|
LƯU BÚT NGÀY XANH
Nguyễn Trí Tôi xin được phép viết những ḍng này để xin cúi đầu tưởng niệm Giáo sư Viện Trưởng Nguyễn Văn Bông, các Thầy Cô và cựu sinh viên QGHC hi sinh v́ Tổ quốc Việt Nam…( trang.3) Học Viện Quốc Gia Hành Chánh ngày … Lại một mùa nhập học dành cho các sinh viên, các viên chức chỉ huy nhà nước tương lai vào mùa Thu năm 1969. Niên khóa này, so với những năm trước là nhiều hơn gấp đôi, lên đến 250 sinh viên, trong đó có 50 công chức về học lai, con số nữ sinh viên và sinh viên sắc tộc cũng nhiều hơn 5% so với các khóa trước trong tổng số. Trong truyện ngắn “Lá số tử vi”trong tập truyện “Nhớ Huế” của anh Phạm Thành Châu, nhà văn Quốc gia Hành Chánh khóa 14 viết, đại ư nói, thi vào Học viện này, khó hơn thi tiến sĩ ngày xưa, không biết nhận xét đó có đúng không, nhưng chắc không dễ. Lại nữa, sau này khi ở gần trường Harvard, biết cách tuyển chọn sinh viên của trường này, mới biết các Thầy của chúng ta chấm bài e cũng có khác, có nghĩa là không chắc học giỏi mà được chọn. Học giỏi đôi khi chỉ là học vẹt. Ở Harvard, có em điểm tới 4,4 mà không được chọn, trong khi 3,8 lại được chọn. Chắc quư Thầy c̣n chấm cách hành văn, tŕnh bày vấn đề, xem có đáng được là có tư tưởng của Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến hay không. Tôi đoán ṃ vậy, v́ không hiểu sao tôi lại thi đổ vào đây. Nhớ lại hồi nhỏ Winston Churchill học cũng không giỏi giang ǵ, thi đậu vào cái trường nào đó bên Anh, đến nỗi ông bố cười lăn mà nói: Con ơi, con ḅ qua được hàng rào trường đó hả. Vậy xem ra, đôi khi cũng có nghề chọn người vậy. Tại đây, bắt đầu khóa Đốc Sự 17, tôi may mắn được gặp những chàng trai trẻ đều ở lứa tuổi 18, xem ra khôi ngô tuấn tú chí khí bừng bừng, ước ǵ có roi sắt nữa mà thôi. C̣n phía các chị th́ như những công chúa Tiên Dung, mặt phượng mày ngài, đẹp ơi là đẹp, nói chi cho bằng là nếu nghĩ thêm cả gần 2000 năm trước, chắc cũng xuất phát từ đất Mê Linh tất cả. Bây giờ Anh ở đâu, Chị ở đâu. Xin nhỏ nhiều giọt lệ để tiếc thương những bạn đă hi sinh v́ chính nghĩa tự do, đă nằm xuống trong lao tù cộng sản hay mất tích trên biển cả trên đường vượt biên. Xin gửi cả ḷng về Việt Nam mến yêu, nơi có anh Quang già, anh Thắng, anh Minh Jango, anh Tŕnh thợ mộc, anh men sứ Trần Đ́nh Sơn… chị Vinh, chị Trưởng, chị Thố, chị Hải… Hay ở bên trời Âu, anh Trinh, anh Cư, chị Xuân, chị Kim…Ở miệt dưới Úc anh Sanh, đôi uyên ương anh chị Phong-Nguyệt Minh … (trang 7) Vào nhập học độ chừng khoảng 3 tháng th́ Trưởng lớp được bầu là Hoàng Trác Thành đi xe gắn máy bị đụng găy gị. Nguyên là nhóm công chức về học lại khóa Đốc sự 17 khoảng 50 người. Có anh Lê Viết Hồng và Nguyễn Đẩu là