|
Nguyên tác của
Merle L.Pribbenow
Trọng Đạt dịch
Tháng rồi
nữ tài tử Jane Fonda có đăng một bài trên
trang mạng của bà lấy tên "Tôi thăm Hà
Nội", trong bài này bà giải thích
cuộc viếng thăm Hà Nội hai tuần của bà mùa
hè 1972, bài nhằm mục đích bác bỏ những lời
người ta chỉ trích bà trên mạng cũng như
những bài lên án bà là kẻ phản bội trong
chuyến viếng thăm này.
Tại sao
nay mở lại cuộc tranh căi này? V́ ít ngày
trước đó đài truyền h́nh thương mại QVC, sau
khi nhận được nhiều phản kháng, đă hủy bỏ
một chương tŕnh trên đài dành cho Fonda để
quảng bá cuốn hồi kư của bà. Như vậy bài
viết của Jane Fonda đó để nói lại sự việc
cho đúng. Người nữ minh tinh đọat giải Oscar
này đă có lời xin lỗi (đúng ra là những biện
hộ, giải bài, hơn là xin lỗi) về bức h́nh
tai tiếng khi bà ngồi điều khiển một khẩu
cao xạ pḥng không của Bắc Việt. Nhưng phần
chính của bài viết là để biện hộ cho chuyến
đi ấy cũng như động cơ đă thúc đẩy bà.

Ngoài bà
Fonda, không ai biết rơ động cơ ấy là ǵ,
nhưng điều rơ ràng là Bắc Việt đă khai thác
bà để tuyên truyền cho họ. Bà ta là một kẻ
khờ dại - sự thật th́ không phải như vậy -
nếu nghĩ rằng BV không có mục đích tuyên
truyền ǵ cả.
Một trong
những điều kết án Fonda nặng nề nhất, là bà
ta đă hành xử như một điệp viên BV khi làm
như vậy. Và như thế đáng kết tội phản bội.
Nếu đúng vậy bà ta đă có thể làm theo hướng
dẫn cũa một viên chức BV, có thể một viên
chức t́nh báo BV. Và câu hỏi tiếp theo là,
Jane Fonda có tiếp xúc với t́nh báo BV?
Nói chung
điệp viên các nước đều họat động ngầm không
cho người ta biết tông tích của ḿnh, câu
hỏi về bà Fonda có liên lạc với t́nh báo BV
không, khó trả lời. Tuy nhiên trong trường
hợp, này chính Bắc Việt đă cho chúng ta câu
trả lời. Không những họ cho biết bà Fonda đă
tiếp xúc với điệp viên BV năm 1972, họ c̣n
cho biết tên người ấy, bí danh của y cũng
như huấn thị hành động và mục đích nhắm vào
người Mỹ.
Năm 2005,
một bài đăng trên báo Thanh Niên, cơ quan
ngôn luận chính thức của Đoàn thanh niên CS
Hồ Chí Minh, đề cập đến cuộc phỏng vấn một
viên chức Việt Nam đă hồi hưu tên
Hồ Nam,
người mà năm 1972 đă là viên chức ṭng sự
trong ngành ngọai giao của BV tại Paris. Hồ
Nam kể lại y đă gặp Fonda ra sao, khi bà ta
nhận nhiệm vụ xin Visa vào BV. Hồ Nam và một
viên chức ngọai khác dạy Fonda hát một bản
nhạc chiến đấu mà bà muốn hát khi ở Hà Nội,
Hồ Nam kể lại bà Fonda nói,
"Tôi
muốn hát tặng chiến sĩ của các anh".
Hồ Nam
cũng kể lại khi Fonda rời Hà Nội sau chuyến
đi thăm BV, bà ta có gọi cho y từ Bangkok,
dặn y gặp bà tại Phi trường quốc tế Orly,
Paris khi bà trở lại Pháp và Nam đă làm theo
lời bà.
Hồ Nam là
ai? Có phải y chỉ là một nhân viên ngọai
giao b́nh thuờng của BV, chỉ nhận đơn xin
nhập cảnh, hoặc có một sứ mạng khác?
