DỰ PHÓNG MÔI SINH & PHÁT
TRIỂN
TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM
Đà gia tăng dân số toàn cầu trong hững năm gần đây đang đi dần đến mức báo
động. Nhiều quốc gia đă chứng minh sự cố gắng trong vấn đề kiễm soát và hạn
chế sinh sản như Trung quốc và các nước Tây phương; tuy nhiên, Ấn độ và đa
số các quốc gia vùng Phi châu, Á châu không thể kiễm soát được vấn đề trên,
do đó mức gia tăng nhân khẩu đă đạt đến mức báo động. Hiện tại, dân số trên
thế giới đă vượt qua con số 6 tỷ. Việc dân số gia tăng kéo thêm một số nhu
cầu-vấn đề khẩn thiết mới cho con người như thực phẩm, y tế, giáo dục, phát
triễn và môi sinh... các nhu cầu-vấn đề trên có liên hệ hổ tương chặt chẻ
với nhau như việc phát triển để gia tăng lương thực có thể tạo ra những di
hại về ô nhiễm ảnh hưởng đến môi trường sống. Do đó không thể có cái nh́n
riêng rẽ và độc lập trong việc áp dụng khoa học-kỹ thuật để phát triển mà
không lưu ư đến các mối liên hệ đến những yếu tố ảnh hưởng lên con người.
Arpad Goncz, tổng thống Hung Gia Lợi đă phát biểu trong buổi khai mạc hội
nghị “Khoa học cho thế kỷ thứ 21:Một kết ước mới” (Science for the 21st
century: A new commitment) tại Budapest rằng: Chỉ có một khoa học, một hành
tinh Địa cầu và một “Giống Người” (Humankind)... Đó là mẫu số chung của mọi
quốc gia sống trên hành tinh nầy. Hội nghị đă quy tụ trên 150 quốc gia trên
thế giới với mục đích kêu gọi toàn cầu có cùng một hướng nh́n về tương lai
về các liên hệ giữa phát triễn khoa học-xă hội-môi sinh. Neal Lane, cố vấn
khoa học của tổng thống Clinton đă gọi các khoa học gia là Công dân toàn
cầu-Global citizen. Mọi động tác nào của con người, quốc gia, hay từng vùng
trên thế giới đều thay đổi ít hay nhiều đến chu kỳ sinh-địa-hóa học của hệ
sinh thái thiên nhiên. Sự xáo trộn nầy sẽ gây tác hại trực tiếp hay gián
tiếp lên con người ở khắp nơi trên địa cầu. Một thí dụ cụ thể là thủy ngân,
một hóa chất cần thiết cho việc tách vàng ṛng từ các quặng mỏ đă hiện diện
trong ḷng đất và các mạch nước ngầm trong tất cả các vùng đă khai thác.
Do đó nhà dự phóng phát triển cho tương lai ở bất cứ
quốc gia nào cũng phải có tầm nh́n toàn cầu và đắn đo cân nhắc nguyên
nhân-hậu quả cùng các hệ lụy của từng công nghệ áp dụng. Giải quyết được một
vài vấn nạn cho quốc gia trong ngắn hạn mà tạo ra những tác hại đến hệ sinh
thái trong tương lai không phải là giải pháp thích ứng hay tối ưu cho phát
triển. Thế kỷ thứ 21 sẽ mở màn cho một cuộc tập hợp vỉ đại không những chỉ ở
cấp vùng, cấp châu mà cần phải phối hợp mở rộng cho toàn thể địa cầu. Mọi
quốc gia dù đang hay đă phát triển, giàu hay nghèo... đều cùng có tiếng nói
và góp phần vào việc bảo vệ hệ sinh thái toàn cầu. Một sự tập hợp giữa các
nhà khoa họa, kỹ thuật trong tinh thần nhân bản, có cùng mẫu số chung về
những vấn nạn ảnh hưởng đến toàn cầu...sẽ là một bước ngoặc tích cực mới cho
thế kỷ nầy.
Như chúng ta đă biết, tiến bộ khoa học và việc khai
triển các công nghệ mới nhằm đáp ứng nhu cầu gia tăng dân dân số cũng như
cải thiện và nâng cao đời sống của người dân ở các nước đang mở mang. Đây
cũng là nguyên nhân phát sinh ra nhiều hậu quả mà ba hệ lụy chính được đan
cử ra sau đây: 1 - Bầu khí quyển bị ô nhiễm và bị hâm nóng dần; 2 - Ô nhiễm
nguồn nước sinh hoạt trên mặt đất và các mạch nước ngầm; 3 - Ô nhiễm ḷng
đất do chất thải phát xuất từ nhiều nguồn khác nhau... Trên thực tế, mặc dù
đă được chia ra làm ba vấn nạn cơ bản kễ trên, nhưng tất cả đều có liên hệ
hữu cơ đan kết chặt chẻ với nhau. Mọi biện pháp pḥng vệ, ngăn chận, hay làm
chậm lại tiến tŕnh ô nhiễm cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng yếu tố nguyên
nhân-hậu quả của từng vấn nạn một. Một giải pháp cho vấn nạn nầy có thể là
nguyên nhân của vấn nạn kia.... Thí dụ cụ thể là tại Hoa kỳ, các khoa học
gia đă đồng ư cho thêm vào trong xăng chất trợ oxy MTBE (Methyl tert-Butyl
Ether) với mục đích làm giăm thiểu lượng khí thải hồi vào không khí khi sử
dụng xăng để làm chậm lại tiến tŕnh hâm nóng bầu khí quyển trên toàn cầu.
Nhưng sau hai năm áp dụng, lượng thán khí thải hồi tuy có giăm bớt, nhưng
ngược lại chất MTBE- nhân tố gây ra bệnh ung thư cho con người lần lần xâm
nhập vào ḷng đất và đă có chỉ dấu sự hiện diện của hóa chất nầy trong mạch
nước ngầm. Do đó, EPA-cơ quan bảo vệ môi trường của Hoa kỳ đă phải đ́nh chỉ
việc dùng hóa chất trên và thay vào bằng một chất trợ oxy khác là methanol
(chất rượu có thể uống được). Một dấu hỏi được mở ra đây là việc ǵ sẽ xảy
ra trong tương lai sau một vài năm áp dụng phương pháp trên? Hiện tượng hâm nóng toàn cầu Với hàng triệu động cơ vận hành mỗi ngày, hàng
triệu máy cắt cỏ, máy thổi lá chuyễn vận, nhiều triệu lon/chai của đủ loại
nước ngọt, bia tiêu dùng..., thán khí (CO2) thênh thang đi vào bầu khí quyển
cùng với thân nhiệt và thán khí thoát ra từ buồng phổi của hơn 6 tỷ con
người. Và thêm nữa, các quy tŕnh công nghệ sản xuất/chế biến, việc sử dụng
ḷ sưởi trong mùa đông, cùng các công nghệ khai thác quặng, khí v.v...đă
đóng góp không nhỏ vào lượng thán khí trong không khí. Hiện tượng hâm nóng
toàn cầu khởi sinh từ các nguyên nhân kễ trên.
Các khoa học gia đă ước tính rằng nếu không có biện
pháp làm giăm thiểu lượng thán khí thải hồi th́ lượng khí trên sẽ tăng gấp
đôi trong ṿng 50 năm tới nếu giữ cùng một nhịp độ phát triển như hiện nay.
