Quốc Gia Hành
Chánh    >> Home



MỘT NGÀN NĂM
(Gởi người đã hẹn)

Một ngàn năm! Em hẹn anh
Một ngàn năm ấy bao tình, hở em?

Ngàn năm thắp nén hương nguyền
Bao lần hóa kiếp giữ nguyên lời thề.
Ngàn năm một giấc ngủ mê
Mấy vòng nhựt nguyệt đi, về nắng mưa.

Ngàn năm đã đủ hay chưa
Trầm luân mấy cõi cho vừa giấc say?
Ngàn năm bể nhớ vơi đầy
Vụng tu nên lỡ kiếp này mất nhau.

 

Ngàn năm hình phạt thấm đau
Mà như con nước qua cầu chảy xuôi
Ngàn năm mấy đợt làm người
Hay cây cỏ mục, ngậm ngùi rong rêu.

Ngàn năm gỗ đá tiêu điều
Khói sương tan hợp trăm chiều ngổn ngang
Ngàn năm hưng thịnh, phai tàn
Lại ngàn năm khác muộn màng tiếp theo

Ơi! Người say đắm ta yêu
Ngàn năm miễn được một chiều có em.

               DƯƠNG QUÂN

... Như là một bài thơ về tình yêu, nhưng về một khía cạnh khác, tác giả muốn đề cập đến cái vòng lẩn quẩn: tan- hợp, hưng thịnh-suy tàn, luân- hồi vô thủy, vô chung...không có bắt đầu, không có kết thúc...


GIAO THỪA QUÊ MẸ

Anh ở phương trời -  anh có biết
Quê nhà giờ đang đón xuân sang
Nghìn hoa khoe sắc hương thơm ngát
Én liệng trời cao ngập nắng vàng.

Thiên hạ tưng bừng lo sắm Tết
Rượu trà, bánh mứt, thức ăn ngon
Chợ hoa tấp nập người xuôi ngược
Quần áo xun xoe khắp phố phường

Thiên hạ tưng bừng lo sắm Tết
Riêng mình em chẳng biết xuân sang
Chẳng may áo mới - chờ anh ngắm
Son phấn ra vào, biếng điểm trang.

Tối qua ngồi đọc chồng thư cũ
Anh hẹn đông qua, Tết sẽ về
Em đợi đến mai vàng trổ nụ
Anh còn biền biệt nẻo sơn khê.

Ba mẹ hôm rày nhắc đến anh
Hỏi anh còn ở chốn kinh thành
Hay vùng hoang vắng nào xa thẳm
Dong ruỗi bôn ba bước độc hành.

Phòng em - thu dọn trông tươm tất
Mẹ bảo: Người xa chắc sẽ về
Sông núi cách ngăn, ngày Tết đến
Xe tàu chậm trễ chuyến anh đi.

Tất niên, họp mặt cả gia đình
Đông đủ chiều qua, chỉ thiếu anh
Chạnh nhớ, em buồn rơi ngấn lệ
Thương người viễn xứ, sống lênh đênh.

Anh ở quê người, anh có Tết?
Có dưa hấu đỏ, có mai vàng?
Có đoàn lân múa bên hàng xóm?
Có đón giao thừa, pháo nổ vang?
 

Có ai mừng tuổi, chúc anh không?
Có tách trà thơm, chén rượu nồng?
Có cúng ông bà? đi hái lộc?
Hay là lạnh lẽo lúc tàn đông?

Hay là chẳng có Tết tha hương
Anh vẫn còn đi vạn dặm trường
Đất khách tủi hờn đời lưu lạc
Quê người vàng võ nhớ quê hương?

Hay là anh yếu, bệnh, linh tinh...
Phải tự lo toan lấy một mình
Ấm lạnh làm sao em ấp ủ
Cho tròn duyên nợ kiếp ba sinh?

Đêm nay lặng lẽ đón giao thừa
Bên ánh đèn khuya ghép ý thơ
Thắp nén hương lòng em khấn nguyện
Cho tình thắm lại mối duyên tơ.

Em nguyện, mười phương hưởng thái bình
Trần gian, nhân loại hết điêu linh
Xóa bao hờn oán, yêu thương lại
Hoa nở trời xuân, ngập cảm tình.

      ***

Anh ở quê người, anh có biết
Rồi đây hết Tết, lại xuân qua
Trông chừng cánh én ngàn mây vắng
Anh có thương em - có nhớ nhà?

Xuân đi, ngày rộng tháng năm dài
Cho dẫu cuộc đời có đổi thay
Em vẫn đinh ninh lời hẹn ước
Đón chờ xuân mới, buổi tương lai.

Dương Quân
(viết theo Rose Dương)



KHÓC HIỀN ĐỆ *

      Lâm Thanh! thôi đã xa rồi
Hay tin ta bỗng rụng rời châu thân
      Thơ, Văn khép lại đường trần
Đồng môn, huynh đệ xa gần tiếc thương
"Cõi Quê Cõi Nhớ"* đoạn trường
Ngổn ngang tâm sự tha hương não lòng
Đời trai còn nợ non sông
Tài hoa lỡ vận lạc dòng phù sinh
Với ta: hiền đệ nghĩa tình
Với người: ta kẻ ngu huynh lạc loài
Nguyện cầu ta chắp hai tay
Cõi Quê là Cõi Bồng Lai... đệ về.

Vô cùng thương tiếc

DƯƠNG QUÂN

    *  Lâm Thành Hổ ( Đốc Sự HC K15 )
        1943 – 3.10.2008
    * Tác phẩm Văn, Thơ  2008



LY BÔI

   Xin mời bạn!
   Hãy cùng ta quyết đấu
   Chén rượu này nhất định phải cưa hai
   Nửa phần ta, uống cho nhòe thế sự
   Nửa của người, tàn cuộc để chia tay.

   Ta chẳng còn chi
   Chỉ còn tình bạn
   Gặp nhau đây giữa giông bão cuộc đời
   Chưa kịp vui, lòng bỗng buồn vô hạn
   Khi nhìn nhau, đầu bạc trắng như vôi.

   Sức đã kiệt, nên rượu mừng thấy đắng
   Nhớ ngày xưa, ta từng uống hũ chìm
   Sao bây giờ chân run, môi tái mặn
   Có lẽ nào máu sắp nghẽn về tim?

   Hỏi sự nghiệp?
   Ta còn vay nợ nước
   Một đời trai vô dụng, trả chưa xong
   Ta vẫn đi dưới hai vầng nhật nguyệt
   Mong một ngày ngựa đá vụt qua sông.

   Hỏi kinh sử?
   Ngàn pho ta đã thuộc
   Thánh hiền xưa không dạy cảnh tương tàn
   Dẫu đời nay nhiều lọc lừa gian dối
   Rượu hết rồi. Tình bạn vẫn chứa chan.

   Hỏi tương lai?
   Đang chờ ta trước mặt
   Đồi nghĩa trang, cỏ biếc thoảng sương mù
   Bạn sẽ đến đặt vòng hoa thương tiếc
   Tiễn ta vào yên nghỉ giấc ngàn thu.