Năm 2004
một cuốn sách xuất bản tại Hà Nội kỷ niệm
ngày sinh thứ 90 của Trần Quốc Hoàn, Ủy viên
trung ương đảng, người đă có mấy chục năm
phục vụ Đảng, từ 1950 cho tới cuối 1970,
trong chức vụ Bộ trưởng công an. Địa vị của
Hoàn giống và rập khuôn theo chức của Thủ
trưởng cơ quan mật vụ Nga KGB. Cuốn sách có
ghi vài bài tưởng nhớ trong đó có bài "Cựu
bộ trưởng Trần Quốc Hoàn và quan hệ với một
chiến sĩ t́nh báo". Tác giả bài viết không
ai khác hơn là Hồ Nam. Hồ Nam thực sự chỉ
là một bí danh.
Hồ Nam
thực ra là công an ch́m sở t́nh báo, phục vụ
cho Cục D13 tên thật là
Hoàng gia Huy
đă được đưa sang làm giả dạng trong ngành
ngọai giao tại Paris với mục tiêu dân vận
nhắm vào người Mỹ. Tên Hồ Nam ghi trong giấy
thông hành của y cũng như hoạt động tại
Paris chỉ là bí danh. Y lấy họ Hồ để vinh
danh "Bác Hồ", và tên Nam là ư nói đến miền
Nam của nước Việt nam
Trong bài
Hồ Nam (tên dùng luôn từ đó) dẫn nhiều huấn
thị của chính Trần Quốc Hoàn cho y trước khi
đi Paris năm 1968:
“Việc
thứ hai cần nắm thật chắc, thật vững: đế
quốc xâm lược Mỹ là đối tượng tranh đấu
chính yếu của ta. Chỉ có người Mỹ mới có
hiểu biết nhiều về chủ trương kế hoạch cụ
thể đối với cuộc chiến tranh của Chính phủ
họ ở Việt Nam. Phải t́m mọi cách xây dựng
lực lượng trong hàng ngũ người Mỹ giác ngộ,
phản đối chiến tranh của Mỹ, đó là những
người có lương tri, có nguyên vọng giúp Việt
Nam để chuộc lại những tội lỗi do binh sĩ Mỹ
gây nên. Tôi gọi việc này là xây dựng quan
hệ hữu nghị, và giao cho đồng chí chuyên
trách, các đồng chí ở địa bàn đă có công
việc khác rồi. Đồng chí cần biết rơ đối
tượng ḿnh định xây dựng thành cơ sở, biết
chọn lọc và bố trí họ đúng chỗ để khai thác
tối đa t́nh h́nh địch, có lợi cho ta, góp
phần phục vụ trong nước đánh thắng địch đồng
thời phục vụ cuộc đàm phán của các phái đoàn
ta, v.v…”
Sau khi
nhận huấn thị, Hồ Nam nói y đă chuẩn bị cho
nhiệm vụ này như thế nào, điều nghiên để
chọn mục tiêu nào là hữu ích nhất cho ḿnh
ngơ hầu t́m lấy được những thông tin cần
thiết.
“Nghiêm
chỉnh chấp hành chỉ thị của Bộ trưởng với sự
chỉ đạo sát sao của lănh đạo Cục A.13, tôi
nhanh chóng sắp xếp mọi công việc, làm thủ
tục biệt phái sang Bộ Ngoại giao, nghiên cứu
t́nh h́nh địa bàn, đặc biệt chú trọng những
người Mỹ có nhiều tin tức ở Paris mà người
ta thường gọi: Paris là ngă tư của các loại
thông tin (Carrefour des informations)”.
Dĩ nhiên
Hồ Nam không tiết lộ lư lịch của những người
Mỹ mà y nhằm thu phục, y cho biết rất thành
công .Y viết ngọt ngào:
“Thấm
nhuần lời chỉ giáo này, tôi đă tuyển chọn
được một mạng lưới tích cực hoạt động, cung
cấp cho ta những tin quan trọng, hạn chế
thương vong, giành chiến thắng.”
