Từ ngày ra khỏi
nước tới nay, kẻ trước người sau, tính ra cũng được từ 20 đến 30 năm.
Không lúc nào người Việt tỵ nạn đang được hưởng đầy đủ tự do dân chủ mà
không nghĩ đến giải phóng đồng bào trong nước đang bị bóc lột hà hiếp đủ
mọi h́nh thức bởi bạo quyền. Đặc biệt trong ba năm gần đây, người Việt tỵ
nạn lại lo âu thêm về vận mệnh của đất nước đang bị bọn cầm quyền dâng bán
cho Trung Cộng để cũng cố quyền lực của bọn chúng. Không lúc nào người
Việt tỵ nạn ở hải ngoại ngừng tranh đấu để giải thể chế độ bạo tàn, để đem
lại tự do dân chủ và cơm no áo ấm cho đồng bào, đồng thời bảo vệ giang sơn
gấm vóc khỏi cănh gặm nhắm lần hồi của Trung Cộng. Nhưng mà hàng năm, nhân
các ngày lễ kỷ niệm cuộc ly hương của người Việt tỵ nạn hoặc kỷ niệm ngày
thành lập các phong trào tranh đấu, công việc thường được làm là kiểm điểm
thành quả của nỗ lực đấu tranh của toàn thể cộng đồng hải ngoại nói chung.
Mỗi lần kiểm điểm như vậy, không ai tránh khỏi ưu tư trước kết quả rất
khiêm tốn mà hải ngoại đă đạt được.
Khách quan mà nói, chính nhờ sức tranh đấu bền bỉ của
hải ngoại, thế giới mới hiểu được rơ hơn bộ măt tàn ác gian manh của Cộng
sản Việt Nam, do đó đă mạnh dạn can thiệp vào những vụ vi phạm nhân quyền
trầm trọng trong nước. Tuy nhiên, những can thiệp này chỉ nhắm vào các nạn
nhân nổi tiếng như lănh đạo tinh thần các tôn giáo và các trí thức tên
tuổi đă anh dũng vùng lên đấu tranh cho tự do tôn giáo và dân chủ đa
nguyên. C̣n số phận của hàng ngàn, hàng vạn người dân thấp cổ bé miệng
đang bị đàn áp, giam cầm trái phép, bị cán bộ đảng ủy cộng sản cướp nhà
cướp đất nhan nhản giữa ban ngày th́ phải cam chịu. Ngư phủ đang hành nghề
trong lănh hải của Việt Nam có bị hải quân Trung Cộng xông vào bắn giết
th́ cũng phải cam chịu. Số phận của một dân tộc đang đói khổ, giành nhau
đút lót để xuất ngoại làm lao nô, đầy tớ hay măi dâm trá h́nh hầu có tiền
gởi về nuôi cha nuôi mẹ, cũng đành cam chiu, ngậm đắng nuốt cay.
Nếu phân tách kêt quả đấu tranh của hải ngoại th́ phải
công nhận là hải ngoại đă gây rất nhiều trở ngại cho bạo quyền trong nước
trên b́nh diện bang giao quốc tế, nhưng chưa làm ǵ xói ṃn được quyền lực
của bọn chúng, và cũng chưa giúp nội địa được ǵ đáng kể để gở bỏ được ách
nô lệ c̣n đang tṛng trên cổ họ. Sỏ dĩ như vậy là v́ hai yếu tố chính. Một
là khách quan, do Cộng sản Việt Nam dùng đủ mọi h́nh thức để mua chuộc,
lũng đoạn đánh phá. Hai là chủ quan, do chính hải ngoại tự phân hóa, dẩm
chân lên nhau, phân tán lực lượng, nhất là tự ḿnh v́ hiềm khích và tranh
giành danh vị (?) đánh phá lẫn nhau, gây thiệt hại gấp mấy lần hơn do sức
phá hoại của địch.
