|
TỔ CHỨC HÀNH CHÁNH ĐỊA PHƯƠNG
CỦA HOA KỲ
Lời mở đầu.- V́ Hoa kỳ là một quốc
gia được tổ chức theo h́nh thức chánh phủ
liên bang nên tổ chức hành chánh địa phương
của Hoa kỳ rất đa dạng và phức tạp. Do đó
việc t́m hiểu cách tổ chức của guồng máy
công quyền Hoa kỳ là một việc làm tương đối
khó khăn. Mặt khác các ư niệm về cơ cấu công
quyền Mỹ cũng rất khác biệt và xa lạ so với
cách tổ chức của nền hành chánh Việt Nam nên
các từ về hành chánh công quyền trong Việt
ngữ không có đủ các từ tương đương để diễn
đạt một cách chánh xác các ư niệm khác lạ về
tổ chức hành chánh địa phương của Hoa kỳ.
Trong các tài liệu Việt ngữ liên quan đến tổ
chức hành chánh địa phương của Hoa kỳ được
phổ biến từ trước đến nay các từ về tổ chức
hành chánh thường hay được dịch không chánh
xác và dùng một cách lẫn lộn giữa các ư niệm
của cơ cấu Mỹ và cơ cấu Việt Nam. Chẳng hạn
như các danh từ “county” trong tiếng Mỹ
thường được nhiều người dịch ra Việt ngữ là
“quận”, “township” dịch ra là “xă”.v.v.. là
không chánh xác v́ hai ư nghĩa giữa tiếng Mỹ
và Việt không tương đương nhau. Quận của
Việt Nam chỉ là một phân cấp hành chánh
trung gian giữa tỉnh và xă, trong khi county
của Mỹ có thể coi tương đương với cấp tỉnh
của Việt Nam. Tương tự, xă trong cơ cấu hành
chánh Việt Nam là một đơn vị hành chánh căn
bản thấp nhứt có tư cách pháp nhân và ngân
sách riêng có nhiều quyền tự trị trong khi
township tại Hoa Kỳ chỉ là một đơn vị hành
chánh chuyển tiếp giữa thành phố và hạt,
không có nhiều quyền hạn cũng như không phổ
quát đều khắp tại tất cả các tiểu bang. Về
quan niệm tổ chức chánh quyền, các chánh
quyền địa phương tại Mỹ có tánh độc lập cao
và được tổ chức rất đa dạng. do các nguyên
nhân lịch sử lẫn các quan niệm về vai tṛ
nhà nước của người dân Mỹ. Trong khi đó các
phân cấp hành chánh của Việt Nam dù có tư
cách pháp nhân hay không vẫn bị chi phối bởi
phân cấp hành chánh cao hơn và luôn luôn lệ
thuộc vào chánh quyền trung ương.
Do đó để cho việc t́m hiểu tổ chức hành
chánh đia phương của Hoa kỳ không bị lẫn lộn
với các ư niệm về cơ cấu tổ chức của nền
hành chánh Việt Nam chúng tôi sẽ cố gắng
dùng những từ tuy thông dụng nhưng được dùng
một cách riêng biệt để chỉ các ư niệm độc
đáo trong cơ cấu tổ chức hành chánh của Hoa
kỳ.
Trong khuôn khổ bài t́m hiểu này chúng tôi
mạo muội đề nghị được dùng các từ như sau để
dịch các ư niệm về tổ chức hành chánh địa
phương của Hoa kỳ:
County = hạt
County Council = Hội đồng quản
hạt
Municipality = khu đô thị
City = thành phố
Township = thị xă
Town = thị trấn
Town meeting = cuộc họp thị trấn
Village = làng
Self-governing area = khu tự
quản
Incorporated = đinh chế hóa
Unincorporated = chưa định chế
hóa
American Indian reservation =
khu dành riêng cho người bộ tộc Mỹ
School district = đặc khu học
chánh
Đa số các từ Anh-Việt liệt kê trên đă quen
thuộc v́ đại cương không khác biệt nhiều
giữa hai ư niệm hành chánh Mỹ và Việt. Riêng
từ “county” người viết xin được dài ḍng một
đôi điều về việc dịch từ “county” là “hạt”
thay v́ “quận” như được nhiều người dùng từ
trước đến nay là không chánh xác v́:
a/ Quận trong tổ chức hành chánh của Việt
Nam là một phân cấp hành chánh trung gian
giữa tỉnh và xă, không có tư cách pháp nhân,
không có ngân sách riêng và không có nhiều
quyền hạn trong khi đó cấp county của Mỹ có
rất nhiều quyền hạn trong mọi lảnh vực như
sẽ được tŕnh bày dưới đây.
b/ Trong ư niệm Việt Nam, quận là phân cấp
hành chánh thấp hơn và trực thuộc cấp tỉnh
hoặc thành phố, trong khi đó county của Mỹ
là một phân cấp hành chánh ngay dưới cấp
tiểu bang và cao hơn cấp thành phố (city) và
có thể coi ngang hàng cấp tỉnh của Việt Nam.