Trong thiên nhiên cây xanh là nguồn trợ lực chính hấp thụ thán khí; nhưng
với đà phá rừng ở Phi châu, Á châu, Nam Mỹ...e rằng con số ước tính trên sẽ
bị thâu ngắn lại. Hàng năm, loài người đă thải ra độ 27 tỷ tấn thán khí (ước
tính năm 1990) và số lượng nầy đă được cây cỏ hấp thụ độ 50%. Và số lượng
trên ngày càng tăng dần với đà phát triển. Thống kê ghi nhận rằng từ năm
1902 đến 1990 nhiệt độ bấu khí quyển tăng lên khoăng 1oC; nhưng trong khoảng
thời gian từ 1995 đến 1998, nhiệt độ tăng lên đến mức độ báo động là 0.25
oC, Chuyện ǵ sẽ xảy ra khi nhiệt độ trong bầu khí quyển tăng lên? Trước
hết, khối lượng băng hà ở Bắc cực và Nam cực sẽ tan dần và lần thu hẹp diện
tích đất sinh hoạt của loài người. Trên các đại dương, chỉ cần nhiệt độ tăng
thêm 1,5 oC th́ mọi vùng sinh thái của san hô và phiêu sinh vật sẽ bị hủy
diệt, làm cạn kiệt nguồn lương thực biển v́ tôm cá không c̣n nơi trú ngụ,
sinh sản (nhiệt độ trung b́nh ở các vùng biển nhiệt đới là 30.5 oC). Hai
hiện tượng trên đang xảy ra trên hành tinh chúng ta với vận tốc đáng ngại! Có nhiều biện pháp để ngăn chận-giảm thiểu việc tăng
trưởng lượng thán khí trên toàn cầu:
• Hạn chế và kiễm soát lượng thán khí thải hồi trong kỹ
nghệ qua khuyến cáo Kyoto năm 1997 do hầu hết các quốc gia trên thế giới
soạn thảo và đồng ư.
• Hoặc xử lư lượng khí thải hồi bằng phương pháp tách
rời-cô lập hóa học (sequestration technology). Thán khí cô lập được bơm vào
dưới ḷng biển sâu và nước biển sẽ hấp thụ khối lượng trên. Hoặc thán khí
được bơm vào các vùng quặng mỏ than đá từ đó than sẽ phản ứng với thán khí
để h́nh thành khí methane không ảnh hưởng lên hiện tượng hâm nóng toàn cầu.
Cả hai phương pháp nầy đă đi dần đến hoàn chỉnh và có
thể được đem ra áp dụng trong vài năm nữa.
• Tuy nhiên biện pháp dùng thiên nhiên để hấp thụ thán
khí vẫn là phương pháp tối ưu nhất. Thay v́ phá rừng để phục vụ cho nhu cầu
kỹ nghệ, cần phải tái tạo rừng và trồng thêm rừng mới để tăng thêm diện tích
cây cỏ hầu ngăn chận hay làm chậm tiến tŕnh hâm nóng toàn cầu.
• Và sau hết, con người cần phải tự nguyện hạn chế việc
sử dụng năng lượng, nguyên vật liệu bừa băi.
Nếu làm các việc trên hy vọng chúng ta có thể giải
quyết được vấn nạn sinh tử nầy. Ô nhiễm nguồn nước
Nước là nguồn nguyên liệu cần thiết nhất cho mọi sinh
hoạt của loài người, cầm thú hay cây cỏ... Vào tháng 9/1999, Chương tŕnh
môi trường liên hiệp quốc -UNEP đă cảnh báo trong một bạch thư rằng nguồn
nước sinh hoạt nhằm nhu cầu phục vụ cho con người đang trên đà giăm dần. Số
lượng sông ng̣i bị khô cạn trên thế giới tăng thêm nhiều hơn với vận tốc
đáng ngại. Nhiều sông lớn không thể hoàn tất cuộc hành tŕnh của nước từ
nguồn ra biển cả được. Sông Colorado (Hoa kỳ) không c̣n khả năng đưa ḍng
chảy vào biển ở Mể tây Cơ nữa và làm tiêu hủy khả năng nông nghiệp của một
vùng rộng lớn miền tây bắc của xứ nầy. Cùng trong báo cáo trên Klaus Topfer
khuyến cáo cần phải đẩy mạnh cuộc cách mạng xanh dương-blue revolution cho
việc quản lư và bảo tồn nguồn nước nhanh hơn nữa trong thế kỷ 21.
Tại Trung quốc, sông Hoàng hà đă bị khô cạn và là nơi
định cư cho vô số chất phế thải độc hại thải hồi từ các nông trại, nhà máy.
Hầu hết các đập nước ở hai bên phụ lưu cũng đă nằm trong t́nh trạng bất
khiển dụng.Hàng ngàn hồ chứa trong vùng đă biến thành các vũng bùn... T́nh
trạng trên là kết quả của việc phát triển kỹ nghệ nhanh chóng và bừa băi
không quy hoạch kỹ lưỡng cũng như việc nghiên cứu tác động môi trường không
được hoàn chỉnh. Đây cũng là một vấn nạn lớn cho các nước đang “cần” có nhu
cầu phát triển nhanh mà Việt Nam là một !
Việc phân phối nguồn nước sinh hoạt không được chia xẽ
đồng bộ tùy thuộc vào điều kiện địa dư và
mức phát triển của từng nước một. Mức tiêu thụ nước trung b́nh trong một
ngày của người Hoa kỳ là 185 Gallons/ngày. Trong lúc đó nếu tính theo đầu
người, người dân Phi châu không thể xài quá 1G/ngày! Riêng tại Sàig̣n, lượng
nước trung b́nh cho mỗi đầu người là 36 G/ngày, phân bố không đồng bộ thay
đổi từ 80 G/ngày ở những khu trung tâm thành phố và khoăng 20 G/ngày cho các
khu xa thành phố. Đối với các quốc gia đang phát triển, hơn 1,2 tỷ người
không có điều kiện dùng nước uống sạch và 2,9 tỷ không có hệ thống thoát
nước. Trên 50% dân số sống trong những vùng nầy mắc bệnh do nguồn nước sinh
hoạt không thơa mản điều kiện vệ sinh và tiêu chuẫn cho nước uống.
Thêm nữa, con người có khuynh hướng hủy hoại hoặc làm ô
nhiễm nguồn nước thiên nhiên bằng những hành động mượn danh phục vụ cho khoa
học và phát triển để tạo ra phúc lợi cho toàn cầu. Trong đệ nhị thế chiến,
chính Hoa kỳ cũng không ước tính được mức di hại trong việc sử dụng các hợp
chất hữu cơ có chlor để tẩy rữa chiến cụ. Năm mươi năm sau đó, tại Atwater ở
miền trung California nơi tập trung công cuộc tẩy rữa, các hóa chất trên,
nguyên nhân của bệnh ung thư, đă xâm nhập vào mạch nước ngầm cách xa hơn 50
dặm về phía nam có độ sâu hơn 200 thước làm ô nhiễm nhiều mạch nước ngầm,
nguồn cung cấp chính cho vùng trên. Lời phát biểu của tiến sỉ Klaus là một
cảnh báo chung cho tất cả mọi quốc gia cũng như t́nh trạng hiện tại đă đi
đến mức báo động toàn diện-immense alarm, lượng nước “sạch” dùng để sinh
hoạt giăm dần do ô nhiễm, nhiễm mặn và do một số hiện tượng thay đổi thời
tiết do sự hâm nóng toàn cầu.
