Giới thiệu Sách
" KHI ĐỒNG MINH THÁO CHẠY"
của G.S.NGUYỄN TIẾN HƯNG
và BÀN THÊM về CUỘC CHIẾN TRANH VIỆT NAM
LTS. Trước năm 1975, Giáo Sư Tạ Văn
Tài dạy môn Chính Trị Học tại Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và một số
Trường Đại Học khác. Sau năm 1975, ông là Giảng Sư và Phụ Khảo Nghiên Cứu
tại Đại Học Havard và hiện là Luật Sư. I. Tác Phẩm "KHI ĐỒNG MINH THÁO CHẠY"
Năm 1986, Giáo sư Nguyễn Tiến Hưng (Phân Khoa
Kinh Tế Đại Học Howard, Washington, D.C.) cùng viết và xuất bản với Ông
Jerrold L.Schecter cuốn Palace File (Harper & Row Publishers), sau đó được
dịch ra tiếng Việt (Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập) (HSMDĐL). Cuốn này hướng trọng
tâm vào việc tŕnh bày mối bang giao Việt Mỹ trong những năm cuối cùng của
Chiến Tranh Việt Nam, nhất là những biến cố xoay quanh Ḥa Đàm và Hiệp
Định Paris Chấm Dứt Chiến Tranh Việt Nam, đặc biệt đưa ra những mật thư
giữa Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và các Tổng Thống Mỹ Nixon và Ford, từ
1971 đến 1975, xác nhận Mỹ cam kết yểm trợ mạnh mẽ cho Việt Nam Cộng Ḥa
(nhưng rút cục cũng bỏ rơi). Dư luận chính giới và báo chí Mỹ hồi đó chú
trọng đến và khen ngợi giá trị bản tiếng Anh cuốn sách. Bộ Trưởng Ngoại
Giao G. Schultz và tờ báo uy tín New York Times đưa cuốn này vào danh sách
các sách mà chính giới và ứng cử viên Tổng Thống Mỹ phải đọc.
Hiện nay cuốn sách trên không tái bản, độc giả
khó t́m được, nhưng Giáo Sư Hưng đă viết cuốn Khi Đồng Minh Tháo Chạy
(KĐMTC). Tác phẩm KĐMTC căn cứ một phần vào các dữ kiện của HSMDĐL, nhưng
đă đi xa hơn nhiều.(1) Trong khi HSMDĐL được viết cho các độc giả quốc tế,
nhất là các người trong chính quyền, báo giới Mỹ và các nhà nghiên cứu
lịch sử, th́ cuốn KĐMTC đào sâu hơn các bằng chứng hay dữ kiện cụ thể về
những năm suy sụp kinh tế, quân sự và chính trị của tiểu quốc Việt Nam
Cộng Ḥa khi đại cường đồng minh Mỹ tháo chạy, sau khi đă bắt tay được với
Trung Quốc.(2) Trong khi HSMDĐL tŕnh bày khá nhiều chi tiết và tài liệu
về nhũng bí ẩn trong quan hệ chính quyền và tại Ḥa Đàm Paris mà có lẽ các
người Mỹ muốn thâm cứu lịch sử sẽ quan tâm đến, th́ cuốn KĐMTC nhắm vào
đại chúng, nhứt là người Việt Nam, có lẽ ưa một cuốn sách sử viết theo lối
kể chuyện, kiểu như cuốn của David Mc Cullough về Tổng Thống John Adams
(đă thành một cuốn bán chạy best-seller), để nghiền ngẫm về một giai đoạn
lịch sử rất đau thương của những người ở Miền Nam Việt Nam, họ đă trải qua
một cuộc hành tŕnh đoạn trường (đứt ruột) trong cuộc chiến tàn bạo, trong
ḥa b́nh bấp bênh và trong cuộc di tản hoảng hốt lên máy bay hay ra biển
năm 1975 - trong thời gian Miền Nam Việt Nam hấp hối, mà Ngoại Trưởng
Kissinger lại có lời nguyền rủa tàn nhẫn "Sao bọn chúng không chết sớm đi
cho rồi ?" (Nên ghi nhận là "Vua Toàn Ngành T́nh Báo" (intelligence czar)
của Tổng Thống Bush, trùm tất cả mười mấy cơ quan t́nh baó Mỹ, trong đó có
CIA, là John D. Negroponte, phụ tá của Kissinger hồi đó, là người đă phản
đối với Kissinger là đồng ư cho bộ đội Bắc Việt ở lại Miền Nam là sẽ dẫn
tới việc họ chiếm trọn Miền Nam và như thế là bỏ mặc đồng minh. Bạn ông là
Đại Sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc Richard Holbrooke nói rằng v́ thế mà
Negroponte bị hạ tầng công tác trong hầu hết thập niên 1970's.) Những
người Việt Nam vượt biên, vượt biển sau năm 1975, ở những đợt di tản sau,
cũng có sẽ thấy diện mạo của ḿnh trong cuốn này và sẽ có tài liệu cắt
nghĩa cho con cháu ḿnh về lư do và nguồn gốc của chuyện ḿnh bỏ nước ra
đi. Những người Việt Nam ở bên phaí thắng cuộc năm 1975 cũng nên đọc để
bớt tự hào, bởi v́ trong cuộc nội chiến do hai khối cường quốc theo hai ư
thức hệ đối chọi giúp cho hai phần của dân tộc Việt Nam, th́ một phía
thắng cuộc v́ lư do chính là cường quốc của bên thua, là Mỹ, tháo chạy,
trong khi đó các cường quốc bên thắng, Liên Sô và Trung Quốc, vẫn yểm trợ
tối đa vào năm 1975, mặc dầu trước đó, 1974, Liên Sô c̣n chưa tin là Bắc
Việt Nam có thể thắng bằng quân sự nếu Miền Nam có Mỹ yểm trợ (theo tài
liệu Văn Khố Đảng Cộng Sản Sô Viết mới giải mật sau khi Liên Sô sụp đổ, và
Mao Trạch Đông dè dặt hơn khi nói với Phạm văn Đồng là ciá chổi ngắn không
quét xa được. Quân viện của Trung Quốc đă tới Miền Bắc từ lâu rồi (thí dụ,
xe tăng T40). Tháng 4, 1975 và các ngày sau đó về vấn đề định cư đồng bào
di tản Việt Nam, lúc đó đang chạy tán loạn ra biển và đang cầu xin tạm cư
tại các trại tạm cư (các chương 14-18). Thiết nghĩ, mỗi gia đ́nh Việt Nam
đều nên có một cuốn KĐMTC này.(3) Hơn cuốn trước, cuốn KĐMTC c̣n nói đến
những cố gắng vận động của Giáo sư Hưng vào ngày 30 tháng 4.
Tác phẩm KĐMTC cho ta một số bài học về một cuộc
nội chiến mang thêm h́nh thức một cuộc chiến tranh ủy nhiệm (war by proxy)
mà hai phần của một tiểu quốc, bên ít bên nhiều, đă thi hành và đổ xương
máu chém giết nhau đến nỗi một cuộc nội chiến biến thành một cuộc chiến
tranh quốc tế giữa hai khối do các cường quốc theo hai ư thức hệ đối lập
tranh hùng. Một số bài học mà, qua sự tŕnh bày các sự kiện của Giáo sư
Hưng trong sách này, chúng ta có thể rút tiỉ sau đây, th́ dĩ nhiên chỉ
liên quan đến giai đoạn suy sụp của Miền Nam Việt Nam mà ông bàn tới, nhứt
là các năm 1971-1975 (chứ không bàn tới toàn thể 30 năm, 1945-1975, trong
đó có Chiến tranh Việt-Pháp 1945-54 và sáu năm ḥa b́nh 1954-1960), và
cũng chỉ liên quan đến chiến tranh và hậu quả chiến tranh, chứ không bàn
tới các chính sách nội bộ của hai miền Nam và Bắc Việt Nam.
Nhưng các bài học đó chỉ có thể được tŕnh bày rơ
ràng sau khi đă liệt kê cho độc giả duyệt lại sơ qua các biến chuyển về
cuộc sụp đổ mau chóng của Việt Nam Cộng Ḥa, mà Giáo sư Hưng mô tả rải rác
trong tác phẩm này cũng như cuốn trước của ông.
- Năm 1972: Việt Nam Cộng Ḥa đẩy lui cuộc tấn
công Quảng Trị của quân đội Miền Bắc.
- 1973-1974: VNCH đẩy lui các cuộc tấn công mạnh
khác.
- Hiệp Định Paris 27/1/1973: ngưng bắn da beo,
quân đội Bắc Việt ở lại Miền Nam (quân đội hai bên đang ở đâu th́ đóng
quân ở đó). Mặc dầu phản đối, nhưng v́ áp lực của Mỹ, kể cả dọa đảo chánh
mà ông Thiệu có thể bị hại giống như ông Diệm khi xưa, và v́ tin vào cam
kết trong nhiều mật thư của Tổng Thống Nixon hứa sẽ yểm trợ tối đa bằng
không lực chặn đứng mọi cuộc tấn công và hứa viện trợ vũ khí đầy đủ, ông
Thiệu đồng ư kư Hiệp Định. Kissinger và Lê Đức Thọ được phần thưởng Nobel
Ḥa B́nh; Lê Đ. Thọ không nhận !!
- Tổng Thống Thiệu đưa ra khẩu hiệu "Bốn Không",
cho lệnh sơn cờ vàng ba sọc đỏ trên mái nhà dân ở những vùng tranh giành.
- Buổi họp mật ngày 6/12/1974 trong Dinh Độc Lập
kết luận là sẽ có cuộc tổng tấn công trong năm 1975. Tướng Murray cũng báo
Bộ Quốc Pḥng Mỹ như vậy.
- Tháng 1/1975: Tỉnh Phước Long thất thủ - tỉnh
đầu tiên mất trong 15 năm chiến tranh.
- Ngày 24 và 25/1/1975, ông Thiệu viết thư yêu
cầu thêm quân viện.
- Tháng 3/1975: cuộc triệt thoái thê thảm khỏi
Pleiku. Tổng Thống Ford chỉ trả lời mơ hồ là sẽ có trợ giúp. Ông Thiệu cho
Giáo sư Hưng coi một vài bức thư mật của Nixon hứa yểm trợ.
- Ngày 20/3/1975, ông Thiệu cho Giáo sư Hưng biết
t́nh h́nh hết sức trầm trọng với việc Bắc Việt gửi 5 trong 7 sư đoàn trừ
bị vô Miền Nam; như vậy họ có tổng cộng 19 sư đoàn với 1000 xe tăng và
trọng pháo. Giáo sư Hưng khuyến cáo công bố mấy bức thư mật để tranh thủ
với Quốc Hội và nhân dân Mỹ.
- Nhưng trong buổi họp ngày 22/3/1975, Chủ tịch
Thượng Viện Trần Văn Lắm, Chủ Tịch Hạ Viện Nguyễn Bá Cẩn, và ngoại trưởng
Vương Văn Bắc lại khuyến cáo là chưa đến lúc "la lối om x̣m", v́ "sẽ bị
buộc tội là can thiệp vào nội bộ Hoa Kỳ". Ông Thiệu cũng nhắc lại là Đại
sứ Martin khuyên nên vận động âm thầm với Tổng Thống Ford. (Sau này, G.S.
Hưng hỏi lại, ông Thiệu vẫn c̣n nghĩ là " Chính phủ Mỹ tự họ phải thông
báo cho Quốc Hội biết; nếu ḿnh tiết lộ, họ sẽ vin vào đó mà nói ḿnh bội
ước".)
- Ngày 23/3/1975, Đại sứ Việt Nam ở Hoa Thịnh Đốn
chuyển về một thư đề ngày 22/3/75 của T.T.Ford gửi T.T.Thiệu hứa đại khái
"sẽ t́m cách thỏa măn nhu cầu quân viện của Ngài trên chiến trường".
- Ngày 25/3/1975 Huế bị bỏ trống, quân đội Miền
Nam rút về Đà Nẵng, ông Thiệu yêu cầu G.S. Hưng sọan thư gửi T.T. Ford xin
can thiệp quân sự mănh liệt bằng máy bay B-52 dội bom và cung ứng khẩn cấp
phương tiện để đẩy lui cuộc tấn công, như T.T. Nixon đă hứa khi trước. Phó
Đại Sứ Lehman chuyển thư này qua đường điện về Mỹ. T.T. Ford không hồi âm.
Đà Nẵng thất thủ.
