Từ Hoa Thịnh Đốn,
tin cho biết Đại tướng Cao Văn Viên, nay 85 tuổi, phải một lần nữa nhập
viện Virginia Hospital Center v́ bệnh tim tái phát trầm trọng. Ngày mùng
hai Tết Bính Tuất, chúng tôi có nói chuyện khá lâu với ông qua điện thoại
khi ông vừa từ bệnh viện trở về cư xá cao niên tại số 4435 N. Pershing
Drive, Arlington. Ông có linh cảm khó thoát khỏi, tuy trí tuệ vẫn c̣n sáng
suốt. T́nh trạng sức khoẻ sút kém của vị tướng đàn anh trong Quân đội VNCH
gây lo ngại trong Cộng đồng người Việt hải ngoại v́ ông từng giữ lâu năm
nhiều chức vụ then chốt thời Đệ nhứt và Đệ nhị Cộng Ḥa: Tham mưu trưởng
Biệt Bộ tham mưu Phủ Tổng Thống (thời chính phủ Ngô Đ́nh Diệm), Tư lệnh Lữ
đoàn Nhảy dù, Tư lệnh Quân đoàn, Tham mưu trưởng Liên quân, Tổng Ủy viên
Chiến tranh, Ủy viên Quốc pḥng, và Tổng Tham Mưu trưởng (từ tháng 11.1967
cho đến ngày 27.4.1975, gần một thập niên).
Mối thân t́nh giữa chúng tôi bắt đầu từ 1958 khi Trung
tá Viên thay thế Đại tá Nguyễn Văn Là, đảm trách chức Tham mưu trưởng Biệt
Bộ Tham mưu Phủ Tổng Thống trong giai đoạn người viết là Bộ trưởng Nội vụ
trong Nội các Ngô Đ́nh Diệm từ 1954 cho đến cuối 1959.
Trung tâm Lubbock giúp hiệu đính lại The Final
Collapse lối tháng 2.2002, Đại tướng Viên gởi tặng cho chúng tôi hai quyển
sách tiếng Anh: tập tiểu thuyết best seller "Monkey Bridge, Cầu Khỉ"
do ái nữ của ông là Lan Cao, Giáo sư luật quốc tế ở Đại học Brooklyn, New
York, sáng tác, và "The Final Collapse", tài liệu chuyên
khảo dày 184 trang, do chính ông khởi viết vào khoảng 1976-1978 và được
Center of Military History, United States Army, Washington DC, xuất bản
năm 1983. Một số chuyên gia danh tiếng Mỹ về chiến tranh Đông Dương như
Ronald S Spector, Jeffrey Clark, Philip Davidson...hợp tác với Trung tâm
Quân sử này. Về phía VN, có các tướng Cao Văn Viên, Ngô Quang Trưởng, Đồng
Văn Khuyên, Trần Đ́nh Thọ, Nguyễn Duy Hinh, Đại tá Hoàng Ngọc Lung. Sáu
tác giả vừa kể sáng tác được 16 tập nghiên cứu, tất cả được xếp vào bộ
Indochina Monographs.
Tướng Viên viết riêng quyển Leadership (1981), The
Final Collapse (1983) và viết chung với Đồng Văn Khuyên Reflections on the
Vietnam War (1980). The Final Collapse phân tích các lư do sụp đổ của Miền
Nam VN về mặt quân sự và chính tri.. Tuy nhiên, có ba điểm trong quyển
sách này không làm cho tướng Viên vừa ư: 1) Nhà xuất bản Mỹ cho in trên b́a h́nh một chiến xa mang cờ VC,
khiến các độc giả có thể hiểu lầm ông
2) Một số đoạn trong sách, khi được biên tập viên dịch
ra tiếng Anh, đă diễn đạt sai lạc ư kiến của tác giả và
3) Ông chưa thực hiện được bản tiếng Việt đồng lúc với
bản tiếng Anh để tŕnh bày quan điểm cá nhân trong chi tiết.
V́ t́nh bạn, người viết đă giúp ĐT Viên liên lạc với ông
Nguyễn Xuân Phong, cựu Quốc vụ khanh phụ trách Ḥa đàm Paris và hiện là
đồng Giám đốc VN Center thuộc Đại học Texas Tech University, Lubbock,
Texas. Với sự hỗ trợ của giới tài phiệt Hoa kỳ, trung tâm này hiện tàng
trữ nhiều sử liệu VN nhứt trên thế giới về quân sự, văn hóa và chính tri.
Trung tâm có phương tiện để hiệu đính, bổ túc, in lại và phổ biến The
Final Collapse.
V́ tướng Viên phải ngồi xe lăn và di chuyển khó khăn
cho nên ông Nguyễn Xuân Phong đă nhiều lần đích thân từ Texas lên Hoa
Thịnh Đốn để phỏng vấn và ghi lại trong gần hai năm các đoạn cần điều
chỉnh trong The Final Collapse. Vốn tốt nghiệp Đại học Oxford và là một
nhà ngoại giao kỳ cựu, ông Phong chu toàn mọi việc về mặt sinh ngữ. Một
trong các lư do khiến Trung tâm Lubbock nhận giúp là tướng Viên liên tục
thay mặt gần một thập niên chính phủ VNCH để bàn thảo về chiến lược quân
sự chống CS với các tư lệnh đồng minh Mỹ, từ Paul Harkins, William
Westmoreland, Creighton Abrams cho đến Frederic Weyand. Trong vị thế ấy,
ĐT Viên có dịp thu thập kinh nghiệm quư báu về cuộc chiến không quy ước
giữa Nam và Bắc Việt, một cuộc chiến trong đó Hà Nội chủ trương đấu tranh
toàn diện, khai thác tối đa tuyên truyền, đẩy mạnh dân vận và đột nhập
dưới vĩ tuyến 17, bất chấp các Hiệp ước kư kết.