maker king vận động để anh Thành làm trưởng lớp để dễ được du di. Thành què chân nằm ở bệnh viện. Hồng và Đẩu dụ tôi qua Pḥng công tác sinh viên cả quyền thưa với thầy Bửu Đích là xin Thầy tạm thời để anh Trí thay anh Thành, trong khi chờ đợi trưởng lớp được bầu hồi phục, do bất khả kháng nên không thể bầu lại ngay được. Thầy Bửu Đích dư biết mọi chuyện của “thứ 3 học tṛ sau quỷ ma”, nhưng bản tính Thầy hiền lành như Bụt, sao cũng được, ǵ cũng xong, vậy là Thầy thuận. Trong đời, những người tôi được may mắn gặp và thích thú được thưa chuyện là thầy Bửu Đích, Thầy là con vua cháu chúa nội tộc của Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất phương Nam từ năm 1558. Nghe nói ni cô Trí Hải là em út của Thầy, không biết phải không. Ni cô Trí Hải có bút danh là Phùng Khánh, đă dịch quyển The Catcher in The Rye (1951) của David J. Salinger rất hay, khó có ai dịch được như thế. Quyển sách này rất được học sinh và sinh viên Mỹ trong các thập niên 50, 60 thế kỷ vừa qua tại Mỹ yêu thích, tờ Time chọn là 1 trong 100 cuốn sách hay viết bằng t́ếng Anh của thế kỷ. Đề truyện dịch là Bắt trẻ đồng xanh. Nhà văn, triết gia David J.Salinger mai danh ẩn tích cả hơn 30 năm nay tại bang New Hamshire, bang của mùa Thu lá vàng lên tận Vertmont, đến biên giới Canada. Qua Mỹ, tôi dọ hỏi xem Thầy ở đâu, nghe nói ở bang nào đó dưới cực nam của nước Mỹ và mai danh ẩn tích nên không thể điện thoại để vấn an Thầy, thiệt là không phải đạo đối với ân sư. Năm cuối làm luận văn ra trường với đề tài Người Nữ Công Chức trong guồng máy hành Chánh Việt Nam do Giáo sư Lương Thọ Phát hướng dẫn, Thầy đă giúp tôi hoàn toàn 1/3 tập luận vặn. Thích nhất là các câu Thầy dẫn từ các triết gia, ví dụ như ai nói quên mất rồi cái câu: Cứ 100 người đàn ông trên cỏi đời này, 99 người được cứu sống bởi người đàn bà và một người bởi Thượng đế, hoặc tân biên lời Khổng Tử: Phụ nữ như quĩ thần, kính nhi viễn chi dă. Tôi cứ tưởng tượng, mặc dầu lúc đó là năm 1972, nếu Đức Quốc Trưởng Bảo Đại hồi loan, chắc sẽ mời Thầy làm Giám đốc Nghi lễ Hoàng Cung và tôi sẽ xin về làm việc cùng Thầy, dĩ nhiên kinh đô phải đặt tại Huế, lấy Ṭa Đại Biểu cũ làm trụ sở, thôi th́ tha hồ mà nh́n nữ sinh Đồng Khánh đi học vậy. Ở đây xin thưa thêm là anh Lê Viêt Hồng vốn người Quảng Trị, đất cày lên sỏi đá của bà mẹ Gio Linh, thật thà đến nổi như là quê một cục. Khoảng hơn 15 năm sau, khi Hồng mất, tôi đi t́m kiếm lại tông tích Hồng tại làng Hạnh Hoa, nhưng không ai c̣n được biết. Nhà Hồng ở trên đường Trần Quốc Toản, mỗi buổi sáng ảnh tàng tàng tản bộ đến trường một chặp rồi biến. Biến đi đâu? Hoặc là ở bida đường Nguyễn Trải, hoặc các ṣng roulette tại