THE GRAPES OF WRATH Tác phẩm sinh đôi của văn hào John Steinbeck
John Steinbeck và
Hemingway là hai cây bút thuộc vào hàng cự phách của nền văn học Mỹ cũng
như trên văn đàn thế giới. Hemingway, một tác giả quen thuộc của Sàig̣n
năm xưa với các tác phẩm Lăo Ngư ông Và Biển Cả (The Old Man and The Sea)
Giă Từ Vũ Khí (Farewell to Arms), Mặt Trời Vẫn Mọc (The Sun also Rises). .
.Tác giả sống tại ngoại quốc lâu năm nên các đề tài của ông đều đă bắt
nguồn từ các nước non xa lạ bên Âu Châu, Phi Châu, nào chiến tranh, đấu ḅ,
đánh cá. .
Trong khi Hemingway mải mê với các chân trời xa lạ,
John Steimbeck quay về với các đề tài ngay tại quê hương ông, cuối thập
niên 30, ông chú trọng tới giai cấp lao động qua các tác phẩm In Dubious
Battle (1936), Of Mice And Men (1937) và The Grapes Of Wrath (1939). Trong
số ba tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là The Grapes of Wrath, East of Eden
(1952) và Of Mice And Men, cuốn The Grapes Of Wrath được coi là hay nhất
nhưng giải Nobel năm 1962 lại dành cho East of Eden, một tác phẩm khó
hiểu, phim quay 1952 cũng khó hiểu như truyện. Of Mice and Men chỉ là một
truyện ngắn quay thành phim nhiều lần, gần đây nhất là năm 92, khá hay
nhưng cũng khó hiểu. Giống như trường hợp Sholokhov với hai kiệt tác vĩ
đại Quiet Flows The Don (1940) và Virgin Soil Upturned (1960), cuốn Quiet
Flows The Don được dư luận chung coi như tác phẩm tuyệt vời nhất của ông,
của nền văn học thế giới nhưng giải Nobel lại dành cho Virgin Soil
Upturned, nghệ thuật thua kém hơn.
John Steinbeck sinh tại Salinas, California năm 1902,
có theo học Đại học Văn khoa tại Stanford University mấy năm nhưng không
đỗ đạt ǵ, ông đi làm lao động chân tay sinh sống, sau viết báo, làm quản
gia. . tác phẩm của ông phản ảnh rất hiện thực đời sống của nhân dân lao
động Mỹ.
The Grapes Of Wrath được coi như tác phẩm hay nhất của
John Steinbeck ( . . the book considered by many his finest) và cũng có dư
luận coi nó như tác phẩm hay nhất của nền văn chương Mỹ, ít có truyện nào
sánh kịp (. . has few peers in American fiction - Robert Demott), được giải
Pulitzer 1940, dài 600 trang, cuốn sách bán chạy nhất trong năm 1939, trên
400 ngàn cuốn, đă được dịch ra trên 30 thứ tiếng, được giảng dạy như sách
giáo khoa tại các trường trung học, đại học từ cấp học sinh cho tới bậc
sinh viên tiến sĩ.
Truyện cũng đă tạo nhiều tranh luận sôi nổi nhất tại Mỹ
từ trước đến nay, hồi trước tại nhiều nơi người ta đă đem đốt nó đi hoặc
cấm lưu hành v́ cho rằng nó mang tính chất tuyên truyền cho chủ nghĩa Cộng
Sản, phảng phất cái không khí đấu tranh giai cấp. Tác phẩm cũng đă được
nhiều người bênh vực v́ nó phản ảnh được, nói lên được những nỗi cay đắng
uất hận của bọn di dân Ohklahoma đi t́m cơm áo tại miền đất hứa California
cũng như đă tranh đấu cho nhân phẩm và quyền sống của con người.
Sang năm sau 1940, truyện đă được hăng 20th Century-Fox
quay thành phim, đạo diễn John Ford, tài tử Henry Fonda, tiền bản quyền là
70 ngàn đồng thời ấy. Phim vẫn giữ nguyên nội dung mang khuynh hướng xă
hội của nó như tác giả đă yêu cầu. Cuốn phim đoạt 2 giải Oscars và sau này
được xếp trong số mười phim hay nhất mọi thời đại của Mỹ ( American film
institute list of the all-time best American film), giá trị nghệ thuật rất
cao, John Steinbeck phải khen “hay quá, y như phim tài liệu vậy”.
