|
BÀI CA VỀ NGƯỜI GĂY ĐÀN ĐẤT LONG THÀNH
Người găy đàn đất Long Thành ấy, tên gọi ǵ không rơ. Nghe nói lúc nhỏ
nàng học đàn Nguyễn nơi đội nữ nhạc trong cung vua Lê. Binh Tây Sơn dấy
lên, các đội nhạc cũ lớp chết lớp bỏ đi. Nàng lưu lạc ở các chợ, ôm đàn
găy dạo. Những bản đàn nàng găy là những khúc trong cung phụng gảy cho vua
nghe, người ngoài không ai biết. Cho nên tài danh nàng lừng lẫy một thời. Đây là câu chuyện về người đánh đàn của thành Thăng Long, chuyện xảy ra trong ṿng hai mươi năm, biết bao biến động của lịch sử, từ thời vua Lê chúa Trịnh, cho tới lúc Tây Sơn dẹp Lê Trịnh, và Gia Long thắng Tây Sơn lên ngôi 1802. Vào năm 1813 Gia Long sai Nguyễn Du đi sứ Trung Quốc. Cụ Nguyễn Du găp người đánh đàn hai lần, trong hai hoàn cảnh khác nhau.
BÀI CA VỀ
NGƯỜI GĂY ĐÀN ĐẤT LONG THÀNH 1. Không nghe gọi tên họ 2. Riêng thạo đàn Nguyễn 3. Người trong thành bèn lấy chữ Cầm mà đặt tên 4. Nàng học được khúc Cung Phụng trong cung tiền triều 5. Đó là những khúc đàn hay nhất trời đất 6. Tôi nhớ lúc thiếu thời đă gặp một lần 7. Bên bờ hồ Giám trong một cuộc dạ yến 8. Lúc đó nàng khoảng hai mươi mốt tuổi 9. Áo hồng ánh lên mặt hoa đào 10. Má hừng rượu, vẻ ngây thơ, rất dễ thương. 11. Năm cung réo rắt theo ngón tay mà thay đổi điệu 12. Tiếng khoan như gió thoảng qua rừng thông 13. Tiếng trong như đôi hạc kêu trên cao thẳm 14. Tiếng mạnh như tiếng sét đánh tan bia Tiến Phúc 15. Tiếng buồn như Trang Tích ngâm tiếng Việt lúc bệnh 16. Người nghe say sưa không biết mỏi 17. Đó là những khúc đàn trong đại nội Trung Ḥa 18. Các quan Tây Sơn trong tiệc đều say mê điên đảo 19. Măi vui suốt đêm không biết chán 20. Bên tả bên hữu tranh nhau văi thưởng 21. Tiền bạc coi rẻ như đất bùn 22. Ư khí hào hoa át cả các bậc vương hầu 23. Đám thiếu niên đất Ngũ lăng không đáng kể 24. Tưởng chừng ba mươi sáu cung xuân 25. Chung đúc một vật báu vô giá đất Trường An 26. Nhớ lại từ buổi tiệc ấy đến nay đă hai mươi năm 27. Sau khi Tây Sơn bại vong tôi vào Nam 28. Long thành trong gang tấc không được thấy lại 29. Huống hồ tiệc múa hát ở trong thành 30. Quan Tuyên phủ v́ tôi bày tiệc mua cười 31. Trong tiệc đám ca kỹ đều trẻ tuổi 32. Duy ở cuối chiếu có một nàng tóc đă hoa râm 33. Mặt gầy thân khô thân h́nh bé nhỏ 34. Đôi mày phờ phạc không điểm tô 35. Ai biết đó là người trước kia nổi danh tài hoa đệ nhất trong một thời 36. Khúc xưa đàn lên tôi tuôn nước mắt ngầm theo từng tiếng 37. Tai lắng nghe mà ḷng chua xót ! 