Nh́n lại trong quá tŕnh tổ chức hành chánh
Việt Nam giai đoạn từ năm 1876 đến 1899 thời
Pháp thuộc tại Nam Kỳ từ “hạt” cũng đă được
dùng để chỉ phân cấp hành chánh cấp tỉnh.
Như vậy về phương diện lịch sử cũng như về
phương diện ư niệm tổ chức, từ “hạt” nên
được dùng để chuyển đạt ư nghĩa của từ
“county” trong tổ chức hành chánh Mỹ v́
thích hợp hơn và đáng được phổ dụng.
NMT
Hoa kỳ là
một quốc gia theo h́nh thức chánh phủ liên
bang nên đơn vị hành chánh chủ yếu sau liên
bang là tiểu bang. Theo luật pháp của Hoa Kỳ,
các tiểu bang được xem là các thực thể có
chủ quyền, có nghĩa là quyền lực của các
tiểu bang đến trực tiếp từ người dân trong
các tiểu bang đó chớ không phải từ chánh phủ
liên bang. Do đó, các chánh phủ tiểu bang
đóng một vai tṛ quan trọng trong phần lớn
các chánh sách căn bản liên quan trực tiếp
đến cuộc sống của dân chúng. Do đó tổ chức
hành chánh địa phương của Hoa kỳ được qui
đinh bởi luật pháp của từng tiểu bang và do
sự khác biệt trong luật pháp của các tiểu
bang nên tổ chức hành chánh địa phương của
Hoa kỳ rất phức tạp và đa dạng.
Một cách
tổng quát, đa số các tiểu bang phân chia
việc thực thi chủ quyền thông thường qua ba
phân cấp hành chánh. Phân cấp thứ nhứt luôn
luôn là chánh quyền cấp toàn tiểu bang gồm
có các cơ quan hoạt động dưới sự điều hành
trực tiếp của chánh quyền tiểu bang như các
Văn pḥng thống kê hộ tịch (Bureau of Vital
Statistics), các sở đặc trách xe có động cơ
(Department of Motor Vehicles) hay các Ty Y
tế Công cộng. Phân cấp thứ hai là chánh
quyền hạt (County), đây là đơn vị hành chánh
phổ quát tại hầu hết các tiểu bang. Phân cấp
thứ ba thường là các chánh quyền đô thị
(Municipality), hay thị xă (Township) tên
gọi tùy theo tiểu bang. Các khu định cư nhỏ,
ít dân nằm xa cách các khu đô thị và các thị
xă thường được tổ chức thành các chánh quyền
thị trấn (Town) hay làng (Village).
Ngoài ba
chánh quyền đặc trách các mục đích tổng thể
(general-purpose district) ở cấp bậc tiểu
bang như vừa kể, tổ chức hành chánh địa
phương của Hoa Kỳ c̣n có hai thực thể hành
chánh đặc trách các mục đích đặc biệt
(special-purpose district) hay gọi tắt là
Đặc khu, đó là các Đặc khu học chánh, và các
Đặc khu chức năng chuyên biệt như đặc khu
cứu hỏa, đặc khu cung cấp nước…
Như vậy các
phân cấp hành chánh địa phương của Hoa kỳ
gồm có 5 cấp và theo số liệu thống kê năm
2002 của Văn pḥng Thống kê th́ chánh phủ
Hoa kỳ có trên 87 ngàn đơn vị hành chánh địa
phương được phân chia như sau:
|
1. Hạt
(county) |
3034 |
|
2. Khu đô
thị và Thành phố (municipality
and city) |
19429 |
|
3. Thị xă và
Thị trấn (township and town)
|
16504 |
|
4. Đặc khu
học chánh (school district)
|
13506 |
|
5. Các Đặc
khu chuyên biệt khác (Other special
district) |
35052 |
A.- HẠT
(County)
Phân cấp
hành chánh ngay dưới cấp tiểu bang của Hoa
Kỳ là cấp chánh quyền hạt. Thông thường diện
tích của hạt nhỏ hơn tiểu bang và lớn hơn
một
thành phố hoặc thị xă. Hạt trong
tiếng Anh là "county" được dùng tại tất
cả các tiểu bang, trừ hai tiểu bang
Alaska gọi là "borough" và
Louisiana gọi là "parish". Theo bảng
thống kê ở trên th́ Hoa Kỳ có tất cả 3.034
hạt. Tiểu bang có ít hạt nhứt là Delaware
chỉ có 3 hạt và tiểu bang có nhiều hạt nhứt
là
Texas với 254 hạt.
