Home

Trang Chính

Bản Tin

Sinh Hoạt

Tham Luận

Hoài Băo Quê Hương

Văn Học Nghệ Thuật

Thư Tín

Bài vở xin gửi về địa chỉ sau đây:
3108 E. Sawyer St.
Long Beach, CA 90805

                                                                  

 

GIỌT NƯỚC MẮT ĐẮNG CAY

        Tân bước đến bên cửa sổ, vén tấm màn nh́n ra bên ngoài. Bầu trời đêm nay đầy sao, lấp lánh như đang tươi cười bằng những đôi mắt long lanh. Xa xa, khu giải trí Disneyland đang ch́m vào giấc ngủ, im ĺm và mờ tối. Bốn giờ đồng hồ trước đây, nơi đó đă vang lên những tiếng ́ ầm; tiếp theo là những chùm pháo bông đủ màu sắc vụt bay lên, toả sáng trong bầu trời xanh thẫm. Đă lâu rồi cuộc chiến Việt nam không c̣n nữa. Nhưng mỗi khi nghe tiếng pháo nổ reo vui, anh lại nhớ đến những đêm pháo kích ở địa phương anh đă từng phục vụ trước năm 1975… Tuy nhiên, đêm nay anh bị mất ngủ không phải v́ những kư ức kinh hoàng đó, nhưng bởi một tin tức đau ḷng từ người em ở Sài G̣n thông báo chiều nay. Chú Hồng nằm liệt giường mấy tháng rồi, đang kiệt sức dần dần và có thể vĩnh viễn ra đi trong nay mai…  

        Chú Hồng không phải là em ruột của bố. Mà chỉ là chồng bà cô của anh. Họ đă từng trải qua một cuộc t́nh lâu dài, với khởi đầu thật thơ mộng vui tươi, nhưng kết thúc lại chia ly năo nề! Có thể so sánh được chăng cuộc t́nh của họ như chuyện Romeo-Juliet trong một vở kịch của Shakespeare ngày xưa, mô tả t́nh yêu hai người trẻ tuổi bên Ư, yêu nhau đến chết nhưng măi măi vẫn không được sống gần nhau? Chú Hồng đă vượt qua bao thử thách về môn đăng hộ đối của hai gia đ́nh…để cuối cùng lấy được cô Út làm vợ. Nhưng cũng như Từ Hải trong Truyện Kiều của Nguyễn Du: “Nửa năm hương lửa đang nồng/Trượng phu thoắt đă động ḷng bốn phương…”, chú Hồng chỉ sống mặn nồng với người vợ trẻ chưa được một năm, lại “thoát ly gia đ́nh” để tham gia kháng chiến chống Pháp…Để rồi, hai mươi lăm năm sau, khi trở về quê cũ th́ người vợ trẻ yêu thương đă hóa ra người thiên cổ.

        Sau đó hàng năm chú Hồng đi xe đ̣ từ Sài g̣n ra Phù Mỹ, về thăm khu nghĩa trang thuộc ḍng họ của Tân tại Hưng Lạc, xa hơn sáu trăm cây số đường dài. Chú về để t́m lại h́nh ảnh của người vợ đă sớm ĺa dương thế, nh́n khuôn mặt tươi trẻ đă thể hiện trên tấm h́nh của cô Út, được các anh của cô cho in trên chiếc dĩa sứ tráng men, gắn trên mộ bia từ lâu. Chú về để ôn lại mối t́nh đẹp đẽ năm xưa; để nhỏ những giọt nước mắt tiếc thương cho người vợ vắn số, đă mất đi trong hoàn cảnh cô đơn sầu khổ.

* * *

        Hồi ấy ở làng Hưng Lạc, có ngôi từ đường của gia đ́nh ông Huyện Bảy, xưa cũ đến bốn đời. Ngôi nhà trông bề thế, với ba gian hai chái, có vườn dừa mát mẻ, có ao sâu hào rộng quanh nhà…Ông Huyện đă từng thi đậu Cử nhân Hán học tại trường thi B́nh Định. Vào khoảng thập niên 1930, ông được bổ nhiệm Tri huyện Tân Định, tỉnh Khánh Ḥa. Ông Huyện Bảy vừa tinh thông chữ Nho, giỏi chữ Tây sau thời gian tự học và giao tiếp với các viên chức người Pháp tại Nha Trang. Do đó ông có tư tưởng dân chủ và b́nh đẳng của xă hội tây phương thời bấy giờ. Có lẽ v́ thế người dân trong huyện Tân Định rất quư trọng ông…