   Dương Quân


THƯ THĂM BẠN

          (Tặng Nguyễn Thế Sanh - CH6, VA)

   Ta nghe người ở trên Đông Bắc
   Từ ngày mất nước chạy sang đây
   Đành lòng vứt bỏ bằng Cao Học
   Chấp nhận gian nan để "kéo cày"

   Phước đức Ông Bà còn để lại
   Kiếm ăn đắp đổi cũng qua ngày
   Bạn bè dăm đứa thân quen cũ
   Tản lạc phương trời chẳng gặp ai.

   Ngày tháng qua nhanh giờ hóa lão
   Tang bồng trót gởi áng mây bay
   Nhiều khi nhớ lại thời niên thiếu
   Thầm tiếc cho đời, lỡ chí trai.

   Thuở ấy chúng mình đầy nhiệt huyết
   Tình nhà, nợ nước gánh hai vai
   Dời sông lấp biển, mang hoài bão
   "Trị quốc, tề gia" gắng miệt mài.

   Ai ngờ đất nước trùm tang tóc
   Dẫm nát quê hương gót độc tài
   Nhiều bạn bị tù, nhiều bạn khác
   Đầu xanh sớm bỏ cõi trần ai.

   Tiếng gầm uất nghẹn hồn sông núi
   Chiến mã chùng cương, gặm thiết hài
   Tráng sĩ qua sông- giờ vượt biển
   Xứ người trôi nổi kiếp bèo mây
.

   Ta ở Miền Nam nhiều nắng hạ
   Lắm cơn bão biển thổi vào đây
   Ta nghe rung chuyển trời tâm sự
   Như trận cuồng phong cứ kéo dài.

   Ta nghe từng mảnh đời tung vỡ
   Tan tác vùi trong đám cỏ cây
   Ta nhặt những tấm tình rơi rớt
   Làm thơ đem kể chuyện vơi đầy
.

   Giờ ta đi đứng không còn vững
   Bệnh hoạn theo nhau tiếp đọa đày
   Muốn đến thăm người, nhưng thật khó
   Nhớ nhau viết vội lá thư nầy.

                ***

   Thư bất tận ngôn!
   Xin chúc bạn:
   Ráng mà gầy dựng chút tương lai.
   Phần ta, còn quảng đời hiu hắt
   Như khói hoàng hôn muộn cuối ngày.
  
   Dương Quân



VIỄN DU

   Ta hẹn Nàng Thơ chuyến dạo chơi
   Miền xa chẳng thấy dấu chân người

    - Đường hoa
    - thảm ngọc
    - thềm mây rụng

         - Lầu tuyết
         - màn sương
         - nhã nhạc rơi

   Em. Gót son nghiêng thành đá cổ
   Suối. Dòng xanh lộng bóng trăng ngơi
   Bỗng dưng - mắt biếc tràn hư ảnh
   Thôi đã lạc đường!
   Cố quận ơi!

           Dương Quân


     GÁNH TRẦU MỸ HỘI

   Thương nhớ gởi về quê Mỹ-Hội
   Dòng đời thắm thoát bấy nhiêu năm
   Bao mùa mưa nắng bao thay đổi
   Mà bóng người xưa vẫn bặt tăm.

              ***

   Thuở xưa Mỹ-Hội êm đềm quá
   Cây trái sum suê đủ bốn mùa
   Phước Lý về ngang Thành Tuy Hạ
   Nhà em ở dưới rặng cau thưa.

   Nhà em có Mẹ già gầy yếu
   Ba mất từ khi em biết đi
   Mẹ bán thúng trầu lưng buổi chợ
   Nuôi em khôn lớn tuổi xuân thì.

   Ngày ấy anh về thăm Mỹ-Hội
   Qua phà Cát Lái ghé Long Tân
   Tìm em trưa nắng tan phiên chợ
   Thăm Mẹ thăm em đã mấy lần.

   Con gái miệt vườn, không trang điểm
   Nhưng em rất đẹp, tánh ngoan hiền
   Má hồng, mắt biếc, làn môi đỏ
   Giúp Mẹ gánh trầu buổi chợ phiên.

   Anh trai tỉnh lỵ ra trường lớn
   Ăn học, làm quen nếp thị thành
   Hai đứa cùng nhau chung ước hẹn
   Chờ anh đi kiếm chút công danh.

   Mỗi bận trở về thăm xóm cũ
   Ra vườn gom hái lá trầu vàng
   Trầu cau chung gánh - chung duyên nợ
   Đủ nghĩa cho tình ta chứa chan.

   Gặp nhau rồi lại xa nhau nữa
   Căn dặn đừng quên sớm trở về
   Em đứng bên bờ sông Cát Lái
   Nhìn theo như níu bóng người đi.

   Chiếc phà tách bến, dòng sông rộng
   Nước xoáy lao chao đám lục bình
   Run rẩy những chồi hoa tím tím
   Thương em bịn rịn bước không đành.
 

   Công danh đeo đuổi chi mà khổ
   Đã lỡ bon chen chốn lụy phiền
   Chưa kịp đến ngày tin Mẹ mất
   Gánh trầu giờ trĩu nặng vai em.

   Anh về lần ấy, hay lần cuối
   Ngồi kế bên em xếp liễn trầu
   Chợt thấy bàn tay gầy guộc quá
   Lần đầu xao xuyến nụ hôn nhau.

   Anh đốt trầm hương xin khấn Mẹ
   Sau này được kết nghĩa trăm năm
   Em làm nội trợ, nuôi con nhỏ
   Thôi gánh trầu, thôi những nhọc nhằn.

   Rồi buổi quê hương tàn cuộc chiến
   Anh xa thành phố, sống trên rừng
   Mười năm dày dạn cùng sương gió
   Ai hẹn ngày về giữa gió sương?

   Mỹ-Hội cũng thay từng cảnh sống
   Chợ phiên cần gạo, chẳng mua trầu
   Cau khô, trầu héo, buồn trong thúng
   Vườn cũ thưa dần những bóng cau.

   Em có khi nào qua Cát Lái
   Bến phà đứng đợi một bên bờ
   Nước sông cuồn cuộn xuôi dòng nhớ
   Những mảng lục bình theo sóng đưa?

   Như mảng lục bình trong nước xoáy
   Không về trở lại bến sông xưa
   Dòng đời xô dạt anh xa mãi
   Mà bóng người thương chẳng nhạt mờ.

              ***

   Biết có ai về quê Mỹ-Hội
   Nhắn dùm người cũ mấy lời thăm
   Giờ thân viễn xứ còn trôi nổi
   Xin hiểu lòng nhau - tạ lỗi lầm.


  
Dương Quân



NHỚ OANH

Vườn ta xưa, có chim Oanh hay đến
Hót líu lo trên cành bưởi, cành cam
Hoàng hôn rơi, tiếng chim kêu quyến luyến
Đêm tàn khuya, giọng hót thoảng mơ màng.

Ta vẫn đợi Oanh về vang tiếng hót
Lòng ta như ấm lại buổi mưa phùn
Những canh vắng, gió lùa qua song cửa
Oanh chưa về, ta se sắt chờ mong.

Ta muốn được gần Oanh trong gang tấc
Khẻ ân cần, ve vuốt... tỏ thương yêu
Ta muốn trải lòng ta theo cánh gió
Để cùng Oanh vui nắng sớm, sương chiều.