Các hạt có
thể có nhiều cấp độ chánh trị và pháp lư
khác nhau nhưng chúng luôn luôn là đơn vị
hành chánh căn bản của tiểu bang. Thông
thường các hạt có thể bao gồm một số thành
phố, thị xă, hay làng hoặc đôi khi một phần
đất của một thành phố. Trong hầu hết các hạt
ở Hoa Kỳ, một thành phố hoặc thị trấn được
chỉ định làm trụ sở của hạt (county seat), ở
đây tọa lạc các văn pḥng chánh quyền hạt,
cũng là nơi hội họp của Hội đồng Quản hạt
(County Council) hoặc Ủy ban giám sát (Board
of Supervisors).
Quyền hạn và
cơ cấu của chánh quyền hạt rất khác nhau từ
tiểu bang này sang tiểu bang khác đi từ cơ
cấu tổ chức đơn giản như ở vùng New England
đến cơ cấu tổ chức phức tạp như ở vùng Trung
tây, vùng Viễn tây hay vùng miền Nam Hoa kỳ.
Thông thường quyền hạn của Hội đồng Quản hạt
bao gồm cả ba lănh vực như về lập pháp là
quyền ban hành các sắc lệnh lập qui, về hành
pháp là quyền giám sát sự thi hành chánh
sách của chánh quyền hạt và một phần quyền
tư pháp như trong việc chủ tọa và phán quyết
các phiên điều trần của ban thiết kế… Nói
chung, Hội đồng Quản hạt chịu trách nhiệm
đánh thuế; vay mượn và phân bổ tài chánh; ấn
định mức lương cho nhân viên của hạt; giám
sát các cuộc bầu cử; xây dựng và bảo tŕ xa
lộ và cầu cống, chấp hành pháp luật và quản
lư các chương tŕnh phúc lợi cấp hạt, tiểu
bang và quốc gia như thư viện, bệnh viện, y
tế công cộng, dịch vụ hộ tịch, v.v…Riêng về
việc chấp hành pháp luật, cảnh sát trưởng
của hạt (county sheriff) không có quyền kiểm
soát các sở cảnh sát của các thành phố tự
quản nằm trong đia giới của hạt mà chỉ có
thể hợp tác với các sở cảnh sát này trong
việc duy tŕ an ninh trật tự cho toàn hạt mà
thôi.
Theo cơ quan
National Association of Counties (NACo) th́
chánh quyền hạt của Hoa Kỳ thường được tổ
chức và điều hành theo một trong
3 (ba) mô h́nh
như sau:
a.- Mô h́nh
Ủy ban (Commission): Mô h́nh này thường được
áp dụng tại các hạt có ít dân. Một Ủy ban
gồm nhiều ủy viên do cư dân trong hạt bầu ra
hành xử cả quyền hạn lập pháp và hành pháp,
nhưng quyền hành pháp rất giới hạn vào việc
quyết định thuê mướn và băi nhiệm nhân viên…
Có khoảng 60% tổng số hạt tại Hoa Kỳ áp dụng
mô h́nh chánh quyền này.
b.- Mô h́nh
Ủy ban-Quản trị viên
(Commission-Administrator): Mô h́nh này
thường được áp dụng tại các hạt nằm ở vùng
ngoại ô các thành phố lớn. Theo mô h́nh này
các ủy viên do cư dân bầu ra chỉ định một
Quản trị viên để thi hành quyền hành pháp và
điều hành các công việc thường nhựt của hạt.
Thực quyền của Quản trị viên và danh xưng
chánh thức của người này thay đổi tùy theo
luật tiểu bang và ư nguyện của các ủy viên
quản hạt. Giống như mô h́nh Ủy ban ở trên,
mô h́nh này cũng không có sự phân chia rơ
ràng giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp
v́ Quản trị viên có thể bị các ủy viên băi
nhiệm bất cứ lúc nào.
c.- Mô h́nh
Ủy ban-Ủy viên điều hành
(Commission-Executive): Không giống như mô
h́nh Ủy ban-Quản trị viên ở trên, trong mô
h́nh này Ủy ban lo về lập pháp và Ủy viên
điều hành lo về hành pháp và tất cả đều do
các cử tri trong hạt bầu ra cùng một lượt.
Nhờ do dân bầu nên Ủy viên điều hành có
nhiều quyền hạn và tự do hơn trong khi hành
xử nhiệm vụ điều hành hạt v́ người này chỉ
chịu trách nhiệm trước cử tri mà thôi. Đặc
biệt là Ủy viên điều hành do dân bầu có
quyền phủ quyết các nghị quyết của ủy ban
quản hạt và có toàn quyền trong việc thuê
mướn và băi nhiệm nhân viên. Mô h́nh này
được áp dụng tại các tiểu bang Arkansas,
Kentucky và Tennessee.