Một tác phẩm văn chương bất hủ biến thành cuốn phim hay
nhất mọi thời đại, một tác phẩm đă được hai lần bất hủ đó là trường hợp hy
hữu, đặc biệt v́ những phim được xếp trong số những phim hay nhất mọi thời
đại hoặc hay nhất thế giới như Rashomon (Nhật, 1951), Bảy Người Hiệp Sĩ
(Nhật, 1953), La Strada (Ư, 1954), La Grande Illusion (Pháp, 1937). . đều
được quay từ những truyện vô danh, không ai biết tới, thậm chí Rashomon do
một truyện ngắn mà thành. Lại nữa những tác phẩm bất hủ vào hạng “tầm cỡ”
như Anna Karenine (Nga), Les Frères Karamazov (Nga), Notre Dame De Paris
(Pháp), Giờ thứ Hai Mươi Lăm (Lỗ Ma Ni). . đă được quay thành những phim
hay vào hạng “hay trung b́nh”.
Trước 1975 chúng ta vẫn thường gọi truyện này là
Chùm Nho Uất Hậndo một bản dịch từ tiếng Pháp ra Les Raisins de la
Colère, nghe th́ cũng hay nhưng không được sát nghĩa. Chữ Colère trong
tiếng Pháp và Wrath tiếng Anh có nghĩa là cơn phẫn nộ, c̣n uất hận để chỉ
sự căm hờn. Chữ Wrath diễn tả cơn giận sôi sục của bọn di dân nghèo đói
đứng nh́n bọn điền chủ cho đổ thực phẩm xuống sông để giữ giá hàng .
John Steinbeck đă làm sống lại cuộc di cư vĩ đại và bi
thảm đầy nước mắt của các nhà nông Oklahoma đă bị truất hữu đất đai tài
sản trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế, họ đă kéo nhau trên các xe vận tải
hướng về California hy vọng t́m được việc làm tại các nông trại vượt qua
khó khăn gian khổ trước mắt. Sơ lược truyện.
Tom Joad mới ở tù ra, tội giết người tự vệ, án bảy năm,
nhưng được về sớm mấy năm hiện c̣n trong thời kỳ quản chế. Về tới nơi thấy
nhà cửa trống trơn, chàng cùng ông đạo (preacher) Casy sang nhà ông chú,
tại đây đại gia đ́nh ông bà nội ba (pa) mẹ (ma), em trai, em gái và hai
đứa út. . đă tụ tập đông đủ chuẩn bị lên đường. Đất đai cằn cỗi, trồng
bông g̣n không sinh lời nên ngân hàng quyết định lấy lại đất, cho xe ủi
hết nhà cửa để bán lại cho cơ sở khác, sống chết mặc bay.
Thu góp được hơn hai trăm mua chiếc xe vận tải cũ kỹ
hơn bẩy chục rồi bầu đoàn thê tử lên xa lộ hướng về miền Tây. Chưa ra khỏi
tiểu bang ông nội chết v́ già yều quá, gia đ́nh quyết định chôn ngay bên
đường với mảnh giấy giải thích “nhà nghèo không có tiền lo mai táng”.
Hàng đoàn xe vận tải chở bọn di dân đói rách lũ lượt
kéo nhau về miền đất hứa California, ban đêm họ tụ tập cắm trại tại bờ
sông, bờ hồ, nơi có nước nấu ăn. Họ chia xẻ nhau từ miếng bánh cho đến
niềm hy vọng vào ngày mai ở xứ lạ xa xôi. Họ đoàn kết, ḥa hợp nhau thành
một đơn vị, giúp đỡ nhau để cùng hướng về một lối thoát, cùng chung một hy
vọng.
Cuộc hành tŕnh gian nan, chiếc xe nhỏ bị hư hỏng dọc
đường phải sửa chữa vất vả. Đến biên giới tiểu bang Arizona, họ bị cảnh
sát nhắc nhở phải tiếp tục con đường c̣n lại không được trú ngụ tại đây.