Cùng với đà gia tăng dân số hiện tại cộng thêm việc gia
tăng nhu cầu nước cho phát triển, tính đến năm 2025, thế giới phải đối diện
với t́nh trạng khan nước cho hơn 52 quốc gia. Và nếu không có biện pháp nào
để tái tạo nguồn nước tương ứng với mức tiêu dùng hiện tại th́ trong ṿng 25
năm tới đây, nước sạch sẽ được xem như một nguồn nguyên liệu hiếm quư mang
tên là “vàng lỏng”-liquid gold. Cần ghi nhận rằng, t́nh trạng bất ổn định ở
Trung đông, đặc biệt giữa Do thái, Libanon và Syria bao gồm các lư do tôn
giáo, sắc tộc, chính trị, kinh tế...nhưng cũng đừng quên rằng việc tranh
giành nguồn nước vốn dĩ hiếm hoi ở các hồ chứa vùng đồi Golan mới là động cơ
chính yếu.
Có nhiều biện pháp để tăng thêm nguồn nước sinh hoạt đă
và đang được áp dụng đều không đáp ứng được yêu cầu v́ hiệu quả kinh tế thấp
và chi phí quá cao. Đó là việc xử lư nước biển hoặc dùng xà lan để chuyễn
tăi những tảng băng từ Nam cực. Hoa kỳ đang thực hiện đường ống dẫn nước vĩ
đại nối liền Alaska và California để cung cấp nguồn nước cho tiêu bang nầy
v́ nguồn cung cấp chính từ sông Colorado đă đến giai đoạn cạn kiệt. Tại San
Diego miền Nam California, quy tŕnh tái sinh nước sinh hoạt đă hoàn chỉnh
bằng cách xử lư nước thải sinh hoạt và bơm trở lại vào các mạch nước ngầm.
Làm như thế vùng nầy có thể thu hồi được Í lượng nước đă dùng. Quy tŕnh nầy
sẽ được thi công trong ṿng năm năm tới.
Dù sao đi nữa, biện pháp tối ưu vẫn là làm thế nào bảo
vệ nguồn nước hiện có. Người dân ở các quốc gia hậu kỹ nghệ cần nên tự chế
và bớt phí phạm nguồn nước tiêu dùng hàng ngày. Trên b́nh diện quốc gia,
những quy tŕnh công nghệ ở những nước nầy phải cần được tính toán kỹ lưỡng,
hạn chế tối đa việc sử dụng nguồn nước, và xử lư phế thải nghiêm túc để có
thể tái tạo lượng nước trong lành đă tiêu dùng. Đối với các quốc gia đang
phát triển, giáo dục và việc nâng cao dân trí người dân phải là biện pháp
hàng đầu. Làm thế nào cho người dân hiểu được rằng, không sử dụng bừa băi
hóa chất, chấp hành nghiêm chỉnh các qui định về phế thải trong sinh hoạt
hàng ngày là cách hay nhất để bảo vệ chính ńnh và các thế hệ tương lai. Làm
thế nào cho các nhà sản xuất hiểu để đừng mù quáng v́ lợi nhuận mà không bảo
quản, xử lư phế thải theo luật định... Làm được những điều trên, các thế hệ
tương lai sẽ ghi nhận hành động hợp lư và đúng đắn của chúng ta. Ô nhiễm mặt đất
Môi trường-environment vẫn c̣n là một danh từ rất mơ hồ
trong cộng đồng thế giới trước kia. Cho măi đến giữa thập niên 70, đứng
trước những nguy cơ ô nhiễm ngày càng trầm trọng, Hoa kỳ đă đi tiên phong
trong việc thiết lập các quy định về bảo vệ môi sinh cũng như định mức các
hóa chất độc , khí độc...có thể chấp nhận được trong các luật về bảo vệ
khôạng khí, nguồn nước, và xử lư chất phế thải. Tuy nhiên, các luật lệ trên
c̣n quá lỏng lẻo đối với các quốc gia đang trên đà phát triển v́ các quốc
gia nầy tự thấy cần phải giải quyết nhiều vấn đề cấp bách hơn cho quốc gia
của họ thay v́ chú tâm về ảnh của hưởng môi trường. Chính quan niệm nầy đă
tạo ra nhiều cản ngại lớn lao và có cơ may làm cho vấn đề thêm trầm trọng có
thể không giải quyết được. Ngay cả đối với các nước hậu kỹ nghệ, một số nhà
sản xuất chỉ v́ chạy theo lợi nhuận mà cố t́nh che dấu hoặc không khai báo
thực sự số lượng các phó sản độc hại thải hồi. Chính quyền của các quốc gia
kễ trên cũng không đáp ứng đủ ngân sách và nhân sự để kiễm soát việc thi
hành các luật lệ về môi trường. Do đó, việc bảo quản và kiễm soát các phó
sản độc hại để tránh ô nhiễm trên mặt đất, không khí và các mạch nước vẫn là
một nan đề lớn cho từng quốc gia.
Chất phế thải ở dạng rắn và lỏng được chia làm hai nhóm
chính: - rác nhà là chất phế thải từ các sinh hoạt hàng ngày của con người;
- chất phế thải kỹ nghệ là phó sản của các quy tŕnh công nghệ sản xuất hay
chế biến. Phần lớn rác bao gồm đủ loại thực phẩm dư thừa trong sinh hoạt
hàng ngày và các phụ gia cùng những phế thải khác như bao b́, lon hộp... Phế
thải kỹ nghệ bao gồm các hợp chất hữu cơ độc hại nhất là những hợp chất chứa
chlor (mầm móng của bệnh ung thư) được t́m thấy trong các công nghệ hóa
chất, phân bón, thuốc sát trùng...; ngoài ra các kim loại độc hại như ch́,
thủy ngân, selenium, arsenic, crom, mangan...cũng được t́m thấy trong nhiều
công nghệ.
Hiện tại, chu kỳ thu gom, quản lư, xử lư rác nhà ở các
quốc gia tân tiến hầu như hoàn chỉnh. Các băi rác vĩ đại, cách xa khu dân
cư, có sức chứa hàng triệu tấn rác được thiết kế có nhiều lớp bảo vệ ở phần
đáy để tránh sự thẩm thấu của các chất độc hại vào các mạch nước ngầm; nguồn
phế thải ở dạng lỏng do hóa tŕnh sinh hóa tự nhiên được thu gom về các nhà
máy để xử lư. Thêm vào đó, việc phân loại rác ban đầu bằng những thùng chứa
tùy theo loại rác như rác hữu cơ, plastic, chai lọ, bao b́, các loại lon hộp
bằng kim loại cũng đă giúp rất nhiều trong việc xử lư rác. Đối với các phế
thải kỹ nghệ, mỗi loại phế thải đều có qui định rơ rệt trong việc xử lư và
tiêu chuẩn hóa. Gần đây nhất, một giáo sư ở đại học Ohio đă khám phá ra rằng
trong thiên nhiên đă có sẳn loại vi khuẩn yếm khí T có khả năng phản ứng tự
nhiên với loại phế thải có toluene và các dung môi hữu cơ khác nếu phế thải
được bảo quản kỹ lưỡng và được che phủ kín.