Ngoại lệ:
Ngoài cấp hạt, tại một số tiểu bang c̣n có
các
khu hành chánh độc lập tương đương hạt
trực thuộc thẳng chánh quyền tiểu bang. Đây
là các thành phố theo pháp lư không thuộc
một hạt nào trong tiểu bang. Cho đến năm
2004, theo thống kê có tất cả là 42 thành
phố được tổ chức như vậy tại Hoa Kỳ là:
Baltimore của Maryland,
Carson City của Nevada,
St. Louis của Missouri và tất cả 39
thành phố tại tiểu bang
Virginia nơi mà bất cứ một khu đô thị
nào được định chế hóa (incorporated) thành
một thành phố th́ theo luật sẽ được tách rời
khỏi thẩm quyền của bất cứ hạt nào mà nó nằm
trong đó. Một ngoại lệ khác nữa là tại một
số tiểu bang ở vùng
New England, và các tiểu bang
Massachusetts,
Connecticut th́ hạt không phải là một
phân cấp hành chánh. Thành phố và thị trấn
(town) mới là đơn vị hành chánh luật định.
B.- KHU ĐÔ
THỊ & THÀNH PHỐ (Municipality & City)
Tại
Hoa Kỳ, "khu đô thị" (municipality)
chánh yếu chỉ là một từ pháp lư để chỉ một
khu định cư có tiềm năng tự quản cao, hơn là
có ư nghĩa chỉ toàn bộ một khu vực đô thị
rộng lớn. Các khu đô thị như thành phố, thị
xă, làng là các phân cấp hành chánh nằm dưới
cấp hạt. Theo thống kê năm 2002 th́ toàn
nước Hoa kỳ có 19,429 khu đô thị và thành
phố. Thông thường các khu đô thị chiếm một
khu vực có diện tích nhỏ hơn diện tích của
hạt. Tuy nhiên, cũng có một số ngoại lệ:
Một thành
phố có thể có lănh thổ cùng địa giới với một
hạt chứa nó, mặc dù cả hai đều có chánh
quyền riêng biệt. Đây là trường hợp của
thành phố
Jacksonville và
hạt
Duval ở Florida.
Một thành
phố và hạt chứa nó có thể nhập lại để tạo
thành một “hat-thành phố hợp nhứt”
(consolidated city-county) được xem như vừa
là một thành phố vừa là một hạt dưới luật
tiểu bang. Đó là trường hợp của
Denver của Colorado và
San Francisco của California. Tương tự,
một số hạt của
Alaska đă nhập với các thành phố chánh
của nó để tạo ra các “hạt-thành phố thống
nhất” (unified city-boroughs).
Một thành
phố có thể lấn địa giới của nó qua một hạt
khác. Đó là trường hợp của
Atlanta của Georgia,
Columbus của Ohio,
Kansas City của Missouri,
Houston của Texas, và
Oklahoma City của Oklahoma. Thành phố
Dallas-Fort Worth của Texas trải rộng
trong 5 hạt, mỗi hạt chứa một phần của thành
phố. Giống như vậy, thành
phố New York nằm trong 5 hạt nhưng đặc
biệt hơn v́ 5 hạt này chứa chỉ một ḿnh
thành phố New York.
Về cách tổ
chức chánh quyền các khu đô th́ tùy theo mực
độ dân số và luật pháp của tiểu bang mà có
nhiều h́nh thức khác nhau. Tuy nhiên tại một
số tiểu bang lại không có cấp chánh quyền
khu đô thị như tại tiểu bang Hawaii chỉ có
chánh quyền cấp hạt mà thôi. Thông thường
chánh quyền đô thị gồm có nhiều ty, sở đảm
nhiệm những phần vụ hành chánh khác nhau tùy
theo khu đô thị lớn hay nhỏ nhưng thông
thường chánh quyền đô thị phải có những ty
sở để đảm nhiệm những trách vụ như:
Thiết kế đô
thị và phân định khu vực.
Công tác
công chánh: xây dựng và bảo tŕ những cơ sở
hạ từng của khu đô thị như hệ thống cống
rảnh, hệ thống dẫn nước, bảo tŕ công lộ,
công ốc, xe cộ…
Xây dựng và
bảo quản công viên, những vùng đất thuộc đô
thị…
Cảnh sát:
thi hành pháp luật và giữ ǵn an ninh trật
tự cho khu vực.
Cứu hỏa.
Thu thuế và
quản trị nhân viên.
Vận tải công
cộng ….
Các vùng
định cư trong một khu đô thi sẽ trở thành
thành phố (city) hay
thị trấn (town) hay làng (village) sau
khi cư dân trong vùng định cư này bỏ phiếu
để
định chế hóa khu vực thành khu tự quản
mà theo
tiếng Anh gọi là "incorporated". Chánh
quyền thành
phố cũng được tổ chức môt cách khác nhau
tùy theo từng tiểu bang. Tại một số tiểu
bang của Hoa Kỳ, bất cứ một khu đô thị nào
có
tổ chức chánh quyền đinh chế hóa
(incorporated) th́ được gọi là thành phố như
tại các tiểu bang Idaho, Virginia… Trong khi
tại tiểu bang
Illinois, thành phố phải có một dân số
tối thiểu là 2.500 người nhưng tại Nebraska,
thành phố chỉ cần có tối thiểu 800 người…
Tại một
số tiểu bang khác một phân cấp hành chánh
cũng khá phổ biến là làng (village). Thông
thường làng tại Hoa kỳ là một khu đô thị
được định chế giống như một thành phố nằm
trong địa giới của một thị xă hoặc thị trấn
nhưng có diện tích nhỏ hơn thành phố và cũng
có ít quyền hạn hơn.