- Sau đó, T.T. Ford cử phái đoàn tướng Weyand
sang Saigon trong ṿng 1 tuần để nghiên cứu và báo cáo. Khi được hỏi, các
người trong phái đoàn Weyand hết sức ngạc nhiên không biết ǵ về lá thư
cầu viện khẩn cấp ngày 25/3 trên. Trong buổi họp ngày 3/4 ở Dinh Độc Lập,
họ cho biết là có lẽ T.T.Ford cũng không biết về các thư mật trước đây của
Nixon nói về việc trả đũa mạnh mẽ các cuộc tấn công vi phạm Hiệp Định
Paris của Bắc Việt. Lúc đó, T.T. Thiệu hoàn toàn tin chắc là Kissinger đă
dấu kín các mật thư cam kết từ thời Nixon. Sau này, trong thập kỷ 1980,
cựu Tổng Thống Nixon gọi Kissinger là "devious Kissinger" (Kissinger xảa
trá) trong một cuộc phỏng vấn truyền h́nh.
- Ngày 5/4/1975, phái đoàn Weyand về tới Mỹ gặp
riêng T.T. Ford được 5 phút trước khi họp với Kissinger và đưa ra 3 bức
thư cam kết yểm trợ cuả Nixon. Ông Marbod trong phái đ̣an Weyand kể lại là
đọc xong mấy thư này, T.T. Ford rất xúc động.
- Ngày 10/4/1975 T.T. Ford đă xin tăng quân viện,
nhưng Quốc Hội bác và bàn sang chuyện di tản khỏi Việt Nam
- Trong khi đó th́ t́nh h́nh suy sụp mau chóng,
mỗi ngày mất một tỉnh.
- Mủi ḷng trước cảnh sụp đổ của Miền Nam, T.T.
Ford và Phu nhân ra phi trường San Francisco đón trẻ mồ côi từ chân thang
máy bay. Chính phủ Mỹ quyết định cứu thêm người tỵ nạn.
- Ngày 15/4/1975, theo lệnh ông Thiệu, G.S.Hưng
đi Washington, mang theo 35 bức thư mật trao đổi giữa các Tổng Thống, để
xin Mỹ cho vay tiền, thay v́ bỏ phiếu chống viện trợ.
- Trong các ngày 19 đến 21/4/1975, Quốc Hội Mỹ
chống viện trợ, dù số viện trợ xin đă giảm từ 722 triệu Mỹ kim xuống 300
triệu quân viện và 170 triệu kinh viện.
- Ngày 21/4/1975, Đại sứ Martin cố gắng thuyết
phục T.T. Thiệu từ chức để dễ thương thuyết với Bắc Việt. Ông Thiệu từ
chức Tổng Thống và Phó T.T. Trần Văn Hương lên thay.
- Ngày 23/4/1975 tại Đại Học Tulane ở Louisiana,
T.T. Ford tuyên bố là đối với Hoa Kỳ, chiến tranh Việt nam đă kết thúc và
Hoa Kỳ không tham dự trở lại nữa. Ông không nói thêm ǵ về việc viện trợ
nữa.
- Tới ngày 25/4/1975, Ṭa Đại sứ Mỹ ở Saigon mới
chính thức được phép nhận tạm dung (parole) 80,000 nhân viên Mỹ và 50,000
người Việt Nam có "ruỉ ro cao độ". (Trước đó, ngày 14/4, Ủy Ban Ngoại Giao
Thượng Viện đă bác bỏ việc di tản; và ngày 17/4/1975, Kissinger gửi mật
điện cho Đại sứ Martin, nói là trong Ủy Ban Liên Bộ Đặc Biệt, không có ai
ủng hộ việc di tản người Việt.). Ở Saigon, ông Von Marbod và bạn khác của
G.S. Hưng là Richard Armitage điện thoại cho G.S. Hưng ở Washington là đă
di tản mẹ già và gia đ́nh giáo sư ra khỏi Việt nam.
- Tại Việt Nam, ngày 28/4/1875, Tân Tổng Thống
Dương Văn Minh lên thay cụ Trần Văn Hương, và gửi văn thư yêu cầu Mỹ triệt
thoái nhân viên trong phái đoàn tùy viên quân sự.
- Ngày 30/4/1975 T.T. Minh tuyên bố đầu hàng quân
đội Miền Bắc.
- Tại Washington, cũng ngày 30/4/1975, với sự
giúp đỡ của Thứ Trưởng Quốc Pḥng Nutter (thầy dạy G.S. Hưng tại Đại Học
Virignia), G.S. Hưng tổ chức cuộc họp báo để công bố một số trong số 35
mật thư giữa T.T. Thiệu và các T.T. Nixon và Ford để nói rơ trách nhiệm
của Mỹ đối với dân Miền Nam Việt Nam và yêu cầu Mỹ đền bù những cam kết
không thi hành bằng cách cứu vớt đoàn người di tản.
- Ngày 2/5/1975, nhiều báo chí Mỹ và quốc tế, đặc
biệt tờ New York Times và Washington Post, đăng tải cuộc họp báo và đặt ra
các vấn đề về các mật thư. Tờ NYT đăng rơ lời tuyên bố của các nghị sĩ
Quốc Hội, kể cả những người xưa kia đề nghị cắt quân viện, họ kết luận
rằng Hành Pháp đă lừa dối Chính Phủ Việt Nam và Quốc Hội Mỹ về những điều
Hoa Kỳ cam kết với Việt Nam, và rằng Quốc Hội phải nhờ một quan chức ngoại
quốc (ông Hưng) mới biết được những văn kiện quan trọng. Tờ Washington
Post có bức hư họa quy trách cho Kissinger về việc dấu hồ sơ. Các phóng
viên cũng an ủi là nghe xong, họ có thiện cảm với dân tộc Việt Nam.
- Ngày 3/5/1975, Kissinger đổi thái độ. Thông cáo
của Ủy Ban Liên Bộ Định Cư Người Đông Dương thông báo là Kissinger đă yêu
cầu T.T. Ford cho phép cấp quyền tạm dung (parole) cho 150,000 người Việt
Nam và Kampuchea. T.T. Ford chấp thuận và thông báo cho Bộ Trưởng Tư Pháp
thi hành qua Sở Di Dân..
- Ngày 23/5/1975, Quốc Hội Mỹ chấp thuận ngân
sách 405 triệu Mỹ Kim để định cư dân tỵ nạn, tuy rằng trước đó, ngày 1/5,
Hạ Viện đă bác ngân khỏan 327 triệu.
- Sau đó, G.S. Hưng được ông Von Marbod mời tham
gia ư kiến về việc chọn địa điểm trại tạm cư cho đồng bào tỵ nạn Đông
Dương. Các ông đă cùng đi xem xét một số trại: Fort Chaffee (Arkansas),
Eglin Air Force Base (Folorida), Indian Town Gap (Pennsylvania). II. Bàn thêm về Chiến Tranh Việt Nam.
Ôn lại những biến cố nói đến trong cuốn sách
KĐMTC và cả cuốn HSMDĐL của Giáo sư Hưng, chúng ta rút được các nhận định
sau về những năm sau cùng của cuộc Chiến Tranh Việt Nam và hậu quả của nó.
Nếu độc giả cho rằng rút bài học sau khi việc xảy ra rồi (hindsights) th́
"dễ quá mà", th́ chúng tôi cũng đồng ư trong sự khiêm tốn của một người
nghiên cứu. Nhưng điều chúng tôi muốn nói là, nếu những nhà làm chính
sách, ngay trong khi biến cố đang xảy ra, chịu khó tham khảo những học giả
hay cố vấn đă dầy công nghiên cứu bài học tiền nhân để lại trong chiều dài
của lịch sử, th́ cũng có thể thấy ngay những điều nên làm, vào lúc đang
phải giải quyết vấn đề, và bớt được nhiều sai lầm. Chẳng khác ǵ các vị
anh quân ngày xưa nghe theo những lời bàn của các vị thâm nho hay các quan
ngự sử, chiếu các nguyên tắc trị nước khôn ngoan truyền lại từ các tiền
nhân (Khổng Tử, Tôn Tử, Aristotle v.v.) hay từ các triều đại cực thịnh hay
cực rối ren tại Á Châu (chẳng hạn các thế liên minh thay đổi của thời Đông
Chu Liệt Quốc). Cũng chẳng khác ǵ các chính phủ Âu Mỹ trong thời hiện đại
dùng đến các kinh nghiệm và kư ức lịch sử chứa trong các định chế
(institutional memory) như các đại học hay các cơ quan tư duy cố vấn
(think tank). Ông N.V. Thiệu là một quân nhân làm chính trị, nhưng chưa đủ
tầm vóc một statesman (chính khách), v́ tính đa nghi, hẹp ḥi, sợ người
dưới quyền vượt ḿnh và có thể hại ḿnh (như trong cách xử tệ với Phụ Tá
Nguyễn Văn Ngân, người đă có công xây dựng Đảng Dân Chủ và tổ chức bầu cử
Tổng Thống "chắc ăn" năm 1971 cho ông, không cho Ông Nguyễn Cao Kỳ ra chia
phiếu của ông khi đối đầu với Đại tướng Dương Văn Minh) (Giáo sư Nguyễn
Ngọc Huy riễu cợt với tôi khi tả tính đa nghi của Ông Thiệu: "Ông ấy bắt
tay người ta rồi về nhà ngó bàn tay ḿnh xem c̣n đủ năm ngón không"). Ông
Thiệu theo lối phân công từng mảng việc cho từng người, không cho người
này biết việc của người kia, theo lối "phân gian", nghĩ rằng như vậy dễ
kiềm chế từng người, do đó không tụ hội trong một hội đồng tham mưu gồm
nhiều bộ óc cố vấn giỏi cùng bàn chung việc nước (brain trust), và không
đi dến viễn kiến xa rộng và khôn ngoan được. Việc ḥa đàm Paris, mà các
vấn đề ngoại giao, quân sự, kinh tế, t́nh h́nh chính trị ở Mỹ, t́nh h́nh
và chính sách Đảng Cộng Sản ở Miền Bắc, liên hệ chằng chịt và ảnh hưởng
đến diễn tiến thương nghị và nội dung ḥa đàm, th́ ông Thiệu giao cho
nhũng ngườ́ sau đây, mỗi người một mẩu vấn đề: Gíáo sư N.T.Hưng, Đại sứ
Phạm Đăng Lâm, các ông Nguyễn Xuân Phong, Nguyễn Phú Đức, Nguyễn Ngọc Huy,
Nguyễn Cao Kỳ. Gíáo sư Hưng nói trong sách là ông chỉ được giao việc về
chuyện liên lạc với Mỹ, c̣n ông không được cho biết về t́nh h́nh quân sự
cho đến phút chót và ngay cả gần 30 mật thư của hai Tổng Thống Hoa Kỳ mà
cuối cùng Ông Thiệu giao cho Gíáo sư Hưng đi cầu viện th́ cũng đưa cho xem
vài lá thư vào lúc bắt đầu nguy kịch mà thôi.
Khi bàn trên đây về cá tính của ông Thiệu và sau
đây về Chiến Tranh Việt Nam, chúng tôi đều có tài liệu và nhân chứng c̣n
sống và có thể cung cấp chi tiết và điện thoại cho độc giả nào muốn phối
kiểm lại. Nhưng chúng tôi không ghi ra trong bài tham luận này để đỡ làm
mệt độc giả . 1. Như một chính khách Anh đă nói về chính
trị, "không có bạn trường cửu, mà chỉ có quyền lợi trường cửu thôi" (no
permanent friends, only permanent interests). Trong cuộc nội chiến
Quốc-Cộng tương tàn giữa hai Miền Nam Bắc Việt Nam, cũng là chiến tranh
quốc tế do hai khối cường quốc ủy nhiệm, trong đó cả hai Miền của tiểu
quốc Việt Nam được phong là tiền đồn của Xă Hội Chủ Nghĩa và của Thế Giới
Tự Do, cả hai Miền đều lệ thuộc hoàn toàn vào cường quốc bảo trợ, cho nên
một khi mà cường quốc Mỹ đă bắt tay được với cường quốc đối phương là
Trung Quốc sau khi Kissinger và Nixon đi Tàu, và không c̣n quyền lợi là
phải lo ngăn chặn bành trướng của khối Cộng Sản xuống Đông Nam Á bằng cách
yểm trợ Nam Việt Nam nữa, th́ Mỹ bỏ rơi Miền Nam, nhượng bộ tối đa trong
Hiệp Định Đ́nh Chiến, đồng ư cho Bắc Việt để lại quân đội tại Miền Nam,
chỉ cốt đem được tù binh Mỹ về, không c̣n yểm trợ vơ khí theo nguyên tắc
"mất một th́ đổi một" đă cam kết, bác cả việc Miền Nam dùng Quỹ Đối Giá
(Viện trợ) để trả lương quân đội và cảnh sát, dù đoán trước là Miền Nam
chỉ sống sót được chừng một năm rưỡi sau Hiệp Định Paris tháng 1/1973 (lời
Kissinger). Đến khi t́nh h́nh tại Nam Việt Nam suy sụp trước sự tiến công
của quân đội Miền Bắc vào năm 1975, th́ Ngoại trưởng Kissinger cố ư dấu
Quốc Hội Mỹ lời cam kết của Tổng Thống Nixon yểm trợ bằng không lực và
giúp vơ khí, và cả Quốc Hội lẫn Hành Pháp Mỹ chỉ bàn chuyện di tản khỏi
Việt Nam.