Cholon….và các nơi đại khái như thế. Hồng gầy và nhỏ con nhưng dễ thương tột bực. Con nhà danh giá lại có đạo thành ra rất kiểu mẫu, nhưng lại ham chơi quá đổi, không rơ cung tử vi có ǵ, lại mất sớm quá uổng, nhưng ra trường không đậu chót mới ngon. Hồng về tỉnh B́nh Định, phó quận nào ngoài ấy và mất tích trong dịp di tản tháng 4 năm 1975. Hồng và Đẩu là 2 ân nhân bất đắc dĩ giúp tôi được lănh lương tháng 3 khi mới cuối tháng 1.Thiệt là tài t́nh vậy… (trang 41) Ở thành phố Boston bang Masachusetts và bang kế cận là New Hamshire có 3 cựu sinh viên ĐS17 xin chọn nơi này, vùng New England làm quê hương là 3 anh già cùng tuổi Tuất. Bảy già, Trí khụm và Nhựt nhị thập niên tiền chỉ thập tứ. Nhựt c̣n hào hoa phong độ, mê cải lương nhưng không rảnh th́ giờ để xuống được vài câu. Mấy năm trước, thỉnh thoảng có về tôi ngủ lại chơi, nói chuyện tào lao mấy không hết, đôi khi cũng tỏ vẻ thẹn thùng như con gái mỗi lần bị chọc ghẹo như là rứa hả, vậy hả. Nay sao biệt tích giang hồ không rỏ. C̣n anh chị Bảy th́ tuyệt vời, nay vẫn c̣n đi làm nhưng tu tại gia và làm công quả. Đau ốm không dám cho anh chị Bảy biết. Nếu không th́ thôi anh chị nấu đồ ăn đem xuống để trong tủ lạnh nhiều, phiền lắm, nhưng món canh mướp đắng nhồi, chị nấu ăn rất ngon. Có lần tôi thử bắt chước chị để nấu được một lần rồi thôi, một ḿnh quây qua ba miếng là được, khi nào cái miệng đ̣i hỏi lôi thôi th́ răn đe là không nhớ dạo ở tù sao. Vậy là thôi, vậy là êm re. Lại nữa, mỗi lần đi ăn là chị Bảy nháy mắt, anh Bảy tới quầy trả tiền, phiền lắm đi. Bạn bè gần được nhau, như ngồi bên bếp lửa. Nếu không gần nhau, th́ cũng là những đóm lửa gọi đàn. Các anh chị khóa đàn anh đều lớn tuổi cả, thỉnh thoảng gặp nhau để xem sao, cũng như đi bác sĩ vậy. Thành phố Boston này có tới gần nữa năm băng tuyết, lại bên biển Đại Tây Dương, nên khí hậu rất sạch. Thành phố chưa tới 1 triệu dân, bang Mass chỉ có 7 triệu dân, nhưng có đến hơn 100 trường Đại học, nỗi tiếng nhất là Harvard và MIT… Đa số con em người Việt tị nạn đều học hành thành công cả, nhất là con em hành chánh chúng ta.(trang 53). Sau khi đi tù về lại Saig̣n năm 1987, người đầu tiên tôi được gặp lại trong t́nh cờ là khi đó, tôi dang ngồi trên mái nhà sửa lại mấy miếng ngói để nhà khỏi bị dột, ở đường Nguyễn Minh Chiếu quận Phú Nhuân, gần nhà nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, th́ nh́n xuống thấy có người quen quen chạy xe qua. Đột nhiên tôi gọi đại: Hoàng Ngọc Uyển, Hoàng Ngọc Uyển . Và đúng là Hoàng Ngọc Uyển. Khi ấy và đến cả bây giờ, anh Uyển vẫn c̣n đẹp trai và dễ thương vô cùng. Năm 1996, từ quận Cam có dịp lên San José lại may mắn được gặp các anh