Về cơ cấu tổ
chức, đa số các thành phố của Hoa kỳ được
điều hành bằng một trong
3 (ba) mô h́nh chánh
quyền như sau:
1/- Mô h́nh
Thị trưởng - Hội đồng. (Mayor-Council
government). Đây là mô h́nh chánh quyền
thành phố lâu đời nhất hiện hữu ở Hoa Kỳ, và
vẫn được áp dụng tại hầu hết các thành phố.
Cơ cấu của nó tương tự với chánh quyền tiểu
bang và quốc gia với một thị trưởng được cử
tri tuyển chọn để đảm nhiệm vị trí đứng đầu
nhánh hành pháp, và một hội đồng, do đại
diện các khu vực dân cư khác nhau bầu ra,
cấu thành nhánh lập pháp. Hội đồng thông qua
các dự luật, định mức thuế tài sản và biểu
quyết ngân sách cho các sở ngành và các
chương tŕnh công ích. Thị trưởng có quyền
bổ nhiệm và cách chức các trưởng ty, sở của
thành phố cùng các viên chức khác, đôi khi
cần có sự phê chuẩn của hội đồng. Thị trưởng
cũng có quyền phủ quyết các đạo luật của
thành phố nếu xét thấy không thích hợp, có
quyền sọan thảo và quản trị sự thi hành ngân
sách, nhưng ngân sách phải được hội đồng
chuẩn y. Đôi khi tại một số thành phố lớn
thị trưởng c̣n có quyền bổ nhiệm một giám
đốc hành chánh chỉ chịu trách nhiệm với Thi
trưởng để lo việc giám sát các ty, sở, lo
việc sọan thảo ngân sách, và phối hợp công
tác giữa các ty, sở trong thành phố.
2/- Mô h́nh
Hội đồng - Giám đốc. (Council-Manager
government) Mô h́nh Hội đồng – Giám đốc
là một giải pháp nhằm đáp ứng t́nh h́nh các
vấn nạn đô thị ngày càng trở nên phức tạp,
đ̣i hỏi kỹ năng cao của một nhà chuyên môn
mà không thể t́m thấy nơi các viên chức dân
cử. Trong mô h́nh này thành phố được quản
trị tương tự như mô h́nh của các công ty
trong đó hội đồng tin cậy và uỷ thác các
quyền hành pháp, như quyền thi hành pháp
luật và cung ứng các loại dịch vụ công cho
một giám đốc (manager) chuyên nghiệp, nhiều
kinh nghiệm và được đào tạo tốt.
Mô h́nh này
ngày càng được nhiều thành phố chấp nhận.
Theo đó, một hội đồng được dân bầu ra với
một ít nghị viên thường từ 5 đến 11 người,
có nhiệm vụ ban hành luật và thiết lập chính
sách cho thành phố, nhiệm vụ giám sát tổng
quát công việc của thành phố.... Để thực thi
các nghị quyết hội đồng thuê một giám đốc
được trả lương. Giám đốc của thành phố sẽ
thiết kế ngân sách và điều hành hầu hết các
ty, sở của thành phố. Thường th́ Giám đốc
không có nhiệm kỳ cố định; bao lâu hội đồng
thành phố c̣n hài ḷng với công việc của
người giám đốc th́ người ấy c̣n duy tŕ vị
trí của ḿnh.
Mô h́nh này
đang phát triển mạnh trong những năm gần đây
với phong trào đổi mới hoạt động của chánh
phủ theo hướng doanh nghiệp. Khảo sát thực
tế cho thấy rất nhiều thị trấn và thành phố
được điều hành như là một doanh nghiệp và
cũng có địa vị pháp luật tương tự như một
doanh nghiệp. Do đó các thành phố đă đinh
chế hoá (incorporated cities) sau một thời
gian cũng có thể bị phá sản như một công ty
do số thu không đủ chi trong nhiều năm hay
v́ lư do ǵ đó phải chịu giải thể. Nếu thành
phố bị phá sản hay giải thể th́ thành phố đó
sẽ trở lại thành một
khu chưa đinh chế và sẽ nhận được các
dịch vụ cung cấp bởi phân khu hành chánh cao
hơn như hạt.
3/- Mô h́nh
Ủy ban. (City
Commission government) Mô h́nh này kết
hợp các chức năng lập pháp và hành pháp vào
một nhóm nhỏ các viên chức, thường là ba
người hoặc hơn, được cử tri toàn thành phố
tuyển chọn qua bầu cử. Mỗi uỷ viên giám sát
sự vụ của một số sở ngành của thành phố.