Riêng đối với các quốc gia đang phát triển, việc thu
gom, xử lư và thải bỏ rác nhà c̣n ở t́nh trạng sơ khai. Rác được thu gom từ
các xe đẩy do sức người và nhiều khi xe đẩy rác phải xếp hàng hàng giờ để
chờ xe đến di chuyễn rác về băi chứa; đó là những băi lộ thiên không có che
phủ phía trên hay các lớp bao bọc phần dưới. Do đó, chỉ trong một thời gian
ngắn, nguồn nước ngầm sẽ bị ô nhiễm. T́nh trạng chất thải kỹ nghệ ở các quốc
gia càng tệ hại hơn nửa. Đa số những luật lệ về môi trường và quản lư phế
thải ở các quốc gia nầy chỉ vừa được công bố trong khoăng thời gian từ sau
thập niên 90 đi sau các nước hậu kỹ nghệ hàng 20 năm. V́ thiếu nhân lực kinh
nghiệm, ngân sách cung cấp cho việc quản lư và kiễm soát c̣n quá yếu kém
cũng như nạn tham nhũng, hối lộ làm cho việc quản lư hầu như bế tắc ở những
nơi nầy. Tuy đă có quy định khá rơ ràng trong các luật lệ môi trường về xử
lư nhưng đại đa số các điều luật trên chỉ hiện diện trên giấy tờ do những tệ
nạn kễ trên, và đa số chất thải kỹ nghệ trên đi thẳng vào cống rănh dẫn đến
các ḍng nước chính như ao, hồ, sông rạch, và biển cả... mà không qua khâu
xử lư. Thậm chí có những khúc kênh rạch biến thành vùng chết, không sinh vật
nào có thể sống c̣n và t́nh trạng bùn đất bồi lấp nâng cao mặt đáy của ḍng
chảy làm ô nhiễm lan rộng ra thêm.
Tóm lại các yếu tố chính ảnh hưởng lên môi trường đều
có liên hệ chặt chẻ với nhau. Mọi quản lư và xử lư cần phải làm đồng bộ và
thực hiện cùng thời gian. Không thể đặt trọng tâm cho một vấn nạn nào mà lơ
là các vấn nạn khác. Cũng đừng biện minh cho từng ưu tiên phát triển v́ lư
do sống c̣n của quốc gia mà “quên lăng” hay “tạm quên” những hệ lụy môi sinh
thoát thai từ các phát triển cấp bách thiếu nghiên cứu cặn kẽ. Bảo vệ môi
sinh cho toàn cầu ở thế kỷ tới mới là ưu tiên hàng đầu và duy nhất cho việc
sinh tồn của nhân loại. Và cũng không có biệt lệ cho bất cứ quốc gia nào cả! Vài suy nghĩ cho toàn cầu Như đă nói ở các phần trên, vấn nạn ảnh hưởng
đến môi sinh trên toàn thế giới trong thời gian tới cùng với những biện pháp
pḥng ngừa và hạn chế ô nhiễm đều có tính cách liên đới ảnh hưởng lên mọi
quốc gia. Xu hướng toàn cầu hóa trong lănh vực nầy sẽ không có biệt lệ nào
khác. Tuy nhiên, sự phân bố không đồng bộ về mặt phát triển kỹ thuật, tŕnh
độ dân trí, điều kiện kinh tế-chính trị của đa số các quốc gia đang phát
triển không cho phép họ có tầm dự phóng xa hơn những vấn đề sống c̣n trước
mắt. Do đó, các nước hậu kỹ nghệ cần phải thông cảm và có thật tâm giúp đỡ
về nhân sự, tài chánh và kỹ thuật...để các nước trên có điều kiện theo kịp
đà tiến hóa và cùng góp tay chia xẻ việc bảo vệ môi sinh để cùng tồn tại.
Giai đoạn thực dân bốc lột, vét đoạt tài nguyên của những nước nghèo sẽ
không c̣n thấy trong thế kỹ thứ 21 nầy nữa. Trong chiều hướng suy nghĩ đó,
vài đề nghị gợi ư sau đây nói lên những bước cần nên làm đối với các nước
hậu kỹ nghệ và những nước đang phát triển.
• Trước hết, biện pháp làm giăm thiểu hay hạn chế sự
hâm nóng toàn cầu là ưu tiên hàng đầu cho mọi quốc gia, đạc biệt đối với các
quốc gia hậu kỹ nghệ. Ngân sách quốc gia cần được tăng cường trong nghiên
cứu và cần kiễm soát chặt chẻ hơn nữa các cơ xưởng công nghệ. Hạn chế hay
nghiêm cấm các cơ sở sản xuất tạo ảnh hưởng tác hại đến lớp ozone trên bầu
khí quyển. Điều cần phải làm trước nhất là “giáo dục” người dân ở những nước
nầy giăm bớt phung phí trong việc sử dụng năng lượng, tài nguyên thiên nhiên
và chấm dứt việc phí phạm nguồn nước sinh hoạt. Chỉ trong một ngày vận động
cho việc làm sạch bầu khí quyển bằng cách yêu cầu dân chúng sử dụng xe đạp
hoặc đi bộ, hay dùng xe công cộng...thủ đô của Colombia đă giăm 27% lượng
thán khí thải hồi so với mức sinh hoạt b́nh thường hàng ngày.
• Định mức tiêu chuẫn tối thiểu mà cơ thể con người có
thể chấp nhận được đối với các hóa chất, kim loại độc hại... trong không khí
và trong nguồn nước. Điều nầy cần phải được soạn thảo trên b́nh diện toàn
cầu và phải có sự đồng thuận của tất cả. Một khi đă chấp thuận một định mức
nào đó, mọi quốc gia đều phải chấp hành nghiêm chỉnh. Một thí dụ cụ thể cho
tiêu chuẩn chấp nhận được của sự hiện diện của arsenic trong nước uống hiện
tại là: 50ug/L cho Hoa kỳ, 15 ug/L ở Pháp và 10 ug/L đối với tiêu chuẫn Liên
hiệp quốc. Từ những khác biệt trên có thể nảy sinh ra sự so b́ và lơ là của
các quốc gia trong việc bảo vệ môi sinh chung.
• Các phát minh khoa học kỹ thuật và công nghệ mới cần
được thật thà trao đổi với các quốc gia đang phát triển. Trợ giúp các nước
nầy trong việc trao đổi thông tin kỹ thuật, đào tạo kỹ thuật viên và khai
triển các quy tŕnh công nghệ có hiệu quả cao và an toàn cho môi sinh. Mọi
phát minh mới cần được thông báo cho toàn thể thế giới để tránh sự tụt hậu
và thâu ngắn cách biệt giữa các quốc gia giàu-nghèo.
• Đối với những phát minh hoàn chỉnh, cần phải tiến
hành nhanh khâu thử nghiệm-prototype và áp dụng tùy theo yếu tố xă hội-kinh
tế-môi sinh cho từng vùng hay quốc gia. Làm được như thế sản phẩm vật chất
sẽ được sản xuất nhiều hơn và chuyễn tăi đến những nơi có nhu cầu sớm hơn
nhất là đối với các nước ở Phi châu, Á châu và Nam Mỹ.