Nhưng Oanh vẫn mải mê, trời xa rộng
Chợt về khi hoa lá ngủ, sương buồn
Oanh lại hót, ru ta vào cõi mộng
Khiến lòng ta, dìu dặt giấc sầu vương.

Bỗng một hôm, cơn gió nào cuốn lốc
Oanh bay đi biền biệt chẳng quay về
Vườn ta nay, ngậm ngùi hoa lá rụng
Giọng hót còn văng vẳng những đêm khuya.

Dương Quân



        Lời Trần Tình Cho Em


Em ạ, quê nhà em có biết
Phương nầy trời lại đã vào đông
Mới đây nắng ấm - trời xanh ngắt
Hoa nụ vườn cam, bướm vẽ vòng

Mới đây chim én bay đầy ngõ
Bãi biển còn vang rộn tiếng cười
Gió thoảng đong đưa hàng liễu biếc
Chim di làm tổ nhánh cây sồi

Chiều nay lửng thửng ngoài hiên vắng
Quét lá thu rơi, nhặt nắng vàng
Chợt thấy mây trời giăng thật thấp
Gió về se lạnh, báo đông sang

Chợt thấy láng giềng lo sửa soạn
Giăng đèn chuẩn bị đón Noel
(Thế gian mong ước không còn khổ
Sao cứ trầm luân cảnh nổi chìm?)

Anh vẫn một mình nơi đất khách
Vẫn còn lận đận kiếp tha hương
Cánh chim mê mải trời cao rộng
Vó ngựa còn say vạn dặm trường       

                ***

Mấy năm rồi nhỉ? - chừng lâu lắm
Ước hẹn đoàn viên vẫn kéo dài
Năm tháng chất chồng đời lữ thứ
Phong trần gánh nặng trĩu đôi vai

Lại sắp thay vào tờ lịch mới
Nhiều thêm một tuổi, lại thêm già
Mỗi lần chạnh nhớ về quê cũ
Mặt đất, cung đường vẫn cách xa

Suy nghĩ sự đời - Ối ngán ngẫm
Mơ gì được nữa cái thân danh
Tóc pha sương trắng màu quan tái
Chưa trọn hoài mong một mảnh tình

Món nợ giang hồ chưa trả hết
Nên đành chấp nhận sống lưu vong
Ai gieo hờn oán, sao mình gặt
Oan trái dâng đầy khắp núi sông

Tám năm - đày đọa ngoài phương bắc
Mười năm - vất vưởng giữa quê nhà
Giờ đây nối tiếp đời lưu lạc
Đã sớm phai tàn mộng gấm hoa

Phương nầy thiên hạ bon chen lắm
Vật chất ganh đua, chẳng nghĩa tình
Xa lộ tốc hành - xe mắc cửi
Chọc trời ngạo nghễ - nóc building

Anh cũng quay cuồng theo thế sự
Miệt mài, hối hả suốt quanh năm
Đêm về khuya khoắc trong sương giá
Lạnh mảnh chăn đơn, lạnh gối nằm

Ở đâu cũng có phường gian dối
Xảo trá cho nhau - tử tế gì
Giá trị? - thước đo bằng của cải
Nhọc nhằn thân phận kẻ làm thuê

Sống gởi quê người anh thấm thía
Làm trai hổ thẹn với non sông
Yêu em - biết lấy chi đền đáp
Anh gởi về em một cánh hồng

Một đóa hồng tươi khoe sắc thắm
Thay người, thay cả tấm tình chung
Thay câu hẹn ước, lời đa tạ
Để nhớ về nhau được ấm lòng

Để một hôm nào, chừng mệt mỏi
Dừng chân quán trọ một chiều đông
Mềm môi chén rượu - men không đắng
Khói thuốc vàng - thơ lại nối giòng

Nhiều đêm trằn trọc anh không ngủ
Sao nhớ về em - nhớ lạ lùng
Hai kẻ hai phương trời cách biệt
Sá gì hai kẻ cuối, đầu sông

Em ở quê nhà - em có biết
Mỗi lần ngắm lại tấm hình em
Ngỡ em, gần gũi trong gang tấc
Chia sớt cùng anh những nỗi niềm

Đọc mấy dòng thư em nhắn nhủ
Dặn dò qua nét chữ thân thương
"Quê nhà mưa nắng em không ngại
"Em chỉ lo người chốn viễn phương

"Em vẫn chờ anh, lòng son sắt
"Chẳng màng theo đuổi ánh hào quang
"Chẳng màng nhung gấm - lòng thanh thản
"Giữa chốn phồn hoa cảnh rộn ràng

"Em ngóng chờ tin anh chậm đến
"Nên không gởi kịp, áo mùa đông
(Sợi thương, sợi nhớ đan thành áo)
"Sưởi ấm cho anh đỡ lạnh lùng."

- Anh hiểu - chính anh, người tệ bạc
Bắt em giữ mãi tấm lòng son
Làm người thiếu phụ trong song cửa
Nhan sắc khuynh thành cũng héo hon

Ước gì anh được về quê cũ
Thăm lại đồng xanh ngắm lúa vàng
Ngắm cảnh trời cao, diều lộng gió
Mái chèo khua nước - chuyến đò ngang

Ước gì anh được về quê cũ
Nghe điệu à, ơ ... nhịp võng đưa
Lắng tiếng ca dao, lời mẹ hát
Chập chờn ký ức, những ngày thơ

Ước gì anh được về quê cũ
Tìm lại ngày xanh tuổi học trò
Nắng hạ chói chang hàng phượng vĩ
Mơ hồ vẳng tiếng trống trường xưa

Bao giờ anh được về quê cũ
Anh sẽ cùng em đi khắp nơi
Thăm phố phường xưa, về Nội - Ngoại
Dắt nhau đi cuối đất, cùng trời

Bao giờ anh được về quê cũ
Ăn bữa cơm chiều bên cạnh em
Sum họp gia đình đông đủ mặt
Dưới đèn ngồi kể chuyện hàn huyên

Ngày ngày anh sẽ lên trường học
Đứng đón chờ em dạy học về
Bụi phấn còn vương trên áo tím
Hai mình chung một bóng dù che

Đốt trầm hương ấm đêm khuya vắng
Anh kể em nghe chuyện xứ người
Nghìn lẻ đêm dài trong lặng lẽ
Nhớ em ngồi đếm ánh sao rơi

Phong trần giũ áo đời cô lữ
Nhắp chén trà thơm, thắp nến hồng
Khấn nguyện được gần nhau mãi mãi
Cho đời thôi lạnh những đêm đông

               ***

Em ở quê nhà, em có biết
Phương nầy trời lại đã vào đông
Hôm nay anh ghép vần thơ nhớ
Gởi vội về em nhắn mấy giòng

"Dẫu có xa em, đời có khổ
"Lòng anh như một gốc cây tùng
"Vẫn xanh màu lá, dù sương tuyết
"Vẫn giữ muôn đời chữ thủy chung".

