Ai cũng thường nhớ chuyện cũ mà nhớ nhiều nhất, bên cạnh gia đ́nh thân
thuộc, là quư thầy, cô đă dạy dỗ ḿnh. Từ lúc cắp cặp theo ba hay mẹ đến
trường cho tới khi ra đời, rất nhiều người đă là thầy, cô của ḿnh. Bao
nhiêu kỷ niệm và nhất là những ǵ thầy cô đă giảng dạy là những kư ức
không thể nào quên.
Như những trường học khác, quư Giáo sư ở Học Viện Quốc
Gia Hành Chánh Việt Nam Cộng Ḥa đă truyền đạt nhiều hiểu biết và kinh
nghiệm quư giá. Riêng đối với nghề nghiệp hành chánh, th́ môn Hành
Chánh Học đă để lại nhiều ư niệm, khởi hướng, dẫn dắt cũng như một
“mớ” lư thuyết căn bản cần thiết điều hướng cho công việc… mà nay, dù đă
không hành nghề trên 30 năm, vẫn làm cho quư đồng môn, quư đồng nghiệp, …
gật gù suy gẫm khi nghĩ đến mọi sự diễn tiến quanh ḿnh.
Hành chánh… làm hành chánh… trước đó chỉ được h́nh dung
qua công việc giấy tờ của các thầy cô thư kư quần áo chỉnh tề trong văn
pḥng Quận, Phường, Xă,… khi có dịp đến nơi đó để xin giấy tờ cần thiết
như hộ tịch, căn cước, lược giải cá nhân, tờ khai gia đ́nh, chứng chỉ chỗ
ở, hạnh kiểm, giấy sống chung,… Nhưng từ khi nghe giảng môn Hành Chánh Học
th́ mới thấy hành chánh không chỉ là đơn thuần cứu xét, cấp phát giấy
tờ tùy thân mà là cả một hệ thống công việc của quốc gia.Hệ
thống công việc đó hoạt dộng theo luật lệ, quy tắc,… mà nếu không dược
hành xử đúng đắn hoặc bị lạm dụng sẽ khiến “hà chánh mănh ư hổ”
(1) – Dân thà ở nơi nguy hiểm, có thể bị cọp vật chết, hơn là
sống dưới ách quan quyền hà khắc -. Đây là t́nh cảnh và lư do để giải
thích sự liều mạng của dân Việt Nam đă làm một cuộc vượt biên, vượt biển
vĩ đại khi cộng sản thống trị toàn cơi đất nước từ 30/ 4/ 1975.
Bên cạnh đó, công việc hành chánh được thể hiện qua
h́nh ảnh của một ṭa nhà với ông lính gác uy nghi trước cửa. Dân mà thấy
lính là nghĩ tới luật pháp, c̣ bót rắc rối. Cho nên Ṭa Tỉnh từ xưa là nơi
làm việc của quan bố chánh (trông coi việc hành chánh, nội trị) nhưng
người dân chỉ muốn hiểu chữ “bố” theo tiếng lóng có nghĩa là bị rầy rà,
hạch sách, đóng góp,… nên gọi Ṭa Tỉnh là “ṭa bố”. Khi phải đến
ṭa bố, dinh quận, nhà việc, nhà làng… thái độ của người dân là thấy ngán,
thấy lo sợ như học tṛ sợ cái trống ở trường học (vô học, ra chơi, tan học
đều do cái trống “ra lệnh” cũng như được căn dặn không được bén mảng tới
cái trống chứ nói chi tới chuyện lấy tay “rờ” hay “gơ” nhẹ vô nó).
Để dân không sợ ṭa bố, để dân gần chính quyền qua việc
tiếp xúc cửa công, xin giấy, xin tờ… th́ công việc hành chánh phải liên
tục, công bằng và hợp pháp. Đây là ba tính chất căn bản cho hoạt động
chánh thức của hành chánh, mà tính chất liên tục là một đặc trưng.