• Về nguồn nước, các nước hậu kỹ nghệ cần hạn chế hoặc
thay thế việc sử dụng hóa chất trong các quy tŕnh sản xuất hiện có và trong
tương lai thay thế bằng những nguyên liệu có trong thiên nhiên để hạn chế
hay giăm thiểu mức độc hại trong các phó sản thải hồi. Với chiều hướng nầy,
nhiều nhà khoa học trên thế giới đă thành công trong việc áp dụng vào sản
xuất và xử lư phế thải. Duckweed ( một loại sậy) dùng để hấp thụ lượng
nitrate trong nguồn nước đang được sử dụng rộng răi, cây bạch dương (poplar)
cho một số phế thải hữu cơ. Việc thay thế nguyên liệu hóa chất bằng các hợp
chất thiên nhiên như dùng carbonhydrate (sản phẩm có trong tiến tŕnh chế
biến phân gia súc) để thay thế hydrocarbon để chế tạo các loại plastic có
thể tự hoại được trong thiên nhiên. Các việc làm trên cần được khích lệ và
phát triển thêm bằng cách đẩy mạnh tài trợ cho nghiên cứu.
• Giáo dục là ưu tiên hàng đầu để mọi người có thể đến
gần nhau và cùng nói chung một ngôn ngữ trong lănh vực khoa học kỹ thuật .
Do đó các quốc gia đang mở mang cần đầy mạnh việc phát triển giáo dục ở cấp
trung học chuyên nghiệp và đại học để tiếp nhận và trao đổi các công nghệ
mới dễ dàng hơn. Chính phủ, các trường đại học, các cơ quan nghiên cứu và tư
nhân cùng hợp tác trong nghiên cứu và kiến thức cùng dựa trên tinh thần trao
đổi chân chính. Việc nâng cao dân trí người dân ở những nước đang phát triển
trong việc bảo vệ môi trường sống chung quanh cần phải có sự hổ trợ của cộng
đồng các nước hậu kỹ nghệ qua IMF, WB... để bảo trợ tài chánh-nhân sự- kỹ
thuật cùng thúc đẩy tiến tŕnh cải cách.
• Thông tin tin học, một khám phá tuyệt vời vào thập
niên sau cùng của thế kỹ 20, cần được đem ra áp dụng rộng răi cho các nước
chậm phát triển. Thế giới cần trợ giúp cho các nước trên thiết lập mạng lưới
thông tin khoa học tân tiến nầy, tối thiểu ở trong môi trường đại học,
nghiên cứu...để các sinh viên, nghiên cứu sinh có điều kiện học hỏi, thu
nhập những kiến thức mới để rồi áp dụng vào điều kiện cụ thể cho từng quốc
gia một.
• Dựa trên tiêu chuẩn toàn cầu, khi đă đồng ư ngưng hay
cấm sản xuất một sản phẩm nào có khả năng tác hại lên con người như các loại
thuốc sát trùng, các quốc gia hậu kỹ nghệ cần phải chấm dứt việc sản xuất và
chuyễn tăi qua các nước đang phát triển v́ nhu cầu lợi nhuận. Việc làm nầy
cần phải chấm dứt và thế giới cần phải quy định biện pháp chế tài cho quốc
gia vi phạm. Sẽ không c̣n công dân hạng nh́ trong thế kỹ nầy!
• Sau hết, việc xuất cảng mọi phế thải kỹ nghệ dưới bất
cứ h́nh thức nào cần phải chấm dứt. Đây là một hành động vô nhân đạo không
thể tồn tại được cho thế kỹ 21, thế kỹ của ḥa b́nh và môi trường xanh
dương. Lănh đạo của các nước đang phát triển cũng đừng v́ nhu cầu ngoại tệ
nặng cho quốc gia mà chấp nhận những loại phế thải độc hại trên. Các thế hệ
sau đó sẽ không bao giờ tha thứ cho các hành động nầy. Trường hợp Việt Nam
Theo thống kê tháng 7/2004, Việt Nam hiện có 82.698.518
dân sống trên một diện tích 329.560 Km2 với mật độ trung b́nh là 251
người/Km2 (195người/Km2 cho năm 1990). Tỷ lệ đàn ông: đàn bà là 97:100. Có
45 triệu lao động trẻ. Trẻ em dưới 15 tuổi chiếm 35 % dân số; người già trên
65 tuổi, 6% dân số. Các số liệu trên cho thấy lực lượng lao động Việt nam
c̣n tiếp tục tăng dần trong ṿng 20 năm tới đây, ngay cả nếu việc hạn chế
sinh sản thành công trong việc ngăn chận đà gia tăng dân số, Việt Nam vẫn
c̣n dư thừa lao động trong tương lai. Từ giữa thập niên 80, chính sách kinh
tế “Mở cửa” và “Đổi mới” tiếp ngay sau đó, đă khai mào cho một chu kỳ tăng
trưởng mới cho toàn quốc, đặc biệt ở thành phố HCM và các vùng lân cận trong
đó hầu hết các khu công kỹ nghệ đều tập trung vào và chiếm hơn 40% tổng sản
lượng quốc gia.
Tuy nhiên, có những mặt tiêu cực sau đây: 1- Nhiều dịch
vụ phát triển quá nhanh chóng và không được điều nghiên kỹ lưỡng như việc
thiết lập các trung tâm giải trí, khách sạn, sân golf...chỉ để phục vụ cho
người giàu và người ngoại quốc tạo thêm ranh giới cách biệt giữa tuyệt đại
đa số quần chúng; 2- Một số tư bản mới đă h́nh thành, từ đó phát xuất ra
nhiều mâu thuẫn và hệ lụy tiêu cực trong hệ thống quyền lực-kinh tế-chính
trị. Chính hai mặt tiêu cực nầy đă là một trong nhiều nguyên nhân tạo nên
khủng hoăng xă hội gần đây nhất và làm giảm dần mức tăng trưởng kinh tế từ
10 % ở những năm đầu xuống đến 4 % năm 1999 mặc dù Việt Nam vẫn c̣n quá
nhiều nhu cầu cần phải cung cấp cho đất nước.
Việc tăng trưởng kinh tế-kỹ nghệ quá nhanh so với tốc
độ trước khi có chính sách đổi mới , nhưng không đủ nhanh so với nhu cầu của
quốc gia, tạo nên những biến động ảnh hưởng lên môi trường ở những vùng được
phát triển mạnh. Tại các nơi trên, bầu không khí ngày càng ô nhiễm thêm.