        Khoảng thời gian này, phong trào nông dân nổi dậy chống sưu cao thuế nặng đă bắt đầu tử Nghệ An, lan truyền sang từ các tỉnh miền bắc Trung Kỳ như Thanh Hoá, Hà Tĩnh, Quảng B́nh Quảng Trị, Quảng Nam đến các tỉnh cực nam như Khánh Hoà, B́nh Thuận…Tại nhiều địa phương, đoàn biểu t́nh đă xông vào Huyện đường, bắt Tri Huyện “đóng cũi” khiêng đi mất tích. Một hôm có người báo cho quan Huyện Tân Định biết có một nhóm nông dân từ địa phương khác đến âm mưu làm loạn…Quan Huyện sai lính lệ đưa vợ và các con đi ẩn cư ở nhà người quen tín cẩn. Khi nhóm nông dân đến vây huyện đường, ông Huyện sai lính hầu ra mời người cầm đầu nhóm này vào để nói chuyện. Không ai biết người đại diện đă yêu sách những ǵ và ông Huyện Tân Định đă nói những ǵ với họ, nhưng sau đó nhóm nông dân đă rút êm. Họ đă không gây náo loạn, không bắt ông Huyện đem đi “xử” như đă xảy ra ở vài địa phương khác

        Ngày hôm sau, nghe theo báo cáo của mật thám, viên Công sứ Pháp cho đ̣i ông Huyện Tân Định lên để chất vấn. Viên Công Sứ hỏi ông đă nói những ǵ với đám “nông dân nổi loạn” mà họ đă yên lặng rút lui như thế? Và viên Sứ Pháp qui tội cho ông Huyện Tân Định đă tư thông với đám dân nghèo “phản loạn” kia! Ông Huyện cứng cỏi đối đáp với ông đầu Tỉnh người Pháp và cuối cùng ông đứng lên tiếng trả lời viên Công sứ:

        - Quan Công Sứ không nên căn cứ vào những ǵ đám mật thám báo cáo cho ngài để kết tội tôi. Đám nông dân biểu t́nh chỉ có mục đích đ̣i giảm sưu cao thuế nặng, chỉ đ̣i trừng trị những “cường hào ác bá” mà quư quan không xử lư thích đáng. Tôi đă khuyến dụ họ và họ đă rút lui êm thắm, không gây bạo loạn. Nếu ngài kết tội tôi xúi dục họ làm loạn… th́ tôi xin trả lại ấn tín, lui về quê cày ruộng nuôi vợ con!

        Sau buổi diện kiến với viên Công sứ Pháp, ông Huyện Tân Định liền thu dọn hành trang, dẫn vợ con về quê nhà ở Hưng Lạc.

        Vào thời phong kiến, hành vi “treo ấn từ quan” đă trở thành một nét đẹp trong văn hóa Việt Nam, một bày tỏ thái độ của các vị quan thanh liêm chính trực. Những vị quan không tham quyền cố vị, nếu bất măn việc làm của cấp trên, hoặc cảm thấy bất lực với thời cuộc, liền treo trả cái ấn tại công đường mà về vui thú điền viên. Dưới triều nhà Nguyễn, cụ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến (1835-1909) v́ căm ghét bọn tham quan ô lại, Triều Đ́nh thối nát suy vi, liền cáo quan về làng sinh sống với gia đ́nh, vui cùng “mấy chùm trước dậu hoa năm ngoái / Một tiếng trên không ngỗng nước nào”? Ngoài những câu thơ ưu thời mẫn thế đó, trước khi chết cụ Tam nguyên Yên Đổ c̣n làm thơ để nhắc nhở con cháu khắc trên mộ bia của ḿnh: “Và đề mấy chữ trên bia / Rằng: Quan nhà Nguyễn cáo về đă lâu”.

