thương vô bờ bến
của tôi dành cho Nàng, Nàng Tiên măi măi đẹp tuyệt vời, người vợ hiền “vượng
phu ích tử” mà nhiều lần tôi đă phải ngạc nghiên tự hỏi:
Tu bao nhiêu kiếp anh mới được,
Thơ thẩn cùng em kể chuyện ḷng ?
(Một Chút Son Môi, L.Tâm)
Tôi đă nghẹn ngào, âu
yếm van xin:
Em ơi! Em vẫn là tiên nữ,
Đừng bỏ anh đi lạnh một ḿnh!
(T́nh Tứ, L.Tâm)
Chữ
Tâm cũng là tên mà ân sư Thi Sĩ Đông Hồ đă đặt cho tôi khi mới vào Đại Học Văn
Khoa Sàig̣n. Thấy tôi quê mùa, hiền lành nhưng rất chăm học, Thầy rất thương
quư, nói rằng tên Tám có vẻ không được thanh nhă! Thầy chỉ thêm cho một nét dấu
nhỏ thành ra chữ Tâm. Văn Tâm là tấm ḷng trong sáng “rất thích hợp với nhân
cách của con mà cũng đẹp lắm!”... Thực ngậm ngùi... “Đời người như kiếp phù
du... sớm c̣n tối mất, công phu lỡ làng!” (Ca Dao). Mới ngày nào... có những
buổi chiều nhạt nắng, Thầy Đông Hồ ân cần tiếp tôi tại ngôi biệt thự yên tĩnh ở
ngoại ô Gia Định, nơi chiếc ghế trường kỷ cổ kính, bên cạnh búp trầm hương h́nh
trái núi khói tỏa nhè nhẹ thơm ngát mơ màng, nửa thực nửa tiên! Giọng nói của
Thầy như thơ, nét chữ rồng bay phượng múa trôi nhẹ bồng bềnh trên tờ giấy đỏ để
phút chốc đă thành đôi câu đối thực trang nhă, thâm thúy, hoặc trên các tờ giấy
trắng muốt để hóa ra các bức “thư họa” độc đáo tuyệt vời, có điểm thêm ít cành
mai, cành đào hay phong lan mềm mại, cao sang, thoát tục!
Xin
phép được nói thêm: trong hoàn cảnh bi đát quá ngặt nghèo của riêng ḿnh, từ
khi vợ tôi lâm bạo bệnh, tôi đă cắt đứt hết mọi liên lạc với thế giới bên ngoài,
cố dành chút hơi tàn sức kiệt để có thể toàn tâm toàn ư lo chăm sóc Nàng và thay
Nàng nuôi dạy ba con thơ. Nhiều khi có chuyện buồn khổ xảy ra cho gia đ́nh, các
người thân yêu ruột thịt, bạn thiết xa gần, tôi đều phải đành giấu kín riêng
trong ḷng, sợ vợ tôi hay biết có hại cho bệnh t́nh “Điệu buồn anh giữa riêng
anh... Điệu vui anh vẫn để dành cho em!” (L.Tâm). Nh́n trước, nh́n sau, không
ai có thể chia xẻ, tâm sự những xót đau, bi phẩn vô bờ bến ! Do đó, tôi càng có
nhu cầu bức thiết đến với Thơ như một cách thế, một nơi chốn để giải tỏa bớt
những suy tư, t́nh cảm đang oằn oại không lối thoát, một cách tự an ủi, tự kể lể
hàn huyên với đôi chút ước mơ thực bé nhỏ mong manh...
Mỗi
khi làm thơ, đọc lại thơ ḿnh, tôi luôn luôn tự thấy hổ thẹn v́ c̣n quá non kém,
không bao giờ dám tự hài ḷng! Tôi vẫn tự biết ḿnh đă quá quê mùa, hủ lậu, “ếch
ngồi đáy giếng” nên lại càng thêm phân vân, e ngại! Tôi thường hay giật ḿnh lo
sợ nhớ lời dạy của cụ Tú Xương: “Văn chương nào phải là đơn thuốc(?)... Chớ có
khuyên xằng: chết bỏ bu!".