Họ bị khinh miệt, xua đuổi, bị gọi bằng cái tên khinh thị Okies.
Tới California cả gia đ́nh mừng rỡ, họ nh́n những đồn
điền trồng cây xinh tươi mênh mông bát ngát, nơi thu hút nhiều nhân công
hái trái cây, ai nấy trong ḷng chứa chan hy vọng. Bà nội cũng mất v́ giá
yếu, mẹ Tom nói: “bà cụ sẽ được chôn cất ở nơi xinh tươi xanh tốt. . cụ
phải được nằm xuống tại California”
Đất Cali xưa thuộc Mễ, những người Mỹ đi khai phá miền
Tây vơ trang súng đạn chiếm đất đuổi bọn bản xứ về phía Nam. Nay canh tác
trở thành kỹ nghệ, nông trại ngày càng lớn mạnh, chủ nhân càng ít đi. Bọn
di dân ngoại quốc Tầu, Nhật, Phi Luật Tân, Mễ. . bị đối xử như nô lệ, bị
đánh đập, bắn giết. .
Bọn di dân từ Kansas, Oklahoma, New Mexico, Texas. .
kéo đến hàng mấy trăm ngàn người như đàn kiến t́m kiếm việc làm, cơm ăn áo
mặc. Lũ người rách rưới đói khát cạnh tranh lẫn nhau v́ miếng cơm manh áo.
Người Cali bắt đầu sợ và ghét dân Oklahoma đói khát, rách rưới. . v́ họ
cạnh tranh lao động với đồng lương rẻ mạt, v́ đói rách dễ sinh ra trộm
cướp. Bọn vô gia cư khốn khổ ngày kéo về ngày một đông..
Gia đ́nh Tom Joad đă tới miền đất hứa, họ dừng chân tại
trại Hooverville, đó là một khu tụ tập gần bờ sông của các gia đ́nh di
dân, họ làm lều, nhà giấy các tông, lợp cỏ tạm bợ sống qua ngày chờ việc.
Những trại tạm cư tự lập thường thấy tại California dơ bẩn, đông đúc,
khiến chính quyền lo sợ, Bộ y tế thường cho lệnh giải tỏa, đốt trại để xua
đuổi bọn nghèo đói đi, sống chết mặc bay.
Bà mẹ Tom Joad đem đồ ra nấu ăn, bọn trẻ đói khát kéo
lại gần nh́n bằng cặp mắt thèm thuồng, bà cụ không nỡ xua đuổi chúng, chia
phần cho mọi người trong gia đ́nh xong bà chừa lại một chút dưới đáy nồi
cho bọn trẻ, chúng xúm lại múc vét. .
Có hôm đẹp trời, một ông chủ ăn mặc lịch sự lái xe đến
trại t́m người hái quả, một anh thanh niên, bạn mới quen của Tom Joad hỏi
ông chủ:
- Ông trả chúng tôi bao nhiệu?
Ông ta nói mập mờ:
- Khoảng mấy chục xu.
- Ông phải nói rơ ông mướn chúng tôi bao nhiêu? Nếu
không ông không có quyền mướn người!
Nói qua nói lại, ông chủ sai cảnh sát ngồi trong xe bắt
anh này về tội phá rối, anh ta bỏ chạy, cảnh sát bắn theo lại trúng một bà
già. Tom chạy lại ôm chân ông cảnh sát, ông đạo Casy, bạn chàng đá vào đầu
người cảnh sát chết giấc. Một lúc sau xe cảnh sát tới bắt Casy, chiều ấy
gia đ́nh Tom Joad phải kéo nhau ra đi v́ chính quyền cho người đốt trại.
Gia đ́nh đến ở tạm tại một trại của chính phủ thuộc
Bộ
canh nông. Sở định cư có lập một số trại có điện nước, có tiêu chuẩn vệ
sinh, tự quản không có cảnh sát an ninh ăn hiếp di dân. Họ rất thích không
khí tại đây song không t́m được việc lại phải dời trại.
Tom và gia đ́nh t́m được việc hái đào (peach) tại trại
Hooper Ranch, họ trả rẻ mạt song trước mắt phải có tiền độ nhật, bốn người
trong gia đ́nh nhận việc, ai nấy hy vọng trong mấy tháng sẽ kiếm được tiền
thuê nhà.