Công việc viết lại The Final Collapse vừa hoàn tất,
sách sắp xuất bản một ngày gần đây. Điều an ủi trong hiện tại là The Final
Collapse được dịch giả Nguyễn Kỳ Phong chuyển ngữ qua tiếng Việt năm 2003
dưới tên Những Ngày Cuối của VNCH (nhà xuất bản VN Bibliography,
Virginia) gồm có 10 chương, 295 trang và một số chú thích của tướng Viên.
Theo tác giả tâm sự với người viết, The Final Collapse không thể đề cập
đầy đủ đến mọi sự việc v́ bị giới hạn trong phạm vi sử dụng các sử liệu,
một số lớn chưa được Ngũ Giác Đài, Nga, Tàu và chính quyền Bắc Việt giải
mật vào năm 1983.
Cuộc mạn đàm với Đại tướng Cao Văn Viên tại Virginia Từ 1975 đến nay, Tướng Viên giữ một sự im
lặng có liêm sĩ và từ chối phê b́nh đến những biến cố tại VN cũng như bí
mật trong hậu trường. Người viết đă mất nhiều năm thuyết phục ông nên góp
phần đánh tan những dư luận không đúng - từ phía quốc gia, đồng minh cũng
như CS - liên hệ đến cuộc chiến đă qua. Cuối cùng, trước Giáng sinh 2004,
người viết đă thực hiện được tại tư thất của nguyên Trung tá Lư Thanh Tâm,
một chuyên viên địa ốc thành công ở Springfields, Virginia, cựu Bí thơ
thân tín của ĐT Cao Văn Viên (CVV), một buổi mạn đàm thân mật bốn tiếng
đồng hồ có ghi h́nh.
Tướng Viên nhận trả lời cởi mở nhiều câu hỏi liên hệ
đến đời công và tư của ông. Đúng theo lời giao kết, toàn nội dung cuộc nói
chuyện chưa được tiết lộ tới giờ này. Nay Đại tướng Viên quá yếu về sức
khoẻ, người viết nghĩ đă đến lúc có thể công khai hóa vài điều tâm t́nh
của ông. Đây cũng là cách nói lên sự nguỡng mộ đối với một người bạn thân
quư, đồng thời một nhân chứng hàng đầu trong chính trường Miền Nam VN.
Dưới đây là những câu vấn đáp chính của cuộc mạn đàm
giữa Đại tướng Viên (CVV) và người viết (LLT) có thể tiết lộ trong phạm vi
bài này: LLT: Vào tháng 4.1975, năm cuối của cuộc
chiến, VNCH có 1.100.000 lính tại ngũ, một trong những quân đội lớn nhứt ở
Á châu. Lúc đó, Quân đoàn 4, với trên dưới 200.000 quân, chưa đánh một
trận lớn nào, chưa một Tư lệnh nào bỏ chạy. Tại sao chúng ta lại thua CS
mau như thế, trong hỗn loạn? có đáng thua hay không, thưa anh? CVV (một phút suy nghĩ): Có nhiều lư do.
Đây là một vấn đề phức tạp. Chỉ nói về phía Hà Nội mà thôi, CS - dưới sự
lănh đạo của Hồ Chí Minh - có kế hoạch xâm lăng Miền Nam ngay từ sau Hiệp
định Genève, 1954. Hiệp ước Paris, 1973, đă bắt cầu thêm cho chúng, đánh
dấu bước lùi cuối cùng của Thế giới Tự do. Kế hoạch thôn tính Miền Nam do
Chính Trị Bộ nghiên cứu kỹ, thi hành liên tục, với quyết tâm chiến thắng
bằng mọi giá, bằng mọi hy sinh. Hà Nội được đồng minh Nga, Tàu hổ trợ toàn
lực, với khối xă hội chủ nghĩa đứng sau lưng. Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa
không trực tiếp xen vào để chỉ huy. Tại Miền Nam, chúng ta thiếu các yếu
tố thuận lợi ấy, chúng ta không liên tục trong sự lănh đạo. Với một đồng
minh như Hoa kỳ, thử hỏi làm ǵ được? Đồng minh với Mỹ khó hơn là kẻ thù
của Mỹ. VN không phải là quốc gia đầu tiên thí nghiệm bài học đau đớn này!
VNCH chỉ là một con cờ trong chiến lược toàn cầu của đại cường Hoa kỳ.