Dương Quân
1996





Có một thuở em về thân thiết lắm
Ta vẫn từng hò hẹn mỗi đêm đêm
Bước chân em ngập ngừng qua ngõ vắng
Hương quỳnh hoa theo gió thoảng bên thềm

Ta say sưa ru hồn vào cõi mộng
Men tình yêu ngây ngất tuổi mê si
Ta đua bơi trong biển tình dậy sóng
Ngợp hồn thơ, hoa bướm tuổi xuân thì.

Ta những tưởng giòng đời bằng phẳng mãi
Nên thờ ơ, không một chút suy tư
Em cả tin, nên chẳng cần ái ngại
Đặt ta lên ngôi báu để tôn thờ.

Ai biết được, bờ sâu và vực thẳm
Những lọc lừa, cuồng nộ chốn nhân sinh
Cuộc biển dâu, xô kiếp người chìm đắm
Cuồn cuộn trôi, tan tác mảnh ân tình.

                   * * *

Ta đã mất - thời hoa thơm, lá biếc
Bước sông hồ, lạc nẽo, hận trường giang
Rồi từ đó - hai nhánh đời khác biệt
Ta còn đây, u uất nỗi phai tàn !

Dương Quân
    2006


     ĐÊM GIAO THỪA
     TRONG TRẠI CẢI TẠO QUẢNG NINH


Từ buổi xa nhà đi cải tạo
Xuân nầy thấm thoát đã ba xuân
Vì chưng mất nước nên tù tội
Giam hãm đời trai giữa núi rừng

Tết đến lâng lâng nỗi nhớ nhà
Ngậm ngùi đau xót cảnh chia xa
Miền Nam ơi! có buồn không nhỉ?
Gối chiếc mơ gì mộng gấm hoa

Ở đây có những buổi hoàng hôn
Mây xám giăng giăng nặng trĩu buồn
Mỏi cánh chim trời bay lặng lẽ
Xui lòng kẻ Bắc, nhớ người Nam

Ở đây bốn hướng núi vòng quanh
Tường đá xây cao tám lớp thành
Cửa đóng, ngồi trong song sắt khóa
Nghe dần tóc bạc hết đầu xanh

Ở đây - già trẻ tối ba mươi
Đàn, hát, ngâm thơ nối tiếng cười
Nhưng mỗi lòng đơn nghe giá lạnh
Chén trà không ấm trọn vành môi

Anh Nhân, Anh Xướng đóng tuồng trung
Anh Thụy đọc bài sớ Táo Quân
Anh ngâm thơ - và độc tấu
Có đàn anh Phấn gảy từng tưng (*)

Cố vui, vì phải cố tìm quên
Cố nén tâm tư, dấu nỗi niềm
Uất nghẹn tiếng lòng đang thổn thức
(Nén làm sao được tiếng con tim?)

Em hỡi! Miền Nam em có vui?
Có đi chợ Tết mấy hôm rồi?
Có mua áo mới, quà cho trẻ?
Có thấy xuân sang vắng một người?

Có phải đêm nay dưới mái nhà
Vợ hiền đang nhớ đến người xa
Lật từng kỷ niệm trang thư cũ
Ôn lại tâm tình xưa thiết tha

Và suốt canh khuya ngắm ảnh chồng
Thấy đời như cả một mùa đông
Nhà ai pháo nổ - xuân không đến
Hiu hắt ngồi khêu bếp lửa hồng

Có phải con thơ đối bóng sầu
Ngập ngừng con hỏi mẹ: "Ba đâu?
"Mẹ ơi! áo mới ba còn hẹn."
Lẩm bẩm môi non tiếng nguyện cầu

Có phải tàn đêm giấc mỏi mòn?
Giao thừa mẹ thức cạnh bên con
Sáng ra mừng tuổi đầu năm mới:
"Chúc mẹ ngày xuân mãi vẫn còn"

Có phải thế nầy? - Hay chẳng phải?
Hay là nhà đã dọn đi xa?
Con đà thôi học chăn em nhỏ?
Mẹ cũng lang thang gọi bán nhà?

Hay nhà đã bị tịch thu rồi?
Mưa nắng bây giờ chẳng có nơi
Kẻ đến tha hồ vơ vét sạch
Em về đâu hỡi? - bốn phương trời

Hay là nấn ná đợi xuân đi
Năm hết, người xa chẳng trở về
Sẽ dắt dìu nhau, con với mẹ
Tảo tần mưu sống cảnh hàn vi

- Hay là thất thểu tự ngàn phương?
Vợ yếu còn xa vạn dặm trường
Nhà vắng, mai gầy quên trổ nụ
Cầu xuân, trẻ thắp nén tàn hương

- Hay là mẹ đã bước sang ngang?
Con trẻ bơ vơ ỏ xó đường
Đón Tết - vỉa hè gom xác pháo
Mừng Xuân - đi nhặt cánh hoa tàn

- Hay là cố đợi bước Xuân qua
Sá kể gì tan nát cửa nhà
Mẹ về bên Ngoại, con bên Nội
Mầm non ăn bám gốc cây già

- Hay là đất ẩm phủ khăn sô?
Lạnh lẽo tàn đông mấy nấm mồ
Con trẻ cũng chôn vùi với mẹ
Cỏ gà héo úa mọc lơ thơ

Thôi thế, còn chi nói nữa đâu
Nghìn sau lòng lạnh tháng năm sầu
Ngày đi, ai biết là hôm cuối
Thôi chẳng còn trông đợi thấy nhau

Đêm nay quanh quẩn ở nơi nầy
Không rượu mà sao chếnh choáng say?
Không khóc mà sao đôi mắt ướt?
Trông vời - đen tối nẻo tương lai

Có phải ngoài kia cả đất trời
Trăm ngàn thương nhớ tối ba mươi
Thân tù biệt xứ như nhau cả
Đau xót mà sao phải gắng cười?

Ai có nghe chăng tiếng oán hờn
Núi rừng chất chứa nỗi thê lương
Kẻ vay không trả - người đi trả
Máu lệ khô - đòi nợ máu xương

Thôi cứ nhủ lòng: chớ ủ-ê
Nhà tan, nước mất, cảnh phân ly
Dân lành bao triệu người đau khổ
Tôi cũng như anh - chẳng hẹn về

Rồi mai, xuân cũng đến mười phương
Ta chúc gì nhau lúc đoạn trường
- Có phải điều ta mơ ước nhất:
"Gia đình sum họp vẹn yêu thương"

 

Trại cải tạo Quảng Ninh
Bắc Việt- Nam 1977
Dương Quân


Về Một Người Bạn
(Lời Tựa Thi Tập Hương Áo của Luân Tâm, Cao Học Hành Chánh Khóa 3)

     Mỗi khi bạn bè nhắc đến Luân Tâm, tôi đều đinh ninh có vài ý nghĩ chính yếu như sau:

     Thứ nhứt:  Tôi rất thán phục và ca ngợi Luân Tâm là người gương mẫu giữ tròn được đạo đức truyền thống cao quý Đông phương trong tình nghĩa vợ chồng.  Anh Chị là đôi bạn từ thời còn Tiểu học, yêu nhau thời Trung học, Đại học và thành đôi bạn đời sau khi tốt nghiệp.  Đôi bạn “đồng sàng đồng điệu” nầy đã cùng nhau chia xẻ biết bao cay đắng ngọt bùi, nghịch cảnh bể dâu, thăng trầm quá dữ dội, nhất là sau thảm họa tháng tư 1975, Luân Tâm bị đọa đày biệt xứ.