T́nh trạng trên đây đă được dư luận phơi bày qua truyền
thông, qua sách vở do hải ngoại phát hành, hoặc qua những lời kêu gọi
thống thiết của các vị có trách nhiệm trong cộng đồng hải ngoại. Ai cũng
nhận xét gần giống như trên đây, nhưng ít ai chịu phân tích chiều sâu của
vấn nạn này để t́m hiểu căn nguyên hầu đề nghị những phương pháp giải
quyết, dù là chỉ nhằm giảm thiểu những va chạm và xung đột trong cộng đồng
mà hậu quả đă gây cản trở và tŕ trệ công cuộc tranh đấu cho tự do dân chủ
trong nước.
Đa số những người Việt tỵ nạn là những người đă từng ư
thức hiểm họa Côïng sản và đă từng chiến đấu chống Cộng trong nước. Số c̣n
lại là những người tuy chưa dấn thân hoạt động chống Cộng trong quá khứ,
nhưng đă từng là nạn nhân của Cộng sản. Hai thành phần trên đây sau khi bỏ
nước tỵ nạn tại quê người, đều cùng một chí hướng tiếp tục cuộc chiến
chống lại độc tài, áp bức, để tranh thủ tự do dân chủ cho đồng bào trong
nước. Chính v́ những yếu tố trên đây mà đồng bào hải ngoại lao ḿnh vào
cuộc chiến một cách hăng say, không quản ngại hy sinh thời giờ, tiền bạc,
luôn cả sức khỏe ngày càng suy yếu của ḿnh, sau thời gian 30 năm dài đằng
đẵng.
Họ hăng say như đă từng hăng say cách đây 4, 5 chục
năm. Họ hăng say như đang tranh đấu cho tự do dân chủ cho chính họ. Điều
này rất tốt v́ nó động viên tinh thần dấn thân nhập cuộc và chấp nhận mọi
hy sinh cần thiết cho cuộc chiến. Nhưng đôi lúc, chính cuộc hăng say theo
bản tính trên đây cũng gây nhiều khó khăn và trở ngại cho đại cuộc. Tranh đấu cho ai? Thật vậy, b́nh tâm mà nhận xét, chúng ta đang tranh
đấu cho tự do dân chủ cho 80 triệu đồng bào bên nhà, là thành phần đang
sống dở chết dở dưới ách độc tài của Cộng sản, là thành phần đang lặn hụp
trong nghèo đói - theo định nghĩa nghèo đói của Liên Hiệp Quốc
- đang bị
tước đoạt mọi quyền tự do, quyền làm người và đang sống trong cái nhục từ
30 năm nay đối với đồng bào miền Nam, và hơn 50 năm đối với đồng bào miền
Bắc. Cũng có thể nói cuộc tranh đấu cho tự do dân chủ là cho cả những đồng
bào tỵ nạn muốn trở về sống tại quê hương sau này, nhưng phải nh́n nhận
rằng thành phần này rất ít oi, không đáng kể, vă lại cũng c̣n quá xa vời.
Trong lúc nhu cầu thực sự và cấp bách là giải phóng 80 triệu đồng bào
trong nước, càng sớm càng tốt. Đây mới là mục tiêu chính của công cuộc
tranh đấu mà hải ngoại đang theo đuổi.
Nếu hải ngoại đồng ư với nhận định trên đây th́ thiết
tưởng trên căn bản nhận định này cần duyệt xét lại một số nguyên tắc tranh
đấu để thích ứng với hai lănh vực chính là phân công, và phối hợp liên
hoàn trong ngoài để tránh những dẩm chân, va chạm hoặc tệ hơn nữa là tranh
chấp đă làm tŕ trệ quá nhiều công cuộc tranh đấu chung từ trước tới giờ. Phân công và phối hợp Mục tiêu là tự do dân chủ cho 80 triệu đồng bào
trong nước. Họ là những người thụ hưởng. Họ phải có tiếng nói của họ mà
chúng ta phải lắng nghe. Lắng nghe họ muốn ǵ, họ đang gặp những khó khăn
trở ngại ǵ. Làm thế nào để giúp đở họ hữu hiệu nhất, v.v... Nhưng v́ họ
bị Cộng sản ḱm kẹp khắc nghiệt và đàn áp dă man khi họ vùng lên, nên ít
lắm chúng ta phải lắng nghe tiếng nói của các lănh tụ và trí thức có can
đảm hoặc được sự che chở nào đó của ngoại bang, dám nói lên tiếng nói thay
thế họ.