Nhân vật được chỉ định làm chủ toạ ủy ban
thường được gọi là Thị trưởng, dù quyền hạn
của người này cũng chỉ ngang bằng các uỷ
viên khác. Mô h́nh này thường chỉ áp dụng
tại các thành phố nhỏ.
C.- THỊ XĂ &
THỊ TRẤN (Township & Town)
Tại một số
tiểu bang các hạt được phân chia thành các
thị xă. Thị xă (township) theo định
nghĩa là một đơn vị hành chánh của hạt được
áp dụng tại các vùng nông thôn và là cấp bậc
chánh quyền chuyển tiếp giữa thành phố và
hạt. Một thành phố đôi khi vượt qua khỏi
ranh giới của hạt (thí dụ thành phố
Portland của Oregon phần lớn nằm trong
hạt Multnomah nhưng có một ít phần đất
nằm trong
hạt Washington và hạt Clackamas) nhưng
thị xă th́ không bao giờ vượt qua ranh giới
của hạt. Một số thị xă có chánh quyền và
quyền lực chánh trị trong khi một số khác
th́ chỉ là cách để ấn định một khu vực địa
lư. Một cách chánh xác thị xă là một khu vực
địa lư nhỏ thường có h́nh chữ nhật diện tích
từ 6 đến 54 dặm vuông (square miles) và được
phân biệt làm 3 lọai thị xă:
Thị xă khảo
sát (survey township) chỉ đơn giản là 1 cái
tên địa lư để định vị trí của bất động sản
nằm trong khu vực đó nhằm mục đích cho việc
lập chứng thư, khế ước, giao dịch mua bán
hay sang nhượng đất đai.
Thị xă dân
sự (civil township) là một đơn vị chánh
quyền địa phương được áp dụng tại các vùng
nông thôn. Thị xă dân sự thường có tên và đi
đôi với chữ viết tắt trong tiếng Anh là
"Twp". Tuy nhiên không phải tất cả các tiểu
bang tại Hoa Kỳ đều có đơn vị thị xă dân sự.
Theo
Cục điều tra dân số Hoa Kỳ trong năm
2002 có 30 tiểu bang không có đơn vị thị xă
và trong 20 tiểu bang c̣n lại kia có khoảng
16.504 chánh quyền có tổ chức được xem là
các đơn vị chánh quyền thị xă.
Thị xă đặc
quyền (charter township) là một đơn vị hành
chánh địa phương chỉ có tại tiểu bang
Michigan mà thôi, nó cũng giống như thị xă
dân sự nhưng có đặc quyền không thể bị xáp
nhâp (annexation) vào các thành phố hay các
làng tự quản lân cận.
Quyền lực và
tổ chức của các thị xă và các thị trấn v́
được qui định bởi ngành lập pháp của tiểu
bang nên cũng khác nhau giữa tiểu bang này
và tiểu bang khác. Trong nhiều tiểu bang
thị xă được tổ chức và điều hành trực tiếp
bởi tiểu bang trong khi các thành phố và
làng lại được xem là những đô thị định chế
hóa có quyền tự quản. H́nh thức phổ thông
nhất của chánh quyền thị xă ở Hoa Kỳ là có
một ủy ban hoặc hội đồng dân cử, được biết
với các tên khác nhau như hội đồng thị xă,
ban dân biểu, ban giám sát, ban uỷ viên...
Các ban này có thể có một chủ tịch với chức
năng của một viên chức lănh đạo hành pháp,
hoặc là một thị trưởng. Một số viên chức
khác như lục sự (clerk) hay cảnh sát thị xă
(constable) có thể cũng được người dân bầu
lên. Ngoài ra c̣n có thể có một thủ quỹ,
các nhân viên cứu hoả, y tế và an sinh xă
hội… Các trách nhiệm phổ thông của chánh
quyền thị xă gồm có những công việc như bảo
tŕ đường xá, qui hoạch sử dụng đất, chiếu
sáng đường phố; bảo đảm nguồn cung cấp nước;
cung ứng lực lượng cảnh sát và cứu hoả;
thiết lập các qui định y tế địa phương; vận
chuyển và xử lư rác, cống thoát các loại
chất thải; thu thuế để tài trợ các hoạt động
của chánh quyền; hợp tác với hạt và tiểu
bang để quản lư hệ thống trường học tại địa
phương.
Thông thường
từ thị xă (township) và thị trấn (town) tại
Hoa Kỳ liên quan mật thiết và trong nhiều
tài liệu hai từ này thường hay được dùng để
thay thế nhau. Tuy nhiên tại môt số tiểu
bang thị xă và thị trấn được phân biệt rơ
rệt.