Quang, Chánh, Thiên, Uyển, Tuấn…tại nhà anh Luật sư học giỏi Nguyễn Ngọc Diệp vô cùng thân mật và thỏa thích. Như đa số các anh em hành chánh phần lớn đến Mỹ, đều do anh Huỳnh Tấn Lê bảo trợ. Đêm đầu tiên tại Mỹ ngủ tại nhà anh Lê xúc động v́ cái tâm từ vốn có và b́nh dị của anh Lê. Rồi cũng như nàng Kiều, thanh lâu nhiều lượt “thanh y hai lần” tôi về ở tại chùa Bát Nhă, rồi th́ thân mệnh tương đố, không nương nhờ được cửa Phật, ḷng trần bụi bặm lại ra đi, lại ra đi như năm 19 tuổi, bỏ chùa Trúc Lâm - Gia Định ra đi…Xin vô cùng cám ơn anh chị : Lê, Ngữ, Thu, Quang, An, Ba, Lạng, Bản, Giè, Hàng, Vũ….anh Trần Văn Tuôi, chị Dương Thị Ḥe…và tất cả các anh chị. H́nh ảnh của các anh chị măi măi ở trong con tim nhỏ bé này. Tục ngữ Anh có câu: “Friendships multiply joys and divide griefs”nghĩa là “Bạn bè, niềm vui gấp bội, nỗi buồn chia đôi”. Thật thế, có nhiều chuyện, không dám thưa với cha mẹ, nói với anh chị em nhưng dễ dàng san sẻ cùng bạn. C̣n vợ con th́ e là không rồi. Bạn th́ tất cả, nhưng có bạn cùng quê, cùng tỉnh làm, cùng sở thích, cùng học đứng hạng sau cùng, nên lại có bè. Bè nhóm Huế có Nguyễn Đ́nh Hào, Cung Trọng Thanh, Hùng Cố Đô, Chị Nguyệt, anh Trương Minh Ḥa th́ nay đă mất…Bè nhóm đứng sau cùng th́ về Bộ Nội Vụ và đi tỉnh xa. Bè này ra tỉnh Quảng Tín có 3 anh, toàn là lớp A, lớp B giỏi hơn chăng? Nhớ dạo ra trường, hôm chọn chỗ tại Bộ Nội Vụ, không nhớ buổi sáng hay chiều, trời tuy có nóng, nhưng ḷng mát mẻ và thanh thản, không vui chẳng buồn, v́ mọi thứ c̣n đều trước mặt. Âu lo th́ cũng vậy thôi, đâu có chết người trai khói lửa, mà em gái hậu phương th́ không thấy đâu nên đâu có chết. Chiến tranh mịt mù. Cộng sản thiệt tồi tệ. Không có nó th́ đâu có chiến tranh, nước ḿnh dân ḿnh đâu có khổ. Cái hôm chọn chỗ về tỉnh, khi gọi tên, tôi đứng lên im lặng rồi cười, ông Chánh sự vụ HĐG hỏi “Sao không chọn chỗ mà lại cười”. Tôi nói: “Thưa ông Chánh, c̣n chỗ nào nữa mà chọn. C̣n 3 chỗ tại tỉnh Quảng Tín, xin ông Chánh điền tên 3 anh em chúng tôi là xong”. “Vậy hả”. Đúng là vậy. Các bạn chúng ta, chắc các bạn không bao giờ để ư để biết, 3 người chót cuối sổ là ai đâu. Anh Vơ Văn Lượng người gốc Huế rặc, có con là hai cháu trai sinh đôi, đă xong Đại Học từ lâu, hiện đang ở Montréal, Canada, mười năm trước tôi có ghé thăm anh tại nhà, trông anh c̣n trẻ trung lắm. Anh Lượng trời phú tính t́nh điềm đạm, kỷ lưởng, làm Trưởng Trung Tâm Chuẩn Chi, nên thoát được tù. Nhớ lại ngày 29 tháng 3 của 34 năm về trước, anh Quư và tôi chia tay anh Lượng tại Đà Nẳng khi thành phố đă lọt vào tay cộng sản. Anh Lượng về lại Huế, anh Quư và tôi c̣n tại đó, và sau đó, có xe bịt bùng tới bắt đi vào ban