Theo đó, dù chánh phủ có thay đổi, đảo chánh quân sự có
xảy ra, nhưng công việc điều hành và quản trị quốc gia vẫn phải hoạt động
và hoạt động hiệu quả nghĩa là công việc hành chánh phải liên tục, phải mở
cửa hoạt động đều đặn. Một thí dụ điển h́nh là thời gian sau 11/ 1963,
nhiều cuộc “chỉnh lư”, cải tổ, thay đổi chánh phủ diễn ra liên tiếp tại
VNCH nhưng guồng máy điều hành và quản trị quốc gia vẫn hoạt động liên tục
với sự hiện diện của đủ mọi tầng lớp quân, cán, chính, viên chức,… tại các
văn pḥng, trụ sở, đồn bót,… qua việc họ được cấp phát lương bổng đầy đủ,
mọi giao dịch với chính quyền đều được thanh toán đúng đắn, cho đến công
việc cấp phát mọi thứ giấy tờ cần thiết cho dân chúng đều b́nh thường,
công sở đều mở cửa cung ứng dịch vụ, công tác trong mọi lănh vực y tế,
giáo dục, giao thông, kiến thiết,… Tất cả những hoạt động đó đă tạo một
h́nh ảnh “sống” của một chính quyền và đă là một nhân tố thiết yếu cho một
pḥng tuyến vững mạnh chống cộng sản xâm lược thời đó.
Một tiền bối đă nói: “Các chánh trị gia lỗi lạc, những
tướng quân sự tài ba đều ra đi, chỉ c̣n lại nhà hành chánh…” (Alexander
Pope?). Tính cách liên tục c̣n mang ư nghĩa là công việc hành chánh
phải được thi hành đồng nhất, không được “tùy tiện” nay vầy mai khác
và điều này liên quan đến tính cách công bằng và hợp pháp của hành
chánh.
Xin thử quan sát một khía cạnh hoạt động của hai nền
hành chánh tư bản (tự do, dân chủ) và cộng sản để thấy các tính chất trên
được tôn trọng và áp dụng như thế nào mà tiếng nói đầu môi “hành (2)
là chánh” đă được người dân ví von khi phải đến cửa công xin giấy tờ ở nhà
nước cộng sản VN.
Tại các quốc gia tư bản, khi người dân nộp đơn xin cấp
giấy tờ th́ được cấp phát ngay nếu đủ điều kiện và giấy tờ chứng minh (vấn
đề hợp pháp của các giấy tờ chứng minh sẽ được hậu kiểm - một thái độ
thành tín lẫn nhau giữa dân và chánh quyền). Điểm này cho thấy chánh phủ
phục vụ dân chúng, phát xuất từ quan niệm “có dân rồi mới có quan” nghĩa
là từ dân mà có do nhu cầu trật tự xă hội và cung cách hành xử “dân cần,
quan trễ” không được chấp nhận.
Trong các nước cộng sản, khi người dân nộp đơn xin giấy
tờ, dù đă hội đủ điều kiện và giấy tờ chứng minh nhưng không được “giải
quyết” liền mà phải chờ nghiên cứu (từ ngữ nầy bị người dân đọc lệch là
“ngâm cứu” để diễn tả sự nhiêu khê, nhất là khi chưa thông qua thủ tục đầu
tiên, bị nói lái là “tiền đâu”). Sự nghiên cứu để được giải quyết cấp phát
sẽ không xẩy ra nếu không có sự can thiệp của uy lực ở cấp cao hơn, của sự
quen biết, của sự trao đổi, mua chuộc hoặc ít nhất như là sự gia ân, ban
phát tùy hứng của nhà cầm quyền. Tất cả các thứ đó mà người cộng sản gọi
là “tiêu cực” đă “giúp” nền hành chánh chạy đều và tạo thành “hệ thống
bán chánh thức” trong hoạt động hành chánh. Hệ thống bán chính thức này bất thành văn nhưng
có khi lại hiệu quả hơn”hệ thống chánh thức” được qui chiếu bởi luật lệ,
qui tắc thành văn. Trong một quyển sách có ghi lại cuộc sống ở Liên
Bang Sô Viết cũ có kể chuyện công an kiểm soát giấy tùy thân của người
dân. Khi thấy một người tŕnh đủ mọi thứ giấy tờ th́ công an lại nghi ngờ
người dân nầy thuộc loại người “có vấn đề”…(cần theo dơi) v́ hầu như người
dân b́nh thường nào ở các nước cộng sản cũng phải thiếu một vài thứ giấy
tờ nào đó v́ xin “khó lắm”!