Chiến lược ấy đạt được mục tiêu sau khi Nixon gặp Mao Trạch Đông năm 1972
tại Bắc Kinh. LLT: Trong vụ nhóm Nguyễn Chánh Thi âm
mưu đảo chính hụt ngày 11.11.1960, chuyện ǵ đă xảy ra cho anh? Anh biết
ǵ về việc thương thuyết giữa Chánh văn pḥng Vơ Văn Hải (đại diện cho TT
Diệm) và phe Vương Văn Đông? về vấn đề TT Diệm có trao cho tướng Nguyễn
Khánh một tờ giấy viết tay cam kết trao quyền lại cho Quân đội, theo lời
ông Khánh tiết lộ với tôi. CVV: Vài tuần trước đó, để giúp tôi làm
việc dễ hơn, ông Quách Ṭng Đức, Đổng lư Phủ Tổng Thống, có cấp cho tôi,
Tham mưu trưởng Biệt bộ, một căn nhà gần bệnh viện Grall và một chiếc xe
Peugeot 202 mang số ẩn tế. Ngày 11 tháng 11, khi nghe tiếng súng đầu tiên
nổ lớn, tôi đích thân lái xe đến Phủ đi ṿng phía vườn Tao Đàn. Một lính
nhảy dù vơ trang tiểu liên, hùng hổ la to bảo ngừng xe, tôi chưa kịp quay
kiến xuống để hỏi ất giáp th́ anh ta nổ súng, kiếng trước bể tung, may
phước tôi không bị thương. Vừa bước khỏi xe, tôi được lệnh đến ngồi dưới
gốc một cây me với vài quân nhân bị bắt như tôi. Liền lúc đó, một xe jeep
nhà binh trờ tới, anh lính nhảy dù vừa hô, vừa bắn xối xả vào xe, người
tài xế chết tức tốc. Tôi không thấy tận mắt những ǵ diễn tiến sau đó tại
Dinh Độc Lập. Được biết tướng Khiêm về kịp để can thiệp, tướng Khánh nhảy
rào giờ chót vào Dinh để chỉ huy. Phiến quân tan ră, số sĩ quan mưu loạn
trốn qua Cam bốt, bắt theo tướng Thái Quang Hoàng làm con tin. CIA giúp Ls
Hoàng Cơ Thụy, trong Bộ tham mưu của Đông, thoát khỏi VN. Tôi nghĩ Hoa kỳ
đă sử dụng cuộc đảo chính hụt ngày 11.11.1960 và vụ hai phi công Phạm Phú
Quốc - Nguyễn Văn Cử ném bom Dinh Độc Lập vào tháng 2.1962 như hai cảnh
cáo, warnings liên tiếp đối với TT Diệm, trước khi tiến vào giai đoạn chót
là lật đổ ông ngày 1.11.1963. Tôi có nghe nói TT Diệm bảo ông Hải ra trước
cổng Dinh điều đ́nh với phe phiến loạn. H́nh như họ yêu cầu ông bà Nhu
phải ra đi. Bà Nhu lồng lộn phản đối đ̣i hỏi này khi ông Hải trở vào tŕnh
với TT Diệm, trước thái độ im lặng của ông Nhu. Về chuyện ông Khánh tiết
lộ, tôi không tin Tổng Thống Diệm sẵn sàng trao quyền lúc đó. Đây chỉ là
một kế hoăn binh. LLT: Sau khi Tổng thống Diệm bị đảo chính
năm 1963, các tướng Miền Nam có được chuẩn bị về chính trị để lănh đạo
cuộc chiến chống Bắc Việt hay không? Anh nghĩ sao về Hội đồng Quân nhân
Cách Mạng? Nếu ông Diệm thoát khỏi cuộc đảo chính 1963 th́ anh nghĩ Miền
Nam có thể tránh sụp đổ chăng năm 1975? CVV: Họ thiếu chuẩn bị về chính tri. Họ
chia rẽ. Không ai có đủ khả năng và uy tín để thay thế Tổng thống Diệm.
Nhóm đảo chính tự phong cho ḿnh danh xưng Cách mạng. Thật ra mục tiêu của
họ là giết TT Diệm chớ không phải thay đổi tốt xứ sở. Bằng chứng là họ đă
gây ra sau 1.11.63 hỗn loạn liên miên và tự loại. Không có một lănh tụ nào
có tầm vóc hay cương lĩnh kiến quốc cở Nasser, Sukarno, Lư Thừa Văn.