Thán khí cùng với nhiều kim loại độc hại như ch́, thủy ngân và một số hơp
chất hữu cơ nhẹ đă được ghi nhận. Nguồn nước bị ô nhiễm nặng đặc biệt ở các
vùng tiếp nhận trực tiếp nguồn nước thải từ các nhà máy và hệ thống cống
rănh. Kết quả phân tích cho thấy ô nhiễm hữu cơ đă được ghi nhận ở Bến Than,
thượng nguồn sông Sài g̣n, nguồn nước duy nhất cung cấp nước cho thành phố
Sàig̣n. Ở nhiều nơi, chỉ dấu oxy ḥa tan (DO) giăm xuống đến 2,3 mg/L (nếu
chỉ số DO xuống dưới 3,5 cá, tôm không thể tồn tại được!); Lượng E-coli, vi
khuẫn gây bịnh đường ruột và có thể làm chết người nếu không cứu cấp kịp
thời, tăng trung b́nh tùy nơi từ 14.000 đến 480.000 MPN/100mL ở kinh Nhiêu
Lộc ( tiêu chuẫn cho nước sinh hoạt ở Hoa kỳ là 23MPN/100mL). Đặc biệt cũng
tại Bến Than, thượng nguồn sông Sàig̣n, độ mặn đo dược vào giữa tháng hai
1999 (giữa mùa khô) là 400mg/L. Tuy lượng chloride trong nước không đáng kễ,
nhưng đây là lần đầu tiên chỉ dấu trên đă báo hiệu sự nhiễm mặn đă xâm nhập
vào thượng nguồn sông Đồng Nai. Ngoài ra, các ô nhiễm dầu, kim loại nặng như
ch́, thủy ngân, cadmium, chrome, mangan...đạt đến mức độ có thể tác động đến
nguồn tài nguyên nước và con người. Hàm lượng thuốc trừ sâu như Aldrin,
Dieldrin, DDT (những thưốc nầy đă bị cấm sản xuất và sử dụng ở các nước hậu
kỹ nghệ nhưng vẫn c̣n được nhập cảng vào Việt Nam?) đôi khi vượt quá tiêu
chuẫn của nước uống...! Riêng arsenic (đă được người viết trực tiếp phân
tích từ các mẫu nước giếng mặt và giếng khoan ở nhiều nơi ở VN) đă hiện diện
trong nhiều địa phương và kết quả được ghi nhận như sau: 5 ug/L/L tại Xóm
Mới (TpHCM); Thị xă Biên ḥa: 35 ug/L (giếng khoan sâu trên 150m); 11,5 ug/L
(giếng mặt) và 8,5 ug/L (giếng đóng sâu trên 280 mét) tại thị xă Tân An; Thị
xă Tiền Giang, 11ug/L; và nhất là tại những nơi có độ nhiễm mặn cao như B́nh
Đại (Bến Tre) 37 ug/L và Thị xă G̣ Công, 5.4 ug/L. Các kết quả trên cho thấy
t́nh trạng ô nhiễm arsenic đă bắt đầu ảnh hưởng lên đồng bằng sông Cửu Long
nhất là ở những nơi có độ nhiễm mặn cao.
Về các băi chứa rác, ngoài các băi chính không bảo quản
đúng tiêu chuẫn ở ngoại ô các thành phố lớn, vẫn c̣n vô số băi phụ chen lẫn
trong các khu dân cư đông đúc tăng thêm điều kiện phát triển các bệnh truyền
nhiễm.
Về ô nhiễm đường biển, một thí dụ cho thấy tại Việt Tŕ
(Bắc Việt), hàng năm các khu kỹ nghệ nơi đây đổ ra biển 35 triệu m3 nước
thải kỹ nghệ, 100 tấn acid sulfuric (H2SO4), 4.000 tấn acid cloridric (HCL),
1.300 tấn xút (NaOH), 300 tấn dầu đủ loại, và 24 tấn thuốc diệt sâu rầy. Một
thí dụ khác là hàng năm nhà máy than đá Quảng Ninh đă thải vào vịnh Hạ Long
900 triệu tấn nước thải và bụi than làm ô nhiễm toàn vùng san hô vùng biển
phía bắc và đông bắc vịnh Bắc kỳ. Viện Hải Dương Học Nha Trang đă ước tính
là có ít nhất 50% san hô bị hủy diệt ở vùng nầy và đă t́m thấu dấu vết kim
loại ch́ trong cá tôm. Đối với nhng vùng thuộc khu tứ gíc Long Xuyên, độ mặn
đă xâm nhập đến nhiều nơi và đạt đến mức 6,5 mg/L.
Nh́n chung t́nh trạng môi sinh ở Việt Nam đă đến mức
báo động, nhất là ở các thành phố lớn mặc dù mức độ khai triển kỹ nghệ chưa
phát triển tương xứng với nhu cầu của dân chúng toàn quốc mà chỉ tập trung
vào một số thành phố lớn mà không lưu tâm hay quy hoạch đồng bộ tùy theo
điều kiện của từng địa phương. Hiện nay vẫn c̣n khoảng 70% dân chúng tập
trung ở các vùng nông nghiệp đang c̣n trong thời sơ khai của thời đại phát
triển kỹ nghệ.
Nguyên nhân của việc tŕ trệ phát triển cho những năm
gần đây cũng như hiện trạng ô nhiễm ở Việt Nam có thể được tóm tắt vào những
ghi nhận sau đây:
• Ảnh hưởng của sự sụp đổ của hệ thống Cộng sản ở Nga
sô và Đông Âu đầu thập niên 90 cùng với sự khủng hoăng kinh tế vùng Đông Á ở
những năm gần đây làm cho quốc tế ngần ngại đầu tư vào Việt Nam.
• Hệ thống tiền tệ chưa hoán chuyễn được và chưa thiết
lập được thị trường chứng khoán cùng các luật định ngân hàng phức tạp và hay
thay đổi thường xuyên, không bảo đảm tối thiểu cho công cuộc giao thương với
bên ngoài.
• Hệ thống ngân hàng không hữu hiệu, không thể hiện
chức năng đúng đắn trong dịch vụ trao đổi và không có tính xuyên suốt trong
báo cáo. Thống đốc ngân hàng VN mới đây đă nhận định rằng chức năng của ngân
hàng là phục vụ cho nhu cầu của quốc gia và dân chúng chứ không thi hành
theo chỉ thị hoặc mệnh lệnh!
• Mặc dù có sự hổ trợ của Ngân hàng thế giới (WB), Ngân
hàng phát triển Á châu (ADB), Quỷ tiền tệ thế giới (IMF), Chương tŕnh phát
triển Liên hiệp quốc (UNDP)... về tài chánh và kỹ thuật cho việc nâng cấp và
giải quyết các vấn nạn môi sinh ở VN do sự phát triển kỹ nghệ và nạn gia
tăng dân số, nhưng hầu hết các hạng mục công tŕnh trên c̣n nằm bất động
trên h́nh thức các dự án khả thi. Mức độ thi công tiến hành quá chậm do thủ
tục hành chánh rườm rà và bất nhất cũng như các tệ nạn quan liêu khiến cho
đôi khi dự án phải bị bỏ dở nửa chừng.
• Việc phá hoại các rừng ven biển và dẫn nước mặn vào
sâu trong đất liền để khai thác dịch vụ nuôi tôm là một trong những nguyên
nhân cho sự nhiễm mặn. Ngay cả việc nuôi tôm, sau một vài mùa có thu hoạch
cao, dịch vụ nầy lần lần đi vào phá sản v́ tôm con bị chết quá nhiều v́ hệ
sinh thái thay đổi và môi trường sinh sống của tôm không c̣n đồng nhất như
vùng nước mặn nguyên thủy. Ảnh chụp từ vệ tinh năm 1999 cho thấy khoăng
150.000 hecta ở ven biển Cà Mau, Bạc Liêu đă bị bỏ hoang trên gần 200.000
hecta đă khai thác trong khoảng năm năm gần đây! Từ xa xưa, các rừng tràm,
đước, vẹt...đă phát triển vững mạnh trong vùng nầy, thiết lập một hệ sinh
thái thiên nhiên vừa cân bằng và cầm chân nước mặn tiến sâu vào đất liền,
vừa là môi trường sống thích hợp cho tôm cá; do đó tôm không thể phát triển
được v́ sự mất cân bằng trên.