* * *    

        Cách nhà của ông Huyện Bảy một quăng đường làng, có gia đ́nh ông phú hộ, lúc bấy giờ là Xă trưởng Hưng Lạc. Gia đ́nh ông Xă Ba giàu về điền sản, nhưng không ǵàu về chữ nghĩa, quan tước như gia đ́nh ông Huyện Bảy. V́ có sự khác biệt như thế, nên hai nhà thiếu việc qua lại trong giao tế. Tuy nhiên, từ ngày nghe ông cựu Tri Huyện Tân Định đă treo ấn từ quan v́ “có  mối bất đồng với Công sứ Pháp”, và đă “quy điền” về quê nhà ở Hưng Lạc, ông Xă xin phép đến thăm. Ông muốn kết thân với một vị cựu quan chức Nam triều có tinh thần “bài Tây”. Lúc bấy giờ ông cũng đă nghe đồn có phong trào chống Pháp ở nhiều nơi trong nước.

        Từ đó, ông Xă Ba hay đến thăm ông Huyện Bảy. Hai người thường ngồi cả buổi sáng bên bờ ao trước nhà ông Huyện, vừa uống rượu vừa câu cá và đàm luận thế sự. Mỗi lần đến nhà ông Huyện Bảy, ông Xă không quên mang theo b́nh rượu ngon, dẫn theo cậu con cả tên Hồng để  giúp ông t́m mồi câu cá. Đôi lúc cậu Hồng cần đào trùn (giun đất) trong vườn, nhưng quên đem theo dụng cụ, nên đă xin phép vào nhà ông Huyện mượn cây cuốc hoặc cái xẻng…Một hôm cậu đang loay hoay lo lắng v́ không t́m ra cây cuốc, th́ gặp may có cô gái út ông Huyện đi t́m hộ cho cậu…Đôi trẻ quen nhau trong dịp t́nh cờ. Họ quấn quít nhau trong việc đào trùn cho ông Huyện Bảy đang ngồi trên bờ ao câu cá, uống rượu giải sầu cùng ông Xă Ba, bố cậu.

        Thuở xưa ông Khương Tử Nha (Lă Vọng) đời nhà Thương bên Tàu, chán ghét vua Trụ, nên đă treo ấn từ quan, về ngồi câu cá bên sông Vị để chờ  thời. Về sau Khương Thượng được phong hầu ở đất Tề. Ngày nay, ông Huyện Bảy ngày ngày ngồi trên bờ ao ở Hưng Lạc, cũng để câu cá chờ thời. Ông chờ ngày dân Việt đánh đuổi bọn “Bạch Quỷ Lang Sa”, trả mối hận ông đă chịu nhục trước viên Công sứ Pháp năm xưa. Nhưng chờ măi, chờ măi đến năm năm sau, ông đành ôm mối hận xuống tuyền đài sau một cơn bạo bệnh!

* * *

        Cơn băo “cách mạng mùa Thu” 1945 đă thay đổi thể chế chính trị lẫn t́nh trạng xă hội ở Việt Nam. Lớp thanh niên thiếu nữ bắt đầu tham gia sinh hoạt xă hội bằng cách gia nhập đoàn Thanh niên Cứu quốc. Họ thường tụ họp tại trụ sở xă để sinh hoạt đoàn thể vào buổi chiều tối. Năm ấy, cô Út của ông Huyện Bảy đă thành một thiếu nữ “tuổi vừa mười tám, người trông cũng hiền”, với má hồng môi thắm. Chú Hồng, con ông Xă Ba, vừa học xong cấp I bậc trung học tại trường Quy Nhơn. Khi chiến tranh Pháp Việt xảy ra, chú đành nghỉ học, về quê sinh sống. Ngày ấy hai cô chú cùng sinh hoạt chung trong một tổ Thanh niên Cứu quốc tại địa phương. Vào mỗi buổi chiều, khi lo cơm nước xong cho gia đ́nh, cô Út lắng nghe tiếng sáo vi vu lăng đăng theo gió từ đầu làng bay đến, cô đă xin phép mẹ đi họp “đoàn thể”. Tiếng sáo ấy như phát xuất từ trái tim khao khát yêu thương của chú Hồng, nhân đi sinh hoạt đoàn thể để gặp gỡ cô Út. Trong tim họ, h́nh như thần ái t́nh đă bắn mũi tên định mệnh để nối kết họ sống măi măi bên nhau.