Để trả lời phần hai câu hỏi của anh: Ông Diệm là một
lănh tụ được biết nhiều về mặt quốc tế, hơn ông Thiệu. Dù sao, ông chỉ là
một symbol, một biểu tượng mà thôi, ông không thể làm ǵ nếu không có cố
vấn Nhu bên cạnh. Tất cả các bài diễn văn của TT Diệm đều do ông Nhu soạn
thảo. Khổ nỗi, Hoa kỳ muốn tách ông Nhu khỏi ông Diệm. Ông Nhu là một trở
ngại. Trở ngại lớn hơn TT Diệm. V́ ông Nhu có nhiều mưu lược. Ông Nhu
chống Mỹ hơn chống Pháp. TT Diệm th́ trái lạị Rốt cuộc, ông Diệm trở thành
nạn nhân của Mỹ. LLT: Việc Tổng Thống Thiệu tóm hết quyền
bính trong tay, qua mặt Quốc hội và Tối cao Pháp viện, một ḿnh quyết định
bỏ Cao Nguyên và Miền Trung là điều có lợi hay hại? Trong quyển hồi kư "Đôi
ḍng ghi nhớ " (1994, trang 191-215), cựu Chánh văn pḥng của anh là
Đại tá Phạm Bá Hoa có kể lại cuộc rút quân bi thảm của tướng Phạm Văn Phú
theo đường số 7 và nhắc lại hai khẩu lệnh của anh bằng điện thoại cho
đương sự ngàỵ 15 và 18.3.1975 bảo gởi phi cơ vận tải C130 cho Quân đoàn 2
và chở các quân dụng đắt tiền khỏi Pleiku "mà không cho biết lư do". Ông
Hoa than phiền Tổng Cục Tiếp vận, thuộc bộ Tổng Tham mưu, không hề được
thông báo về t́nh h́nh suy sụp ở Cao Nguyên. Anh nghĩ sao về lời than
phiền này? CVV: Tất nhiên không có lợi. Một cá nhân
không thể quyết định đơn phương vận mạng của Đất nước. Ông Phạm Bá Hoa
tŕnh bày không đúng về một số sự kiện trong quyển hồi kư mà tôi đă nhận
được. Tôi có gởi cho anh ta một bổn The Final Collapse được bổ túc để làm
sáng tỏ vấn đề nhưng không thấy anh ta nói ǵ. Phạm vi cuộc mạn đàm hôm
nay không cho phép đi sâu vào chi tiết. Xin để dịp khác. LLT: Anh có nghĩ rằng chuyện rút khỏi
Miền Trung quá sớm, quá hấp tấp và thiếu chuẩn bị hay không? Đây có phải
là một ván bài tố của TT Thiệu để thử coi Nixon có giữ lời cam kết riêng
hay không? Trung tướng Ngô Quang Trưởng từng xác nhận với chúng tôi rằng
đầu năm 1975, quân lực của chúng ta tại Miền Trung không quá yếu đến nỗi
phải tháo chạy tán loạn như vậy, anh nghĩ sao? CVV: Không chuẩn bi. Về mặt quân sự, rút
quân khó hơn tấn công. Khởi đầu nan, mọi sự đă hư do Mỹ cúp quân viện.
Theo tôi, thời cuộc đă diễn ra ngoài ư muốn của tướng Trưởng, ông không
làm ǵ được. Sau khi Ban Mê Thuột thất thủ ngày 10.3.1975, dân chúng vùng
1 nghe tin đồn Chính phủ sẽ cắt đất nhường cho địch nên họ hoảng sợ, tự
động ào ào bỏ chạy, không ai ngăn nỗi. Trong bài "V́ sao tôi rút khỏi Miền
Trung?" đăng trên báo, tướng Trưởng có nói rằng Bộ Tổng Tham Mưu không
tăng quân số theo lời ông xin. Điều này không đúng. Hai đơn vị tổng trừ bị
là sư đoàn thủy quân lục chiến và sư đoàn dù đă được tăng cường cho ông,
mỗi sư đoàn gồm có bốn chiến đoàn. Trong tay tôi lúc ấy không c̣n ǵ nữa.
Chính sách của Hoa Kỳ đă khóa tay chúng ta. Tôi không đọc được sự suy tính
thầm kín của TT Thiệu. Nay ông đă qua đời, hăy để ông ngủ yên. Anh c̣n nhớ
TT Thiệu từng nói: "Je suis responsable mais pas coupable". Mỗi Tổng Thống
có nỗi khổ tâm riêng. Vào việc rồi mới biết. LLT: Tôi đă hỏi cựu Ngoại trưởng Trần Văn
Lắm (lúc c̣n sống) và Phó Thủ Tướng Nguyễn Lưu Viên (hiện ở Virginia) kể
từ lúc nào họ nhận thức được Miền Nam sụp đổ. Mỗi người trả lời khác nhau.
Với tư cách Tổng Tham Mưu trưởng Quân đội VNCH, từ thời điểm nào anh thấy
t́nh h́nh Miền Nam vô phương cứu chửa. CVV: Trước khi trả lời câu hỏi, tôi xin
nêu ra một điểm: Trong quân sử, có trường hợp - nhưng rất hiếm- những
tướng tài với ít quân thắng địch đông hơn. Đó là trường hợp của Alexandre
Đại đế, của Nă Phá Luân... Về vấn đề tương quan lực lượng, bên nào có quân
nhiều th́ bên đó ở thế thượng phong. Khi Mỹ rút lui sau Hiệp định Bá Lê
th́ họ tṛng vào cổ Miền Nam một chiếc dây tḥng lọng, lần hồi cúp quân
viện để gây áp lực, hăm dọa đủ điều. Bắc Việt có quân số và vơ khí dồi dào
hơn, không ngớt được tăng cường. Giữa Nam và Bắc, cán cân mỗi ngày thêm
quá chênh lệch. T́nh thế hết mong cứu văn đối với Sàig̣n. Hiệp định Bá lê
là án tử h́nh cho Miền Nam. Mỹ đánh mà không muốn thắng, họ sợ thắng. Phần
th́ phong trào phản chiến sôi sục bên trong Hoa kỳ. X́-căn đan Watergate
đă xúc tiến sự bức tử của VNCH. LLT: Anh có nghĩ rằng quyết định giết
Tổng thống Diệm sớm làm Miền Nam sụp đổ hay không? Chuyện ǵ đă xảy ra cho
cá nhân anh ngày 1.11.1963? CVV: Giết ông Diệm là một lỗi lầm nguy
hại. Ngày 1.11.63, tôi là Đại tá tư lệnh Lữ đoàn Nhảy dù (thay thế Nguyễn
Chánh Thi). Khi Hội đồng Cách mạng hỏi tôi có ủng hộ phe đảo chính hay
không, tôi trả lời: "Lật đổ Chính phủ là một chuyện quốc gia đại sự, tôi
không được hỏi ư kiến trước. Tôi chỉ là một quân nhân, không làm chính
tri.." Quân cảnh liền c̣ng tay tôi, tôi ngồi chờ trước cửa văn pḥng ông
Dương Văn Minh. Tôi tự hỏi: Sẽ chung số phận với Lê Quang Tung, Hồ Tấn
Quyền chăng? Ông Tôn Thất Đính bước ra can thiệp mở c̣ng cho tôi. Hôm sau,
tôi được thả nhưng bị quản thúc tại gia ở đường Ngô Quyền, Chợ Lớn. Lối
một tuần sau, tôi về chờ lệnh tại Bộ Tổng Tham Mưu. Tôi vô cùng chán nản,
không tha thiết ở lại Quân đội v́ t́nh huynh đệ chi binh không c̣n nữa,
anh em một nhà giết hại lẫn nhau. Nếu có lệnh đẩy tôi làm tùy viên quân sự
tại Lào, tôi chấp nhận ngay. Vientiane là nơi tôi ra đời. Tên tôi, Viên,
là vần đầu tiên của thủ đô Vientiane. Một hôm, trong khi ngồi rầu tại văn
pḥng, tôi bổng nhận được cú điện thoại của vợ tôi. Bà hỏi: "Buồn lắm hả?"