Họ có quyền nói lên tiếng nói của họ. Chúng ta có bổn
phận lắng nghe để tôn trọng ư kiến của họ. Cho đến nay, đa số các tôn giáo
và đoàn thể cùng những nhà đấu tranh trong nước đă được sự yểm trợ vô điều
kiện của hải ngoại. Tuy nhiên v́ có một số đoàn thể chính trị và tôn giáo
đă bị phân hóa từ trước năm 1975, đến giờ này hăy c̣n tranh chấp xung đột
nhau, từ trong nước lan rộng ra hải ngoại. Do sự tranh chấp nhau mà tại
hải ngoại, các phe phái đối nghịch chụp mũ nhau là “đối lập cuội” hay
“giáo gian”. Thiết tưởng những người ngoại cuộc ở hải ngoại chớ nên xen
vào các cuộc tranh chấp này. Nếu hải ngoại không thể điều tra hư thực để
yểm trợ những nỗ lực đấu tranh đích thực trong nội địa th́ nên giữ sự im
lặng khách quan thay v́ nhúng tay vào đánh phá mà hậu quả chỉ là gây thêm
nhiều đổ vỡ, nhất là những đổ vỡ do hành động đánh phá sai lầm. Hăy dành
cho nội địa là thành phần đương sự tại chổ có đủ điều kiện và thừa sáng
suốt phân biệt đâu là thực hư để họ quyết định thích nghi.
Ngoài ra, trong thập niên qua, có những phong trào
chống đối bộc nổ ngay trong nước, khởi sự từ những viên chức cũ của đảng
và Nhà Nước cộng sản phản đối lề lối cai trị độc tôn và vạch trần những
lổi lầm nghiêm trọng cùng tệ hại tham nhũng của các cấp cầm quyền sinh sát
tại trung ương và địa phương. Có những người chống phe cánh đang cầm
quyền, nhưng họ chưa ly khai và vẫn c̣n trung thành vớiù đảng Cộng sản. Sở
dĩ họ chống v́ bị gạt ra khỏi quyền lực hoặc v́ họ muốn cải tiến cho đảng
được bền vững, hoặc v́ cả hai mục tiêu. Bên cạnh hạng người này, có những
người sáng suốt và tiến bộ hơn. Họ đă nh́n thấy những sai lầm tai hại của
XHCN nên họ tranh đấu để đ̣i hỏi dẹp bỏ độc tài đảng trị và thay thế vào
đó bằng tự do dân chủ đa nguyên mà họ nghĩ đó là thần dược duy nhất có
thể cứu đất nước và dân tộc ra khỏi nghèo đói, tụt hậu và bế tắc hiện tại.
Cả hai hạng tranh đấu trên đây đều có lợi cho công cuộc
tranh đấu của chúng ta. Lẻ dĩ nhiên, hạng người thứ hai gần lập trường với
chúng ta hơn và chúng ta có thể tiếp xúc t́m hiểu để lâm thời cứu xét liên
hoàn phối hợp hầu tạo thêm sức mạnh giải thể cộng sản bạo quyền hữu hiệu
hơn và sớm thành công hơn. C̣n đối với hạng người thứ nhất, tất nhiên
chúng ta không thể hợp tác được mặc dù họ đang chống đối bạo quyền. Nhưng
thiết tưởng chúng ta cũng chớ nên chống đối hạng người này v́ họ cũng đang
đóng góp vào mục tiêu làm cho bạo quyền suy yếu, lúng túng, tức là gián
tiếp giúp chúng ta bằng cách phân tán lực lượng và vô hiệu hóa phản ứng
của địch.