• Trong những năm sau nầy, lănh đạo VN có khuynh hướng
cứng rắn hơn trong việc điều hành quốc gia. Đường lối và chính sách hiện tại
thể hiện sự bất an, bối rối trong quyết định trước những vấn nạn sinh tử cho
đất nước.
• Có nhiều thành phần tham gia vào việc phát triển kinh
tế-kỹ thuật ở VN. Đó là quân đội, công an, chính quyền, tư nhân, và ngoại
quốc. Một khi đă nắm chặt quyền lực trong tay, cộng thêm với sức mạnh kinh
tế, các thành phần có quyền lực trên có khả năng tạo ra nạn kiêu binh có thể
gây xáo trộn xă hội mà lănh đạo sẽ khó kiểm soát được. Điều nầy sẽ làm giảm
thiểu mức đầu tư của dân chúng và nhất là đầu tư quốc tế.
• Đối với các nhu cầu phát triển, điều tiên quyết là
phải có sự bàn thảo và đồng thuận giữa chính quyền và các công ty tư nhân.
Cho đến nay, mọi hợp tác giữa chính quyền-tư nhân-ngoại quốc chưa được đặt
trên căn bản công bằng và đồng thuận do đó vẫn c̣n nhiều cản ngại trong việc
giao thương quốc tế. C̣n có nhiều thiên vị cho các đối tác có liên quan đến
chính quyền. Công ty quốc doanh chiếm đa số vẫn c̣n được tài trợ và ưu đăi
mặc dù làm ăn thua lỗ. Việc kiễm soát môi sinh c̣n quá lơng lẽo đưa đến việc
lơ là trong bảo quản và xử lư phế thải.
• Một số dự án có tầm vóc quốc gia, đối tác được chọn
chưa thu thập đầy đủ dữ kiện nghiên cứu tác hại môi trường, nhân sự chuyên
nghiệp không đáp ứng được nhu cầu của công tŕnh, do đó nhiều dự án phải bị
bỏ dở nửa chừng. Một công ty tư vấn ngoại quốc vừa mới tŕnh dự án khả thi
để thải hồi 800.000 m3 nước sinh hoạt của thành phố Sàig̣n hàng ngày, sau
khi xử lư sơ bộ (cơ học) vào ḍng sông Sàig̣n với mục đích vừa để giải quyết
lượng nước thải của thành phố vừa để ngăn chận sự nhiễm mặn của sông Sàig̣n
trong mùa khô. Có cần phải xét lại tính khả thi của dự án về mặt kỹ thuật và
ảnh hưởng tác hại lên môi trường hay không?
• Các công ty tư vấn ngoại quốc được Việt Nam mời đến
để khai triển một số dự án kỹ thuật và tính khả thi trong từng điều kiện
hiện có. Đôi khi, Việt Nam dùng tư cách chủ nhà để chỉ đạo dự án hay sữa đổi
không đúng với quy cách kỹ thuật làm cho dự án khó được hoàn chỉnh. Và cũng
có nhiều công ty ngoại quốc v́ muốn được trúng thầu mà thiết lập dự án khả
thi khi chưa hoàn tất hồ sơ điều tra cơ bản. Điều nầy làm cho phát triển
Việt Nam tŕ trệ về thời gian, tài lực, và nhân lực, chưa kễ đến việc làm
mất niềm tin của người dân về thực tâm của những người có trách nhiệm!
Nhận diện được một số nguyên nhân căn bản đưa đến sự
kiện chậm phát triển cho Việt Nam những năm gần đây, chỉ cần một ít động
năo, việc truy t́m giải đáp cho bài toán trên cũng không khó vậy! Thay lời kết
Từ nhiều ngàn năm trước, khi nhân loại đang c̣n triền
miên trong giấc ngũ của thời kỳ bán khai, Trung quốc đă có một nền văn minh
cực thịnh, phát minh ra nhiều kỹ thuật căn bản tuyệt vời cho phát triển khoa
học kỹ thuật phục vụ nhân sinh. Đó là thuốc súng, giấy, và địa bàn. Nhưng
thay v́ dùng thuốc súng cho những nghiên cứu ứng dụng vào lợi ích cho đời
sống, người Trung Quốc đă làm ra pháo nổ, pháo thăng thiên để mua vui trong
các cuộc hội hè đ́nh đám. Đá nam châm, địa bàn... không được ứng dụng cho
khoa học mà tập trung vào việc phát triển địa lư phong thủy để nhàn hạ trong
thú ngao du sơn thủy. Giấy được dùng trong việc chế tạo tiền vàng bạc phục
vụ cho việc tang chế, cúng tế thay v́ sử dụng cho nhu cầu giáo dục. Giấc ngủ
dài trên cùng với giấc mơ thiên tử đă làm cho Trung quốc thành một quốc gia
đông dân nhất thế giới (1,3 tỷ năm 2003) và có lợi tức đầu người khoảng
$900/năm hiện tại.
Bước vào thiên niên kỹ mới, người Trung quốc dường như
vẫn chưa h́nh dung và đánh giá đúng đắn nhu cầu dân chủ-toàn cầu hóa trong
mọi lănh vực là một tất yếu không thể cưởng lại được. Họ vẫn dùng sức mạnh
dựa trên dân số mà làm áp lực khắp nơi, phát triển kinh tế-khoa học kỹ thuật
bừa băi bất kể đến an sinh của chính người dân trong nước và các khuyến cáo
của thế giới như việc xây dựng đập nước thiếu điều nghiên lương thiện, phế
thải kỹ nghệ độc hại được đưa thẳng vào thượng nguồn của các sông, ngay cả
sông Mekong làm di hại đến hạ lưu trong đó có Việt Nam. Và việc làm sai trái
đó vẫn c̣n đang tiếp diển. Trong tiến tŕnh bước vào thiên niên kỷ mới,
Trung Quốc chỉ c̣n có một sức mạnh duy nhất, không thay đổi từ ngàn năm là
tánh duy ngă độc tôn và niềm tự hào đông dân nhất thế giới!
Ngược lại, Nhật bản vẫn tồn tại và tiếp tục tăng trưởng
nguồn phúc lợi cho người dân. Sức mạnh kinh tế của Nhật chỉ đứng sau Hoa kỳ,
vượt xa các nước Tây phương. Và người Nhật cũng đă từng tự nhận là con của
Thiên Hoàng- một chủng loại siêu nhân trên thế giới. Nhưng khi đứng trước
nhu cầu toàn cầu hóa trong việc bảo vệ môi trường và phát triển, người Nhật
hay ít ra lănh đạo Nhật đă quên đi tinh thần yêu nước cực đoan và lần lần
hội nhập vào cộng đồng thế giới để cùng giải quyết các vấn nạn chung cho
toàn cầu. Lănh đạo Nhật đă can đăm chính thức quyết định tiếng Anh phải là
thứ tiếng giao dịch cho toàn thể dân chúng sau tiếng Nhật. Bộ Giáo dục Nhật
vừa mới đây đă xác nhận dùng tiếng Anh nhằm chuyển biến đất nước mang tính
“quy chuẩn văn hóa toàn cầu” cho thế kỷ thứ 21. Yêu cầu dùng tiếng Anh như
là tiếng nói chính thức trong mọi giao dịch ở các công sở và nơi công cộng.