Nước mắt tôi tự nhiên trào lên. Vợ tôi tiếp: "Nếu "người ta" đưa anh trở
lại chỉ huy nhảy dù, anh chịu không?" Tôi nghẹn lời v́ không thể tin được.
Do sự dàn xếp sao đó mà tôi không được biết giữa vợ tôi và bà Trần Thiện
Khiêm (hai người thân thiết với nhau), tôi nhận được sự vụ lệnh, ordre de
mission, của tướng Khiêm, Tham mưu trưởng Liên quân, đưa tôi về nắm lại
Nhảy dù. Ông Khiêm cho tôi biết mật rằng đây là một quyết định riêng của
ông, chắc sẽ gặp phản ứng v́ không hỏi ư kiến cấp trên. Đúng vậy, việc bổ
nhiệm chính thức bằng một công vụ lệnh, ordre de service thuộc thẩm quyền
Tổng tham mưu trưởng Quân đội. Một thời gian ngắn sau, ông Khiêm mất chức
Tham mưu trưởng Liên quân, bị đổi về chỉ huy Quân đoàn 3. Vài ngày trước
30.1.1964, Khiêm điện thoại kín cho tôi, hỏi:"Sẵn sàng chưa?". Đây là ám
hiệu hành động. Đêm 30 tháng giêng, lữ đoàn dù của tôi giúp hai Trung
tướng Nguyễn Khánh và Trần Thiện Khiêm chỉnh lư phe Dương Văn Minh. Việc
"hốt" các tướng "trung lập" thực hiện dễ như trở bàn tay. Không đổ máu,
không tốn một viên đạn v́ sau 1.11.1963, các tướng này đều dùng quân dù
của tôi để canh gác nhà ho. Thật như "gởi trứng cho ác! " Việc tôi giúp
ông Khiêm là chuyện dĩ nhiên, để đáp ơn "thả hổ về rừng". Tôi không để ư
đến điểm Minh, Đôn, Đính, Xuân và Kim có thật sự chủ trương trung lâp hay
không? LLT: Ai ra lệnh giết anh em Tổng thống
Diệm? Ai thi hành lệnh ấy? CVV: Chính tướng Dương Văn Minh đă ra
lệnh giết hai ông Diệm và Nhu. Nguyễn Văn Nhung, vệ sĩ của Minh, thăng
Thiếu tá sau vụ ám sát, có nhiệm vụ thi hành lệnh dưới sự giám sát của hai
tướng Mai Hữu Xuân và Nguyễn Văn Quan (người thay Đổ Mậu trong chức Tổng
giám đốc An ninh Quân đội). Nhung bị An ninh Quân đội bắt trong vụ chỉnh
lư nói trên và đem về giam tại Lữ đoàn dù của tôi. Hôm sau, tôi được phúc
tŕnh Nhung đă tự treo cổ bằng một sợi dây giày nhà binh. Có lẽ v́ Nhung
biết không tránh khỏi tử h́nh nếu bị giải ra trước Ṭa v́ Nhung phạm quá
nhiều tội ác. LLT: Trong hồi kư "Vietnam. Histoire
secrète d"une victoire perdue" (nxb Perrin, Paris, 1986), giám đốc CIA
William Colby xác nhận kế hoạch Ấp Chiến Lược, Strategic Hamlets (mà ông
Ngô Đ́nh Nhu là cha đẻ) làm Bắc Việt khiếp đảm v́ rất hữu hiệu. Đúng như
vậy không? V́ sao Hội đồng Cách Mạng lại hủy bỏ kế hoạch ấy? CVV: Kế hoạch Ấp Chiến Lược là một việc
phải làm để tách CS ra khỏi nhân dân, tách cá khỏi nước, như đă từng thí
nghiệm tốt ở Mă Lai với tướng Robert Thompson. Tại VN, có những sơ sót
trong việc thi hành bởi một số tỉnh trưởng dàn cảnh, để lấy điểm với
thượng cấp. Thay vi chỉnh đốn lại để tăng hiệu lực, Dương Văn Minh và HĐCM
đă hấp tấp hủy bỏ kế hoạch Ấp Chiến Lược liền sau vụ đảo chính v́ lư do họ
thù ông Nhu. Họ thay vào đó cái mà họ gọi là Ấp Tân Sinh. Đây là một lổi
lầm ghê gớm. Tôi không biết rơ họ đă thảo luận với nhau ra sao. Lữ đoàn
dù, do tôi chỉ huy lúc đó, bị nghi trung thành với ông Diệm nên không được
hành quân, chỉ được giao làm những công tác vớ vẫn tại vùng Long An, Mỹ
Tho. LLT: Nếu so sánh TT Diệm với TT Thiệu th́
ai độc tài hơn ai ? Xin so sánh hai đảng Cần Lao (của ông Diệm) và Dân chủ
(của ông Thiệu). CVV: Mỗi người độc tài theo cách riêng.