        Khoảng năm 1949, sau đám cưới một năm, chú Hồng theo lời kêu gọi của chính quyền VM, giă từ gia đ́nh để “lên đường du học, góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước”. Tuy nhiên, lúc ấy tại Liên Khu 5 chưa có trường cấp II, nên các học sinh trẻ được tuyển chọn như chú Hồng phải “du học” tại trường Huỳnh Thúc Kháng ở Hà Tĩnh, thuộc Liên Khu 4. Cuộc hành tŕnh bắt đầu vào một ngày mùa Xuân năm 1949 tại Bến Ván, một hải cảng cực bắc tỉnh Quảng Nam. Cha mẹ, các em trai, và cả người vợ trẻ cũng đến đây để tiễn chú Hồng lên đường. Ôi! Cảnh biệt ly sao mà buồn vậy! Người vợ trẻ cô đơn trở về sống với gia đ́nh bên chồng. Ban ngày, những công việc đồng áng nặng nhọc đè lên đôi vai mảnh khảnh của cô. Ban đêm, giấc ngủ ngắn ngủi đầy mộng mị với niềm thương nhớ mong chờ chồng …đă khiến cô Út bị mang bệnh lao phổi!

        Thuở ấy, tại vùng kháng chiến Liên khu 5 của VM thuốc tây thiếu thốn và quá đắt đỏ; nhất là loại thuốc kháng sinh chuyên trị bệnh truyền nhiễm như lao phổi… Người nhà bệnh nhân phải mang vàng đi “trao đổi” những loại thuốc đó từ các tay buôn lậu ở “vùng bị chiếm” của Pháp. Ban đầu cô Út v́ tự ái, không muốn bị nhà chồng chê cười, nên dấu diếm những cơn mệt nhọc, ho hen lúc phát bệnh. Đến khi bệnh trở nên trầm trọng, cô phải trở về nhà mẹ ruột để người nhà đi t́m mua thuốc chữa trị, th́ đă quá muộn…Vàng bạc cạn dần mà bệnh t́nh không thuyên giảm, ngày càng trầm trọng thêm. Cuối cùng cô từ giă cơi trần, trước đôi mắt mắt thương tiếc và bất lực của người thân. Cho đến cuối đời, cô vẫn mong ngóng chồng trở về, gọi tên chồng một lần cuối rồi mới nhắm mắt ra đi... C̣n chú Hồng, vào phút lâm chung của người vợ trẻ đáng thương, chú đă không có mặt bên cạnh nàng. Và từ đó không ai biết tin tức ǵ về người thanh niên đă thoát ly gia đ́nh, ra đi biền biệt ấy nữa… Măi cho đến ngày quân dân Miền Nam trở thành “bên thua cuộc”- một cuộc chiến kinh hoàng và dai dẳng, khiến cho hơn ba triệu người Việt Nam đă hy sinh cho cuộc kháng chiến “đánh cho Mỹ cút” ; và rồi cuộc nội chiến “đánh cho Nguỵ nhào”… mới thấy chú trở về Miền Nam!

* * *

        Vào  một buổi sáng của “tháng Tư Đen” kinh hoàng năm 1975, trong khi những người “bộ đội cụ Hồ” đang “say máu chiến thắng” nổ súng ḥ hét tiến vào thủ đô Sài G̣n của Miền Nam VN; trong khi những chiếc xe tăng T54 điên cuồng húc đổ chiếc cổng dinh Độc Lập, tiến vào dày xéo thảm cỏ vô tội trước dinh Tổng thống VNCH, th́ một người cán bộ của “bên thắng cuộc” lặng lẽ đi t́m tông tích người anh vợ cũ, mà ông ta nghe nói đang ở Sài G̣n… Khoảng một tuần sau, người cán bộ ấy đến gơ cửa nhà ông Khang. Bà Khang ra mở, nh́n khách lạ, hỏi:

        - Thưa ông muốn t́m ai?

        Khách lạ bối rối bỏ chiếc nón cối xuống, trả lời bằng giọng B́nh Định pha lẫn chút giọng Bắc:

        - Dạ, có phải nhà ông Khang đây không ? Tôi là Hồng, em rể của ông Khang… Tôi xin phép vào thăm ông bà chốc lát được không ạ?

        Bà Khang vui mừng khi biết người chồng của cô Út vẫn c̣n sống và vẫn c̣n chút t́nh ghé thăm gia đ́nh người vợ cũ đă mất. Nhưng người cán bộ, với bộ đồng phục “màu xanh cây lá Trường Sơn”, chiếc nón cối xanh, giọng nói pha trộn “miền ngoài”… khiến bà chỉ dám đứng lùi sau cánh cửa hé mở, do dự chưa dám mời vào... Bà đă nghe đồn một ông cựu bộ trưởng VNCH, khi biết có một cán bộ vai mang “xà cột”, đầu đội nón cối, đă một lần đến gơ cửa hỏi thăm ông. Đến lần thứ hai ông lo sợ, lên lầu uống thuốc tự tử!