     Bảy năm trước đây, chị Luân không may bị bệnh stroke rất nặng, đến nay vẫn còn rất yếu phải ngồi xe lăn.  Anh Luân Tâm đã phải nghỉ việc, ngày đêm luôn luôn sát bên chị, hết lòng hết sức thương yêu, an ủi chăm sóc tỉ mỉ cho Chị từ viên thuốc, ly nước, bữa ăn... đến những sinh hoạt cá nhân thông thường.  Hơn thế nữa, Anh còn làm thơ, không phải để kiếm cho mình chút tiếng tăm gì, không mong góp một chút hương sắc gì vào khu vườn văn nghệ, mà chính là để an ủi, tâm sự, mua vui cho người vợ hiền lý tưởng (nhưng quá bạc phước) của Anh.  Thật đúng như câu nói của người xưa:

"Nhứt nhựt phu thê: bá dạ ân,
Bán dạ đồng sàng: chung dạ ái
!
"

     Thứ Hai:  Tôi rất thương quý và ngợi khen ba đứa cháu, con của Anh Chị Luân Tâm, gặp nghịch cảnh, gia biến, đã nêu cao tấm lòng hiếu thảo đặc biệt tốt đẹp đối với cha mẹ.  Các cháu đã cùng nhau đoàn kết gánh vác mọi việc gia đình để cho Ba có toàn thời gian với Mẹ, lo cho Mẹ được đầy đủ từ năm nầy sang năm khác. 

     Trong điều kiện khắc nghiệt như thế, các cháu còn cố gắng phi thường để đạt được những thành quả xuất sắc trong học tập và việc làm, khiến cho Ba Mẹ rất vui, hãnh diện, được an ủi rất nhiều.  Tấm gương hiếu thảo và hiền ngoan của các cháu thật là những viên ngọc quý hiếm tuyệt vời khó tìm thấy trong xã hội ngày nay.

     Thứ ba:  Tôi nghĩ thơ Luân Tâm mang một sắc thái rất riêng biệt với một bút pháp thật độc đáo lạ lùng.  Thật vậy, có lẽ bắt nguồn từ hoàn cảnh gia đình rất đặc biệt và “background” cũng rất đáng kể (Anh tốt nghiệp Cử Nhân Văn Khoa, Cao Học Hành Chánh, đã giữ chức vụ Giám Đốc Nha Công Tác Nghị Trường, Nha Nghiên Cứu Pháp Chế Thượng Nghị Viện VNCH.)  nên Luân Tâm có đủ tư thế tạo được một phong cách riêng biệt để gởi gắm những tâm tình, suy tư của mình trong thơ. 

     Luân Tâm thường nói lên kỷ niệm tuổi trẻ, thân phận nghiệt ngã trước thời cuộc, thảm trạng đất nước quê hương bằng một lối thơ khác lạ.  Rất khó có ai tóm lược được hết những gì tác giả muốn gởi gắm.  Có lẽ chúng ta sẽ tìm thấy trong thơ Luân Tâm dáng dấp của lãng mạn trữ tình, có khi ẩn dụ bay bướm, trừu tượng... nên nhiều bạn bè không thể hiểu hết chủ ý của tác giả, đã gán cho tác giả cái nhãn hiệu “Siêu Thực", hay lập thể theo kiểu tranh Picasso.

     Đặc biệt, khi xúc cảm, ý thơ, hồn thơ tuôn trào xuống ngòi bút thì Luân Tâm dám bất chấp mọi ngữ nghĩa thông dụng, gạt bỏ, xáo trộn mọi trật tự thường tình, khuôn mẫu cấu trúc, cú pháp, qui luật văn phạm cổ điển, giáo khoa mà Anh đã từng rèn luyện kỹ lưỡng từ thời Trung học, có chứng chỉ chuyên môn Ngữ Học Việt Nam ở Đại Học Văn Khoa Sàigòn, lại được giáo sư thi sĩ Đông Hồ thương yêu hướng dẫn thêm.  Do đó, có nhiều chữ, nhiều từ tuy cũ, “tầm thường", nhưng qua “pháp thuật của tay phù thủy Luân Tâm", chúng đã trở nên sống động, mới mẻ, biết ca múa đẹp lạ lùng, cực tả được những tâm trạng, suy tư, cảnh đời...

     Thí dụ:

"Sững sờ cây trả áo xanh,
 Trời thương biển nhớ cũng đành... bú tay!

                                    (Trả Áo Xanh)

     Hoặc là:

"Chiều đeo đỉnh núi phù sinh,
 Thương ta dứt sữa, đau mình sẩy thai
!

                                    (Phù Sinh) 

     Bằng một phong thái hết sức nghệ sĩ, phóng khoáng tài hoa, rong chơi trong thế giới chữ nghĩa, Anh chỉ muốn được hoàn toàn tự do viết cho người vợ hiền thân yêu, cho tâm sự của người trai bất đắc chí, cho quê hương đất nước ngửa nghiêng tan nát, xuất phát từ đáy tiềm thức của thế giới kỷ niệm dĩ vãng xa xưa hoặc ức chế của tư duy bi đát hiện tại.  Vì thế, thơ Luân Tâm có khi giản dị đáng yêu, có khi lại lạ lùng khó hiểu!

     Chúng ta có thể kể vài câu thơ giản dị rất đáng yêu như:

"Chợt nhìn môi rượu đã say,
 Gom bao tóc rụng xây đài tương tư
!"
                                    (Khóc Trong Mắt Cười)

     Hay:

 “Điệu buồn anh giữ riêng anh,
Điệu vui anh vẫn để dành cho em
!
"
                                    (Đường Tình)

     Hoặc:

 “Mai kia hai đứa đi rồi,
Còn ai phơi áo trên đồi cỏ non?
Tóc tiên gót đỏ môi son,
Chỉ còn hạt bụi mỏi mòn lãng quên
!
"
                                    (Chập Chờn)

    Mặt khác, cũng có rất nhiều câu, bài thơ khó hiểu như:

"Ngày tàn suối cạn lòng khô,
Phơi đuôi tép bạc vun mồ râu tôm!
Treo buồn giày cỏ mũ rơm,
Đào hang tìm nước vo cơm rửa vàng
!"
                                    (Dã Tràng)

     Phải chăng tác giả muốn bóng gió, dùng ngôn ngữ và hình ảnh thơ để gián tiếp chỉ một số người của một chế độ sụp đổ (ngày tàn): người thanh liêm thì chỉ “tìm nước vo cơm” vì sinh kế còn những kẻ tham nhũng, cậy quyền cao thế mạnh để bóc lột vơ vét thì “tìm nước rửa vàng"?