Đáng lẽ ra, các người lănh đạo Miền Nam Việt Nam
phải nhận ra khuynh hướng giải kết của Mỹ từ lâu rồi chứ! Khi thấy dân
chúng Mỹ bắt đầu mệt mỏi v́ chiến tranh và phong trào phản chiến ngày càng
mạnh từ năm 1968, và ngay chính Tổng Thống Johnson cũng nản chí không ra
tranh cử năm 1968 mà dành toàn thời gian vào việc giải quyết chiến tranh
Việt Nam, th́ phải tiên liệu là Mỹ sẽ t́m cách tháo gỡ. Dù không hề làm
việc ǵ trong chính quyền Miền Nam Việt Nam và chỉ đóng vai giáo sư nghiên
cứu gia, chúng tôi đă viết, vào năm 1970, bài "Tiền Mỹ, Máu Việt" trong
Tập San Quốc Pḥng của Trường Cao Đẳng Quốc Pḥng, Saigon, về chương tŕnh
Việt Nam hóa chiến tranh của Tổng Thống Nixon và trong khi thuyết tŕnh
tại Trường, có tiên liệu là khi người Mỹ không c̣n con cái của họ thương
vong ở Việt Nam, họ sẽ kém rộng lượng về viện trợ. Và nếu không có "xương
sống" Mỹ, th́ tổ chức chống cộng Liên Pḥng Đông Nam Á (Southeast Asia
Treaty Organization) cũng chỉ là "con hổ giấy", và máu Việt có đổ ra th́
chưa chắc tiền Mỹ sẽ có để có đủ quân trang quân dụng. Có lẽ các vị tướng
tá trong Trường, là nhũng quân nhân cao cấp nhiều hiểu biết, cũng đồng ư
với chúng tôi như vậy, mặc dù họ và chúng tôi đă có dịp đi thăm hàng không
mẫu hạm trong lực lượng hùng hậu của Hạm Đội 7 của Mỹ và nghe Trung Tướng
Ngô Quang Trưởng thuyết tŕnh về vị thế Quân Đ̣an I chặn ngang đường tiến
quân có thể có của quân đội Miền Bắc.
Việc thay đổi các thế liên minh tại các quốc gia
Âu Mỹ trong hai thế kỷ vừa qua cũng cho thấy chẳng có ǵ trường tồn, hay
chắc chắn trong bang giao quốc tế. Quyền lợi của mỗi quốc gia, ngay cả
cường quốc, thay đổi theo mỗi giai đọan.
Về vấn đề cuộc chiến Việt Nam là nội chiến hay
chiến tranh do các phe quốc tế ủy nhiệm, th́ có thể nói lúc Pháp trở lại
Việt Nam, và Hồ Chí Minh ôm lấy cụ Nguyễn Hải Thần yêu cầu các đảng quốc
gia cùng gánh vác trách nhiệm chung và sau đó lập Chính Phủ Liên Hiệp với
các đại diện các đảng quốc gia như Vũ Hồng Khanh (Việt Nam Quốc Dân Đảng,
VNQDĐ), Nguyễn Tường Tam (Đại Việt, ĐV), Nguyễn Hải Thần (Việt Nam Cách
Mạng Đồng Minh Hội, VNCMĐMH), th́ lẽ ra đă không có cuộc nội chiến. Sở dĩ
có thể tin như vậy là v́ Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh đă có công cứu
mạng Hồ Chí Minh ở bên Liễu Châu, Trung Quốc. Theo lời Ông Vũ Hồng Khanh
kể lại trong trại học tập sau 1975 cho người cùng pḥng giam trong trại
học tập là Đại Tá Bùi Thế Dung (hiện ở Massacusetts), Thứ Trrưởng quốc
pḥng trong chính phủ Dương Văn Minh, mà Ông Khanh đối xử như hàng con
cháu, th́ ông Khanh cho biết rằng vào đầu thập kỷ 1940, Hồ Chí Minh, lúc
đó lấy tên là Lư Thụy, giả đ̣ như một cụ già mù, đi với hai người trẻ tuổi
từ Pac Pó qua Liễu Châu, th́ bị quân đội Quốc Dân Đảng Tàu bắt, hai người
trẻ tuổi chạy mau nên thoát (ông Khanh sau này đoán đó là Phạm Văn Đồng và
Vơ Nguyên Giáp). Có người Việt Nam tên là Lư Sanh đến nhờ hai Ông Vũ Hồng
Khanh và Nguyễn Hải Thần trong Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội (VNCMĐMH)
can thiệp với Tỉnh Trưởng Tàu là Tướng Trương Phát Khuê. Tuy tướng Khuê
nói : "Anh này là Cộng Sản, sẽ chặt làm đôi.", nhưng rồi cũng thả Lư Thụy
ra và cho về ở với các ông Khanh, Hải Thần và Lư Sanh. Ông Khanh cho biết
ông Hải Thần mê ông cụ già Việt nam hoạt bát đó và ông cụ này cũng được
Tướng Khuê tin, giao công việc này nọ. Năm 1943, trong buổi họp VNCMĐMH
đưa vấn đề cử người về nước đặt cơ sở cho Cách Mạng th́ ông Lư Thụy xung
phong. Sau này, khi Việt Minh cướp chính quyền vào năm 1945 và Chủ Tịch Hồ
Chí Minh mời ông Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Hải Thần vô Chính phủ Liên Hiệp,
ngồi ăn cơm với nhau trên chiếu trong Phủ Chủ Tịch ở Hà Nội, th́ các ông
mới nh́n ra Hồ Chí Minh chính là ông ǵa Lư Thụy và ông Hoàng Văn Hoan
chính là Lư Sanh vào năm 1943. Sau 1975, khi ông Vũ Hồng Khanh bị bắt và
đưa ra ở trong trại học tập ở Miền Bắc, th́ Bộ Trưởng Công An Trần Quốc
Hoàn vào thăm và cho ra trại sớm vào năm 1977, để về ở với người con gái
lớn 53 tuổi ở lại Miền Bắc sau 1954, tại quê cũ ở Vĩnh Phúc Yên. Nếu Đảng
Cộng Sản, vào thời điểm 1945-46, tiếp tục đối xử tương kính đối với các
lănh tụ phe quốc gia như tả trên, mà không ám sát hàng lọat những người
quốc gia như nói sau đây, th́ chưa chắc đă có cuộc nội chiến.
Và lẽ ra không có cuộc nội chiến và Chính Phủ
Liên Hiệp mà Hồ Chí Minh lập ngày 2/3/1946 đă có thể tiếp tục với sự chia
xẻ quyền lực Quốc-Cộng, nếu cường quốc Hoa Kỳ đă không bỏ mặc Viêt Nam cho
Pháp và đă can thiệp sớm hơn và can thiệp đúng hơn theo chính sách của
Tổng Thống Roosevelt là không cho thực dân Pháp trở lại Việt Nam. Sau khi
Roosevelt qua đời, và Truman lên thay, Mỹ đă lờ đi không trả lời tám bức
thư Hồ Chí Minh liên tiếp gủi cho Tổng Thống và Bộ Trưởng Ngọai Giao Mỹ để
xin ủng hộ nền độc lập Việt Nam trước việc Pháp đem quân trở lại Việt Nam,
v́ cho rằng Mỹ cần Pháp như đồng minh trong cuộc Chiến Tranh Lạnh với Liên
Sô đă bắt đầu. Pháp đă được quân đội Anh ở trong Nam (tước khí giới quân
đội Nhật đầu hàng) cho đổ bộ tái chiếm thuộc địa. Theo Thỏa Ước Trùng
Khánh, Pháp kư ngày 28/2/1946 với Trung Hoa Dân Quốc (mà quân đội do Lư
Hán và Tiêu Văn chỉ huy, sang Miền Bắc Việt Nam tước khí giới quân đội
Nhật đầu hàng), Pháp đem quân trở lại Miền Bắc. Tại cả hai miền Bắc và Nam
Việt Nam, tàu chiến Mỹ chở quân đội Pháp vào Sàigon và Hải Pḥng.
Và Pháp đă tiếp tay cho Việt Minh trong việc tiêu
diệt các thành phần quốc gia (nói sau đây) v́ cho là họ có lâp trường cực
đoan, phản đối kịch liệt Hiệp Định Sơ Bộ kư ngày 6/3/1946 (Bộ Trưởng Ngọai
Giao Nguyễn Tường Tam không tham dự), và chỉ trích Hồ Chí Minh rất nặng là
"bán nước cho Pháp. (Sainteny và Leon Pignon gặp Nguyễn Tường Tam và
Nguyễn Hải Thần, nhưng không đạt được thỏa hiệp). Hiệp Định Sơ Bộ này nh́n
nhận Việt Nam là một nước "tự do" trong Liên Hiệp Pháp và chỉ có một phần
quyền cai trị. Hồ Chí Minh phải giải thích tại Nhà Hát Lớn Hà Nội và thề:
"Tôi thà chết chứ không bao giờ bán nước".
Ngay từ tháng 9/1945, đă có sự nghi kỵ, kèn cựa
giữa các đảng quốc gia và Việt Minh: quốc gia tố cáo Việt Minh là Cộng
sản; Việt Minh tố cáo Việt Cách (VNCMĐMH) và Việt Quốc (VNQĐD) là phản
động. Sau khi Việt Minh cướp chính quyền, các đảng quốc gia dự tính dựa
vào sự ủng hộ vẫn có của Quốc Dân Đảng Trung Hoa từ khi họ lưu vong ở bên
Tàu (sau biến cố Khởi nghĩa Yên Bái của Nguyễn Thái Học 1930), để lật đổ
chính phủ lâm thời đầu tiên do Hồ Chí Minh lập, tuy đă có vài đại diện của
họ. Nhưng các đảng quốc gia không đoàn kết, thiếu cơ sở quần chúng trong
nước v́ lưu vong lâu, tính dựa vào mấy tướng Tàu tham nhũng, cho nên khi
họ tổ chức biểu t́nh, và chỉ trích Việt Minh, họ thua Việt Minh đă tổ chức
quần chúng trong nước từ khi Tướng Tàu Trương Phát Khuê cho Hồ Chí Minh về
nước năm 1941 trong tư cách VNCMĐMH mà Việt Minh là một thành viên, mà lại
có sự ủng hộ của Đệ Tam Quốc Tế, Quốc Dân Đảng Trung Hoa (sau khi Việt
Minh đút lót cho Lư Hán vă Tiêu Văn vàng - do tuần lễ vàng quyên trong
đồng bào - và thuốc phiện, Trung Hoa bắt các đảng quốc gia theo giải pháp
liên hiệp, dù miễn cưỡng ) và của Cơ Quan T́nh Báo Office of Strategic
Services OSS của Mỹ. Việt Minh cũng tổ chức biểu t́nh, và trưng h́nh cán
bộ bị phe quốc gia giết.
Khi một đảng viên Cộng sản hỏi Hồ Chí Minh: "Thưa
Bác, tại sao phải để cho bọn phản quốc giết người ấy sống làm ǵ? Chỉ cần
Bác ra lệnh là tụi cháu sẽ tiêu diệt hết chúng nó nội trong một đêm", th́
Hồ Chí Minh mỉm cười: "Có con chuột chạy vào pḥng này th́ chú lấy đá ném
nó hay t́m cách bắt nó? Ném đá th́ vỡ đồ quư trong pḥng. Muốn làm chuyện
lớn th́ phải biết tiên liệu ."