Làm như thế, lănh đạo Nhật đă chứng minh tầm nh́n xa và đặt quyền lợi tối
thượng của quốc gia dân tộc hơn là tự ru ngũ trong niềm tự hào dân tộc cực
đoan.
Trở về đất nước thân yêu của tất cả chúng ta, Việt Nam
hiện tại là một dân tộc non trẻ, thông minh, chăm chỉ, hiếu học, cần cù , và
có tinh thần cầu tiến. Trên 90% dân số đều biết đọc biết viết. Con số nầy
quá cao so với các nước đang phát triển và có điều kiện xă hội tương tự như
của chúng ta. Tuy nhiên theo phúc tŕnh của Bộ ngoại giao Hoa kỳ tháng
2/2005, tổng sản lượng trung b́nh tính theo đầu người của VN là $450/năm,
vẫn c̣n quá thấp ngay cả so sánh với một số quốc gia Phi châu, Laos, và
Campuchia! Trên 55 triệu dân (65% dân số) sống trong vùng nông nghiệp và chỉ
đạt được 22% tổng sản lượng toàn quốc. Cũng theo phúc tŕnh trên, có 30% dân
số sống dưới mức bần cùng. Nếu tính theo định nghĩa của Liên hiệp quốc về
mức nghèo tuyệt đối-absolute poverty tính theo đầu ngưới là US$1/ngày, tỷ lệ
trên sẽ c̣n cao hơn nhiều. (Hoa kỳ chỉ có 1,5 triệu nông dân để cung ứng nhu
cầu lương thực cho trên 290 triệu người Mỹ và viện trợ lương thực đi khắp
thế giới.)
Tai sao có sự nghịch lư kể trên? Dĩ nhiên là phải có
cái ǵ bất ổn cho đất nước. Đương nhiên nhà cầm quyền hoàn toàn trách nhiệm
về t́nh trạng ngày càng đi xuống hiện nay. Ba mươi năm sống trong ḥa b́nh,
thiết nghĩ cũng đủ dài để thiết lập một xă hội ổn định cho Việt Nam. Nhưng
tiếc thay điều đó không xảy ra.
Hiện tại, trong nhiều lănh vực kinh tế-kỹ thuật-khoa
học-môi sinh, thế giới đang biến thành một quốc gia lớn, một trật tự mới
đang h́nh thành. Trong bối cảnh đó, càng ngày càng thấy rơ ràng mọi người
đều có trách nhiệm. Những ǵ xảy ra tại Tây Tạng, Vân Nam đều trực tiếp ảnh
hưởng đến đồng bằng sông Cửu Long. Rốt ráo hơn nửa, mọi người Việt đều có
trách nhiệm về t́nh trạng tụt hậu của Việt Nam. Càng thiết tha, càng gắn bó
với quê cha đất tổ càng thấy ḿnh có trách nhiệm. Trách nhiệm không là than
thân trách phận, trách ông trời không cho ḿnh gặp thời. Trách nhiệm không
là thái độ đời đục ta trong, ẩn thân trong chùa, trong kinh kệ, trong nhà
thờ, trong những thành tŕ luân lư, hoặc sớm tối trăi ḷng ḿnh cho thi tữu.
Trời không ghét, không thương riêng ai. Đời có đục, có trong. Trách nhiệm là
nhận thức thực tiển, và trên cơ sở đó có những thái độ và hành động tích cực
hơn cho đất nước. Nói lên tiếng nói, tạo một âm vang, khuếch đại một xu
hướng, tạo dựng sức ép,... Mỗi người mỗi cách, không sao kễ xiết. Nhưng nhất
thiết, không đổ lỗi cho người khác để tự dối ḿnh, hoặc trốn trách nhiệm của
ḿnh.
Nh́n lại đất nước, với hơn 50% lực lượng lao động thuộc
thành phần trẻ tuổi, chúng ta đă có một trợ lực lớn có khả năng đưa đất nước
lên cao. Tuổi trẻ Việt Nam, sau một giai đoạn ngắn tiếp cận với phong cách
hành xử và giao thương quốc tế đă hiểu thêm và hiểu cặn kẽ về tự do-dân chủ.
Từ đó tinh thần quốc gia dân tộc tăng trưởng nhanh chóng trong thành phần
nầy. Tuổi trẻ Việt Nam mong muốn có một đời sống kinh tế-tinh thần- tâm linh
tương xứng với các đóng góp của chính ḿnh. Những rào cản ngăn cách trong
tôn giáo-địa phương không c̣n là một chướng ngại để rồi cùng ngồi lại với
nhau, không như các thế hệ cha ông trước kia. Những cảm xúc trong tư tưởng,
vết hằn trong quá khứ sau cuộc qua phân của đất nước phải nhường bước cho
lối nh́n tích cực về triển vọng tương lai của quê hương. Do đó, các mỹ từ v́
thế hệ mai sau, v́ chủ nghỉa anh hùng...không c̣n là một xúc tác tốt để hấp
dẫn tuổi trẻ Viêt Nam nữa.
Tuổi trẻ Việt Nam trân trọng bốn ngàn năm văn hiến của
tiền nhân, nhưng tuổi trẻ hôm nay không v́ niềm tự hào đó mà dừng chân lại
để chiêm ngưỡng quá khứ. Tuổi trẻ Việt Nam đang lên đường. Đừng cho đó là
một cản ngại lớn cho sự bền vững của chế độ mà nên cùng nhau thay đổi đường
lối và chính sách thích hợp với xu hướng toàn cầu. Cùng tạo điều kiện thuận
lợi cho môi trường làm việc thích ứng với tính năng động và hiếu học của
tuổi trẻ. Có như thế, cơ hội phát triển và triển vọng tương lai đồng đều
cùng đời sống kinh tế-tinh thần có hy vọng được nâng cao sẽ là hai động cơ
chính thức thúc đẩy tuổi trẻ mạnh bước tiến lên. Cũng xin dừng rập khuôn tin
tưởng vào văn hóa “coca cola” của Hoa kỳ để mong được phát triển nhanh và
đổi lấy một xă hội bất ổn về tinh thần!
Gương Trung Quốc c̣n đó! Gương Nhật Bản c̣n đây! Nh́n
hai quốc gia gần gũi với nền văn hóa Việt Nam đang lèo lái đất nước đi vào
chu kỳ vận hành mới của thế giới. Từ đó rút ra bài học cho cuộc hành tŕnh
Việt Nam để bước vào kỹ nguyên quyết định cho sự phát triển và bảo vệ môi
sinh của toàn cầu. Mai Thanh Truyết
Hội KH&KTVN (VAST) Ghi chú:-Bài nầy tác giả viết vào năm 2000
và đă được hiệu đính 4/2005.