     Hay là:

"Đi ngang đám lá tối trời,
 Bao nhiêu con đỉa no rồi nằm im!
Con nằm ngửa con nằm nghiêng,
Trăm nghìn con nhện giả tiên đợi chờ
.
.."
                                    (Đám Lá Tối Trời)

     Ở đây, hình như tác giả muốn ám chỉ bọn thổ phỉ từng đóng chốt đoạn tỉnh lộ “đám lá tối trời” để thu tiền “mãi lộ” người và xe cộ qua đoạn đường đó bằng hành động kẻ cướp.  Ngày nay, bọn chúng đã “no nê” như những con đỉa đã hút no máu, đang “nằm ngửa, nằm nghiêng” cùng với những con nhện (tượng trưng cho kẻ ác, lưu manh, độc hiểm) lại tự xưng là “đỉnh cao trí tuệ” là “tiên” đang mù quáng, ngoan cố lừa bịp và tự dối mình để mơ tưởng đến một thế giới đại đồng phiêu lưu, không tưởng ?

     Hơn thế nữa, chúng ta sẽ còn có dịp khám phá nhiều điều kỳ thú trong khu “rừng thơ Siêu Thực” của Luân Tâm.  Chúng ta sẽ bất chợt ngạc nhiên bắt gặp nhiều góc cạnh, sắc màu, âm thanh, khuôn mặt rất khác nhau của cá nhân, xã hội, của vật chất và tâm linh biến đổi liên tục, tùy theo sự nhận dạng, chỗ đứng, kinh nghiệm, khuynh hướng tình cảm, hoàn cảnh cá nhân, cách thế suy diễn riêng của từng người đọc. Tác giả sẽ đưa chúng ta đi về những vùng hồi ức rất chập chờn hoặc những thế giới tưởng tượng thật mênh mông bát ngát “mơ như thực, thực như mơ” vô cùng diễm ảo lạ lùng!  Thưởng thức thơ Luân Tâm có thể làm cho chúng ta động não, suy nghĩ một chút... nhưng chúng ta sẽ được đền bù xứng đáng vì công sức đóng góp khám phá của mình. 

     Thơ Luân Tâm là một sự phối hợp tài tình giữa sự đơn sơ, mộc mạc quê mùa (nhưng rất đẹp như tục ngữ, ca dao) và sự cao sang, đài các, trí thức, giữa cổ điển và hiện đại, giữa thể xác và tâm hồn, giữa hiện tại, quá khứ và tương lai.  Hình như chưa có nơi nào hai phạm trù “bóng hình, hình bóng” và “chiêm bao, mộng mơ” được phát triển, thăng hoa tuyệt vời như trong thơ Luân Tâm.  Đến đây, tôi bỗng chợt nhớ có lần văn hữu họa sĩ A.C.La.Nguyễn Thế Vĩnh (Canada) đã nhận xét rất đúng: “Thơ Luân Tâm bàng bạc hình ảnh mới lạ, tứ thơ khác thường!".  Còn đối với nhà văn, nhà thơ đồng môn Hành Chánh Lâm Thanh (Australia) thì: “Bụng thơ Anh (Luân Tâm) lớn như Biển Hồ Tonlé Sáp .  Suối thơ Anh chảy êm đềm nhưng có khi cũng quá dữ dội như dòng sông chín cửa (Cửu Long).  Muốn chết ngộp trong dòng thơ khoáng đạt miên man bất tận của Anh".

     Thiển nghĩ, có lẽ người vui mừng nhất để đón nhận Thi Tập Hương Áo của Luân Tâm chính là chị Luân  người vợ hiền thục khả ái của Anh vì Chị là động cơ chủ yếu để có Tập Thơ nầy.  Rất mong chị được thực mạnh khỏe với nụ cười vui tươi mãn nguyện.  Độc giả và thân hữu chúng tôi xin chân thành chúc mừng Anh Chị có được “đứa con tinh thần” thêm vào sự nghiệp “ba đứa con rất mực hiền ngoan hiếu thảo” mà Anh Chị hạnh phúc có sẵn bên cạnh từ bấy lâu nay.

Dương Quân
(Quí Thu 2006)



Gặp Bạn Tâm Tình

Mời bạn
Cùng ta ngồi xuống chiếu
Lâu ngày không gặp nhớ nhau ghê
Tưởng đâu chẳng có ngày tao ngộ
Từ buổi ra đi chẳng hẹn về

Hãy uống cùng ta vài chén rượu
Đất trời vun vút cánh thời gian
Hỏi thăm tin tức người quen cũ
Cuộc sống quê nhà?
Nước Việt Nam?

- Ở đó,
Một thời ta đã sống
Một thời ta đã biết yêu thương
Chí trai mơ ước làm Phù Đổng
Dệt gấm thêu hoa chữ Quật Cường

- Ừ nhỉ!
Bọn mình thời tuổi trẻ
Khí căng buồng phổi, sức căng vai
Vá trời lấp biển mang hoài bão
Vì nước vì dân luyện trí, tài

Những tưởng làm chi nên tích sự
Cùng nhau gánh vác chuyện sơn hà
Dặn lòng cố giữ tròn trung hiếu
Dù cảnh chợ đời lắm quỷ ma

Ai có ngờ đâu, ra vận nước
Bỗng nhiên - trời đất nổi cuồng phong
Bỗng nhiên – chính nghĩa thành tro bụi
Tang tóc bao trùm khắp núi sông

Trùng trùng kẻ ác đòi xương máu
Người chết trên rừng,
Chết biển sâu
Bày cảnh đọa đày “tù cải tạo”
Tàn hung không thỏa khát căm thù

Nầy bạn!
Rót thêm đầy chén nữa
(Trả vay như uống rượu đầy vơi)
- Bao giờ sỏi đá thành châu ngọc
Ta gọi rong rêu hóa kiếp người

Ta gọi mùa xuân quay trở lại
Nắng hồng sưởi ấm khắp nhân gian
Cho phường gian ác thôi cuồng mộng
Xua hãi hùng đi, dẫu muộn màng

Lòng ta khắc khoải cơn đau cũ
Mơ thấy đêm đêm một bóng cờ
Bầu, bí điêu tàn – giàn sụp đổ
Tan tành trăm trứng Mẹ Âu Cơ

(Nếu Mẹ Âu Cơ mà biết được
Mẹ buồn – huynh đệ cảnh tương tàn
Lũ con xảo trá và hung bạo
Thì chẳng bao giờ được vẻ vang)

Thôi!
Kiếp nhục vinh chừng ngã ngũ
Rồi ra chỉ thấy bọn cường gian
Tang bồng chí cả... đành chôn chặt
Mê, tỉnh còn bao nỗi nhọc nhằn

- Ta chẳng còn chi lưu luyến nữa
Ngày đi từ biệt với non sông
Phồn hoa xứ lạ bèo xô dạt
Chỉ thấy mây trôi, bóng chập chùng

- Ta đời trăng gió còn đôi chút
Gượng với anh em nửa nụ cười
Có hiểu nhau, cùng chung chén đắng
Ghép vần thơ nhạt, giải sầu chơi!

Và mai…
Một sớm nào thanh thản
Cát bụi, ung dung ta trở về
Xong kiếp phù sinh nầy ngắn ngủi
Trần gian gởi lại chuỗi đam mê.