Nguyên tắc chiến lược là thêm bạn bớt thù. C̣n trong ngắn
hạn, kẻ thù của kẻ thù chúng ta là đồng minh chiến thuật của chúng ta. Do
đó chúng ta cần rộng rải bao dung, cho họ có cơ hội bước thêm một bước nữa
là ly khai đảng cộng sản, và chớ nên quá cứng rắn với họ, vô t́nh đẩy họ
vào thế chẳng đặng đừng trở thành kẻ thù vĩnh viễn của chúng ta. Nói một
cách khác, chúng ta có lợi khi đương đầu với một địch thủ đang bị một lực
lượng thứ ba đánh phá từ bên trong, một lợi thế vô giá khó bề tạo dựng
được. Lẽ dĩ nhiên, trong nội bộ của mỗi hạng trên đây cũng như giữa hai
hạng người này có thể xảy ra lục đục và chia rẽ nhau
- như chúng ta đă ghi
nhận được nhiều dấu hiệu gần đây
- nhưng chúng ta cũng không nên xen vào
tranh chấp nội bộ của họ để rồi trở thành kẽ thù của phe này hoặc phe kia,
v́ như vậy sẽ có lợi cho bạo quyền là kẽ thù chung.
Ngoài ra, các đoàn thể yêu nước ở hải ngoại khi có dịp
đều phát biểu rằng trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ra khỏi áp
bức và độc tài, nội địa là chíến trường chính, là nơi 80 triệu đồng bào
nạn nhân đang sinh sống, là nơi bạo quyền đang chà đạp nhân quyền, đang
đàn áp bóc lột ngựi dân, là nơi mà thành phần bị áp bức cần đấu tranh
trực diện với bạo quyền thống trị. Do đó, lực lượng quần chúng trong nước
phải đóng vai tṛ chính yếu trong đại cuộc quang phục quê hương. Hải ngoại
chỉ giữ vai tṛ yểm trợ thứ yếu. Lập luận này được chứng minh rơ rệt qua
hai cuộc đấu tranh quyết liệt của nhân dân hai nước Ba Lan (chống độc tài
cộng sản) và Nam Dương (chống độc tài quân phiệt không cộng sản) mà kết
quả là họ đă đích thân giải phóng được đất nước của họ.
Có lập luận cho rằng v́ Cộng sản kiểm soát ḱm kẹp quá
khắt khe nên người dân trong nước khó vùng lên tranh đấu. Lập luận này
không đứng vững v́ tranh đấu không chỉ có h́nh thức duy nhất là nổi dậy,
bạo động và gây đổ máu, chết chóc cho người dân. Vă chăng thế giới ngày
nay chạy theo kinh tế phát triển toàn cầu nên không chủ trương yểm trợ các
h́nh thức đấu tranh bằng vơ trang bạo động. Trước năm 1990, chưa có chủ
trương kinh tế toàn cầu để yểm trợ dân chủ hóa toàn cầu, nhưng người dân
Ba Lan đă ư thức được vũ khí vô địch của kẻ yếu laø tranh đấu ḥa b́nh,
nên họ đă dùng đường lối đấu tranh hợp pháp trong các lănh vực lao động,
và sử dụng vũ khí hợp pháp bén nhọn nhất là đ́nh công, từ đó cân nhắc thận
trọng để dần dần nới rộâng sang các yêu sách chính trị như bầu cử tự do,
ngay dưới sự hăm dọa công khai của hồng quân Nga Xô.
Manh nha tranh đấu ôn ḥa từ 1976, công đoàn Solidarity
được thành lập năm 1980, bị giải tán năm 1981, nhưng vẫn tiếp tục tranh
đấu “chui” vô cùng quyết liệt cho đến 1989 th́ được nhà cầm quyền chính
thức hợp pháp hóa và nhượng bộ luôn cả yêu sách tổ chức bầu cử tự do quốc
hội lưỡng viện. Với sự ủng hộ của toàn dân, Solidarity đă thắng cử với đa
số tuyệt đối 99% tại Thượng viện và chiếm trọn hết 161 ghế dành cho đối
lập tại Hạ viện. Với lực lượng hùng hậu trên đây tại quốc hội, họ đă khéo
léo thương lượng với đảng Poland’s United Workers (cựu Cộng sản) thành
lập Chính phủ liên hiệp do họ nắm giữ ghế Thủ Tướng, với mục tiêu dài hạn
là đột nhập vào chính quyền để tổ chức những cuộc bầu cử thực sự tự do.