Nhưng khi Hồ Chí Minh đi dự Hội Nghị Fontaineblau
tại Pháp, và cố gắng thuyết phục các trí thức quốc gia ở Pháp về nước cộng
tác th́ ở trong nước, các người lănh đạo Đảng Cộng Sản có mặt trong nước
đă ra lệnh các trưởng ban ám sát triệt hạ trụ sở, chiến khu và giết hại
các đảng viên các đảng quốc gia nội trong ṿng vài tháng, lúc đó không c̣n
được các tướng Tàu ủng hộ nữa: ở ngoài Bắc, bị giết hay mất tich là các
nhà ái quốc Trương Tử Anh (một lănh tụ nêu gương sống đạm bạc, nằm ngủ
trên chiếc giường vốn là một tấm cửa sổ, theo lời Gíáo Sư Bùi Tường Huân),
Lư Đông A, Khái Hưng, c̣n Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam và Vũ Hồng
Khanh phải trốn sang Tàu; ở trong Nam, ngoài các lănh tụ Đệ Tứ Quốc Tế bị
giết hay mất tích như Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Lương Đức Thiệp, Phan Văn
Chánh, Trần Văn Thạch, th́ các lănh tụ không cộng sản cũng bị thủ tiêu,
như Hồ Văn Ngà, Huỳnh Văn Phương, Dương Văn Giáo, Hồ Vĩnh Kư, Bùi Quang
Chiêu, Huỳnh Phú Sổ và các chức sắc Cao Đài và Ḥa Hảo. Quốc Hội Lập Hiến
họp ngày 28/10/1946 th́ chỉ có 291 người có mặt trong số 444 đại biểu; 70
ghế đại biểu dành cho VNQĐD và VNCMĐMH th́ chỉ có 37 người có mặt, c̣n
những người kia bị bắt trước rồi, rồi sau đó 34 người c̣n lại cũng biến
mất. Do đó các đảng quốc gia phải theo con đường chống cộng; một số theo
con đường "chùm chăn", tức lủi tránh không hoạt động nữa; và sau này, họ
theo giải pháp Bảo Đại .
Khía cạnh nội chiến, người Việt giết hại người
Việt, cũng rơ rệt trong cuộc cải cách ruộng đất tàn ác 1953-54 ở Miền Bắc,
khiến một triệu đồng bào Việt Nam bỏ chạy Miền Bắc di cư vô Miền Nam, và
cũng rơ sau này trong việc sát hại oan uổng những người dân ở Huế trong
Tết Mậu Thân 1968 (xin xem cuốn " Giải Khăn Sô cho Huế" của Nhă Ca).
Hồi đầu cuộc chiến tranh Việt Pháp không phải là
cuộc chiến tranh ủy nbiệm, v́ khi Việt Minh chống cự lại Pháp tái chiếm
dất nước, để giành độc lập, th́ đó là một cuộc chiến tranh giải phóng dân
tộc mà tất cả những người Việt Nam yêu nước đều ủng hộ, không có Liên Sô
hay Trung Cộng ủy nhiệm người Việt đánh Pháp vào lúc đầu (Stalin c̣n xử tệ
với Hồ Chi Minh-như Kruschev viết hồi kư sau này cho biết-và Mao Trạch
Đông c̣n đang chiến đấu với Quốc Dân Đảng Trung Hoa, chưa đi tới biên giới
Việt Nam). Tổng Thống Mitterand sau này sang thăm Việt Nam thống nhất,
đứng trước Điện Biên Phủ, cũng tỏ ư hối tiếc là Pháp đả lầm lẫn trở lại
định tái chiếm thuộc địaViệt Nam trong cuộc chiến cho độc lâp của người
Việt. Bên phe quốc gia trong Giải Pháp Bảo Đại cũng chỉ được ủy nhiệm một
phần nhỏ, và chỉ ở giai đọan sau của cuộc chiến, khi Tướng De Lattre thấy
rằng 280,000 quân đội viễn chinh Pháp đánh nhau lấy không xong, phải ủy
nhiệm một phần nhỏ cho người Việt Nam với 70,000 quân đôi người Việt do
Pháp lập ra với chế độ đông viên. C̣n trước đó, thực dân Pháp muốn đánh
lấy một ḿnh; năm 1946 đưa Vua Duy Tân đang đi dầy về Paris nhưng nửa
đường đến Algeria th́ máy bay trục trặc rớt, rất đáng ngờ vực, sau đó Pháp
bàn là không nên dùng Bảo Đại mà đưa Nam Phương Hoàng Hậu làm phụ chính
(Regent), cuối cùng mới đi dến chỗ dùng Bảo Đạị.
Sau nầy khi Mỹ thay thế Pháp ở Miền Nam Việt Nam
để yểm trợ cho Ngô Đ́nh Diệm, th́ cuộc chiến tranh Việt Nam mang nhiều
tính chất nội chiến hơn, v́ mỗi miền đă có phần lănh thổ và chính phủ
riêng biệt. Nhưng tính chất ủy nhiệm quốc tế cũng rơ hơn. Miền Bắc lănh
nhiệm vụ quốc tế bành trướng chủ nghĩa cộng sản với sự trợ giúp mạnh mẽ
của Liên Sô và Trung Quốc trong việc đồng thời đấu tranh thống nhất đất
nước cho dân tộc. Miền Nam được Mỹ mệnh danh là tiền đồn của Thế Giới Tự
Do, được Mỹ ủy nhiệm một phần thứ yếu trong cuộc chiến trong giai đọan sôi
nổi nhất, người Việt chỉ pḥng vệ diện địa. C̣n phía Mỹ th́ leo thang tham
chiến ngày càng nhiều: chính phủ Mỹ lúc đầu được báo chí và công luận ủng
hộ mạnh việc tham chiến, người Mỹ khởi sự với vai tṛ cố vấn, rồi đem vào
lực lượng đặc biệt, sau cùng đem đại quân tác chiến (combat troops) để thi
hành phương pháp hành quân "t́m diệt địch" (search and destroy); ở thời
cao điểm, Mỹ tung nửa triệu quân vào chiến trường (nếu kể số binh sĩ Mỹ
luân lưu tham gia chiến trường Việt Nam, th́ số người Mỹ tham chiến ở Việt
Nam là 3 triệu người), chưa kể không quân, hải quân yểm trợ từ Hạm Đội 7
và từ Thái Lan.. Ông Bùi Diễm, cựu Đại Sứ Miền Nam Việt Nam tại Mỹ, đă tả
trong hồi kư của ông cách thức người Mỹ tự mời họ tham chiến với đại quân
vào năm 1965: Sau khi Bộ Trưởng Quốc Pḥng McNamara và Chủ tịch Uỷ Ban
Tham Mưu Liên Quân thám sát chiến trường, họ yêu cầu ông Bùi Diễm soạn văn
bản "mời" Mỹ đem đại quân qua Việt Nam ( tức là Mỹ hóa -Americanization-
chiến tranh), mà không có sự thảo luận trong quốc hội và nhân dân Mỹ. Mỹ
tự mời Mỹ qua, nhưng để cho ông Bùi Diễm, lúc đó là Bộ Trưởng Phủ Thủ
Tướng Việt Nam Cộng Hoà, sọan thảo thông cáo chung để cứu thể diện Nam
Việt Nam. Chính Đại sứ Mỹ ở Việt Nam là Tướng Taylor cũng ngạc nhiên. Hầu
như tất cả các lănh đạo dân, quân sự Miền Nam Việt nam hồi đó đều chống
đối việc Mỹ hóa chiến tranh (Xin ghi là ông Ngô Đ́nh Diệm cũng dă chống
việc đem quân tác chiến Mỹ qua Việt Nam).
Sau khi số thương vong Mỹ lên cao, cảnh chết chóc
đẫm máu trên màn truyền h́nh màu ở Mỹ đem chiến tranh đến tận từng nhà
người Mỹ mỗi bữa cơm chiều, và phong trào phản chiến bắt đầu trong giới
trẻ rồi lan sang các giới quần chúng khác, đưa ra ư muốn rút khỏi chiến
tranh Việt Nam và t́m cách đem tù binh Mỹ về, th́ T.T. Nixon Việt Nam hóa
chiến tranh. Vai tṛ quân đội người Việt ở Miền Nam lúc đó mới tăng cường
nhiệm vụ chiến đấu nhiều hơn. Nhưng rồi sau đó, v́ phong trào phản chiến
đă xẹp xuống do việc bỏ chế độ động viên và việc thanh niên Mỹ không sợ
chết tại Việt nam nữa, th́ vấn đề Nam Việt Nam sống c̣n hay không, không
c̣n là mối lo cho của Mỹ nữa, và ngay cả việc ủy nhiệm cho Miền Nam Việt
Nam dùng khí giới Mỹ giữ "tiền đồn thế giới tự do" cũng bị Mỹ từ bỏ luôn
sau khi kư Hiệp Định Paris và rút đuợc tù binh và quân đội Mỹ về nước, và
đă giao hảo tốt đẹp được với đại cường Trung Quốc và giảm căng thẳng với
địch thủ chính là Liên Sô. Ngược lại, lănh đạo Miền Bắc Việt Nam vẫn tự
cho là tiền đồn của cuộc cách mạng cộng sản ở Đông Nam Á, và có ư định
không những thống nhất Việt Nam mà c̣n giúp các đảng cộng sản Cam Bốt,
Lào, Thái Lan và các nơi khác nữa (theo tá liệu văn khố Sô Viết, giải mật
sau khi Liên Sô sụp đổ).
Xét theo quan diểm quyền lợi của Mỹ, th́ việc Mỹ
đă mắc lỗi lầm chiến lược là tự đem đại quân tác chiến vào Việt Nam rồi
sau đó lại bất trung, bỏ cuộc trên trường quốc tế tại Việt Nam nhũng năm
sau cùng của cuộc chiến, dẫn đến sự sụp đổ của Miền Nam Việt Nam, cũng có
hại cho chính nước Mỹ. Tuy sau nầy các nước Đông Dương, không có nước khác
tại Đông Nam Á rơi vào khối Cộng sản, theo lư thuyết domino (tức là không
có geographical domino, giây chuyền địa dư) nhưng đă có các cuộc tấn công
có vẻ coi thường nước Mỹ tại Angola và Iran chẳng hạn (psychological
domino, giây chuyền tâm lư). Nghe nói sinh viên Iran bắt nhân viên Ṭa Đại
sứ Mỹ làm con tin là bắt chước chiến thuật bám sát địch của Cộng sản Việt
Nam.
Nhưng là cường quốc, cho nên Mỹ vẫn vững trên
trường quốc tế, lại có thể " ăn miếng trả miếng", cô lập hóa Việt Nam với
chính sách cấm vận hai chục năm trời, làm điêu đứng Việt Nam và khi hai
nước tái lập bang giao, Việt Nam lại là nưoơc muốn và cần giao hảo tốt đẹp
với Mỹ hơn là ngược lại.
Cái thế thù thành bạn đă rơ trong lời tuyên bố
trong bài thuyết tŕnh đầu năm 2005 của Đại sứ Mỹ ở Việt Nam là Marine.
Theo ông, mặc dầu liên hệ hai nước trong quá khứ không vui vẻ ǵ, "rơ ràng
là bây giờ Việt Nam và Hoa Kỳ không có bất đồng về chiến lược (no
strategic differences)" và " Hoa Kỳ tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lănh
thổ của Việt Nam và dứt khoát chống mọi âm mưu phân ly hay các đe dọa khác
tại biên giới Việt Nam. Chúng tôi có nhiều lănh vực chung quyền lợi về an
ninh vùng và an ninh thế giới. Sự hợp tác về quốc pḥng hiện nay là bước
đầu để cùng đương đầu với các thử thách về an ninh trong thế kỷ 21." 2. Với thân phận tiểu quốc, có một cường
quốc bảo trợ là Mỹ nay đă thành "con hổ giấy" v́ không muốn hy sinh thêm
xương máu và tài nguyên tại Á Châu, mà Nam Việt Nam lại có một Tổng Thống
thiếu thực tế, cứ nóí khẩu hiệu "Bốn Không" (không chung sống với cộng sản
v.v..) măi, không nhớ là có chánh nghĩa như Đức Giáo Hoàng mà thiếu lực
lượng quân sự cũng bị Stalin hỏi "Giáo Hoàng có mấy sư đoàn?", không thấy
là mọi cuộc chiến phải kết thúc bằng giải pháp chính trị, v́ chiến lược
chính trị mới là giải pháp toàn bộ mà bộ máy quân sự là phương tiện (war
is politics by other means).