Chính
v́ thế, các bài thơ v́ thương vợ, thương con, thương Cha Mẹ, bè bạn, làng quê,
kỷ niệm vui buồn, thương thân tủi phận ḿnh mà h́nh thành được, tôi chỉ dám đọc
cho vợ con nghe mà thôi! Măi cho đến năm 2005, bệnh t́nh của vợ tôi có vẻ đỡ
hơn được đôi chút, các con tương đối trưởng thành hơn phần nào, tôi đă gửi ít
bài cho anh Lê Văn Bỉnh đăng vào Tạp Chí Hành Chánh Miền Đông của Hội Cựu Sinh
Viên Quốc Gia Hành Chánh Miền Đông Hoa Kỳ. Kế đó, quư anh Lê Văn Bỉnh, Dương
Quân, Nguyễn Ngọc Liên đă rủ tôi tham gia vào “Tuyển Tập Thơ Quốc Gia Hành Chánh
“ (5) . Cũng trong thời gian nầy, anh Dương Quân, v́ mối đồng cảm sâu xa, t́nh
đồng môn tốt đẹp đă giới thiệu thơ tôi lên website Diễn Đàn Cựu Sinh Viên Quốc
Gia Hành Chánh ĐS14. Từ đó, tôi được quen thêm một số đồng môn bạn văn thơ rất
quư đă tích cực an ủi, nâng đỡ, khuyến khích tôi như quư anh Vũ Công Hùng (Mao
Tôn Hùng Vũ, Webmaster website ĐS14) Lan Đàm, Trần Kiêu Bạc, Nguyễn Đ́nh Đức,
Nguyễn Bửu Thoại & Ngọc Sương, Phạm Thành Châu, Trương Thúy Hậu, Nguyễn Thế
Vĩnh, Nguyễn Trọng Đạt, Nguyễn Phụng, Lâm Thanh (Lâm Thành Hổ), Nguyên Trần
(Nguyễn Tấn Phát), Trần Bạch Thu, Hoàng Hoa, Lăm Thuư, Như Thương...v.v...
Những ân t́nh đó tôi không bao giờ dám lăng quên.
Đặc
biệt, tôi c̣n may mắn được quen thân một bạn láng giềng rất tốt bụng, hiền hoà,
nho nhă, một bực thầy là thi họa sĩ Vũ Hối. Anh đă tốn nhiều công sức, th́ giờ
quư báu để hướng dẫn, vẽ tranh b́a, thư họa phụ bản, cảm đề thơ & thư họa tặng
cho Thi Tập. Nếu không có sự giúp đỡ vô cùng quư báu đó, chắc chắn tôi không
thể nào khai sanh được đứa con tinh thần đầu ḷng của ḿnh!
Rốt
cuộc tôi cũng đă vượt qua được rất nhiều khó khăn khách quan và chủ quan... Sau
thời gian ngại ngùng, đắn đo, ray rứt, nh́n bóng chiều tàn mùa đông đất khách
quê người, không khỏi xót xa ngậm ngùi... v́ tấm ḷng ưu ái của vợ con, thân hữu
xa gần, tôi đành thử liều “ăn gan hùm, uống mật gấu” gom góp, chọn lọc một số
thơ có vẻ ít thô thiển nông cạn nhất, sửa chữa, sắp xếp tạm thành “Hương
Áo” như chút kỷ niệm, chút quà mọn cho người thân và bạn thiết...
thế thôi! Nếu may mắn có thêm được độc giả nào, v́ yêu tiếng mẹ đẻ, không nỡ
chê bai, thương để mắt xanh đến, th́ thực là “tam sinh hữu hạnh” cho tôi vậy!
Cuối
cùng, xin cho phép tôi được gởi lời cám ơn chân thành nhất, trân trọng nhất đến
tất cả quư độc giả đă chịu khó dành chút th́ giờ quí báu để thăm viếng khu vườn
thơ mong manh, nghèo nàn, bé nhỏ, quê mùa và rộng lượng có chút đồng cảm với
những mảnh hồn tuy vụn vặt, non nớt nhưng rất chân thành của tôi!
Maryland ngày 19 tháng 11, năm 2006.
Thân kính,
Luân
Tâm
“Xe
lăn ngơ ngác đường
phai nắng”
Ghi Chú:
1) Câu nầy có ghi trong bài tựa quyền “Hồi
Kư Năm Mươi Năm Mê Hát” của Thầy Vương Hồng Sển.
2) Sau đổi tên là Trường Lê Ngọc Hân, Mỹ Tho.
3) Phan Văn Tám, “Thẩm Quyền Tổng Thống Đệ Nhị
Cộng Ḥa Việt Nam", Luận Văn Tốt Nghiệp Ban Cao Học Khóa 3 Học Viện Quốc Gia
Hành Chánh Sàig̣n, 1969.
4) Từ Văn Trường c̣n có bút hiệu khác là Thanh
Tâm Tài Nhân, Thanh Đằng. Ông là người t́nh cũ ở ngoài đời thật của Thúy
Kiều. Ông vô t́nh (không rơ gian kế) giúp Tổng Đốc Hồ Tôn Hiến, xúi giục Thuư
Kiều thuyết phục Từ Hải chịu qui hàng, bị chết thảm thương! Ông thực sự muốn
giúp Thúy Kiều có được cuộc sống yên ổn lâu dài mà hóa ra haị nàng! Về sau Ông
quá phẩn uất, quá đau khổ phát cuồng: tự chọc thủng tai, làm mù mắt ḿnh! (Theo
Giảng Văn “Nguồn Gốc Truyện Kiều” của Giáo Sư Bửu Cầm, Đại Học Văn Khoa Sàig̣n
1962).
5) Tuyển Tập Thơ Quốc Gia Hành Chánh, Hoài Bảo
Quê Hương xb, California, USA 2005.