TT Diệm cai trị nước như một quan lại của thời quân chủ, ông bẩm sinh
chống cộng, tự ban cho ḿnh "thiên mạng" cứu nước. Có lẽ anh c̣n nhớ vụ
ông tỉnh trưởng B́nh Tuy săn được một con hà mă, dấu cái sừng tê giác,
không khai báo. Khi hay được, cụ Diệm nổi trận lôi đ́nh, cách chức và đ̣i
giam viên tỉnh trưởng về tội "tẩu tán tài sản Nhà nước." TT Diệm tự hào về
dân tộc, tự đại về gia đ́nh, thích độc thoại, không chấp nhận dễ dàng sự
chỉ trích. Ông chủ trương "tiết trực tâm hư" nhưng bị ảnh hưởng nặng của
gia đ́nh. C̣n ông Thiệu th́ theo đường lối "độc tài trong dân chủ", vơ
ngoài dân chủ nhưng bên trong chi phối cả hai ngành lập pháp và tư pháp.
Bàn tay sắt trong đôi găng nhung. V́ không vững kiến thức như ông Diệm,
ông Thiệu chịu khó thăm ḍ ư kiến của các chuyên viên, lắng nghe, đúc kết
lại để quyết định một ḿnh. TT Diệm dễ tin người xu nịnh nên dễ bị phản
trắc. Ông Thiệu đa nghi Tào Tháo và không e ngại ban phát ân huệ để tạo
phe cánh và chia rẽ đối phương như ông đă làm tại Quốc hội. Ông chủ trương
"làm chính trị phải ĺ". Bởi thế TT Thiệu "lật" ông Kỳ không khó và tồn
tại lâu hơn TT Diệm nhưng ông không khí khái bằng ông Diệm. Ông Thiệu mưu
sĩ, ông Diệm đạo đức. Những năm tại chức, ông Thiêu bị ám ảnh bởi cái chết
của TT Diệm. Đảng Cần Lao - dựa vào thuyết Cần Lao Nhân Vị - tổ chức quy
củ hơn, với sự chỉ huy trực tiếp của hai ông Nhu và Cẩn, đi sâu vào Quân
Đội với các quân ủy, như CS. Đảng Dân chủ yếu hơn, không dựa vào cương
lĩnh vững chắc nào, chỉ có h́nh thức, được ông Thiệu thành lập để củng cố
địa vị, không có ảnh hưởng trong Quân đội và quần chúng. Tôi không có gia
nhập Đảng Cần Lao. Theo tôi được biết, vào giờ phút chót tháng 11.1963, TT
Diệm cho đại sứ Cabot Lodge biết ông sẳn sàng điều đ́nh một giải pháp
nhưng đă quá trể, phe chủ trương "diệt Diệm" trong Bộ Tham mưu của John
Kennedy thắng thế. Les dés sont jetés! Les jeux sont faits ! LLT: Trong hồi kư Our Endless War và VN
Nhân chứng, tướng Trần Văn Đôn ghi rằng trong tất cả các vụ chính biến ở
Miền Nam từ 1960 trở về sau, Đại tướng Trần Thiện Khiêm đóng vai tṛ chủ
động, giựt dây sau hậu trường, điều này có đúng hay không? CVV: Tôi không biết rơ?. Tôi chỉ liên hệ
với tướng Khiêm về công vụ. Chúng tôi quen nhau từ hồi c̣n ở trong Quân
đội Pháp, sau khi tôi ra trường Vơ bị Cap Saint Jacques, Vũng Tàu, năm
1949. Vợ tôi là bạn thân của bà Khiêm. Ông Khiêm có lần tuyên bố không
thích chính tri.. Nhưng nói và làm là hai chuyện khác biệt ! LLT: Nơi trang 428-429 của hồi kư "VN
Nhân Chứng" (nxb Xuân Thu,1989), tướng Trần Văn Đôn viết: "Có lần ông
Thiệu than phiền ông Cao Văn Viên không làm việc nhiều..Ông Thiệu nhờ tôi
nói với Đại tướng Viên, Tổng Tham Mưu trưởng, về việc ông này cứ ở măi
Tổng Tham mưu làm việc, không chịu đi ra ngoài, ông Viên trả lời: Tôi đă
xin từ chức mấy lần mà ông Thiệu không chấp nhận nên tôi cứ ở văn pḥng
làm việc mà thôi!" Mặt khác, trong quyển hồi kư "Đôi ḍng ghi nhớ " nêu
trên, cựu đại tá Phạm Bá Hoa cũng có nhận xét rằng trong gần 9 năm rưỡi
giữ chức Tổng Tham Mưu trưởng - chức vụ quan trọng bậc nhất trong Quân đội
- anh đă nhiệt t́nh hoạt động 7 năm đầu nhưng hai năm sau cùng, vị "Nguyên
soái" của Quân đội Miền Nam không cáng đáng hết trách nhiệm, đến văn pḥng
cho có lệ, tập luyện yoga và đi học lấy bằng cử nhân văn khoa ngoài giờ