Nếu Ông Ngô Đ́nh Diệm đồng ư với Miền Bắc tổ chức
tổng tuyển cử vào năm 1956 theo Hiệp Định Geneva, th́ có thể có một quốc
hội toàn quốc, trong đó Miền Nam Việt Nam ít ra cũng có gần nửa số đại
biểu và chưa chắc đă có nội chiến trong một nước Việt Nam thống nhứt. Đầu
năm 1975, Trưỏng Phái Đoàn Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tại Paris là Ông
Nguyễn Văn Hiếu nhờ Tướng Trần Văn Đôn nói giùm với ông Thiệu và thúc ông
Thiệu đưa Mặt Trận vào Chính Phủ Saigon như một thành phần Chính Phủ Liên
Hiệp để chống lại sự thống trị của Hà Nội. Ông Thiệu bảo hỏi Mỹ, và Ông
Đôn cho biết người Mỹ nói không thích theo đuổi đề nghị của MTGPMN. Như
vậy là ông Thiệu không dám tiến hành sáng kiến giải pháp chính trị. Trước
đó, năm 1971, theo lời khuyên của Thứ trưởng Quốc Pḥng Mỹ Nutter, là giáo
sư cũ của Giáo sư Hưng, là Miền Nam nên có sáng kiến độc lập, th́ Giáo sư
Hưng đă đề nghị ông Thiệu đưa ra đề nghị tái lập giao thương giữa hai Miền
Nam và Bắc Việt Nam, tuy là hai nước nhưng cùng chung một thị trường, và
tái lập đường hỏa xa Nam Bắc và phát triển Sông Cửu Long. Ông Thiệu có nói
đến mấy điểm đó trong bài diễn văn tranh cử của ông ngày 1/10/1971. Nhưng
Ông Thiệu vẫn lo ngại và yêu cầu "thăm ḍ Mỹ". Bộ Ngoại Giao Mỹ trả lời là
đă quá muộn và Kissinger điện cho Đại Sứ Martin nói rằng điều đ́nh nào
cũng phải là giữa Mỹ và Bắc Việt và tiến hành tại Paris.
Không thoát ra khỏi đường lối cứng rắn "Bốn
Không" để đi t́m giải pháp ḥa b́nh thương nghị, chỉ chọn giải pháp quân
sự là nhờ Mỹ yểm trợ dội bom B52 nếu bị tấn công, rồi khi yễm trợ Mỹ không
tới mà c̣n bị Mỹ áp lực từ chức, Ông Thiệu lên đài truyền h́nh ngày
21/4/1975 để từ chức, đồng thời chửi Mỹ là đă không thắng nổi Bắc Việt,
t́m đường tháo lui mà lại vô nhân đạo, không trợ giúp cho quân đội Miền
Nam. Quân đội Miền Nam lại càng mất tinh thần hơn. Trong tháng 4/1975 này,
v́ lo là "dân" du học ở Mỹ về, tôi chắc sẽ gặp khó khăn trong chế độ mới
và có lẽ "tẩu vi thượng sách", cho nên ngày nào tôi cũng điện thoại cho
Đai Tá Nguyễn Mộng Hùng, Trưởng Pḥng 5, Hành Quân, Bộ Tổng Tham Mưu Quân
Đội Việt Nam Cộng Ḥa, để hỏi tin tức xác thực (mà tôi nghĩ ông sẽ nói
thực với tôi, v́ tôi là ngừơi bà con) , và ông ấy nói giọng mệt mỏi, yếu
ớt , đầy vẻ nản chí: " Tài ơi !Lính nó không đánh nữa !" (mặc dầu trước
đó, Quân Đội Miền Nam đă can đảm chiến đấu, đẩy lui nhiễu cuộc tấn công
của quân đội Miền Bắc, thí dụ trong Tết Mậu Thân hay trong Trận Quảng
Trị). Hỏi người quen trong Ṭa Đại Sứ Mỹ, họ nói quân xa và chiến xa của
Quân đội Bắc Việt ở bên kia vĩ tuyến, theo không ảnh, chạy nối đuôi nhau
(bumper-to-bumper) công khai. Chắc hẳn họ biết là Mỹ đă bỏ cuộc, sẽ không
trả đũa, ném bom.
Lẽ ra, Ông Thiệu phải có lề lối độc lập hơn với
Mỹ và, chiếu chủ quyền quốc gia và quyền lợi dân tộc mà sáng kiến mạnh bạo
hơn, đặt Mỹ trước sự đă rồi về việc điều đ́nh trực tiếp giữa Miền Nam và
Miền Bắc Việt Nam, qua trung gian của Pháp chẳng hạn. Tâm lư sợ Mỹ như
quan thày không có lợi cho dân tộc. Thiết nghĩ, nếu đặt Mỹ trước sự đă rồi
về phương cách điều đ́nh, có thể rồi Mỹ cũng phải theo. V́ cứ so sánh với
trường hợp Iraq hiện nay, năm 2005: Mỹ có quân đội hiện đại ở lỳ lại,
ngoài ra có Tổng Thống Bush cương quyết hơn, mà Mỹ cũng nhấn mạnh đến giải
pháp chính trị là bầu cử để giải kết, và hơn nữa bầu cử để có một chế độ
liên hiệp giữa các phe Kurd, Sunni và Shiite th́ mới hy vọng có ḥa b́nh,
và nếu phe Sunni không tham gia, cũng phải làm tới và hứa cho phe Sunni
một số ghế trong chính phủ tương lai.
Ông Thiệu lo ngại sẽ bị đảo chính và gặp nạn như
Ông Ngô Đ́nh Diệm khi Mỹ ám chỉ nếu không chịu nghe theo quan điểm Mỹ th́
"có thể có biến cố như 1963". Nhưng thiết tưởng nếu ông Thiệu không giữ
khư khư lấy mấy mật thư của Tổng Thống Mỹ như bùa hộ mệnh (mà bùa đó cũng
chẳng ích ǵ v́ Tổng Thống Nixon, ngườI đưa ra lời hứa, đang bị khủng
hoảng rồi từ chức trong vụ Watergate), mà đem công khai hóa việc Mỹ làm áp
lực về những nhượng bộ thiếu công b́nh và an ninh cho Miền Nam Việt Nam,
và đồng thời đưa ra công khai cho dư luận dân chúng Mỹ và dư luận quốc tế
(qua báo chí, truyền thông) biết về cái lập trường thương nghị ḥa b́nh
trực tiếp với Miền Bắc, th́ chắc Mỹ cũng không dám là mưu hại ông, và Quốc
Hội Mỹ sau này cũng không thể nói là Miền Nam có ḥa b́nh rồi mà cứ bàn về
chiến tranh và xin quân viện.
Cứ cố trung thành với, hay e sợ, hay nghe theo
cường quốc th́ cũng không bảo đảm ǵ được t́nh bạn lâu dài hay không có
lợi cho tiểu quốc. Điều này cũng đúng với chế độ ở Miền Bắc Việt Nam khi
xưa, đă nghe theo lời cố vấn của cán bộ Trung Quốc thực hiện cuộc cải các
điền địa tàn ác, bất công cho nhiều nông dân vô tội, đến nỗi sau này phải
sửa sai và công nhận là sai lầm. Và cũng đúng với chế độ hiện nay của nước
Việt Nam thống nhất. Một hai người lănh đạo cấp cao ở Việt Nam đă nghe
theo Trung Quốc bảo chờ Trung Quốc kư Hiệp Định Thương Mại Trung Quốc-Mỹ
trước, cho nên đă yêu cầu để chậm hơn 1 năm trời việc kư Hiệp Định Thương
Mại Việt-Mỹ, làm thiệt cho Việt Nam là đă bị Trung Quốc đi trước vô thị
trường vô biên của Mỹ để cạnh tranh bán cùng một loại sản phẩm. Và đă ngả
theo áp lực của Trung Quốc mà kư Hiệp Định Vịnh Bắc Bộ (nghe nói, không
biết tin này có đúng hay không, trong chuyến du hành sang Tàu, một lănh
đạo cao cấp của Đảng muốn dựa Tàu để củng cố quyền lực cá nhân trong Đảng
Viêt Nam, nên đă kư Hiệp Định ấy), khiến ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc
bắn chết, vu cáo cho là cướp biển, ngay trong vùng hải phận Việt Nam mà
xưa nay dân chài Việt Nam đă quen thuộc là của Việt Nam. Trong khi đó th́
các nhà ngọai giao Việt Nam ở cấp dưới, sáng suốt v́ đă điều nghiên kỹ ,
rất ghét và đa nghi mỗi khi thương lượng với đại diện Trung Quốc về chi
tiết các vấn đề, mà họ tả là Trung Quốc hay có thói bắt nạt của cường quốc
bá quyền. Có lẽ họ và nhân dân Việt Nam chỉ c̣n cách là yêu cầu Quốc Hội
Viêt Nam, nhân danh dân tộc, chiếu điều 84 đoạn 13 của Hiến Pháp Việt Nam
và quyền lợi tối cao của dân tộc, nhất là của nhũng người dân chài cùng
khổ, mà hủy bỏ Hiệp Định Vịnh Bắc Bộ, theo nguyên tắc luật quốc tế rebus
sic stantibus (nguyên trạng không c̣n th́ hủy bỏ). 3. Chiến tranh trong thời hiện đại là
chiến tranh toàn diện, lôi kéo toàn dân, và làm nguy hiểm đến toàn dân.
Nhứt là trong một nước dân chủ có chế độ động viên như Mỹ hồi Chiến tranh
Việt Nam, mỗi gia đ́nh đều có thể có chồng,con sắp sửa bị động viên (chứ
không phải chỉ có quân đội nhà nghề, như hiện nay) và vào mỗi bửa cơm
chiều trong gia đ́nh đều chứng kiến cảnh chết chóc trên truyền h́nh, th́
cuộc chiến phải được quảng đại quần chúng và đại diện của họ tại quốc hội
ủng hộ (chứ không c̣n chuyện "giăi thây trăm họ nêu công một người" mà
không ai phản đối được). Hiến Pháp Mỹ đă đặt nguyên tắc là Quốc hội giữ
quyền tuyên chiến và trong chính sách ngọai giao, Thượng Viện có vai tṛ
cố vấn và phê chuẩn (advise and consent). Vào thời kỳ đầu trong Chiến
tranh Việt Nam, Tổng Thống Johnson đă xin Quốc Hội thông qua Nghị Quyết
Vịnh Bắc Việt (Tonkin Gulf Resolution) cho trả đũa về quân sự ở Việt Nam
khi có tin tàu Mỹ bị tàu Bắc Việt tấn công (sau này mới biết là phóng
đại), và do đó, việc tăng quân số Mỹ và tăng quân viện dễ dàng. Đến thời
gian sau cùng của cuộc chiến, khi việc ủng hộ Chiến Tranh Việt Nam giảm
sút, Quốc Hội Mỹ lại thông qua luật về quyền chiến tranh (War Power ) để
hạn chế quyền Tổng Thống.
Tổng Thống Thiệu đă quên cái quy luật "ư dân là ư
trời" trong việc điều hành chiến tranh ở một nước dân chủ như Mỹ, cho nên
cứ giữ khư khư các mật thư cam kết yểm trợ của Tổng Thống Nixon, đến những
ngày cuối cùng mới đưa các thư ấy cho Giáo sư Hưng đi cầu viện ở Mỹ. Trước
đó, các người lănh đạo khác như Chủ tịch Thượng Viện Trần Văn Lắm, Chủ
tịch Hạ Viện Nguyễn Bá Cẩn và Ngoại trưởng Vương Văn Bắc đă khuyên là
không nên la lối om x̣m vội, sợ là Mỹ họ nói là can thiệp vào nội bộ Mỹ.
Họ đă không hiểu hệ thống chính trị Mỹ, và không thấy là các văn thư mật
cam kết của Tổng Thống Mỹ - đại diện nước Mỹ trong chính sách ngọai giao -
là những văn thư có giá trị, cần phải công bố cho Quốc Hội, để có sự phê
chuẩn và ủng hộ của đại diện nhân dân, theo diễn tŕnh hiến định
(constitutional process) đă ghi trong Hiến Pháp Mỹ.