Tại các tiểu
bang này thị trấn (town) là một khu đô thị
được đinh chế hóa nhỏ hơn thành phố và
thường có dân số dưới 10,000 người. Ở một
vài nơi các thị trấn cũng được gọi là thành
phố như ở tiểu bang Alabama, khu đô thị trên
2000 dân được gọi là thành phố, dưới 2000
dân th́ gọi là thị trấn. Ở tiểu bang Wyoming
cũng tương tự nhưng số dân đ̣i hỏi phải là
4000 người trong khi tiểu bang Utah chỉ đ̣i
hỏi 1000 người. Tại 2 tiểu bang Arizona và
California th́ các từ thành phố và thị
trấn có thể thay thế cho nhau. Riêng tai
California tên của một thành phố hay thi
trấn nào cũng đều phải có một tên gọi bắt
đầu bằng "City of (tên)" hay "Town of
(tên)".
Đặc biệt tại
vùng
New England, các thị trấn (town) lại là
h́nh thức căn bản của chánh quyền địa
phương, cung cấp nhiều chức năng như tại các
hạt ở những tiểu bang khác. Một khía cạnh
độc đáo của chánh quyền địa phương vùng New
England, là các “cuộc họp thị trấn” (town
meeting), mỗi năm họp một lần hoặc có thể
triệu tập nhiều cuộc họp nếu cần. Tại cuộc
họp thị trấn tất cả các cử tri có đăng kư
trong thị trấn cùng với các viên chức dân
cử, thảo luận về các vấn đề của địa phương,
cũng như thông qua luật để điều hành chánh
quyền thị trấn. Các cuộc họp này cũng quyết
định về các dự án xây dựng và sửa chữa đường
xá, xây dựng các ṭa nhà và các tiện ích
công cộng, định mức thuế và ngân sách thị
trấn. H́nh thức “cuộc họp thị trấn”, tồn tại
từ hơn hai thế kỷ, thường được nhắc đến như
là mô h́nh tinh tuyền nhứt của nền dân chủ
trực tiếp, theo đó quyền lực cai trị không
được uỷ thác cho các viên chức dân cử, mà
được hành xử trực tiếp và thường xuyên bởi
chánh người dân.
D.- KHU ĐỊNH CHẾ & KHU CHƯA ĐỊNH CHẾ (Incorporated & Unincorporated
areas)
Trong chánh
quyền địa phương của
Hoa Kỳ các khu định cư sẽ trở thành
thành phố (city) hay
thị trấn (town) sau khi cộng đồng cư dân
trong khu định cư này bỏ phiếu để được
tổ chức thành khu được đinh chế hóa
(incorporated). Đa số các thành phố và thị
trấn tại Hoa kỳ là các khu đô thị được định
chế hóa. Ngược lại là một cộng đồng “chưa
định chế” (unincorporated), đó là một cụm từ
chung để chỉ một khu vực địa lư có định dạng
xă hội chung nhưng không có được phúc lợi
của một tổ chức đô thị tự quản hay danh xưng
chánh trị chánh thức. Để tiện cho công việc
thống kê,
Cục điều tra dân số Hoa Kỳ liệt kê các
khu định cư chưa định chế này thành các khu
gọi là các
thị xă khảo sát (Survey township).
Về phương
diện
luật pháp, một khu chưa được định chế
(unincorporated area) là một vùng đất không
thuộc bất cứ một
khu tự quản nào. Như thế, một cộng đồng
chưa có định chế thường không phải đóng thuế
cho một chánh quyền thành phố. Những vùng
đất như thế thường thuộc quyền quản lư của
một phân vùng lănh thổ hành chánh lớn hơn,
thí dụ như một hạt hay
tiểu bang. Tại
Hoa Kỳ, các vùng chưa có định chế thường
rất phổ biến tại các tiểu bang
Trung Tây Hoa Kỳ,
Tây Hoa Kỳ và
Tây Nam Hoa Kỳ như
California và
Nevada, và tại các tiểu bang đông nam
Hoa Kỳ như
Florida,
North Carolina,
Kentucky, và
West Virginia.
E.- CÁC ĐẶC
KHU (Special-purpose district)
Các đặc khu
là những thực thể hành chánh độc lập không
bị lệ thuộc vào các hạt và có nhiệm vụ cung
ứng các dịch vụ đặc biệt được ủy thác bởi
người dân sống trong khu vực qui định. Khu
vực qui định thường bao gồm một vùng đất
rộng vượt qua lằn ranh phân chia các thị
trấn, làng nhưng thường th́ phải nằm bên
trong địa giới của một hạt. Các đặc khu
thường được thành lập bởi luật pháp của tiểu
bang nhưng đôi khi cũng do kết quả của một
cuộc trưng cầu dân ư. Đặc khu được điều hành
bởi một Hội đồng ủy viên (Board of
commissioners) hành xử như một hội đồng giám
đốc trong công ty và gồm các ủy viên được
chỉ định hoặc do dân trong đặc khu bầu ra.