làm việc. Mong anh đại tướng vui ḷng, nếu tiện, giải thích thái đô.. CVV: Tôi sẵn sàng trả lời. Trước khi cuộc
đàm phán tại Paris tiến đến giai đoạn kết thúc năm 1973, t́nh h́nh quân sự
thêm căng thẳng. Tổng thống Thiệu, với tư cách Tổng tư lệnh Quân đội, tập
trung hết quyền bính trong tay, cho đặt một hệ thống máy truyền tin tại
Dinh Độc Lập để liên lạc thẳng với các quân khu, điều động các đơn vị, bổ
nhiệm tư lệnh vùng và ra lệnh trực tiếp hành quân. Bộ Tổng Tham Mưu lần
hồi bị dồn vào vai tṛ tuân hành và thị chứng. Bộ Quốc pḥng chỉ c̣n là
hộp thơ giữa Tổng Thống và Bộ Tổng tham mưu. V́ không có điều kiện làm
việc được như trước, tôi đă năm, sáu lần vô đơn xin từ chức. Ông Thiệu yêu
cầu tôi nán lại, đợi người thay thế nhưng ông không quyết định. Tôi không
có quyền bỏ ra đi một cách vô trách nhiệm. Tuy nhiên khi Tổng Thống Trần
Văn Hương nhường ghế cho tướng Dương Văn Minh tháng 4.1975, tôi cương
quyết xin giải ngũ v́ tôi không phục ông Minh từ lâu, tôi từng là nạn nhân
của ông Minh. TT Hương chấp nhận đơn của tôi. Ngày 27.4.1975, tôi rời VN
trong t́nh trạng hợp lệ. Vấn đề tôi tập luyện yoga và thiền có một lư do
riêng. Khi giữ chức tư lệnh nhảy dù, tôi vướng phải một bệnh nan y về khớp
xương, một loại phong thấp nặng, gây nhức nhối vô cùng. Tôi giữ kín việc
này, t́m cách tự trị liệu. Là chỉ huy nhảy dù mà bệnh hoạn, không nhảy
được th́ coi kỳ quá, không c̣n ǵ thể thống. Tôi đă thử đủ thứ thuốc Tây
lẫn Ta, mọi thứ dược thảo, nhân điện, dưỡng sinh, tổ ong chính gốc..v..v..
Tôi đă lợi dụng một cuộc viếng thăm chính thức Đài Loan để t́m hiểu khoa
châm cứu. Bệnh t́nh không thuyên giảm với thời gian, với tuổi tác. Về
chuyện đi học văn khoa, môn tôi thích từ lúc c̣n trẻ, tôi thấy cần trau
dồi thêm kiến thức. Đó cũng là một lối thoát khỏi những chuyện bực bội của
cuộc sống căng thẳng hằng ngày. LLT: Anh nghĩ ǵ về vụ Phật giáo chống TT
Diệm năm 1963? Về vụ Phật gíáo nổi lọan ở Miền Trung đầu 1966? Vai tṛ của
Hoa kỳ trong hai vụ? Tại sao Hoa Thịnh Đốn có thái độ khác nhau trong hai
trường hợp? Theo Trần Văn Đôn (hồi kư VNNC, trang 372)) th́ trong vụ thứ
hai, có trên 200 người chết và bị thương, lối 6.000 quân nhân đào ngũ và
một số người chạy vào chiến khu VC. Có đúng như thế hay không? CVV: Phật giáo thống nhất hơn khi chống
ông Diệm, vai tṛ của Thích Trí Quang quá rơ. Có tay Hoa kỳ và CS nhúng
vào. Trong vụ Phật tử dấy loạn ở Miền Trung, Phật giáo chia làm hai khối
Ấn Quang (Thích Trí Quang, chống Chính phủ) và Vĩnh Nghiêm hay VN Quốc Tự
(Phật giáo Bắc Việt di cư với Thích Tâm Châu, thân Ủy ban lănh đạo Thiệu
Kỳ) Mặt khác, một số tư lệnh Quân đoàn 1 có cảm t́nh với phiến lọan như
Nguyễn Chánh Thi, Tôn Thất Đính, trong khi Nguyễn Văn Chuân và Huỳnh Văn
Cao th́ lừng khừng. (Cao và Đính chạy vào Bộ Tư lệnh Thủy Quân Lục chiến
Mỹ ở Đà Nẳng xin tị nạn chính trị). V́ thế có một lúc Miền Trung gần như
không có Chính phủ: Thị trưởng Đà Nẳng, Bs Nguyễn Văn Mẫn, cũng như đa số
quân nhân, công chức tuân lệnh của tăng ni đem bàn thờ Phật xuống đường
biểu t́nh. Phong trào có nguy cơ lan tràn xuống Miền Nam, làm tiêu chế
đô.., Tướng Kỳ, chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương, xin tôi (lúc đó Tổng
Tham mưu trưởng) đổ quân tái chiếm Đà nẳng, mặt khác yêu cầu tôi cấp gần