Để có thế nhân dân tại Việt Nam, lẽ ra Ông Thiệu
cũng đă nên đưa các thư mật cho Quốc Hội Việt Nam từ lâu, để đại diện nhân
dân Việt Nam vận động với Quốc Hội Mỹ, theo lối giao hảo giữa hai dân tộc
(people-to-people diplomacy). Không làm những việc trên kịp thời, Miền Nam
Việt Nam trở thành nạn nhân của hành vi làm ngọai giao theo lối "anh hùng
cá nhân" của Kissinger, là người thán phục và làm việc theo lối các nhà
ngoại giao đầu thế kỷ 19: Metternich và Talleyrand, những ngọai trưởng
nhiều quyền đă chuyên độc sắp xếp lại bàn cờ bang giao giữa các quốc gia
Âu châu sau khi Napoleon thất trận năm 1815, mà chẳng hỏi ư kiến nhân dân
hay đại diện nhân dân các nước liên hệ.
Ngay chế độ Cộng Sản trong đó Đảng quyết định
chiến tranh hay ḥa b́nh, có vài người khôn ngoan cũng thấy nên hỏi ư dân
về vấn đề đó. Ông Nguyễn Cơ Thạch, Ngoại trưởng Việt Nam, có nói là sau
cuộc phiêu lưu sang Kampuchea (nó kéo theo hậu quả là Trung Quốc đánh sang
Việt Nam để "dạy cho Việt Nam một bài học" - Lời Đặng Tiểu B́nh, và do đó
gây ra thương vong nhiều) th́ từ nay, Việt nam sẽ không bao giờ gửi thanh
niên ra ngọai quốc nữa.
4. Nh́n lại cuộc di tản của đoàn người Miền Nam hốt hoảng, khốn khổ
năm 1975, mà một số người Mỹ hồi đó châm biếm là bọn da vàng gồm những
tướng tá thua trận, nhà giàu ăn trên ngồi trước, gian phi, ma cô và đĩ
điếm - như Giáo sư Hưng đă dẫn chứng về các lời phỉ báng đó, và nhà nước
Cộng Sản Việt Nam cũng nhắc lại những danh từ ấy, cũng như nh́n lại hàng
hàng lớp lớp người Việt trong các đợt vượt biên, vượt biển sau đó, th́ ai
cũng thấy là ngày nay, họ chẳng c̣n lư do ǵ mà c̣n phải cảm thấy tủi
nhục. Trái lại họ c̣n có thể cảm thấy là trong cái rủi, có cái may. Nếu
thời xưa lăo ông mất ngựa và con bị thương tật tưởng bất hạnh th́ sau đó
lại có hên là con cái ở nhà phụng dưỡng cha mẹ, không phải đi lính, th́
bây giờ, cộng đồng người Việt hải ngoại đă tạo dựng lại đời mớí cho ḿnh
và con cái ḿnh tốt đẹp hơn xưa nhiều, và cảm thấy hănh diện hơn về chỗ
đứng và diện mạo của họ trong xă hội nơi định cư. Âm nhạc tủi thân hát cho
nhau nghe về thân phận lưu vong, hoa trôi bèo dạt, thời 25-30 năm trước,
đă được thay thế bằng nhạc vui nhộn trẻ trung. Những ngày kỷ niệm 30 tháng
tư, trước đây gọi là Ngày Quốc Hận trong Tháng tư Đen, lôi kéo cả trăm, có
nơi cả ngàn người dự mít tinh, biểu t́nh, th́ nay không c̣n tổ chức nữa
hay là chỉ có lác đác vài người tham dự, hoặc phải đổi sang mục tiêu tranh
đấu cho nhân quyền, dân chủ hơn là hướng về quá khứ, bởi v́ họ không c̣n
hận ǵ, mà c̣n cảm thấy may mắn hơn các bà con, bạn bè c̣n ở lại trong
nước Việt Nam, và c̣n đem tiền bạc, của cải về giúp người trong nước,
chống lại những ư kiến tẩy chay Việt Nam do một số ít người đưa ra, v́ họ
c̣n t́nh thương của kẻ đă may mắn qua cầu mà không rút cầu đối với người ở
lại.
Khi thấy nhà nước Việt Nam rộng mở cửa khẩu đón
tiếp người Việt di tản từ hải ngoại về thăm quê hương, làm thương mại và
đầu tư, mời mọc chuyên viên đem tài năng về giúp nưóc, khi thấy con cái
các cán bộ hay viên chức cao cấp sang Mỹ du học để học cái hay của hệ
thống xă hội tư bản Mỹ (thí dụ, đă thấy con Chủ tịch nước Lê Đức Anh, con
Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch đi học tại Harvard, có những người khi xưa đă
đậu bằng cao cấp ở Đại Học danh tiếng của Liên Sô, cũng là Trường mà ông
Gorbachev học, nay sang Mỹ học thêm bằng Mỹ, và chính tai tôi nghe trong
bữa tiệc Viện Trưởng Đại Học Harvard khoản đăi Phó Thủ Tướng Phan Văn Khải
lời ông --lúc đó là Phó Thủ Tướng-- cảm ơn Harvard là Đại học Mỹ đầu tiên
đă nhận sinh viên Việt Nam sang học những cái hay trong hệ thống (kinh tế
thị trường tự do, tư bản của Mỹ), khi thấy một Giáo sư Đại học ở Việt Nam
qua tu nghiệp đi chơi trên xe hơi ngắm cảnh nước Mỹ rộng bát ngát và thịnh
vượng th́ nói: "Giá mà Mỹ nó cho người Việt ḿnh một tiểu bang để dọn qua
đây nhỉ!", khi thấy nhà nước Việt Nam đổi mới theo kinh tế thị trường, để
người dân tự do làm ăn, làm được th́ được hưởng, chứ không theo nguyên tắc
Cộng sản là "làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu" nữa (người phụ tá của
một Ủy Viên Chính Trị Bộ và Chủ Tịch Thành Uỷ Saigon, nói tâm sự với tôi:
"C̣n ǵ Cộng sản nữa đâu, anh!"), khi thấy là chế độ Việt Nam đă thêm hai
chữ "dân chủ" vào khẩu hiệu nói tới các lư tưởng "dân giàu nước mạnh, xă
hội công bằng, dân chủ, văn minh", khi thấy là sau 30 năm chinh chiến
Quốc-Cộng, mà rồi chính nhà cầm quyền Cộng sản, là người thắng trận quân
sự, lại cũng theo đuổi chính các mục tiêu cho dân tự do làm ăn sinh sống
làm giàu trong kinh tế thị trường và đề cao lư tưởng dân chủ và công bằng
xă hội, mà người di tản đă từng theo đuổi từ Bắc vô Nam Việt Nam, năm
1954, và từ Việt Nam sang khắp các nước có dân chủ và kinh tế thị trường
thịnh vượng, từ 1975 trở đi, th́ người Việt di tản không những hết cái tủi
nhục thời di tản như Giáo Sư Hưng đă mô tả, hay cái đau đớn khi vượt biên,
vượt biển, mà c̣n vui mừng về cái quyết định ra đi rất đúng cho ḿnh và
con cái ḿnh, và có thể cảm thấy là - tuy thua trên trận địa - ḿnh bây
giờ lại thắng cuộc nội chiến quốc tế hóa 30 năm về trước ở Việt Nam, ít
nhất là về mặt tinh thần. 5. Một khi cả hai phía đều thấy ḿnh chiến
thắng, th́ có thể dễ ḥa giải dân tộc với nhau hơn. Trăm sông rồi cũng
tuôn về biển cả. Càng đi lâu th́ càng hướng về quê hương hơn. Cái chấn
thương di tản trong tủi nhục, kinh hoàng, chết chóc không c̣n nữa hay đă
bớt đi nhiều. Nhưng c̣n một chấn thương nữa mà những người di tản và thân
thích của họ c̣n phải được xoa dịu để thực sự ḥa giải: đó là chính sách
nhà nước bắt học tập lâu quá với hậu quả tai hại đối với sức khoẻ, sự
nghiệp và gia đ́nh của họ. Tuy có thành tích lớn lao thống nhất đất nước,
thắng được hai thế lực ngọai bang, Đảng Cộng Sản Việt Nam ngay sau năm
1975 đă không sáng suốt và đại lượng đủ để áp dụng chính sách ḥa giải dân
tộc, như Tổng Thống Lincoln đă áp dụng sau cuộc Nội Chiến ở Mỹ chẳng hạn:
nói: "Cùng nhau, chúng ta hăy săn sóc cho cô nhi, quả phụ của cả hai
bên.". Những ngườ́, hồi 1954, bỏ hết cuộc đời, tài sản, sự nghiệp di tản
từ Bắc vào Nam, có thể quên việc bố mẹ ḿnh bị tố oan trong cải cách điền
địa kỳ thị giai cấp, 1953-1955, hay không c̣n nhớ-v́ lâu quá rồi- là, hồi
1945-1946, ông chú, ông bác ḿnh, đảng viên Quốc Dân Đảng hoặc những người
dân và trí thức không phải là Cộng Sản trong Phong Trào Kháng Chiến Nam
Bộ, cũng chống "Tây" một cách rất ái quốc, mà vẫn bị ban ám sát của Đảng
Cộng Sản lấy búa đập vào đầu thủ tiêu, lợi dụng lúc vắng mặt tại Hội Nghị
Fontaineblau của Hồ Chí Minh, hồi đó đang làm việc thuyết phục các nhân
tài và các nhà ái quốc cùng giúp nước, cả ở Việt Nam lẫn ở Pháp. Nhưng hậu
quả tàn hại của những năm dài học tập trong các trại sau 1975, đến nay là
t́nh trạng sức khỏe suy sụp, thân trạng lạc loài của các cựu tù nhân chính
trị khi ra sống lại ngoài xă hội, nhất là xă hội nước ngoài, nhiều khi lại
thêm t́nh trạng mất vợ con, mất gia đ́nh lúc ḿnh đi học tập hay khi vượt
biên, th́ không dễ họ và gia đ́nh họ có thể quên ngay, v́ sự đau khổ c̣n
tương đối mới gần đây.
Giữa các người dân Việt Nam, nhất là giữa thân
thuộc bạn bè, ở hai bên chiến tuyến, th́ dễ ḥa giải và thực tế đă có
nhiều cuộc ḥa giải từ lâu rồi, trong cái cảnh gặp nhau sau bao nhiêu năm
xa cách, mừng mừng tủi tủi , chẳng c̣n hận thù ǵ nữa. Giữa các người
thuộc các thế hệ trẻ, c̣n nhỏ hay chưa sinh ra đời vào năm 1975 khi chiến
tranh chấm dứt, th́ họ gặp nhau dễ dàng, thông cảm nhau với t́nh đồng bào,
đồng hương, không có ǵ trở ngại, khi ngựi hải ngoại về thăm đất tổ, hay
người trong nước sang ngọai quốc du học, tham quan, đi công vụ. (Thậm chí
có người trẻ tuổi về tŕnh với bố mẹ: " Bố ơi! Mẹ ơi ! Con yêu cái cô Việt
Cộng đó rồi!") .