Không khí tại đây thiếu tự do thoải mái như ở trại
chính phủ, có an ninh kềm kẹp, số người di dân đến xin việc ngày một đông,
chủ trại được thể bóc lột nhân công xương tủy. Một buổi tối Tom đi rong
chơi rồi lạc bước đến một cái lều và t́nh cờ gặp lại bạn cũ, ông đạo Casy,
người đánh cảnh sát nay được thả vào làm việc tại đây. Tối ấy Casy bàn
chuyện đ́nh công v́ họ hạ lương xuống c̣n một nửa chưa đủ ăn cho một miệng
người. Cảnh sát biết tin bèn t́m đến, mọi người bỏ chạy, Tom và Casy lần
xuống một con lạch, một tên cảnh sát hung dữ dùng gậy đập chết Casy, Tom
giựt cây gậy đập chết tên này để trả thù cho bạn rồi thoát được về nhà,
chàng bị đánh ở mặt, sưng một bên má.
Sáng hôm sau gia đ́nh phải rời trại ngay v́ Tom đang bị
lùng bắt, chàng chui dưới tấm nệm trong xe nên thoát nạn.
Họ đến làm việc tại một trại hái bông g̣n, thu nhập đỡ hơn, Tom Joad phải
trốn ngoài đồng, ngày chui vào ống cống, đêm ngủ ở vườn nho, tối nào bà mẹ
cũng đem đồ ăn tiếp tế v́ chàng bị truy nă, khi nào vết thương ở mặt lành
mới dám vào trại.
Cuộc sống khả quan hơn, bà mẹ mua thịt, bột ḿ, khoai.
. về làm đồ ăn, cả nhà hy vọng vào ngày mai, bỗng một hôm đứa con gái nhỏ
trong gia đ́nh vô t́nh nói với bọn trẻ hàng xóm anh nó Tom Joad đă giết
người đang trốn. Bà mẹ sợ quá vội t́m chàng, tối ấy bà đưa cho chàng bảy
đồng nói chàng phải đi ngay v́ sợ bại lộ, Tom từ biệt mẹ chàng nói.
. . Con sẽ ở khắp mọi nơi chỗ nào mà mẹ muốn t́m. Chỗ nào tranh đấu cho
người nghèo đói có ăn, con sẽ có mặt! Chỗ nào có công an cảnh sát đánh
người, con sẽ đến nơi . . chỗ nào có tiếng trẻ em nghèo đói thấy bữa ăn,
khi người dân ăn miếng bánh họ làm ra và ở trong căn nhà họ dựng lên, con
sẽ tới nơi . (. .Wherever they’s (tức there is) a fight so hungry
people can eat, I’ll be there. Wherever they’s a cop beating up a guy,
I’ll be there. . )
Gia đ́nh chuyển đến một trại bông g̣n nhỏ hơn, họ trả
khá hơn song rất nhiều người tới làm, chỉ một lúc là hết việc.
Mùa hái trái cây, bông g̣n đă qua . . .
Hết việc, không tiền không thực phẩm, mưa gió dầm dề,
nước ngập vào trong lều, bọn di dân đành chịu trận nh́n nước ḅ dần vào.
Rose Of Sharon, em gái Tom có bầu, mới sanh, cô và gia
đ́nh phải dọn đến một nhà kho. Truyện kết thúc khi Rose lấy sữa của ḿnh
cứu sống một ông bị kiệt sức đang nằm trong góc.
Trong số những tác phẩm văn chương nổi tiếng của văn
học Mỹ như Cuốn Theo Chiều Gió, Lăo Ngư Ông Và Biển Cả, Truyện Quái Đản
của Edgar Poe, GodFather. . . . The Grapes Of Wrath là cuốn tiểu thuyết mà
tôi thích nhất, một tác phẩm hiếm có của văn học Mỹ, vô cùng hiện thực đă
diễn tả quá đầy đủ về giai đoạn cay đắng gian khổ nhất của xă hội Mỹ cũng
như của con người, tác phẩm đă thể hiện tiếng nói của John Steinbeck,
tiếng nói của lẽ phải, công bằng, tiếng nói đấu tranh cho nhân phẩm và
quyền sống của con người.