        Ông Khang đă từng làm việc với ông cựu Bộ trưởng kia, tỏ ra b́nh tĩnh hơn. Ông nhận ra người em rể đă “thoát ly” gia đ́nh đi theo đoàn thanh niên ra Bắc hai mươi lăm năm về trước. Ông cho mời vào, tiếp đăi thân t́nh như người trong gia đ́nh. Chú Hồng đă biết tin tức về ông Khang từng làm việc trong “chính quyền Sài G̣n”, nhưng không biết tin tức ǵ về người vợ thân yêu của chú. Khi nghe người anh rể cho biết cô Út đă mất từ lâu, chú ngồi im lặng, đầu cúi thấp, vai rung rung như cố nén xúc động. Đoạn chú xin thẻ nhang, thắp lên khấn vái trước tấm di ảnh người vợ trẻ tội nghiệp của chú trên bàn thờ. Mắt đỏ hoe, chú đứng lên xin kiếu từ ông bà Khang và hẹn sẽ trở lại thăm gia đ́nh anh vợ. Rồi từ đó, hàng năm cứ đến chiều ba mươi Tết, chú Hồng lại mang mang hoa quả và con gà trống thiến đến cúng giỗ tại nhà ông bà Khang. Và cũng từ đó, hàng năm, cứ đến ngày giỗ cô Út, chú Hồng lại mua nhang đèn, đáp xe đ̣ ra tận làng Hưng Lạc, đến thắp hương trên nấm mồ lạnh lẽo của cô Út. Tin đồn về một người đàn ông lớn tuổi, gầy g̣, hàng năm đến thắp hương trước mồ của một cô gái trẻ, rồi ôm tấm di ảnh mà khóc … đă lan truyền măi tận Sài G̣n. Nó như một chuyện t́nh đẹp đẽ, “lăng mạn tiểu tư sản”, giữa một xă hội đảo điên, ở đó người ta chỉ biết xếp hàng mua “nhu yếu phẩm” hàng ngày, chỉ lo bon chen để sống c̣n trong một xă hội bấp bênh, cận kề với tù đày và chết chóc!

        Vào một dịp về Sài G̣n thăm mẹ già, sau năm năm sống xa quê hương, Tân hỏi thăm tin tức về chú Hồng. Mẹ anh cho biết chú vẫn ốm yếu hom hem, ngày ngày cưỡi chiếc xe Mobilette cũ đi làm ở một công ty dưới bến Chương Dương…Năm năm sau ngày hưu trí, chú không c̣n sức khoẻ để về quê xa xôi, thắp hương trước mộ cô Út, nhỏ những giọt nước mắt tiếc thương người vợ trẻ đă sớm từ trần. Tuy nhiên mối đau buồn và ân hận vẫn âm ỉ bùng cháy trong ḷng chú, nên chú đă viết một tập hồi kư. Trong những trang hồi kư đó, chú ghi lại những sự kiện và cảm nghĩ   từ ngày từ giă gia đ́nh, chia tay người vợ trẻ mới cưới, lên đường ra Bắc; cho đến ngày chú trở về, nghe tin vợ đă mất một năm sau ngày xa chồng. Có lẽ để tránh sự  “ṭ ṃ nguy hiểm” của người vợ mới do “đoàn thể” tác hợp cho chú trong thời gian ở Miền Bắc, chú Hồng đă cẩn thận viết hồi kư bằng tiếng Pháp và mang đến gửi tại nhà ông anh vợ cũ. Đó là tập bút kư gồm nhiều  trang, được viết năm 1992, chi chít những ḍng chữ nhỏ viết tay, nghiêng nghiêng, nắn nót thật đẹp.