Nhưng trên b́nh diện chính sách chính thức và để
kết thúc có hậu (người Mỹ thường gọi là closures), th́ phải có lời tuyên
bố chính thức của những người lănh đạo cao cấp nhất của chế độ có trách
nhiệm về chế độ học tập vào năm bắt đầu thi hành 1975, nghĩa là những
người lúc đó đă ở trong vị trí lănh đạo về chính sách, tức là nay phải ít
nhất trên 65-70 tuổi, và có lẽ già hơn nữa (cộng đồng hải ngoại không thể
quy trách về chế độ học tập cho những người nay dưới 65 tuổi, nghĩa là vào
năm 1975 họ mới 35 tuổi, chắc không phải là những người đưa ra chính sách
đó, trừ khi những người đó thi hành chính sách một cách độc ác), công nhận
sự sai lầm chính sách học tập ác nghiệt quá lâu, th́ cộng đồng người Việt
di tản hải ngọai mới vuốt bụng thỏa thê mà nói được câu: "có thế chứ !" và
sẵn sàng ḥa giải hơn, và sẽ sẵn sàng đem tài nguyên, tài năng, và con cái
về Việt Nam xây dựng, theo nhiều phương cách, cho dân giàu nước mạnh. Ông
Đỗ Mười đă tuyên bố về hai sai lầm là cải cách ruộng đất 1953-55 ( thực
hiện đẫm máu và bất chấp pháp trị, theo lời Luật sư Nguyễn Mạnh Tường) và
đánh tư sản Miền Nam 1979 ( làm tiêu tan tiềm năng doanh nhân phát triển
kinh tế, làm Việt Nam chậm lại gần một thế hệ), và có lẽ chỉ có ông mới là
người vượt trội lên trên các đảng viên khác về mặt tuổi đời và tuổi đảng
để có thể đóng vai một "Đặng Tiểu B́nh Việt Nam" dám tuyên bố một câu mát
ḷng mát ruột cho các người đă bị đi học tập lâu, mà không ngại bị những
người ngang vai ngang vế nói là đi trật đường lối. Giống như họ Đặng tuyên
bố ủng hô đường lối kinh tế thị trường: "mèo đen hay trắng không quan hệ,
miễn bắt được chuột", mà cả Trung Quốc phải nghe theo, hay Hồ Chí Minh nóí
"Ông Ngô Đ́nh Diệm là người ái quốc theo lối của Ông ấy", mà chẳng có ai
dám cự lại lời khen địch thủ đó. Cựu Thủ Tướng Vơ Văn Kiệt đă tuyên bố
(Báo Tuổi Trẻ 31/3/2005) là "Đă đến lúc ta phải nh́n nhận công lao, sự
đóng góp to lớn của các tầng lớp người Việt yêu nước từng sống trong ḷng
chế độ cũ, hiện c̣n ở trong nước hay ở bên ngoài ". Ngay trong thời gian
chính sách học tập đang áp dụng tàn ác nhất, th́ Bộ trưởng công an Trần
Quốc Hoàn cũng đă vô trại cải tạo để thả cụ Vũ Hồnh Khanh, người đă có
công cứu sống Hồ Chí Minh, như đă nói ở trên .
Có thể không có ai muốn đóng vai một người vượt
trội đứng lên nói mạnh để hướng dẫn đường lối, và cái tập tục theo lănh tụ
chế kiểu đó không c̣n nữa. Do đó, cũng có thể, với công thức tập đoàn lănh
đạo (collective leadership) mà Đảng Công Sản Việt Nam áp dụng trong những
năm gần đây (theo như nhận định của nhiều quan sát viên quốc tế), một số
lănh đạo sẽ cùng đưa ra lời tuyên bố trên, sau khi bàn thảo. Ông Vơ Văn
Kiệt đă đưa ra đề nghị là từ nay, trên đường đi tới Đại hội Đảng năm 2006,
th́ trong việc bàn về các chính sách mới trong cương lĩnh và việc ứng cử
và bầu cử vào cơ quan cao nhất là Đaị Hội Đảng và từ đó, Uỷ Ban Trung
Ương, th́ không nên theo lề lối cấp trên ấn định và chỉ định như từ suốt
Đại Hội 4 đến nay, mà nên theo lối dân chủ của Đại Hội Đảng 2 và 3, cho tự
do ư kiến và bầu trục tiếp và kín cho những ứng cử viên tự do ra ứng cử.
Có thi hành dân chủ như vậy mới chọn được người tài, có sáng kiến mới. Có
lẽ những người mới này, với sáng kiến, sẽ mạnh dạn đưa ra những lời sửa
sai về chính sách học tập..
Có ngựi trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại nói
là nh́n nhận lầm lẫn về chính sách học tập không đủ, v́ họ cho rằng chẳng
khác ǵ chặt đầu xong rồi cáo lỗi, và Cộng Sản đă lầm lẫn quá nhiều trong
sự độc quyền của họ, rồi lại nhận lỗi (về cải cách ruộng đất, sát hại
trong Tết Mậu Thân ở Huế, đánh tư sản Miền Nam..), và do đó các nạn nhân
đă đau đớn quá, không ai trong họ tha thứ và tin người Công Sản nữa, và
chỉ c̣n cách là chờ đợi sự sụp đổ trong nội bộ của chế độ với các sự đ̣i
hỏi dân chủ của các lực lượng trong nước. Dù có người không quên được mối
hận có thân thuộc bị người Cộng sản sát hại, nhưng chúng tôi nghĩ rằng
trong đại đa số các trường hợp bị hành hạ trong trại học tập, th́ với thời
gian, nạn nhân cũng dần dần nguôi giận, không phải chúng tôi khuyên như
vậy, hay tỏ bày khuynh hướng riêng như vậy, v́ chúng tôi tôn trọng quyền
của mỗi người tự quyết định lấy về việc này, nhưng đấy chỉ là sự ước tính
theo khoa học xă hội và tâm lư con người một cách khách quan: tạo hóa đă
cho con người một trí nhớ quên dần những chuyện đă ch́m lâu trong dĩ văng,
và nếu người bị hành hạ sau cùng lại thấy ḿnh là người chiến thắng trong
quan điểm hay tinh thần, như nói ở trên, th́ sẽ có thể hoà giải dân tộc
được.
Một cô bé Do Thái 11 tuổi vào năm 1941, sống sót
khi cha mẹ và anh cô bị Đúc Quốc Xă thiêu sống trong hỏa ḷ Holocaust, là
v́ trốn trong rừng và đuợc một gia đ́nh theo đạo Thiên chúa che chở giấu
giếm, đă tuyên bố - và được hoan hô vang dậy - trong Ngày Truy Điệu Nạn
Nhân Holocaust nhân ngày Kỷ niệm Đồng Minh Thắng trận tại Đức vào tháng
5/2005 là "không thể gán cho cả dân tộc Đức tội ác này", và việc cô "sống
sót là chiến thắng của tất cả những người nhân hậu chống lại cái ác của
Quốc Xă". Tại Nam Phi, sau khi người đại diện cho chế độ dân da trắng
thống trị và chủ trương kỳ thị, đàn áp dân da đen là De Clerk tuyên bố
ḿnh lầm lẫn, th́ người anh hùng tranh đấu bị giam gần 30 năm trời (trong
đó 18 năm làm việc đục đá) là Mandela, sau này được bầu làm Tổng Thống, đă
tuyên bố chỉ có tha thứ quá khứ mới tiến tới tương lai được; và một Uỷ Ban
T́m Sự Thực và Ḥa Giải, do Giám mục Tutu làm chủ tịch, được lập ra để cho
những người nạn nhân kể những đau khổ quá nhiều trong quá khứ hay những
người đă làm ác ngỏ lời hối hận th́ mới hàn gắn quá khứ và hướng về tương
lai, tránh cái ṿng lẩn quẩn "thù hằn đem tới thù hằn", và theo được cái
hướng thiện tâm chung cho loài người văn minh. Nước Nhật, vốn chỉ nể Tây
Phương và kiêu ngạo đối với các dân tộc Á Đông, nhưng rồi, sau bao nhiêu
năm ù ĺ, th́ nay cũng đă phải chính thức xin lỗi dân tộc Trung Hoa đă gây
tội ác trước và trong Thế Chiến Thứ II ở Trung Quốc, nhất là về việc giết
khoảng 300,000 người dân vô tội ở Nam Kinh. Đức Gíáo Hoàng John Paul II dă
nhiều lần xin lỗi về những lỗi lầm của Giáo Hội Công Giáo La Mă đối với
các người theo Do Thái Giáo hay Thiên Chúa Giáo Orthodox ở Nga.
Đă có đồng bào Miền Bắc kín đáo trao đồ ăn cho
các viên chức và quân nhân Việt Nam Cộng Ḥa đói rách, mà họ thương cảm
trong t́nh đồng bào, đang lê gót trên đường đi ra khỏi trại học tập ở
ngoài Bắc đến công trường lao động. Chỉ xin nêu một thí dụ về sự hành hạ
trong trại cải tạo. Trong thời gian chúng tôi phải vận động rất lâu
Amnesty International và Bộ Ngọai Giao Mỹ cho người bạn là Giáo sư Hoàng
Xuân Hào, Tiến Sĩ Luật Khoa, th́ người "tù nhân lương tâm" này đă viết
thư, than rằng: " Đêm khuya mùa đông rét lắm và đói bụng. Tớ phải đi ngủ
cho khoẻ để sáng mai đi lao động cho thật tốt" (Bức thư này, tôi c̣n giữ
và nay trao lại cho Giáo Sư Hào, hiện ngụ tại California, làm kỷ niệm). Có
một Giáo sư Đại học Việt Nam sang tu nghiệp ở Mỹ nói về sự hận thù của các
người đă đi học tập là "Có học tập mới được rước đi Mỹ", như vậy là trong
nước công nhận người nạn nhân của chế độ học tập di cư ra hải ngọai tạo
lập cuộc sống tốt đẹp th́ được coi như đă thắng lợi trong giai đoạn sau
của cuộc đời. Khi là người sau cùng chiến thắng, nếu có thêm lời công nhận
lầm lẫn của kẻ thù cũ, th́ người ta cũng sẽ dễ có tinh thần thân thiện với
cựu thù. Người Mỹ, sau những hận thù với Đức và nhất là Nhật giết hại binh
sĩ Mỹ trong các chiến trận như Normadie, Trân Châu Cảng, các ḥn đảo Tháí
B́nh Dương trong Thế Chiến Thứ Hai, và đă trả đũa trong hận thù với bom
trải thảm tại hai nước đó, nhất là bom nguyên tử, giết hại dân chúng chứ
không phải chỉ quân đội mà thôi, nay đă trở thành đồng minh thân hữu của
Đức và Nhật. Một khi các lănh tụ Cộng Sản già trong Thời Chiến Tranh Việt
Nam đă mất đi, hay nói lên những lời công nhận lầm lẫn, th́ chắc đồng bào
Việt Nam hải ngọai không c̣n thù ghét măi, ít nhất là đối với đại đa số
nhân dân Việt Nam, nhất là 2/3 nhân dân chưa sinh ra đời vào năm kết thúc
chiến tranh, 1975, hay là những người chỉ là con nít trong thời gian chiến
tranh, vốn không có trách nhiệm ǵ về chính sách học tập.
Nếu không tha thứ, ḥa giải dân tộc, nhất là đối
với các người trẻ không có trách nhiệm ǵ trong chính sách học tập (có thể
nói, trừ một số nhỏ thi hành độc ác chính sách cải tạo ấy, đó là tất cả
những ngựi từ 65 tuổi trở xuống, hay ít nhất là các thế hệ dân chúng Miền
Bắc trẻ hơn 45 tuổi - tức là vào năm 1975, lớn nhất cũng chỉ mới 15 tuổi -
và tất cả dân chúng Miền Nam Việt Nam) th́ nhũng người Việt hải ngoại theo
chủ trương giận dữ măi, chẳng bao lâu, sẽ gửi nắm xương tàn nơi xứ người,
mà chả bao giờ được cảm thấy niềm xúc động rạt rào khi ngồi trên máy bay
nh́n xuống mảnh đất quê cha đất tổ thân yêu khi đến gần Phi Trường Tân Sơn
Nhứt, hay những niềm vui tràn đầy thấy lại và ḥa ḿnh vào đám đông tại
những phố phường, thôn dă ở đó ḿnh đă lớn lên, và gặp lại những bà con,
bạn bè thân thương của những năm trẻ tuổi sôi động xa xưa; hoặc cùng lắm
chỉ dám cử vợ con, hoăc đi bẽn lẽn dấu diếm, về nước thăm quê hương. Nhũng
người đó nên nhớ là khi ông Jefferson thảo Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ
vào năm 1776, ông đă sọan đi soạn lại và, theo lời yêu cầu của các đại
biểu Quốc Hội Cách Mạng đầu tiên, ông xóa bỏ đọan văn lúc đầu kết án cả
dân tộc Anh và Nghị Viện Anh, mà ghi trong văn bản chung quyết là chỉ kết
án Anh Hoàng mà thôi (Sau đó, trong Chiến Tranh của Mỹ Giành Độc Lập, các
chính trị gia ở Anh cũng chống lại Anh Hoàng về chính sách bám vào thuộc
địạ) .