Để thi hành nhiệm vụ Hội đồng có quyền lập
pháp và chế tài, có quyền thu thuế, thường
là thuế bất động sản hay phát hành trái
phiếu (bond) và quyền chỉ định một Giám đốc
điều hành (chief executive) để phụ trách
công việc thi hành chánh sách của Hội đồng
và các công tác điều hành thường nhựt. Các
đặc khu thường thấy là đặc khu học chánh,
đặc khu cứu hỏa, đặc khu cung cấp nước…
Tuy nhiên,
có hai lọai đặc khu không thuộc thẩm quyền
điều hành của tiểu bang, đó là Đặc khu
Columbia của liên bang và các khu dành riêng
cho người bộ tộc Mỹ.
a/. Đặc khu
liên bang Washington. Một đặc khu riêng biệt
là
Đặc khu Washington tức Washington, D.C.
là thủ đô của liên bang Hoa kỳ nên không
thuộc quyền cai quản của các tiểu bang. Đặc
khu này được đặt dưới quyền trực tiếp của
Quốc hội Hoa Kỳ, được thành lập từ phần đất
nhượng lại của các tiểu bang
Maryland và
Virginia cho chánh phủ liên bang, nhưng
phần đất của Virginia sau đó được trả lại
cho tiểu bang vào năm 1846. Quốc hội Hoa Kỳ
có đặc quyền thực hiện chủ quyền đối với
thành phố này và đạo luật Tự trị Đặc khu
Columbia đă trao quyền tự trị có giới hạn
cho thành phố trong đó có việc cho phép cư
dân của thành phố quyền bầu lên một chánh
quyền thành phố gồm 1 thị trưởng và 1 hội
đồng thành phố gồm 13 thành viên để lo việc
quản trị cho đặc khu Columbia.
b/. Những
khu dành riêng cho người bộ tộc Mỹ. Những
khu dành riêng cho người bộ tộc Mỹ (American
Indian reservation) là đơn vị hành chánh đặc
biệt và riêng biệt của Hoa Kỳ và hiện có
khoảng 310 khu dành riêng như vậy trên toàn
nước Mỹ. Trong số 310 khu đó có 12 khu dành
riêng có diện tích lớn hơn tiểu bang Rhode
Island, 9 khu có diện tích lớn hơn tiểu bang
Delaware, và 1 khu dành riêng cho người bộ
tộc Navajo có diện tích bằng diện tích tiểu
bang West Virginia. Tổng số diện tích của
tất cả các khu dành riêng cho người bộ tộc
Mỹ là khỏang 56 triệu mẫu Anh (khoảng
225.410 km2) chiếm 2.3% diện tích của toàn
nước Hoa kỳ. Theo luật liên bang, các bộ lạc
người bộ tộc Mỹ là các dân tộc có chủ quyền,
điều này có nghĩa là quyền pháp lư của họ
tồn tại độc lập không lệ thuộc vào quyền
pháp lư của chánh phủ liên bang và chánh
quyền tiểu bang. Tuy nhiên theo định nghĩa
về chủ quyền bộ lạc (tribal sovereignty) th́
họ không thể hoạt động bên ngoài quyền lực
của liên bang mặc dù họ được miễn nhiểm đối
với những luật lệ của tiểu bang. Cho đến
cuối thế kỷ 19, những thỏa thuận giữa chánh
phủ Hoa Kỳ và các nhóm người bộ tộc Mỹ chỉ
là những hiệp ước. Tuy nhiên những hiệp ước
này hiện nay được xem là luật nội địa bất kể
tên gọi của chúng là ǵ. Mỗi khu dành riêng
này được quản trị bởi một hội đồng bộ tộc
(tribal council) do cư dân trong khu bầu ra
và luật lệ áp dụng cũng rất khác nhau tùy
theo từng bộ tộc. V́ không bị chi phối bởi
luật của liên bang và tiểu bang nên nhiều
khu dành riêng cho người bộ tộc Mỹ đă lợi
dụng kẻ hở này để mở các ṣng bạc casino hầu
hấp dẫn du khách và t́m tài nguyên cho việc
điều hành bộ tộc.
Qua các phần
vừa tŕnh bày ta thấy cơ cấu tổ chức hành
chánh địa phương của Hoa kỳ thực sự rất độc
đáo không giống cơ cấu hành chánh địa phương
của bất kỳ quốc gia nào.
Nguyễn Minh Triết
2010
Tài liệu
tham khảo:
1.
Wikipedia, Phân cấp hành chính Hoa Kỳ -
2.
Wikipedia,
Local_government_in_the_United_States -
http://en.wikipedia.org/wiki/Local_government_in_the_United_States
3.
Wikipedia, County (United States) -
http://en.wikipedia.org/wiki/County_(United_States)
4.
Wikipedia, County_(United_States) - http://en.wikipedia.org/wiki/County_(United_States)
5.
Wikipedia, Township (United States)
- http://en.wikipedia.org/wiki/Township_(United_States)
6.
Wikipedia, Town (United States) - http://en.wikipedia.org/wiki/Town
|