Người ta thường nói nước Mỹ là thiên đường vật chất khi
nh́n cuộc sống sung túc giầu có và nền kinh tế phồn thịnh của nó. Nhưng
không phải rằng của cải vật chất ấy tự trên trời rơi xuống, không phải
rằng nước Mỹ đă được thiên nhiện ưu đăi với rừng vàng biển bạc. Nhưng
những con người cần cù của đất nước rộng răi bao la này đă đổ bao nhiêu mồ
hôi nước mắt, bao nhiêu xương máu để tạo nên một nền kinh tế thịnh vượng
như chúng ta thấy hiện nay. Họ cũng đă trải qua bao nhiêu phấn đấu cam go
gian khổ và bao nỗi thăng trầm. The Grapes Of Wrath đă làm sống lại giai
đoạn cam go, cay đắng đầy nước mắt ấy.
Khi mới xuất bản, cuốn truyện đă bị nhiều dư luận chỉ
trích kịch liệt, nhất là những người đă bị đụng chạm. Một số trí thức cho
là truyện không có nghệ thuật, không thuyết phục được ai, một số trường
học thư viện cấm lưu hành v́ sợ nó xúi dục bạo loạn và dùng ngôn ngữ trắng
trợn. Các ông lớn, tu sĩ hữu khuynh, hiệp hội nông dân, chính trị gia. .
tố cáo tác phẩm có khuynh hướng thân Cộng Sản, không có giá trị đạo đức,
suy thoái, sai sự thật. . Một vị dân biểu Oklahoma cho rằng truyện này láo
khoét, sự sáng tạo của một bộ óc điên loạn. Một tu sĩ ḍng Tên kết án nó
tuyên truyền cho Cộng Sản.
John Steinbeck cho rằng khi tài sản tập trung trong tay
một số ít người nó sẽ bị lấy đi, khi đa số người dân là nghèo đói th́ họ
sẽ dùng vũ lực để chiếm lấy (When a majority of the people are hungry and
cold they will take by force what they need). . Lịch sử đă chứng tỏ như
vậy, các ông điền chủ bỏ nhiều tiền mua các phương tiện vũ lực chống nổi
dậy v́ họ sợ rằng mấy trăm ngàn người đói rách này nếu có người lănh đạo
th́ họ sẽ sụp đổ (three hundred thousand - if they ever move under a
leader - The end) . . Bạo lực vũ khí không thể đè bẹp đám đông được, người
ta không lưu ư tới nguyên nhân sự nổi dậy (có thể), không quan tâm tới kế
hoạch đổi thay kinh tế.
Nhóm khuynh tả ca ngợi đây là một thắng lợi của văn
chương vô sản. Nhưng tác phẩm cũng lại được các sử gia trí thức nghiên cứu
tỉ mỉ, phân tích và bênh vực cho giá trị tả chân hiện thực của nó, tác
phẩm đă phản ảnh tiếng nói của lớp người bị đẩy vào bước đường cùng. Tổng
thống Roosevelt và phu nhân khen truyện trung thực vô tư, năm 1940, phu
nhân tổng thống đi thăm các trại và tuyên bố “John Steinbeck không nói ngoa
chút nào”
Cuốn tiểu thuyết được viết trong mấy tháng nhưng
Steinbeck đă bỏ nhiều năm thu thập dữ kiện và sửa soạn, năm 1938 ông đi
thăm các trại di cư ở Visalia và Nipomo, mấy ngàn gia đ́nh đói khát bệnh
tật, nhiều người chết v́ đói, tỉnh và tiểu bang không giúp ǵ họ v́ cho đó
là những người ngoài.
Di dân đi xin trợ cấp, Sở cứu trợ cho biết họ phải ở đủ
một năm, người lớn lo sợ, trẻ nít đói khóc đ̣i ăn, nhiều người đi xin ăn,
trộm cắp. Tại các tỉnh nhỏ mới đầu người ta thương di dân sau đâm sợ,
tuyển cảnh sát thêm, mua thêm súng để đề pḥng bọn nghèo đói nổi dậy. .
những điểm này đă được ông diễn tả trong phần cuối truyện, tấn thảm kịch
lớn lao thời khủng hoảng kinh tế.