Ngược lại, nếu những người Cộng SảnViệt Nam có
trách nhiệm về chính sách học tập cải tạo không nh́n nhận sai lầm về chủ
trương học tập quá lâu (học tập ngắn hạn ngay sau chiến tranh c̣n có thể
quan niệm đuợc là một sự cần thiết để củng cố an ninh trật tự, chứ lâu quá
th́ bị coi là độc ác), hay những sự hành hạ trong trại cải tạo, để làm dịu
xuống nỗi uất ức của các cựu tù nhân cải tạo, th́ khi đại diện ngọai giao
của chế độ hay những viên chức Việt Nam, dù trẻ tuổi hơn, và không có
trách nhiệm về chế độ học tập, khi đi ra ngọai quốc, nhất là trong nhiệm
vụ ngọai giao, nhưng kể cả lúc sang thăm viếng con cái của họ đang du học
tại các nước Âu Mỹ, chắc họ sẽ khó yên ḷng mà làm việc công khai, và
không du ngoạn một cách thảnh thơi, hiên ngang được - v́ có thể phải sợ bị
biểu t́nh, bị ném cà chua trứng thối, hay nhổ nước miếng (cho dù có được
che chở an toàn bởi nhân viên công lực nước sở tại, họ làm nhiệm vụ của
quốc gia chủ, tiếp khách phải bảo vệ cho khách), hay có thể phải sợ bị
tống đạt trát khởi kiện vi phạm nhân quyền bởi những người hiện nay ở hải
ngoại nhưng đă bị hành hạ trong trại học tập trước đây. Mặt trời không bao
giờ lặn trên bầu trời trên đầu các người Việt Nam hải ngoại, v́ họ rải rác
khắp năm châu. Nếu giải tỏa được uất ức học tập cải tạo th́ đại diện chế
độ mới dễ dàng và hiên ngang thi hành được công tác tại hải ngọai ở khắp
năm châu. Đảng Cộng Sản Trung Quốc đă nêu gương ḥa giải với kẻ thù 60 năm
đối nghịch là Trung Hoa Quốc Dân Đảng: Chủ Tịch Nước Kiêm Chủ Tịch Đảng Hu
Jin Tao đă tổ chức cuộc lễ long trọng và tươi cười niềm nở với vẻ mặt rất
thành thật (chính mắt tôi trông thấy rơ ràng trên truyền h́nh ở Bắc Kinh)
khi tiếp đón Đảng Trưởng Quốc Dân Đảng Lien Chan từ Đài Loan sang thăm Lục
Địa vào cuối tháng 4 năm 2005, và truyền thông Trung Quốc đă phổ biến việc
tiếp rước này như một biến cố quan trọng trong lịch sử quốc gia (Ngoài ra,
doanh nhân Đài Loan đă đầu tư 100 tỷ Mỹ Kim vào Lục Địa). 6. Ngoài vấn đề giải tỏa ẩn ức v́ khổ ải
quá khứ trong trại học tập, th́ nếu nh́n về tương lai, điều kiện đi đến
ḥa giải dân tộc sâu xa hơn là phải tạo điều kiện cho đồng bào trong nước
được hưởng nền pháp trị và dân chủ tự do thực sự (trong đó, có cả nhân
quyền). Không thể có t́nh trạng kỳ thị bất b́nh đẳng đối với bất cứ người
dân nào, thi dụ như kỳ thị thương phế binh Việt Nam Cộng Ḥa trong những
năm tháng c̣n lại của đời họ, như việc viên chức nhà nước đ̣i tiền phạt
mới cho một thương binh lănh cái xe lăn do một cơ quan từ thiện nước ngoài
tặng ngoài chương tŕnh của chính phủ (Bản tin của kư giả Nhật Yoshigata
Yushi, dịp tháng 4-2005). Đồng bào Việt Nam hải ngọai, v́ t́nh thương dân
tộc, cũng muốn đồng bào trong nước, trong đó có bà con và bạn bè của ḿnh,
được hưởng pháp trị và tự do dân chủ như ḿnh, v́ họ biết đó là các quyền
căn bản của mọi người do Tạo hóa ban cho và không thể tước bỏ, mà chính Hồ
Chí Minh đă bắt chước Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ (đề cao "quyền sống, quyền
tự do, và quyền theo đuổi hạnh phúc") mà chép vào Tuyên Ngôn Độc Lâp Việt
Nam, được tuyên đọc long trọng tại Vườn Ba Đ́nh năm 1945. Chủ Tịch Hồ Chí
Minh cũng đă nói: "Nước có độc lập mà dân chưa có tự do th́ độc lập cũng
chẳng có ư nghĩa ǵ". Đồng bào Việt Nam hải ngoại cũng biết là chính họ
cũng cùng là một phẩm chất người Việt Nam, nhưng với pháp trị và tự do dân
chủ tại các nước họ cư ngụ, họ đă vươn lên và phát triển từ thân phận khố
rách áo ôm, hoa trôi bèo dạt của ngày di tản khi xưa, để đi đến t́nh trạng
phồn vinh ngày nay, với khả năng sáng tạo và sản xuất của họ. (Về vấn đề
dân chủ tại Việt Nam này, xin xem bài chúng tôi viết năm 2004 đăng trên
nhiều báo hải ngoại)
Viết để vinh danh Đồng bào
Việt Nam Hải Ngoại 30 năm sau tháng 4.1975
Luật Sư Tạ Văn Tài
Tiến sĩ Chính Trị Học, Đại Học Virginia
Thạc Sĩ Luật Học, Đại Học Harvard
Nguyên Giáo sư các Trường Đại Học Luật Khoa SaiGon, Huế, Cần Thơ,
Quốc Gia Hành Chánh, Vạn Hạnh, Chiến Tranh Chính Trị và Cao Đẳng
Quốc Pḥng, Việt Nam
Nguyên Giảng sư và Phụ Khảo Nghiên Cứu, Đại Học Luật Khoa Harvard.
Vài Lời Chú Thích về Tác giả Cuốn "Khi Đồng
Minh Tháo Chạy"
Chúng tôi xin thêm vài lời về Giáo Sư Nguyễn
Tiến Hưng, mà chúng tôi hân hạnh được gọi là bạn và đă chia xẻ, khi c̣n là
sinh viên cùng du học tại Đại Học Virignia, những hoài băo của những thanh
niên Việt Nam yêu nước.
Giáo sư Nguyễn Tiến Hưng là một nhân chứng lịch
sử cho những chuyện:"thâm cung bí sử" trong bang giao Việt-Mỹ ở cấp cao
nhất, giữa Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Tổng Thống Nixon và Ngọai trưởng
Kissinger tàn bạo, nham hiểm. Ông Thiệu và Đại sứ Martin đă qua đời mà
không để lại hồi kư, thành ra chỉ c̣n Giáo sư Hưng, đă nói chuyện nhiều
với hai người quá cố, mới là người ở trong vị thế tŕnh bày được các ư
nghĩ của hai người ấy về các biến cố ở Miền Nam Việt Nam cho đến khi Mỹ
tháo chạy.
Tuy Giáo sư Hưng viết sách với tư cách là nhà học
giả làm nhân chứng, chú trọng đến những điều mắt thấy tai nghe, nhưng ông
cũng là một nhà hành động yêu nước và thương dân tộc. Ông sinh ra tại
Thanh Hoó trong một gia đ́nh Thiên Chúa Giáo thấm nhuần tinh thần bác ái.
Trong thời niên thiếu, ông lại trông thấy cảnh dân nghèo chết trong nạn
đói năm 1945, mà gia đ́nh khá giả của Giáo sư cũng đă ra tay cứu giúp,
được nhân dân trong tỉnh quư mến, giúp ông cụ thân sinh của Giáo Sư thoát
được thảm cảnh cải cách điền địa. Nguyễn Tiến Hưng du học tại Đại Học
Virginia, Hoa Kỳ, từ năm 1958, theo ngành kinh tế học, là một môn học mệnh
danh là dismal science (khoa học ưu sầu) v́ bàn về phát triển tài nguyên
thiếu thốn để phục vụ nhân sinh. Có lẽ v́ lúc trẻ như vậy mà những hoạt
động của Giáo sư Hưng đều có tinh thần bác ái theo Thiên Chúa Giáo hay
tinh thần từ bi cứu khổ của Phật Giáo. Khi chúng tôi gặp ông vào tháng
9/1960, khi vừa tới Đại Học Virginia để theo khoa Chính trị học, th́ ông
đă ân cần thăm hỏi, giúp đỡ và chỉ dẫn khi cần thiết, chở tôi đi thuê nhà
trong chiếc xe cũ Studebaker chạy "cà rịch cà tàng" trên đường phố. Tôi đă
chứng kiến cảnh sinh viên ban Tiến sĩ ấy hoạt động trong Câu lạc Bộ Sinh
Viên Nước Ngoài, được các bạn gọi là " Ông Hưng xóc áo can thiệp " v́ ông
thích mặc quần áo chỉnh tề để đi "can thiệp" giúp đỡ các sinh viên trẻ
hơn, mỗi khi họ gặp khó khăn cần giúp đỡ.
Ông giúp Tổng Thống Thiệu trong cương vị Phụ Tá
Tái Thiết, rồi Tổng Trưởng Kế Hoạch và Phát Triển, theo đuổi mục đích xây
dựng lại nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá, cũng là theo đuổi mục đích
xóa đói giảm nghèo cho dân tộc. Ư thức được việc hiệp thương với Miền Bắc,
xóa đói giảm nghèo ở Miền Bắc Việt Nam có thể mang lại ḥa b́nh, v́ có thể
bớt nhu cầu phải xâm chiếm vựa lúa ở Miền Nam, ông đă khuyến cáo Tổng
Thống Thiệu, trong lúc lo lắng Mỹ bỏ rơi, là nên tái lập giao thương giữa
hai miền Nam Bắc, tuy là hai nước Việt Nam nhưng cùng ở trong một thị
trường, và nối lại đường hỏa xa Nam-Bắc. Ông Thiệu đă nghe và nói tới đề
nghị này trong bài diễn văn tuyển cử ngày 1/10/1971. Giáo sư Hưng cũng
tŕnh bày chi tiết và cố vấn T.T. Thiệu đề nghị với Bắc Việt cùng nhau
cộng tác trong Dự án Phát Triển sông Cửu Long như một cách đẩy mạnh hơn
chung sống hoà b́nh. Dự Án này đă được Tổng Thống Johnson tuyên bố ngày
7/4/1965 là đồng ư tài trợ một tỷ Mỹ kim (tiền hồi đó giá trị nhiều), v́
nó giúp mang lại "cơm ăn, nước uống, và nguồn điện lực c̣n lớn hơn cả Vùng
Thung Lũng Tennessee Valley " quản lư bởi Cơ Quan Tennessee Valley
Authority của Mỹ - lời tuyên bố này đă đẩy mạnh thêm nguồn cảm hứng của
Giáo sư Hưng muốn đóng vào việc phát triển quê hương ḿnh ngay từ hồi mới
đậu tốt nghiệp đó.
Theo lệnh ông Thiệu ngày 14/4/1975, Giáo sư đi
Washington, D.C. cầu viện, nhưng đă quá muộn. Giáo sư đă đổi sứ mạng, vào
ngày 30/4/1975, sang việc vận động nhân dân Mỹ, từ báo chí đến Quốc Hội,
đến Hành Pháp, để Mỹ nhận cứu vớt các người di tản từ Việt Nam đổ ra biển
như hoa trôi bèo giạt, và đóng góp ư kiến vào việc chọn các địa điểm trại
tạm cư.
Sau này, khi Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
đổi mới và mở cửa hội nhập quốc tế và để cho nhân dân tự do hơn trong kinh
tế thị trường, Giáo sư đă làm các công việc của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế và
Ngân Hàng Thế Giới trong công cuộc chuyển đổi kinh tế và xóa đói giảm
nghèo ở Việt Nam, thí dụ phát triển dự án "Bank on Wheels" (Ngân Hàng Lưu
Động), mang đến cho các gia đ́nh nông dân, đặc biệt là những gia đ́nh
nghèo nhất, trên Cao Nguyên Miền Nam và tại Vùng Thượng Du Miền Bắc, số
tiền vay 200 Mỹ kim mỗi gia đ́nh để tăng gia sản xuất. Các gia đ́nh nông
dân, với số tiền nhỏ nhoi đó, đă làm ăn thành công và hoàn trả cả vốn lẫn
lời. V́ công việc lợi cho dân, ông đă được những ngay những người lănh đạo
cao cấp tôn trọng, mặc dù họ thừa biết ông đă là một cố vấn của Tổng Thống
Thiệu "Bốn Không" (vẫn nói không chung sống với Cộng sản).
Con người Nguyễn Tiến Hưng, với ḷng nhân, ưa
giúp người dân cùng khổ Việt Nam. Cuốn KĐMTC là một phương cách để ông
vinh danh đồng bào Việt Nam di tản của ông, họ đă kinh qua những con đường
rất là đoạn trường, cùng khổ, để có ngày nay và tương lai sáng lạn hơn.