        Tân mở những trang Hồi kư có tựa đề “Un Trajet Inoubliable” (Một Cuộc Hành Tŕnh Không Thể Quên Được), trong đó có đoạn diễn tả cảm xúc của người chồng ngồi khóc bên mộ người vợ trẻ thân yêu đă sớm ĺa trần. (Người viết xin được chuyển ngữ bằng tiếng Việt):

        “… Hai mươi sáu năm sau, tôi mới có thể trở về làng cũ, nơi mà tôi đă ĺa bỏ ra đi trong một cuộc hành tŕnh dài đằng đẵng. Khi vào đến làng, tôi gặp nhiều người: đàn ông, đàn bà, trẻ em…nhưng tôi không nhận ra ai cả. Nơi đây đă hoàn toàn thay đổi: tôi chẳng t́m thấy một khuôn mặt quen thân, kể cả bạn bè, cha mẹ lẫn người vợ trẻ của tôi ngày xưa.

        Ngày xưa, hai chàng Lưu Nguyễn, lạc vào cơi thiên thai, khi trở về làng cũ, đă chẳng t́m thấy gia đ́nh hay người quen thân…Tuy thế, họ cũng t́m được niềm an ủi: cư dân trong làng bây giờ có vẻ đông đảo và sung túc hơn xưa! 

        Về phần tôi, tôi biết chắc đây là làng quê của ḿnh, nơi mà ngày xưa tôi đă từ giă ra đi. Nơi này, tôi vẫn nhận ra dăy núi Yên Ngựa sừng sững, đầm Nước Ngọt trải dài lấp lánh dưới ánh mặt trời…Tất cả vẫn như xưa. Tuy nhiên, cũng nơi này, đă từng xảy ra bao thảm cảnh chiến tranh: biết bao đồng lúa, biết bao hoa màu…đă bị tàn phá. Những mất mát vật chất ấy, dẫu có nặng nề, sớm muộn ǵ cũng có thể gầy dựng lại được. Nhưng sự mất mát t́nh cảm của tôi, liệu có thể đền bù được chăng? Người vợ trẻ đă bao năm tháng, từng ṃn mỏi trông ngóng ngày về của tôi. Nhưng ngày về quá lâu, khiến nàng đă ra đi bên kia thế giới, lúc đang độ tuổi thanh xuân ! Về sau, tôi nghe kể rằng: nàng đă gọi tên tôi vào giây phút cuối cùng, trước khi nhắm mắt…Tôi yêu nàng vô cùng.Tôi tiếc thương cho số phận hẩm hiu, cho cuộc đời ngắn ngủi và bi thảm của nàng.

        Từ năm 1975 đến nay, mỗi lần về thăm quê cũ, tôi đều đến viếng mộ nàng. Tôi đă khóc trước mộ người vợ trẻ của tôi. Với những giọt lệ nóng hổi đầy thương tiếc nhỏ xuống mộ nàng, tôi muốn nàng tha thứ cho tôi. Tôi cầu mong những giọt lệ ăn năn thống hối ấy sẽ xuyên qua ḷng đất, thấm vào trái tim sầu khổ của nàng.  Ngày xưa, những giọt lệ của nàng Mỵ Nương đă nhỏ xuống làm tan chén ngọc – trái tim si t́nh của gă thuyền chài khốn khổ Trương Chi. Và ngày nay, tôi cũng ước mong những giọt nước mắt tiếc thương của tôi sẽ xóa tan những nhớ nhung u hoài trong quả tim người vợ trẻ đă sớm ĺa đời…

        Cuộc hành tŕnh của tôi đă kết thúc từ lâu. Cuộc chiến cũng đă tàn từ lâu rồi. Nhưng mối ám ảnh của cuộc hành tŕnh ấy vẫn c̣n nặng trĩu trong ḷng tôi, bây giờ và có thể măi măi đến cuối cuộc đời…

* * *

        Vào cuối mùa đông năm ngoái, Tân về Sài G̣n nhân ngày giỗ ba của anh. Hôm ấy, gia đ́nh có mời chú Hồng đến tham dự. Đă ngoài chín mươi nên chú thật ốm yếu hom hem. Chú đi không vững như những năm trước, nhưng đôi mắt vẫn c̣n tinh anh…Hôm ấy, mẹ Tân kể cho chú nghe những ngày tháng cuối cùng trước khi cô Út mất. Người vợ trẻ của chú bị bệnh lao đến thời kỳ trầm trọng, khi tỉnh khi mê. Mẹ Tân ngồi bên cạnh trông chừng, kể những chuyện t́nh của Romeo-Juliet bên Ư; chuyện t́nh của Christan-Isold bên Anh…Đến khi cô Út sắp chết, vẫn nắm tay bà chị dâu, hỏi bao giờ chồng của cô trở về?