Các điền chủ lớn ngày càng phát tài, thịnh vượng, họ có
máy đóng hộp đào, lê, táo. . để tới năm sau cũng được. Chủ nhỏ nhiều người
phải bán rẻ dất đai cho chủ lớn v́ không có máy đóng hộp không giữ được
sản phẩm, tài sản ngày càng tập trung trong tay một số ít người, đó là đặc
điểm của nền kinh tế tư bản.
Các điền chủ có những quyết định kinh tế có lợi cho họ
nhưng lại vô nhân đạo, không c̣n t́nh dân tộc nghĩa đồng bào. Sản phẩm
không bán được bị đem hủy đi để giữ giá hàng. Họ chất cam vàng óng thành
một đống rồi tưới dầu hỏa lên hay đổ khoai tây xuống sông, đặt người canh
gác hai bên bờ, cấm không cho bọn nhà nghèo được vớt. Họ giết lợn, đào hố
chôn tập thể. Dân thiếu ăn đói khát vớt khoai ăn bị lính bắt phải đổ xuống
sông chỉ có nước thèm nhỏ dăi đứng nh́n khoai tây trôi bồng bềnh trên sông
hoặc nghe tiếng lợn bị giết kêu eng éc. John Steinbeck cho đó là một tội
ác vô nhân đạo và vô lư.
Trong con mắt của những người di dân đói khát, niềm
phẫn nộ dâng lên, trong tâm trí của bọn điền chủ chùm nho phẫn nộ dâng cao
v́ vụ mùa nho thất bại (. . The Grapes of Wrath are filling and growing
heavy) đó là ư nghĩa của The Grapes of Wrath.
Mặc dù tác giả chỉ đề cập đến những người di dân da
trắng không nói đến bọn di dân Tầu, Nhật, Mễ. . số này khá đông, nhưng
truyện cũng được coi như có giá trị nhân bản, tranh đấu cho nhân phẩm và
quyền sống của con người: Một gia đ́nh di dân vật lộn với cuộc sống gian
truân để tới miền đất hứa, nhiều ngàn vạn người khác cũng di cư t́m đất
hứa, đây cũng là truyện di cư của nước Mỹ, nh́n xa hơn ta cũng có thể coi
nó như cuộc di cư của nhân loại đi t́m đất hứa.
Nay đa số các nhà phê b́nh phân tích cho rằng The
Grapes of Wrath chỉ là một tác phẩm văn chương không phải là một tài liệu
tuyên truyền, nó đă diễn tả và phá tan huyền thoại “đất hứa California”.
Con người, tiêu biểu là chàng thanh niên đầy nhiệt huyết Tom Joad ước mơ
một xă hội công bằng, tự do, tôn trọng nhân phẩm, con người tự gặt hái
thành quả của chính ḿnh.
The Grapes Of Wrath một tác phẩm nghệ thuật có giá trị
văn chương rất cao đă diễn tả chân thực những ảo tưởng tan vỡ, những nỗi
đau khổ của con người, những niềm hy vọng treo trên sợi chỉ mành mong
manh. Trên thế giới vẫn c̣n quá nhiều khổ đau, The Grapes Of Wrath cũng đă
đóng góp một phần trong sự diễn tả một cách hiện thực những nỗi cay đắng
của con người ngay cả tại phần đất đă được coi như phồn thịnh nhất thế
gian này.
Toàn bộ tác phẩm dài tới 600 trang gồm nhiều đoạn đối
thoại dài lê thê nhất là lúc mới vào truyện, Tom Joad gặp lại ông đạo Casy
và người bạn Muley, những mẩu chuyện hàn huyên không liên hệ với nội dung
là mấy. Lời văn b́nh dị, không chau chuốt nhưng cảm động đầy nước mắt,
John Steinbeck bắt chước ngôn ngữ b́nh dân trong văn đối thoại cho thêm
phần hiện thực, có nhiều tiếng lóng tiếng lái vừa dễ hiểu mà cũng khó
hiểu, trong bản thảo có nhiều tiếng chửi thề đù má đù mẹ, người ta đề nghị
bỏ đi v́ sợ vô phép với độc giả, ông đă đồng ư. Tên truyện do bà vợ đầu
của ông đặt ra, rút từ một bài hát, nó không phù hợp với nội dung chủ đề
là mấy. Độc giả nhiều người không hiểu tại sao lại gọi là The Grapes Of
Wrath, theo tôi biết nó chỉ được nhắc lại có một lần trong toàn bộ tác
phẩm . . In the eyes of the hungry there is a growing wrath, in the souls
of the people the grapes of wrath are filling and growing heavy, growing
heavy for the vintage . . ư nói người nghèo đói giận dữ v́ thực phẩm đổ
xuống sông, điền chủ phẫn nộ v́ vụ mùa nho thất bại, làm rượu không kết
quả. .