Dương Quân
( Trích Tuyển Tập Thơ QGHC 2005 )

 

 


Nén Hương Tiễn Biệt

Anh về thiên cổ rồi sao?
Trần Quang Trí - mới hôm nào thân thương
Nổi danh thẳng thắn, kiên cường
Hào hùng quan lộ, khiêm nhường đệ huynh

Kể từ vận nước điêu linh
Thân "tù cải tạo" phận mình đắng cay
Tang bồng gãy gánh đời trai
Sá gì nghịch cảnh trần ai chuyển dời
Thản nhiên anh giữ nụ cười
Còn non, còn nước, còn người tri âm.

Nào hay, anh chán cõi trần
Thong dong, lặng lẽ âm thầm ra đi
Tiếc thương thắp nén hương này
Tiễn anh về chốn Bồng Lai Vĩnh Hằng.

Dương Quân
    6/2007


THƯ CUỐI CÙNG
(Viết cho Chị H.)

Hôm nay,
Mây xám sao nhiều quá
Giăng phủ không gian, cả đất trời
Người đến, báo TIN BUỒN vội vã
"Quê nhà- Chị đã trút tàn hơi"

.............................

Chị vào bệnh viện hôm tuần trước
Tiều tụy thân gầy, khóe mắt sâu
Khi rước Chị về..........
Khăn trắng phủ..........
Thôi rồi! dáng liễu Chị còn đâu?

Chị ơi!
Thôi thế!  là thôi!  Hết!
Ngày ấy em đi hứa trở về
Chị bảo: "Một mình nơi đất khách
em buồn. Chị đợi mãi người đi "

Chị thương em Chị, trai thời loạn
Nợ nước chưa đền- gãy súng gươm
Đành phải xa nhà, lìa xứ sở
Quê người khắc khoải kiếp cô đơn

Quê người em vẫn thương về Chị
Dành dụm gởi tiền cho Chị tiêu
Chị lại góa chồng- buồn héo hắt
Bàn thờ, bóng Chị đổ xiêu xiêu

Nhớ xưa
Từ thuở còn thơ ấu
Em vẫn giành ăn, Chị vẫn nhường
Em mãi rong chơi, làm Chị giận
Chị hiền, đâu nỡ trách em luôn

Nhớ xưa
Chị lớn thành cô gái
Mắt phượng, môi son...Chị lấy chồng
Em khóc- đi tìm theo xác pháo
Dấu hài, chân Chị dẫm rêu phong

Nhớ xưa
Cứ mỗi lần em bệnh
Chị vội về thăm với gói quà
Sờ trán, xem chừng em sốt lắm
Em vờ bệnh mãi, Chị đừng xa.

Nhưng rồi lại phải xa ngàn dặm
Nửa vòng trái đất nhớ quê hương
Chị ơi! Em hứa về thăm Chị
Sao chẳng chờ em lỡ bước đường?

Hôm nay
Mây xám giăng nhiều quá
Xám cả không gian, cả đất trời
Em chép bài thơ này khóc Chị
Vô cùng thương tiếc Chị! Buồn ơi!

Thế nào em cũng về quê cũ
Thăm xứ Đồng Nai, nhớ quặn lòng
Thăm Chợ Long Thành, cây trái ngọt
Chỗ Chị ngồi bán bưởi- còn không?

Thế nào em cũng về thăm Chị
Nấm mộ vườn sau- chỗ Chị nằm
Thắp nén trầm hương- em khấn nguyện
Ngậm ngùi: VĨNH BIỆT CHỊ!  ngàn năm!

Dương Quân
2006


Hương Tình Cà Mau

    

     Thuở ấy một lần xa phố cũ
     Tôi rời đô thị đến An Xuyên
     Chân trời cuối Việt xa thăm thẳm
     Không có người thân chẳng bạn hiền

     Là chuyến độc hành không tiễn biệt
     Hành trang chỉ một xách tay vừa
     Nhưng sao thấy nặng niềm thương nhớ
     Trời thủ đô buồn trong nắng thưa

     Tôi đến An Xuyên lòng khắc khoải
     Những trưa gà gáy gọi hoàng hôn
     Những chiều gió biển đùng mây xám
     Gọi tiếng sầu dâng tận đáy hồn

     Những bước chân mòn qua phố vắng
     Những con đường cũ nặng suy tư
     Hửng hờ rượu lạt, cà phê đắng
     Khói thuốc nào say buổi tạ từ

     Khi cánh chim bay là xóa dấu
     Cành khô cũng mất vết chia ly
     Chỉ đau là tiếng kêu quằn quại
     Hẹn ước nào ai tiếc được gì

     Sự nghiệp vẫn đi tìm trước mặt
     Nụ cười không nở cuối mùa thương
     Mai sau ai biết về thân phận
     Sỏi đá thà cam vạn nẽo đường

     Dẫu thế, Cà Mau không phụ khách
     Có rừng cũng có đất phù sa
     Cầu tre, nước chảy, cô nghiêng nón
     Tình gái An Xuyên vẫn đậm đà

     Gặp em vào buổi ban sơ ấy
     Chung chuyến đò qua ghé bến quê
     Tôi chép câu hò đem đến tặng:
     “Cà Mau đi dễ, khó quay về.”
 

Em hẹn chèo ghe ra họp chợ
Tôi chờ, trưa nắng, bóng sông trôi
Cấm sào, che nón, em cười nụ
Lòng ngỡ rằng em nói vạn lời

Nhà em có mảnh vườn rau nhỏ
Uống nước trời mưa, gạo giả tay
Tuổi mẹ như vừng xôi nếp một
Cha già như trái chín trên cây

Hái rau đem bán lo tiền chợ
Mót củi rừng thưa, nhúm bếp cơm
Cha mẹ tuổi già con gái muộn
Tảo tần ngày tháng đáp công ơn

Em từ Tắc Thủ qua Kinh Xáng
Xuống khỏi Dòng Kè, ra Tắc Vân
Tôi dưới Tân Thành lên chợ quận
Mua quà xin gởi biếu song thân

Mỗi lần tan chợ ghe xuôi nước
Áo trắng em về khuất cuối sông
Tôi tự hỏi lòng sao chẳng gởi
Cho em trọn cả trái tim hồng

Trở lại Tân Thành thương Tắc Thủ
Đường dài, sông rộng, nắng chang chang
Mái chèo có mỏi bàn tay yếu?
Má đẫm mồ hôi có võ vàng? 

Mơ ước trời luôn thêu nắng đẹp
Mưa hòa, gió thuận, khắp nơi vui
Đất lành, hoa nở trên gai góc
Cho gái Cà Mau điểm nụ cười

Từ đó tôi yêu miền cuối Việt
Yêu đôi mắt đẹp, cổ tay tròn
Áo bà ba trắng, môi cười nụ
Yêu gái Cà Mau vẹn sắt son.