38. Bổng nhớ lại chuyện hai mưoi năm xưa 39. Đă từng thấy bên chiếu tiệc bên hồ Giám 40. Thành quách suy dời,việc người đổi 41. Bao nương dâu đă biến thành biển xanh 42. Cơ nghiệp Tây Sơn tiêu tan sạch 43. Trong làng múa hát c̣n sót lại một người 44. Trăm năm thấm thoát trong một hơi thở một nháy mắt 45. Cảm thương việc cũ lệ thấm áo 46. Từ Nam trở về đầu tôi bạc trắng 47. Không trách người đẹp nhan sắc suy tàn 48. Hai mắt trưng trưng luống tưởng lại chuyện cũ 49. Khá thương giáp mặt nhau mà không nhận được nhau Chú thích: Đàn Nguyễn là đàn nguyệt Giám hồ là Hồ Hoàn Kiếm Tiên triều là nhà hậu Lê, thời vua Lê chúa Trịnh. Đại nội Trung Ḥa là cung nhà Lê, nhà hậu Lê, thời vua Lê chúa Trịnh Quan Tuyên thủ là quan trấn thủ kinh thành lúc Nguyễn Du nhận lệnh đi sứ TQ (1813) song hạc: đôi hạc, hạc là loài chim có tiếng là chung t́nh, khi một con chết th́ con kia sống vậy suốt đời. Cụ Nguyễn Du cố t́nh dùng song hạc, để giúp cho ta thấy rằng khác với tiếng hạc trong Kiều “trong như tiếng hạc bay qua” ở đây là đôi hạc đang bay cùng nhau truyền cho nhau tiếng kêu âu yếm, v́ măi mê tṛ chuyện mà đă bị đàn bỏ lại phia sau, thật lăng man, và t́nh tứ, Cụ Nguyễn Du thật tuyệt, khi mô tả âm thanh này : 12. Thanh như song hạc minh tại âm
(Tiếng trong
như đôi hạc kêu trên cao thẳm) Bia Tiến Phúc là sự tích bên Tàu, chuyện kể có một hàn sĩ làm bài thơ dâng cho quan Tổng trấn kinh thành, Vị quan này đă ban cho một đặc ân, là cho phép hàn sĩ được mang giấy bút đến đồ chữ rất đẹp được khắc trên mộ bia Tiến Phúc để hàn sĩ bán lấy tiền độ nhật, chờ khoa thi tới. Đây là một đặc ân phá lệ. Trên đường đi đến bia với biết bao hy vọng sung sướng, hàn sĩ vừa đến nơi th́ nghe có tiếng sét nổ, bia đă bị đánh tan. Không có nỗi buồn, kinh ngạc và cay đắng nào hơn cho hàn sĩ. Một thất vọng đến vô cùng. 14. Liệt như Tiến Phúc bi đầu tái tích lịch
(Tiếng mạnh
như tiếng sét đánh tan bia Tiến Phúc) Trang Tích là sự tích bên Tàu, chuyện kể Trang Tích là người nước Việt làm quan đại thần tại nước Sở, khi chết vua mới sai quan hầu cận đến nhà Trang Tích xem thử Trang Tích có buồn khổ ǵ không, bởi vua Sở đối xử với Trang Tích quá tử tế .. Quan hầu cận về tâu cùng vua Sở rằng chỉ thấy Trang Tích lúc hấp hối dùng tiếng Việt của ḿnh đễ tỏ bày nổi nhớ quê hương. Không có nỗi buồn nào đậm và ray rức cho bằng lúc lâm chung lại dùng tiếng nói của dân tộc ḿnh để trăn trối và thương nhớ quê hương. 15. Ai như Trang Tích bệnh trung vi Việt ngâm
(Tiếng buồn
như Trang Tích ngâm tiếng Việt lúc bệnh) Ngũ lăng nơi có 5 lăng tẩm của các vi vua lăng tẩm Hán triều, chổ đây có đám vương tôn công tử, nhà giàu, ăn chơi chọc trời khấy nước nổi tiếng trong lịch sử TQ cổ. Tôi nghĩ rằng 4 câu này tả tiếng đàn của cụ Nguyễn Du là hay hơn cả Bạch Cư Dị trong T́ bà hành và trong của chính truyện Kiều, bởi sự súc tích của ngôn ngữ lẫn tính bác học khi chọn điển tích. Nguyên tác :
1. Hoăn như
sơ phong độ tùng lâm, Dịch Việt ngữ
1.Tiếng
khoan, gió giỡn thông ngàn Cụ Quách Tấn không dịch. Cụ chỉ dịch nghĩa toàn văn ở trên
GS. Trương Được |