Kết quả mong đợi là đúng một năm sau (1990), họ đă giúp lănh tụ Walesa của
họ thắng cử vẻ vang vào chức vụ Tổng Thống Ba Lan. Đồng lúc tại Đông Đức,
giáp ranh với Ba Lan, bức tường Bá Linh cũng bị san bằng, không tốn một
viên đạn, không đổ một giọt máu. Chính sự sụp đổ chính trị của Ba Lan và
Bá Linh là hai yêu tố then chốt tạo nên kết quả dây chuyền “domino” làm
tan ră Đông Âu và thành tŕ cộng sản Nga Sô.
Trở về với hiện t́nh quê nhà, đang có rất nhiều yếu tố
thuận lợi cho một cuộc vùng lên đấu tranh ôn ḥa của quần chúng. Bạo quyền
đang hồi mâu thuẫn cấu xé nội bộ vô cùng trầm trọng, kinh tế lụn bại, nhân
dân đói khổ, hơn nửa triệu dân đang được bán ra ngoại quốc làm lao nô và
măi dâm trá h́nh qua dạng gọi là lấy chồng ngoại quốc, để đổi lấy ngoại tệ
cho nhà nước. Bạo quyền Cộng sản không những lúng túng bên trong mà c̣n
đang bế tắc bên ngoài trước hành động xâm lăng của Trung Cộng và sức ép
của Hoa Kỳ. Cộng thêm vào cái thế kẹt trên đe dưới búa này của bạo quyền,
các lănh tụ tôn giáo và trí thức đă liều chết mạnh dạn đứng lên tranh đấu.
Chỉ rất tiếc là các lănh tụ tôn giáo trong nước đang tranh đấu lẻ loi,
không lôi cuốn được tín đồ tham gia yểm trợ, trừ khi bị bách bức trực tiếp
như hai tín đồ Phật Giáo Hoà Hảo đă tự thiêu, ngoài ra trước như sau, lực
lượng tín đồ vẫn e dè trong thế thủ. C̣n các trí thức mà hải ngoại thường
gọi là chiến sĩ tự do th́ đang dùng những mục tiêu tranh đấu như nhân
quyền, dân chủ đa nguyên có phần “ trí thức” cao xa đối với người dân
trong lúc họ đang lo “chạy gạo” v́ thực tế đói rách.
H́nh thức đấu tranh ôn ḥa và hợp pháp không quá ư nguy
hiểm nên dể vận động lôi cuốn người dân tranh đấu miễn là tranh đấu cho
những quyền lợi thiết thực và trực tiếp của họ, như tự do thờ phượng và
đ̣i đất đai bị cán bộ cộng sản ăn cướp của dân đang lan tràn khắp các
tỉnh. Trên đây chỉ là hai trường hợp điển h́nh mà hải ngoại ghi nhận được.
Nhưng dù nhu cầu tranh đấu bên trong có khác ǵ đi nữa th́ mọi uất ức cũng
xảy ra từ bên trong. Nạn nhân bị uất ức mới có lư do để tranh đấu. Quần
chúng là một lực lượng vô địch. Nhưng lực lượng này cần được kết hợp, tổ
chức và lănh đạo. Một yếu tố thuận lợi vào bậc nhất là các lănh tụ và trí
thức trong nước đă can đăm dấn thân. Như vậy vấn đề c̣n lại là chỉ cần các
vị này ư thức nhu cầu phải lôi cuốn và tổ chức cho kỳ được quần chúng
thành chủ lực của phong trào đấu tranh, thay v́ các vị ấy hành động đơn
thương độc mă như từ trước đến nay.
Về phần hải ngoại ở cách xa hàng ngàn dặm cũng chỉ có
thể yểm trợ tinh thần, vật chất, và vận động ngoại bang. Hải ngoại làm sao
có thể xin chiếu khán để về nước tham gia vào các cuộc đấu tranh này được.