Tất cả
những dữ kiện trên không có ǵ chứng tỏ hoặc
ám chỉ cho thấy Jane Fonda đă là một cộng
tác viên của T́nh báo BV. Trước hết bà chỉ
là một tài tử xi nê không thể biết ǵ về
những kế hoạch mật, cấp cao của chính phủ Mỹ
mà Hồ Nam rất muốn thu thập. Tuy nhiên, là
nhân vật rất nổi tiếng, giao thiệp rộng cả
về mặt xă hội và chính trị tại Paris cũng
gồm nhiều người Mỹ bà có thể dễ dàng được
dùng làm cộng tác viên cung cấp hay nói khác
đi, một phương tiện để dẫn dắt tới những
nhân vật khác có khả năng cung cấp những
thông tin mà Hồ Nam t́m kiếm.
Thêm vào
đó, việc thu thập những tin mật về kế họach,
ư đồ của địch là công việc trước tiên và
quan trọng nhất của một điệp viên nhưng công
việc của y không phải chỉ có thế. Người điệp
viên c̣n có nhiệm vụ tổ chức chiến dịch
tuyên truyền cho nước ḿnh và làm suy yếu
tinh thần ư chí của nước nghịch. Việc này
không cần phải thu phục người để thực hiện
chiến dịch và khiến người cộng tác không có
cảm tưởng ḿnh bị người ta giật dây sai
khiến. Tất cả chỉ cần lấy được cảm t́nh thân
thiện và ḷng tin. Bộ trưởng Trân Quốc Ḥan
gọi nó là "Công tác triển khai t́nh hữu nghị"..
thuyết phục đối tượng của ḿnh rằng đôi ta
cùng có lợi và gợi cho người ấy có thể hoặc
phải làm cho cả hai bên có nhiều lợi lộc hơn
nữa.
Ở đây ta
không thể nói Jane Fonda là điệp viên của
Cộng Sản BV v́ tuyệt đối không có bằng chứng
ǵ để kết án bà như vậy. Vấn đề ở chỗ bà
biết đặt ḿnh vào địa vị mà t́nh báo địch có
thể khai thác tiếng tăm của bà và sự tiếp
xúc với bà cho cả việc thu thập tin t́nh báo
cũng như công tác tuyên truyền và như thế,
theo chính BV, một trong những người bà tiếp
xúc thân thiết là một điệp viên mà năm 1972
y có mục đích khai thác những người như bà.
Nếu cho rằng y không có ư xử dụng hoặc khai
thác bà ta là điều ngây thơ không thể tả
được.
Jane Fonda
cần phải xin tạ lỗi các cựu chiến binh Việt
Nam và tạ lỗi với đất nước của bà không phải
v́ là người phản chiến - v́ có nhiều người
Mỹ yêu nước chân chính, già cũng như trẻ, đă
chống chiến tranh một cách hợp t́nh hợp lư -
nhưng v́ bà đă tự đặt ḿnh vào một địa vị mà
sở t́nh báo của nước đang có chiến tranh với
Mỹ có thể khai thác và xử dụng bà, và chính
bà đă chấp nhận cho kẻ địch làm như thế.
Sau khi đă
nhận được nhiều góp ư giận dữ của độc giả
trả lời cho bài viết của bà về chuyến đi Hà
Nội, bà Fonda bèn đăng một bài trên trang
mạng của ḿnh có tên là "Tha thứ".
Thật t́nh mà nói bà Fonda cần chân thành xin
người dân Mỹ, nhất là cựu chiến binh Mỹ, hăy
tha thứ cho bà.
Dịch theo bài
Jane Fonda and Her Friendly North
Vietnamese Intelligence Officer của
Merle L. Pribbenow đăng trên Washington
Decoded ngày 10 tháng 8-2011
(Lời Toà Soạn:
Merle L. Pribbenow tác giả bài viết "Limits
to Interrogation: The Man in the Snow White
Cell" [nói về cuộc thẩm vấn nhân viên
t́nh báo cao cấp Nguyễn Văn Tài của Bắc Việt],
khảo cứu về t́nh báo, là một nhân viên CIA
về hưu, chuyên viên Việt Ngữ, đă phục vụ tại
Việt Nam từ 1970 cho tới 1975. Đây là bài
thứ ba của ông dành cho tạp chí Washington
Decoded) |