Công bằng mà nói, tại những quốc gia tư bản cũng có hệ
thống bán chánh thức nhưng không đến độ quá trầm trọng, lộ liễu, phổ biến,
có “hệ thống” như tại tại các nước cộng sản. Vấn đề là đừng để hệ thống
bán chánh thức “thay thế” hệ thống chánh thức trong công việc hành chánh.
Và một tinh thần thượng tôn luật pháp sẽ giới hạn tối đa ảnh hưởng của hệ
thống bán chánh thức. Điều cần ghi
nhận là khi đă quen lề lối làm việc với hệ thống bán chánh thức, th́ cả
dân lẫn nhà nước đều hư hỏng hết! Đây là một vấn
đề hết sức lớn lao và nan giải khi muốn thay đổi “năo trạng” về cung cách
sống và làm việc của mỗi người để nước Việt Nam tiến bước theo trào lưu
thế giới văn minh.
Nhân đây bài viết xin ghi lại hai cách thức trả
lương cho quân nhân, công chức của Việt Nam Cộng Ḥa và công nhân,
viên chức, cán bộ… của cộng sản Việt Nam trước đây, có thể xem như một thí
dụ để phác họa ra một khái niệm về hành chánh.
Việt Nam Cộng Ḥa có thể chế chính trị kinh tế tự do
dân chủ nên việc đài thọ lương bổng quân nhân, công chức được thanh
toán bằng tiền. Cộng sản Việt Nam trả thù lao cho công nhân, viên
chức, cán bộ bằng 80% hiện vật, trong đó có lương thực là gạo. Sự
trả lương bằng gạo đă khiến cộng sản Việt Nam phải thành lập một hệ thống
phân phối từ việc kiểm tra và phân loại dân số, đến việc cấp sổ lương
thực, điều phối, kiểm soát cung cầu. Hệ thống phân phối đó là một bộ máy
hành chánh khổng lồ theo “cơ chế nhà nước cộng sản”.
Qua hai h́nh ảnh này, một tồ chức hành chánh phát lương
bằng tiền, một tổ chức hành chánh phát lương bằng gạo (3) người
ta thấy cũng là công việc hành chánh phục vụ cùng một mục đích, nhưng cơ
cấu tổ chức và hoạt động khác nhau tùy theo đường lối, chính sách của mỗi
thể chế chính trị. Theo đó có thể tạm phác họa “bức tranh” hành chánh như
sau: Hành chánh là hệ thống công việc nhằm thực hành
đường lối, chính sách của một thể chế chánh trị, để quản trị và điều hành
đất nước.
Đây chỉ là một khái niệm sơ đẳng, suy nghiệm được từ thực tế đời sống và
công việc qua hai thể chế chánh trị khác nhau cộng với sự hướng dẫn của
quư thầy, cô ở Học Viện Quốc Gia Hành Chánh mà người viết đă thụ giáo
được.