The Grapes Of Wrath không phải chỉ là một tác phẩm văn
chương mà c̣n là một tài liệu lịch sử có giá trị về xă hội kinh tế của
thời khủng hoảng với đầy đủ dữ kiện chân thực và sống động, những người bị
đụng chạm đă lên tiếng chỉ trích mạnh mẽ v́ những quyền lợi riêng tư của
họ. Bênh vực cho những người nông dân nghèo đói bị kết án khuynh tả, tuyên
truyền cho Cộng sản là không đúng v́ bênh vực cho những người nghèo đói
không phải là độc quyền của Cộng sản, đó chỉ là chụp mũ.
The Grapes Of Wrath vẫn sống măi trong tâm khảm của
người đọc, h́nh ảnh Tom Joad, một người hùng hiên ngang, can đảm đương đầu
với bạo lực v́ lẽ phải, công bằng và nhân phẩm của con người. Người Mỹ rất
mê những nhân vật “yêng hùng”, khi nói tới truyện hoặc phim, những lời Tom
từ biệt mẹ già thường được nhắc tới như một danh ngôn bất hủ.
. . Chỗ nào có đấu tranh cho người nghèo đói có ăn, con sẽ có mặt! Chỗ nào
có công an cảnh sát đánh người, con sẽ tới nơi. .
Những lời ấy đă rung cảm người đọc từ bao lâu nay, nó
cũng đă khiến bao người ứa lệ v́ chân thực và cao đẹp biết bao. John
Steinbeck đă thành công mỹ măn v́ tạo dựng được một mẫu người quá đẹp
khiến cho tác phẩm của ông trở lên mỹ miều diễm lệ.
Năm 1940 truyện đă được quay thành phim, hăng Twentieth
Century Fox mua bản quyền 70 ngàn đồng, cam kết giữ nguyên nội dung xă hội
của tác phẩm. Bất chấp mọi phản đối, Darryl F. Zanuck thuê Johnson, kư giả
viết lại truyện phim và John Ford đạo diễn. Sau này này nhà đạo diễn cho
biết tại quê hương ông bên Ái Nhĩ Lan người ta cũng truất hữu đất đai của
bọn tá điền nghèo khiến cho họ lang thang ngoài đường đói rách y như bọn
Oklahoma vậy, ông cũng thích đề tài này, thích gia đ́nh Tom đi t́m đất
hứa.
Phim được đề cử 7 giải Oscars, Henry Fonda vai Tom Joad
được đề cử nhưng không trúng giải, diễn xuất của anh trong phim thật là
tuyệt vời. Cuối cùng phim chỉ được hai giải: Giải đạo diễn John Ford và
giải diễn xuất cho Jane Darwell trong vai phụ mẹ Tom, sau này The Grapes
Of Wrath đă được xếp trong số mười phim hay nhất mọi thời đại (alltime
best) của Mỹ, đồng thời với La Grande Illusion của Pháp ( quay 1937, Jean
Renoir) và Cuốn Theo Chiều Gió (1939), ba cuốn phim đă đánh dấu bước tiến
dài của nghệ thuật thứ bẩy cuối thập niên 30.