đêm, đưa vào Kho Đạn, rồi lên núi. Đó là lũ ba tên VNCH xếp hạng chót khóa 17. Tôi chót nhất, anh Quư á-chót, anh Lượng chót bẹt. Có khối chuyện để nói như thế… (trang 67) Có chỗ nào trong này đă có nói là “nghề chọn người”. Thật vậy, làm Phó quận tôi rất thích và rất hợp. Đôi khi nghĩ lại, nếu không có công việc của Phó Quận, không biết phải làm ǵ trong cuộc đời. Lên cao hơn th́ mệt và rắc rối, xuống thấp nữa th́ không được v́ đă tận platform rồi. Mà sau đó, lại càng buồn cười là khi Việt cộng xâm chiếm miền Nam, chúng bắt đi tù v́ theo chúng là can tội: Phó Quận. Theo tổ chức chính quyền, Phó Quận c̣n là chỉ huy trưởng Nhân Dân Tự Vệ quận. Chức này xem ra to gấp đôi chức Tư lệnh sư đoàn, v́ quân số đoàn ngủ hóa tại quận mà y trấn nhậm là hơn cả 2 sư đoàn, so với dân số toàn quận là 120.000 người dân. Thời đó, quận có dân số như vậy thuộc loại A, hơn cả dân nước Lỗ bên Tàu hồi đức Khổng Tử làm Tể tướng. Trong 20 xă, có nhiều xă an ninh được lượng giá là A,B nên Chỉ huy trưởng đi kiểm soát các chốt pḥng thủ là rất vui, nhất là đêm trăng sáng hoặc ngày mùa. Ở xă BT, có cô gái thợ may xinh đẹp tuổi 18, có cha là cán bộ tập kết ra Bắc, mỗi lần có Đại hội NDTV tỉnh, thường cầm cờ lớn, đi hàng đầu trông rất xinh xắn và kiêu hùng. Có anh Thiếu úy Phân chi khu trưởng định kết duyên, nhưng rồi 75. Cách đây mấy năm, nhân ôn lại chuyện cũ với ông Thiếu tá Quận trưởng, mới được biết là cặp này uyên ương gảy cánh. T́nh quân dân cá nươc, t́nh yêu trai trẻ nơi ruộng đồng yên vui miền Nam tự do, đă bị cộng sản Bắc việt phá hủy từ 1945, rồi đến hiệp định Genève, Paris, vậy là đúng như lời anh hùng thi nhân Nguyễn Trăi đă nói: trúc rừng không ghi hết tội, nước biển không rửa sạch mùi. (trang 71) Người ta nói Hành chánh có uy quyền, các ông lớn tại nước Pháp trước đây đều từ trường ENA (École Nationale d’Administration)mà ra. Đó là đối với người c̣n sống và tại chức.Nhưng khi chết rồi th́ có c̣n oai phong lẫm liệt không? Năm 1993, anh bạn lớp B đễ thương cùng khóa chúng ta mất tại Sàig̣n v́ bệnh gan, anh là người rất nhiệt huyết và nặng t́nh với anh em, thỉnh thoảng anh chạy xe gắn máy, chở theo cháu trai lớn, nói là để cho cháu tập biết sống, t́m thăm tại nhà riêng để xem anh em sống ra sao, có khá hơn không. Quả là một tâm hồn hiếm hoi trong cái vũng bùn xă hội chủ nghĩa. Những ngày cuối cùng tại bệnh viện, anh TB Sơn, Anh Nguyễn Tŕnh và tôi thường vào thăm anh. Anh thường dấu nỗi đau và điều buồn trên khuôn mặt trông rất hành chánh. Đau th́ không nói rồi, nhưng e chừng có buồn nhiều, v́ các cháu chưa đủ lớn để sống với đời, lại c̣n nhị tẩu góa bụa khi c̣n son trẻ. Vậy mà anh lại ra đi. Anh TB Sơn