20.000 cây súng cũ của Pháp (Mass 36, tiểu liên, lựu đạn..) cho Nguyễn
Ngọc Loan, TGĐ Công an - Cảnh sát, hầu vơ trang các đảng phái ở Miền Trung
lập thăng bằng với lực lượng Phật giáo. Tôi đề nghị để tướng Loan hành
động trước. Hai tuần sau, t́nh h́nh thêm nguy kịch. Tôi quyết định can
thiệp. Theo lối của tôi: tương kế tựu kế. Lúc đó, tôi có một tiểu
đoàn thủy quân lục chiến đang hành quân tại B́nh Định. Tôi ra lệnh chính
thức cho đơn vị này tập trung đúng ngày, giờ ấn định, tại sân bay Quảng
Ngăi nói là để không vận về Sàig̣n, thay bằng một tiểu đoàn khác. Phải
dùng mưu ấy để đánh lạc hướng Viện Hóa Đạo có người gài khắp nơi. Đêm hôm
đó, đúng 12 giờ, tôi đưa thêm 4 tiểu đoàn khác nhập chung với tiểu đoàn có
sẵn, thành 5, giao cho Đại tá Ngô Quang Trưởng chỉ huy, tràn vô các chùa
bắt các phần tử nguy hiểm, giải tán bằng biện pháp mạnh các ổ dân quân,
buộc họ buông súng. Cuộc hành quân cương quyết này đă đem lại kết quả.
Trong hồi kư "The Budha"s Child", Nguyễn Cao Kỳ ba hoa dành hết công trạng
về ḿnh. Tôi không thể xác nhận với anh về những thiệt hại sinh mạng. Con
số của tướng Đôn đưa ra có vẻ quá đáng. Dù sao, Hoa Thịnh Đốn không lên
tiếng phản đối như đă làm thời TT Diệm. Về phía Hoa kỳ, cần ghi rằng ông
Tổng lănh sự Mỹ tại Đà Nẳng nghiêng theo phía Phật giáo, trong khi ṭa Đại
sứ Mỹ tại Sàig̣n giữ thái độ thận trọng wait and see, nếu không nói đồng ư
ngầm với Ủy Ban Lănh Đạo quốc gia. Thật vậy, năm 1963 Đại sứ Cabot Lodge
ra mặt ủng hộ Phật giáo v́ TT Diệm chống việc Mỹ hóa chiến tranh. Năm
1969, t́nh h́nh thay đổi, Hoa kỳ cần giữ lại ê-kíp Thiệu Kỳ và bắt đầu VN
hóa cuộc chiến. Từ đồng minh, cánh Phật giáo thiên tả đă biến thành đối
lập với Mỹ. Kết luận
Trên đây là những đoạn - buồn nhiều hơn vui - trích từ
bộ VCR mạn đàm với Đại tướng Cao Văn Viên. Phần c̣n lại, không kém hệ
trọng, sẽ phổ biến khi thuận tiện. Với một nụ cười mệt mỏi, hơi thở phều
phào, (v́ lúc ấy sức khoẻ của ông đă rất suy kém, thân h́nh của ông co rút
lại), Tướng Viên - một sĩ quan có tiếng "bô trai" trong Quân đội, - kết
thúc bằng một câu nói khiêm nhường: "Xin đừng xem những lời của tôi là
lịch sử. Mỗi người giải thích sự thật theo lối riêng, như trong phim
"Rashomon". Một trăm chứng nhân, một trăm sự thật. Định kiến làm cho lịch
sử sai lệch. Tôi chỉ tâm t́nh với ḷng thành. Hảy để cho hậu thế lượng
định và phán xét. Chưa thấy quan tài, chưa đổ lệ". Đại tướng Cao Văn
Viên sẽ lưu lại trong kư ức các người từng biết ông - thân hữu, bạn đồng
đội cũng như kẻ bất đồng ư kiến - h́nh ảnh của ḷng chung thủy, "trước sau
như một", không a dua, không phản trắc, từ tốn khi phê b́nh, chủ trương
đoàn kết trong t́nh huynh đệ chi binh. Ông không bon chen trên chính
trường, không đạp trên xác đồng đội để tiến thân. Ông là một nhà tướng phi
chính trị bị thời thế cuốn hút vào chính trường gió tanh mưa máu. Khi hai
địch thủ Thiệu, Kỳ giành giựt với nhau cân đai, áo mảo, Hội đồng Quân lực
định đưa ông Viên lên chức Quốc trưởng v́ ông là vị tướng có thâm niên
nhứt. Ông đă một mực từ chối v́ nhận thức lương thiện khả năng của ḿnh.
Tuy nhiên ông vẫn không tránh được số phận một con thiêu thân - trong vô
số con thiêu thân khác - bị chiến tranh VN đốt cháy.
Lâm Lễ Trinh
Thủy Hoa Trang,
Ngày 27.1.2006 Xuân Bính Tuất