Mặc dù chỉ là phim đen trắng đơn sơ nhưng sự diễn tả
cũng đầy ư nghĩa, với kỹ thuật thô sơ non kém từ nửa thế kỷ qua nhưng giá
trị hiện thực của nó thật là tuyệt vời, nhờ tài dàn cảnh của nhà đạo diễn
lỗi lạc John Ford cũng như diễn xuất điêu luyện của các vai chính vai phụ
từ trẻ em cho đến ông già bà cả. Mặc dù không nói lên được nhiều như tác
phẩm 600 trang nhưng cũng đủ làm sống lại một giai đoạn đen tối của xă hội
Mỹ thời khủng hoảng depression, nó thể hiện bằng cách tả chân nỗi nhục
nhằn cay đắng của đám di dân đi t́m đất hứa bị kỳ thị, khinh miệt, chà
đạp, bóc lột xương tuỷ.
Người ta bỏ bớt đi những đoạn dài ḍng văn tự v́ phim
ảnh không thể quay sát hoàn toàn một cuốn tiểu thuyết tràng giang đại hải
được. Mặc dù đơn sơ ngắn gọn nhưng h́nh ảnh của nó đôi khi lại hiện thực
và linh động hơn tác phẩm như cảnh bọn trẻ đáng thương đói khát lem luốc
thèm thuồng miếng ăn vây quanh bà cụ đang nấu nướng hoặc cảnh trại
Hooverville, người cảnh sát bắn thường dân bị Casy đánh chết giấc, hoặc
buổi tối ở trại Hooper Ranch bọn an ninh đánh chết Casy. Những h́nh ảnh
sống động ấy cho ta thấy một xă hội c̣n đầy rẫy bất công, đàn áp, kỳ thị
địa phương.
Trong truyện gia đ́nh ở trại chính phủ sau mới sang
trại hái đào và cuối cùng đi hái bông g̣n, Tom Joad trốn ở ngoài đồng
nhưng trong phim người ta đổi ngược lại, gia đ́nh ở trại hái đào, Tom Joad
đánh chết cảnh sát và gia đ́nh trốn đến trại của chính phủ, trong truyện
chàng từ biệt mẹ ngoài đồng nhưng trong phim từ biệt mẹ tại trại chính
phủ. Nhưng những lời chàng từ biệt mẹ đă được giữ nguyên văn y như trong
truyện không sai đến một câu một chữ v́ người ta cho đó là những lời hay
nhất ư nghĩa nhất của tác phẩm.
Có thể nói đây là một cuốn phim hiếm hoi của nền điện
ảnh Mỹ với giá trị hiện thực không khác ǵ trong các phim xă hội Ư, người
Ư rất sở trường về đề tài hiện thực xă hội và bây giờ nhà đạo diễn Trung
Quốc Trương Nghệ Mưu cũng rất say mê chiều hướng này và đă đạt được những
bước tiến rất xa. Tôi chưa thấy cuốn phim Mỹ nào hiện thực như vậy, nó đă
làm sống lại chặng đường gian khổ đầy nước mắt mà xă hội Mỹ đă trải qua
cùng những ảo tưởng tan vỡ của đám di dân đi t́m đất hứa.
Cuốn phim cũng là tiếng nói bênh vực cho nhân quyền,
nhân vị của những người thấp cổ bé họng đă bị chèn ép, áp bức, khinh thị
tủi nhục, ta không thể nào quên được Tom Joad, h́nh ảnh của người hùng
đứng lên đương đầu với bạo lực v́ công bằng, nhân phẩm con người. The
Grapes Of Wrath rất xứng đáng được xếp trong số mười phim hay nhất của Mỹ
từ trước đến nay, với h́nh ảnh đen trắng đơn sơ nhưng nghệ thuật điêu
luyện, nội dung cảm động sâu sắc diễn tả được tất cả những nỗi khổ đau của
con người, của xă hội loài người. Tiếng khóc nghẹn ngào của bà mẹ từ biệt
con và nh́n chàng ra đi cũng quá đủ để nói lên tất cả và những lời chàng
từ biệt mẹ khiến cho khán giả không cầm được nước mắt.
. . Con sẽ ở khắp nơi, chỗ nào mẹ muốn t́m. Chỗ nào có đấu tranh cho người
nghèo đói có ăn, con sẽ có mặt. Chỗ nào có công an cảnh sát đánh người con
sẽ tới nơi. . .chỗ nào có tiếng cười của trẻ em đói khát khi thấy bữa ăn,
khi người dân ăn miếng bánh họ làm ra và ở trong căn nhà do họ dựng lên,
con sẽ đến tận nơi. Trọng Đạt