và tôi, liên lạc chùa Vĩnh Nghiêm, để đưa Anh từ bệnh viện về quàng tại đó. Khi đưa linh cửu Anh đến, linh cửu căn chính giữa lại di quan, vậy thật là linh thiêng và uy quyền thay, lại oai nghiêm và trọng thể vô cùng khi nằm chính căn giữa, tiếp đến trong ngày, lại có thêm một linh cửu nữa căn bên phải. Lại nữa, là khi mướn xe rồng, không có được v́ xe hư chưa sửa xong, phải hợp đồng xe đen, nhỏ hơn. Thế mà, khi cần di quan, xe đen nhỏ đă hợp đồng mướn rồi, lại bị hư, vừa khi sửa xong xe rồng. Khi di quan về B́nh Hưng Ḥa để hỏa thiêu, ngồi sau xe gắn máy chạy trên đường Trần Quốc Toản, qua học viện dừng lại vài phút để tưởng niệm, tôi vái thầm, anh H. ơi! Lạy anh. Anh đi oai quá, sự thể quá. Bạn bè sau này chắc ít người được như anh. Cũng nên thêm là anh oai nghiêm và hiển linh vô cùng. Bạn cùng khóa chúng ta có anh D. sau này, buồn v́ VC phá gia đ́nh ly tán nên sinh ra uống nhiều rượu, mà uống nhiều th́ phải say. Say th́ không tốt. Không ai báo cho anh D. biết, vậy mà anh cũng biết được và tới dự đám, ai cũng lo ngại cả. Mỗi lần thấy có triệu chứng là tôi nói: Anh H.không bằng ḷng vậy đâu D.nhé. Vậy là hiệu nghiệm ngay, D. ngồi im không phá phách ǵ anh em.Nhiều chuyện tương tự như thế, chứng tỏ anh H. hiền từ, nhưng rất uy quyền. Thương nhớ và mến phục anh, xin được phép kể lại như thế và để biết chúng ta đă vinh hạnh có được một người bạn như thế. Người bạn linh thiêng và vẫn uy quyền đó, cho đến khi đă nằm xuống là anh Huỳnh Văn Huệ. Thời gian sau này, tại Mỹ trong những ngày các anh Triệu Ḥa, Nguyễn Minh Hải, Vương Lưu đang lâm trọng bệnh và sắp ra đi, tôi cũng may mắn có dịp thưa chuyện cùng các anh, và thấy rằng con người ta, đến rồi đi trong cuộc đời vô trụ vô thường này đều không có ǵ khác biệt, cái khác biệt nếu có là các anh đă rất hồn nhiên, tự tại và lắng đọng, lắng đọng như để trở về cái tuổi thanh xuân của đời sống, ở đó cách đây đă 40 năm, tại Học viện nơi chúng ta, khóa Đốc sự 17 đă gặp nhau, với tuổi trẻ mang hoài bảo xây dựng quê hương đất nước, nhưng rồi vận nước không may, cuộc đời có nhiều ngă rẽ, nhưng cuối cùng vẫn như, trong đại dương mênh mông, trên con thuyền nhỏ, vẫn bên nhau trong niềm thương yêu và tin cậy của t́nh bằng hữu vĩnh viễn rạng ngời. Rất nhớ em Kontum má đỏ môi hồng Nguyễn Ngọc Quang, nhà nông Nguyễn Hữu Quư, Quách Tỉnh Phạm Phước Ngữ, em yêu Trần Văn Tuôi, anh hùng Lương Sơn Bạc Nguyễn Trung Quang, anh gà gáy Nguyễn Văn An, anh thợ mộc Nguyễn Tŕnh …và tất cả, mà mỗi lần nhớ lại, con tim như bị nghẽn mạch, như vẫn c̣n thổn thức nhưng im lặng trong my document. (trang 81 và c̣n tiếp).
Trích trong tập Hồi kư
“ĐỐC SỰ 17, MỘT TRỜI THƯƠNG NHỚ” |