|
Trước hết xin có vài hàng giải thích ba chữ
Hàn Lâm Viện. Đây là một danh từ kép Hán
Việt thuộc thể loại Văn học. Theo Từ Nguyên,
HÀN là chữ được dùng để chỉ một giống gà có
lông đỏ do người nước Thục cống nạp cho Chu
Thanh Vương; giống gà này c̣n được gọi là
Cẩm Kê (gà lông gấm). Theo Từ Hải (từ điển)
Hàn có nghĩa là lông gà hay bất cứ loài cầm
nào dai và cứng.
Ngày trước, khi bút viết chưa được sáng chế,
người Tàu dùng lông gà, lông chim để làm bút
viết cho tới khi bút viết được phát minh. Do
đó Hàn Lâm nghĩa đen là rừng lông, tức là
rừng bút, c̣n nghĩa bóng là rừng văn học,
nhưng danh từ Hàn lâm viện hiểu theo nghĩa
là viện coi và chuyên về văn học th́ măi tới
đời Đường mới xuất hiện ở Trung Quốc và tới
đời Lư mới có ở nước ta.
Từ đời Lư, Việt Nam đă có Hàn lâm viện.
Năm Bính Dần (1086), vua Lư Nhân Tông mở
khoa thi tuyển những người có văn học vào
Hàn lâm viện; khoa thi này Mạc Hiển Tích
đỗ đầu và được bổ nhiệm làm Hàn lâm học sĩ.
Đời Trần (1225-1400) có đặt thêm chức Hàn
lâm thừa chỉ, là một chức vụ rất quan trọng,
thường do Thái sư kiêm nhiệm. Dưới đời Trần
Nhân Tông, Thái sư Đinh Củng được bổ
nhiệm làm Hàn lâm học sĩ, kiêm Nội Mật Viên,
chuyên việc soạn chiếu thư. Dưới các triều
vua kế tiếp, các quan Hàn Lâm đều là những
bực văn học danh nho như Nguyễn Trung
Ngạn, Trương Hán Siêu, Lê Quát,
Hồ Tôn Thốc, trước sau đều đảm nhiệm
chức Hàn lâm.
Dưới đời Lê (1418-1789) Hàn lâm viện có
những chức như: Phụng chỉ học sĩ, Thị độc,
Thị giảng, Trực học sĩ, v.v. Sau có thêm
chức Đại học sĩ để chỉ quan Viện trưởng.
Vua Lê Thánh Tông (1460-1497) định lại Viện
Hàn lâm, băi chức Đại học sĩ và đặt những
chức Thừa chỉ, Thị giảng, Thị độc, Thị thư,
Đăi chế, Hiệu lư, Tu soạn, Kiểm thảo, v.v.
Đời Lê Trung Hưng (vua Lê, chúa Trịnh) vẫn
giữ nguyên như vậy không thay đổi ǵ.
Tới triều Nguyễn, vua Thánh Tổ (Minh Mạng)
quy định lại danh hiệu và phẩm trật các quan
trong Viện Hàn lâm như sau:
Chánh tam
phẩm: Chưởng viện học sĩ, Trực
học sĩ
Chánh tứ phẩm: Thị độc học sĩ
Ṭng tứ phẩm: Thị giảng học sĩ
Chánh ngũ phẩm: Hàn lâm viện thị độc
Ṭng ngũ phẩm: Hàn lâm viện thị giảng,
Thừa chỉ
Chánh lục phẩm: Hàn lâm viện trước tác
Ṭng lục phẩm: Hàn lâm viện tu soạn
Chánh thất phẩm: Hàn lâm viện biên tu
Ṭng thất phẩm: Hàn lâm viện kiểm thảo
Chánh bát phẩm: Hàn lâm viện điển tịch (sau
đổi là kiểm tịch)
Ṭng bát phẩm: Hàn lâm viện điển bạ (sau
đổi là kiểm bạ)
Chánh cửu phẩm: Hàn lâm viện cung phụng
Ṭng cửu phẩm: Hàn lâm viện đăi chiếu
Lương bổng nhà vua định từ chánh tam phẩm
mỗi năm tiền 150 quan, gạo 120 phương, tiền
xuân phúc 20 quan, rút dần xuống cho tới
ṭng cửu phẩm mỗi năm 18 quan tiền lương, 16
phương gạo và tiền xuân phúc 4 quan
(Tài liệu của Lê Văn Ḥe).
Vũ Anh Tuấn
Nhà văn Lê Văn Ḥe, bút danh là Lê
Văn Hạc, sinh ngày 1-11-1911, quê làng
Mỗ Xá, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Đông (nay là
huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội).
Thuở nhỏ ông học ở Hà Nội, đang học tại
trường Trung học Albert Sarraut, ông tham
gia băi khóa nhân lễ truy điệu Phan Châu
Trinh nên bị đuổi học. Từ đó ông tự học và
trở nên một nhà báo, nhà nghiên cứu có khả
năng thời đó. Có lúc ông làm chủ bút tờ Ngọ
Báo, và trợ bút các tờ Trung Bắc chủ nhật,
Tri Tân, Thanh Nghị, Quốc Gia... (Hà Nội)
chuyên nghiên cứu văn học Việt Nam và triết
học Trung Quốc.
Sau năm 1945, ông tham gia các hoạt động văn
hóa và xă hội trong Hội Văn hóa cứu quốc.
Sau năm 1954, ông trở lại dạy học tại các
trường Trung học ở miền Bắc.
Ông mất ngày 13-12-1968 tại Hà Nội, thọ 67
tuổi.
Tác phẩm
- Quốc sử đính ngoa (1941)
- Thi nghệ (1941)
- Thi thoại (1942)
- Tầm nguyên tự điển (1942)
- Khổng tử học thuyết (1943)
- Học thuyết Mặc tử (1942)
- T́m hiểu tiếng Việt (1952)
- Tự vị chính tả (1953)
- Những bài học lịch sử, 5 tập (1953)
- Truyện Kiều chú giải (1952)
- Cung oán chú giải (1954)
- Triết lí Truyện Kiều (1954)... và
nhiều tác phẩm khác
|