        Chú Hồng yên lặng ngồi nghe, nước mắt chảy dài trên đôi má hóp. Khi chú đứng lên, mắt đỏ hoe, chậm chạp bước đến trước mẹ Tân, cúi đầu nói nhỏ:

        - Thưa chị Khang, em rất cám ơn chị đă săn sóc vợ em trong những giây phút cuối cùng. Giá mà ngày xưa em nghe lời anh Khang, ở nhà để săn sóc vợ th́ cô ấy đâu phải mất sớm trong hoàn cảnh đau ḷng như chị vừa kể. Em xin tạ ơn chị…

        Chú Hồng bước đến sát bên mẹ của Tân, đưa tay ra như muốn bắt tay bà cụ đang ngồi trên chiếc ghế giữa pḥng khách. Khi bà ch́a tay ra, chú Hồng nhẹ nhàng nắm lấy bằng hai tay cung kính. Và rồi, trước đôi mắt ngạc nhiên của Tân và mọi người, chú Hồng kính cẩn đặt một nụ hôn trên bàn tay gầy guộc của bà chị vợ mà chú vẫn hằng kính mến. Đoạn chú chậm chạp bước ra cửa, dáng đi thất thểu, cô đơn…Người em của Tân vội d́u chú ra chiếc taxi đang đậu trước cổng để chú về nhà được an toàn…

        Tân nh́n theo chú Hồng tự nhủ: người cán bộ kháng chiến năm xưa, với hơn hai mươi lăm năm sống trong chiến tranh bom đạn Miền Bắc mà ḷng vẫn c̣n “phong cách tiểu tư sản” như thế sao? Chú Hồng đă từng đi du học bên Liên Sô, Trung Quốc, đă từng “ôm hôn thắm thiết” các “đồng chí nước ngoài”… Thế mà hôm nay, đứng trước mặt một bà cụ đă từng hấp thụ văn hóa tây phương - trong những năm học ở Collège Đồng Khánh Huế - người cán bộ kháng chiến ấy bỗng như sống lại trong môi trường văn hóa Pháp thuở theo học tại Collège Quy Nhơn! Có lẽ trong giây phút xúc cảm, chú Hồng đột nhiên nhớ lại những chiếc hôn tay từng xuất hiện trong các tiểu thuyết lăng mạn tây phương – mà nay vẫn c̣n nằm trong tim chàng thanh niên của những năm 30’ thế kỷ trước. Hôm nay, nụ hôn tay của chú cũng nhẹ nhàng và lịch thiệp, thể hiện sự tôn kính và biết ơn đối với người chị vợ mà chú vẫn hằng kính trọng. Chiếc hôn tay “nặng mùi tiểu tư sản” ấy thật cảm động, thật chân t́nh. Nó vương vấn măi trong tim anh, theo anh trở về đất Mỹ.

* * *

       Tân mở cửa sổ pḥng ngủ, hít một hơi dài hương đêm. Gió từ biển Thái B́nh thổi vào mát rượi. Trời đêm nay thật đẹp, nhưng buồn quá. Một v́ sao đổi ngôi, rơi nhanh xuống chân trời tím sẫm. Cuộc đời chú Hồng rồi cũng như v́ sao sáng chói kia, hăng say một thời cho lư tuởng để rồi cũng tàn tạ và rơi rụng như thế thôi! Đến lúc ấy, chú không c̣n phải đau buồn v́ người vợ trẻ đă sớm ra đi cô đơn sang thế giới bên kia. Và đến lúc đó chắc hẳn sẽ không c̣n ai đến nhỏ những giọt lệ trên nấm mồ cô Út, như chú Hồng đă làm trong hơn ba mươi năm qua. Tân tự hỏi, phải chăng đó là những giọt lệ tiếc thương người vợ trẻ bạc mệnh, chết cô đơn không chồng không con bên cạnh?  Hay đó chỉ là những nước mắt đắng cay, nuối tiếc cho thân phận ḿnh, thân phận của một người đă từng mang “lư tuởng cao cả”, vượt bao nguy hiểm chốn biển Đông, t́m đến cống hiến cho Cách Mạng? Nhưng nay th́ cái “lư tưởng cao quư” ấy có c̣n hiện diện trong quả tim u sầu và cay đắng của chú nữa hay chăng?

        Hồi ức
     Tam Bách

 

Copyright @ 2005 quocgiahanhchanh.com
Webmaster@tranbachthu