Tại hầu hết nền hành chánh, để giải quyết một trường
hợp, một vấn đề cũng như để thực hiện kế hoạch, chính sách, người thừa
hành sẽ tham chiếu, căn cứ vào luật lệ, qui tắc… sẵn có để đưa ra quyết
định thi hành. Đó là quyết định hành chánh, một thứ động
tác, ứng dụng luật lệ vào công việc thực tế. Về diểm này, xin được nêu lên
sự liên quan giữa luật lệ, qui tắc và quyết định hành chánh. Luật lệ do lập pháp biểu quyết thường tổng
quát nên hành pháp phải nghiên cứu, ban hành văn kiện lập qui để có chi
tiết thi hành. Trong văn kiện lập qui sẽ có nguyên tắc, phương cách, thủ
tục để áp dụng, thi hành những điều khoản của luật lệ. Đó chính là những
quyết định hành chánh. Đến khi thực tế bắt tay vào việc, lại nhận
thấy có thiếu sót, sơ hở, mâu thuẫn, trùng dụng, không thực tế nên phải có
thêm những quyết định hành chánh để điều chỉnh, sửa đổi, bổ khuyết và nếu
cần hành pháp sẽ tŕnh một dự thảo luậtđể lập pháp biểu
quyết thành một luật mới đầy đủ hơn.
Đối với những vấn đề lớn như kế hoạch quốc gia, chính
sách kinh tế, quốc pḥng, giáo dục. phát triển,… th́ cũng do lập pháp biểu
quyết thành luật nhưng hầu như tất cả kế hoạch, chính sách ấy đều xuất
phát từ hành pháp, nhất là tại những quốc gia đang phát triển,
tức là khởi đầu từ những quyết định hành chánh trong nhu cầu quản trị và
điều hành quốc gia.
Có thể nói quyết định hành chánh nào cũng có ảnh hưởng
đến dân chúng và cả chánh quyền, nhất là những quyết định mới mẻ. Do đó,
quyết định hành chánh phải được cân nhắc thế nào để người dân chấp nhận
được và chánh quyền làm việc được, có nghĩa là quyết định ấy hợp t́nh, hợp
lẽ. Ngược lại, cũng có những quyết định hành chánh khi được áp dụng lại
làm dân chúng kêu ca ta thán, bất hợp tác v́ quá sức chịu đựng của dân và
từ đó cũng làm mất uy tín chánh quyền, thiệt hại cho quốc gia. Những quyết
định hành chánh đó tiềm ẩn tính cách “phản nhiệm hành” nghĩa là
tưởng rằng có lợi khi áp dụng nhưng thực tế lại gây hại cho dân chúng lẫn
chính quyền.
Xin nêu ra đây vài thí dụ về tính cách phản nhiệm hành:
Chánh phủ
cần thu thêm cho ngân sách nên tăng thuế hay đặt thêm thuế mới trên sản
phẩm, mặc dù sản phẩm ấy đă chịu một số thuế trước rồi. Dân thấy sản
phẩm có giá quá cao do chịu thêm thuế mới nên ít tiêu thụ đi khiến cho
tài vật chịu thuế (sản phẩm) ít được mua bán, giao dịch nên tổng số thu
v́ thế sẽ ít hơn trước.
Tại những
quốc gia tự do dân chủ nhưng có khuynh hướng xă hội (dân chủ xă hội),
chánh quyền thướng “o bế” giới công nhân nên có những luật lệ qui định
yêu cầu các chủ công ty phải chi phí nhiều vào việc bảo vệ công nhân từ
lương bổng, sức khỏe, an toàn lao động cho đến đời sống, hưu trí nghĩa
là dành nhiều quyền lợi cho công nhân, gây ảnh hưởng đến sự sản xuất và
mức lợi tức sinh tồn của công ty. Nhiều công ty cảm thấy “khó ở” quá nên
có thể “dẹp tiệm” hay di chuyển qua những vùng khác, những nước khác mà
qui chế giữa chủ và thợ “dễ chịu” hơn. Khi t́nh trạng này xảy ra sẽ
khiến công nhân bị thất nghiệp và xáo trộn xă hội sẽ không tránh khỏi.