Dương Quân
Kỷ niệm từ HV/QGHC  1967


Đêm Chợ Huyện Miền Trung

          Từ sương khói phủ đam mê
          Anh ra thị trấn em về phố xưa
          Ngỡ ngàng nắng hạn, mưa thưa
          Nửa đêm thương nhớ đong đưa vào hồn

          Trống thâu canh điểm đầu thôn
          Tỉnh mơ ngỡ điệp khúc buồn chiêm bao
          Gối tay tình tự thuở nào
          Đắng cay đầu lưỡi ngọt ngào cuối môi

          Bây giờ viễn tượng mù khơi
          Bên non núi rộng, bên trời biển xa
          Xoáy sâu con thác tràn qua
          Ghềnh cao sóng bổ, bóng tà vọng âm

          Trùng dương nhã nhạc cao thâm
          Tiếng ưu tư nghẹn nẽo thầm ngửa nghiêng
          Mỏi mòn chân bước sơn xuyên
          Với tay cũng mất cả niềm tương tư

          Qua vùng khắc khoải đêm thâu
          Thân sầu tủi lạnh, tình sầu quạnh hiu
          Anh giờ lá rụng lãng phiêu
          Cũng bằng phố quận tiêu điều nửa đêm

          Hững hờ chợt giấc bình yên
          Em xưa còn vọng tiếng huyền hoặc sao
          Thì thầm cơn mộng qua mau
          Bước chân làm bạc mái đầu thanh xuân.

          Dương Quân
       
  1972

Người Đi
(Kính viếng hương hồn Anh Trương Vĩ Trí) *

Người đi không biết về đâu
Quanh đây lả tả giọt sầu tuôn rơi

     Thôi thì thôi, thế thì thôi!
Cũng cho xong một kiếp người lâm ly
     Càn khôn có thuộc đường về ?
Chuyến rong chơi đã từng mê, tỉnh dài.

     Vi vu tiếng hạc cõi ngoài
Ngàn trăng sao rụng, bóng cài cung mây
     Vọng âm thế giới vơi đầy
Ngộp trần gian, giấc cuồng say chập chờn.

     Người đi lối thoảng mờ sương
Xin về chốn cũ vô thường uyên nguyên.

Dương Quân
8.2005

* Trương Vĩ Trí : Đốc Sự khóa 13
Cựu Dân Biểu VNCH 1967- 1975

 


LỜI VĨNH BIỆT
Viết cho NT3

Sương lạnh
Hôm nay, chiều cuối năm
Tin em lìa bỏ cõi trần gian
Sụt sùi đất khách đôi giòng lệ
Đưa tiễn em về chốn nghĩa trang.

Chao ôi! Tin đến nghe đau đớn
Em mất rồi sao? Có lẽ nào?
Ta thấy rụng rời, không tưởng thật
Bàng hoàng như một giấc chiêm bao.

***

Thôi rồi!
Dáng ngọc thanh tân
Long lanh mắt lệ, thơm vầng tóc mây.
Đất ôm em - mảnh hình hài
Mỹ nhân
Lịm đáy quan tài lạnh căm.

Ta ngồi đây – ta khóc cho em
Có phải hồng nhan lắm nổi chìm?
Có phải đường trần nhiều khổ lụy?
Đã làm ngưng máu chảy về tim?

Ba mươi năm
Ta đợi chờ nhau
Mái tóc xanh xưa – đã bạc đầu
Lẽo đẽo tương phùng quanh quẩn khuất
Hai phương trời lạ, nén thương đau.

Ba mươi năm
Em đọc thơ ta
Chung một niềm tin chẳng nhạt nhòa.
Em vẫn nâng niu từng kỷ niệm
Nuôi từng hi vọng tháng ngày qua.

Ba mươi năm
Giờ đã buông xuôi
Em vội vàng đi – vĩnh biệt rồi
Em đã đầu hàng, thua nghịch cảnh
Còn ta vô dụng, một đời trai.

Hỡi em!
Hiển hiện linh hồn
Nương theo cánh gió chập chờn về đây.
Hơi sương đưa nẻo trăng gầy
Đã vào thiên cổ những ngày xưa. Em!
Hắt hiu ta thắp ngọn đèn
Giọt sầu lã tã, lời nguyền vô minh.

Em hãy cùng ta nói mấy lời
Nầy đây, chén rượu rót đầy vơi
Khói hương, ta nguyện tình thân ái,
Với cả thành tâm, tạ lỗi người.

Nếu như còn được đợi chờ nhau
Xin hẹn nghìn năm ở kiếp nào
Nơi những tinh cầu xa lạ khác
Không còn hệ lụy, hết thương đau.

Ta chẳng màng chi thế giới nầy
Nên dù mặt đất, tiếp cung mây,
Ta – khe nước đục, giòng khô cạn
Thì sóng trường giang có nghĩa gì?

Ta đã từng mơ chuyện vợ chồng
Cùng nhau ấp ủ mảnh tình chung
Như bao nhiêu triệu tình yêu khác
Đâu phải lâm ly, mới mặn nồng?

Nhưng đời ta vướng thân danh ảo
Em cũng tình cay, lội ngược giòng.

Ta hẹn cùng nhau chuyến dạo chơi
Những miền cổ tích rất xa xôi
Dấu chân du mục, hằn trên đá
Hoa cỏ, rêu phong, vắng bóng người.

Ta nhớ
Năm xưa vì vận nước
Ta phải tù đày, em héo hon
Em gửi cho ta đôi dép chắc
Cho chân ta vững, lội trên rừng.

Ta nghe
Em khóc trên giường bệnh
Nhắn gọi ta về, vuốt tóc em
Nửa nụ hôn mềm em chợt tỉnh
Rất thơ – như những chuyện thần tiên.

Ngày ấy, quê hương tàn cuộc chiến
Em bồng con mọn vượt trùng dương
Đôi bờ xa cách, xa thêm nữa
Thương nhớ gởi về mây bốn phương.

Ta nhớ
Khi ta về dưới phố
Lại đi xứ lạ một thân người.
Mùa đông, em gởi khăn quàng cổ
Cho ấm tình nhau. Yêu dấu ơi!

Em bảo: “Cuối cùng rồi cũng gặp”
Nên ta vững dạ ghép vần thơ
Vì em, gởi gấm niềm tâm sự
Bằng trái tim mình – ru cõi mơ.

Ôi! chỉ là mơ
Là mộng mị
Đời thường lại khác - trắng trơ xương
Lại lui vào mộng tìm tri kỷ
Nên mộng triền miên, chuỗi đoạn trường.

Ta nghe
Ta thấy
Và ta nhớ
Từng tuổi nầy đây – ta khóc em
Như đứa trẻ khờ, ngồi khóc vụng
Ta cuồng, thơ vận cũng cuồng điên.

Tháng chạp
Cuối năm trời lạnh giá
Người người mừng đón Chúa sinh ra
Còn em, lại trở về vô định
Ta thấy trần gian, mắt lệ nhoà.

Dậy đi em!
Dậy đi em!
Chừng như em ngủ sau rèm áo quan
Bước ra theo ánh trăng tàn
Bờ mê - bến mộng
Càn khôn chuyển dời.

Em đi theo ánh sao trời
Nợ tình rũ sạch, kiếp người hoá thân.
Giờ đây – ta lắm phong trần
Bóng câu vụt tắt, phù vân mịt mờ.

Nghìn sau nối tiếp nghìn xưa
Tử sinh, sinh tử vật vờ theo nhau
Gọi tên em
Ta gục đầu.
Lệ ta nhỏ xuống - bể sầu dâng lên.

DƯƠNG QUÂN
December 31st, 2004