Đặt giả thuyết trong tương lai, nếu v́ bất cứ lư do hay biến chuyển ǵ mà
đất nước được dân chủ hóa, th́ tiến tŕnh dân chủ hóa nào cũng phải dùng
h́nh thức bắt buộc “bầu cử tự do”, như đă xảy ra tại các nước Đông Âu
trước kia, và sau này tại A Phú Hăn và Iraq. Trong trường hợp này, hải
ngoại cũng không có hy vọng tham gia vào tiến tŕnh này được, v́ thông
thường điều kiện tiên quyết để được bầu cử và ứng cử là phải có quốc tịch
Việt Nam và phải cư ngụ liên tục trong nước một thời hạn nào đó, ví dụ từ
3 đến 5 năm. Tưởng cũng nên biết là gần đây, trong pháp lệnh của nhà cầm
quyền CSVN qui định thủ tục hồi hương của Việt kiều, có điều khoản cấm chỉ
hồi hương những người Việt tỵ nạn nào có tham gia các tổ chức “chống tổ
quốc”, danh từ Việt cộng ám chỉ những ai tham gia các tổ chức tranh đấu
cho tự do nhân quyền tại Việt Nam. Đặt giả thuyết vượt qua được các điều
khoản hạn chế trên đây đi nữa th́ c̣n phải thực tế nhận định rằng thành
phần dân chúng tại mỗi địa phương trong nước, từ Bắc chí Nam, sau 30 năm
đă thay đổi toàn diện. Ai đi về thăm nhà cũng thấy ngoài một vài thân nhơn
và bạn bè củ, tại địa phương trước kia của ḿnh giờ đây toàn là người xa
lạ. Ứng cử viên ở hải ngoại, rời nước từ 2, 3 chục năm qua, làm sao có
hậu thuẩn để hốt phiếu trong các cuộc bầu cử được. Tối đa, hải ngoại cũng
chỉ có thể hổ trợ kỹ thuật và tài chính cho các ứng cử viên thuộc khuynh
hướng không cộng sản mà thôi.
Tóm lại, công cuộc giải thể Cộng Sản và dân chủ hóa đất
nước chỉ có thể do nội địa tự làm lấy, và làm cho chính họ, “do họ, bởi họ
và v́ họ”, với sự hổ trợ của hải ngoại. Người Việt tỵ nạn v́ ḷng yêu
nước muốn được hồi hương xă thân tranh đấu cho đồng bào ruột thịt bên nhà
cũng không được bạo quyền cho phép về nước. Trong tiến tŕnh dân chủ hóa
đất nước, những người cựu cộng sản và đại đa số những người không cộng sản
trong nước là hai thành phần duy nhất có thực lực để tranh cử. Hai thành
phần này cũng sẽ không muốn những người ở hải ngoại về nước để giành chổ
của họ, y như thời đệ nhất và đệ nhị cộng ḥa của miền Nam trước 1975 có
bao giờ mời những nhân vật chính trị thời Bảo Đại lưu vong về nước tham
chính.
Với nhận định trên đây, thiết tưởng các phong trào yêu
nước nào ở hải ngoại đặt mục tiêu về nước để đích thân trực diện tranh đấu
hoặc để nắm chính quyền hay tham chính, cần xét lại xem có nên điều chỉnh
mục tiêu tranh đấu để từ đó có chương tŕnh kế hoạch hành động thích nghi
hơn. Công việc “xét lại” trên đây sẽ giảm thiểu những tranh chấp về ảo
vọng cầm quyền trong nước đang là mầm móng chia rẽ trầm trọng nhất ở hải
ngoại. Nhờ đó hải ngoại sẽ tránh dấn thân vào những mục tiêu viễn vông để
dồn 100% nỗ lực vào hai mục tiêu thực tiển và khả thi. Đó là yểm trợ nội
địa và vận động quốc tế. Hy vọng rằng nhờ đó hải ngoại sẽ đoàn kết nhau
hơn trong sứ mạng, và công cuộc dân chủ hóa đất nước có cơ sớm thành tựu.
Nguyễn Bá Cẩn
Cựu Chủ Tịch Hạ Nghị Viện và
Thủ Tướng Chính Phủ VNCH