Một tranh hí
họa vẽ người khách than phiền chủ tiệm bán bảng hiệu là sau khi mua và
gắn tấm bảng “coi chừng có con chó” th́ con chó của người khách bị ăn
cắp mất. Khách cho rằng v́ có tấm bảng nên con chó mới bị mất. Bức hí
họa có thể hiểu được là con chó của khách hành là loại chó kiểng th́ bày
đặt mua bảng gắn lên làm chi để kẻ gian biết mà cuỗm mất chó cưng. Thà
đừng mua bảng hiệu c̣n hơn.
Tính cách phản nhiệm hành trong quyết định hành chánh cho thấy sự
thiếu tiên liệu trong công việc.
Ngoài khả năng, kinh nghiệm, nền hành chánh c̣n phải biết tiên liệu mọi
hậu quả tốt, xấu có thể xảy ra trước khi đưa ra một quyết định nào đó. Một
quyết định đúng đắn là quyết định hợp với ước vọng, trách nhiệm và khả
năng của người dân trong bổn phận công dân đồng thời cũng phù hợp với lợi
ích quốc gia. Người dân sẽ vui sướng biết bao khi có một chính phủ
lương thiện (4) biết tôn trọng và để ư đến họ.
Phạm trọng Yêm, một quan tiến sĩ đời Tống bên Trung Hoa
đă viết trong một bài phú:
“…
Tiên thiên hạ chi ưu, nhi ưu
Hậu thiên hạ chi lạc, nhi lạc…”
Xin tạm dịch: “Phải biết lo trước cái lo của dân và vui sau cái vui của
dân…”.
Ngay từ xưa đă có giáo khoa về hành chánh dù lúc ấy
chưa thành lập trường đào tạo quan quyền như bây giờ. Nói cách khác là
kinh nghiệm hành chánh của người xưa được tập trung thành bài học cho nền
hành chánh ngày nay, một nền hành chánh làm đúng được nhiệm vụ của chính
quyền là phục vụ dân, xem dân là đối tượng, là cứu cánh cũng như biết đặt
lợi ích tổ quốc lên trên hết.
Khốn khổ thay cho các quốc gia bị một phe nhóm thiểu số
cầm quyền, coi dân tộc và đất nước là phương tiện để bảo vệ quyền lợi của
phe nhóm ấy. Họ cầm quyền như hôn quân, bạo chúa thời phong kiến xưa cũ,
những thứ mà phe nhóm ấy đă từng lên án, đánh đổ như một chiêu bài cách
mạng. Tại các quốc gia ấy cũng có luật lệ, qui tắc thành văn làm căn bản
cho công việc hành chánh để quản trị và điều hành đất nước. Nhưng vấn đề
là công việc hành chánh ấy được đặt để cho mục tiêu thật sự nào và vấn đề
con người thừa hành công việc đó.
Bài viết này chỉ là sự suy nghĩ của một công chức
đă hưu trí non và chắc chắn không tránh khỏi sự chủ quan, phiến diện. Mong
rằng sẽ có nhiều bài bổ khuyết đóng góp thêm và đó cũng là dịp để bàn về
đời hành chánh tuy ngắn ngủi nhưng có nhiều kư ức, kinh nghiệm và bài học
khó quên.
Kính mời quư độc giả, quư thầy, cô, quư huynh, quư tẩu,
quư đồng môn tham gia. Biết đâu những bài viết đó lại được xem như là tài
liệu cho ai khác cần đến, cũng như có thể hiểu theo nghĩa nào đó trong
ngôn ngữ bây giờ là “diễn biến ḥa b́nh”.
Bùi Đắc Danh
Ghi Chú:
(1)Cổ học tinh hoa. Tác giả Nguyễn văn
Ngọc. Đại nam Co. Tái bản ở Hoa Kỳ
(2)“hành” có nghĩa là hành hạ, làm khó
dễ đủ diều.
(3)Phát lương bằng gạo cũng được hiểu và
được dùng như một biện páhp hành chánh để kiểm soat dân chúng tại các nước
cộng sản.
(4)Một từ ngữ chúc Tết của đài BBC gởi
đến bà con Việt Nam trong nước nhân một Tết Nguyên đán cách đây không lâu.