Home

Trang Chính

Bản Tin

Sinh Hoạt

Tham Luận

Hoài Băo Quê Hương

Văn Học Nghệ Thuật

Thư Tín

Bài vở xin gửi về địa chỉ sau đây:
3108 E. Sawyer St.
Long Beach, CA 90805

                                                                  

 

 CHIẾN TRANH VIỆT NAM

        Lời tác giả: Đây là loạt bài ghi lại những sự kiện trong tháng 4/1975 dẫn đến sự sụp đổ của VNCH. Phần đầu tiên là chương cuối cùng (có bổ túc) được trích từ quyển sách "Chiến Tranh Việt Nam toàn tập" của tác giả, đă được Làng Văn xuất bản tại Canada năm 2001. Những bài kế tiếp được viết gần đây cho ấn bản thứ nh́ của quyển sách (sẽ được xuất bản). Qua đó, độc giả sẽ có một cái nhìn tổng quát khắp các mặt trận chung quanh Sài Gòn, chưa được ghi lại trước đây.

   Tác giả rất mong nhận được những phản hồi từ độc giả, nhất là những độc giả ở ngay tại Sài Gòn lúc bấy giờ, hầu bổ sung thêm những chi tiết cần giữ lại cho mai hậu. Mọi liên lạc xin gửi qua người phụ trách trang nhà của cựu sinh viên Học viện Quốc gia Hành chánh để nhờ chuyển (tranbachthu @quocgiahanhchanh.com).

Nguyễn Đức Phương, Anh quốc, Mạnh xuân 2013

      Giữa tháng 4 năm 1975, sau khi di tản từ quân khu 1 về đến Vũng Tàu và tái chỉnh trang, sư đoàn TQLC được lệnh của Bộ TTM tăng phái cho quân đoàn III. Lữ đoàn 468 (LĐT là Đại tá Ngô Văn Định) là đơn vị đầu tiên được lệnh di chuyển ra vùng trách nhiệm. Lực lượng của lữ đoàn gồm ba tiểu đoàn tác chiến, một đại đội viễn thám, pháo đội đại bác 105 ly, phân đội chống chiến xa cùng các đơn vị yểm trợ chuyên môn như công binh, truyền tin, quân y, v.v. với quân số khoảng trên 2500 người (1):

·         Tiểu đoàn 1 TQLC do Thiếu tá Dương Văn Hưng làm TĐT

·         Tiểu đoàn 8 TQLC do Trung tá Nguyễn Đăng Ḥa làm TĐT

·         Tiểu đoàn 16 TQLC do Thiếu tá Đinh Xuân Lăm làm TĐT.

     Lữ đoàn 468 TQLC được giao nhiệm vụ pḥng thủ từ ngă ba Thái Lan lên quốc lộ 1. Khu vực trách nhiệm giới hạn bởi quốc lộ 1 trên phía bắc, quốc lộ 15 (Bây giờ là QL-51) ở phía nam (xem Sơ đồ 1).

        Ngày 21/4/1975, lữ đoàn 258 (LĐT là Đại tá Nguyễn Năng Bảo) được tiếp tục tăng phái cho quân đoàn III. Lữ đoàn cũng gồm ba tiểu đoàn tác chiến (1):

·         Tiểu đoàn 2 TQLC do Thiếu tá Trần Văn Hợp làm TĐT

·         Tiểu đoàn 4 TQLC do Thiếu tá Trần Ngọc Toàn làm TĐT

·         Tiểu đoàn 6 TQLC do Trung tá Lê Bá B́nh làm TĐT.

     Lữ đoàn 258 được giao nhiệm vụ pḥng thủ từ quốc lộ 1 lên tận sông Đồng Nai trên phía bắc.

    Một BTL nhẹ của sư đoàn TQLC được thành lập do Đại tá Nguyễn Thành Trí làm Tư lệnh để chỉ huy cả hai lữ đoàn đang trấn giữ phía đông và đông-nam thành phố Biên Ḥa.

    Trưa ngày 24/4, Trung tá Nguyễn Đằng Tống được lệnh thay thế Đại tá Ngô Văn Định trong chức vụ LĐT lữ đoàn 468. Đại tá Định trở về Vũng Tàu phụ trách việc tái tổ chức lữ đoàn 147 TQLC.

    Một BTL tiền phương chiến dịch Hồ Chí Minh được CS thành lập do Trung tướng Lê Trọng Tấn chỉ huy để phụ trách cánh đông gồm hai quân đoàn 2 và 4. Sở chỉ huy đặt tại Giá Rai.

    Quân đoàn 4 do Thiếu tướng Hoàng Cầm làm Tư lệnh và Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện làm Chính ủy. Sở chỉ huy quân đoàn đặt tại phía bắc sông La Ngà, sau đó được di chuyển xuống phía tây-bắc Long Thành. Quân số  khoảng 30 000 quân gồm (2) :

·         3 sư đoàn bộ binh là các sư đoàn 6 (TL/SĐ là Đặng Ngọc Sỹ gồm hai trung đoàn 4 và 33), 7 (TL/SĐ là Lê Nam Phong và Chính ủy là Phạm Liên, gồm ba trung đoàn 141, 165 và 209) và 341 (TL/SĐ là Đại tá Trần Văn Trân và Chính ủy là Đại tá Nguyễn Đệ, gồm ba trung đoàn 266, 270, 273)

·         Lữ đoàn bộ binh 52 tăng phái từ quân khu 5

·         1 tiểu đoàn pháo binh 130 ly

·         1 tiểu đoàn xe tăng

·         1 trung đoàn và 1 tiểu đoàn pḥng không hỗn hợp.

    Nhiệm vụ của cánh quân này là đánh chiếm BTL quân đoàn III (xem H́nh 1) và tiêu diệt sư đoàn 18 BB rồi đánh thẳng vào Sài G̣n.

    Quân đoàn 2 do Thiếu tướng Nguyễn Hữu An làm Tư lệnh và Thiếu tướng Lê Linh làm Chính ủy với khoảng 40 000 quân gồm (3) :

·         3 sư đoàn bộ binh là sư đoàn 3 thuộc quân khu 5 (Tư lệnh sư đoàn là Đại tá Huỳnh Đức Anh và Chính ủy là Thượng tá Lâm Bá Khuê, gồm ba trung đoàn 2, 12, 141), 304 (TL/SĐ là Trần B́nh và Chính ủy là Nguyễn Ân, gồm ba trung đoàn 9, 24, 66) và 325 (TL/SĐ là Phạm Minh Tâm và Chính ủy là Lê Văn Dương gồm ba trung đoàn 18, 46, 101)

·         Sư đoàn pḥng không 673

·         Lữ đoàn xe tăng thiết giáp 203

·         Lữ đoàn pháo binh 164

·         Trung đoàn pháo binh 68.

    Nhiệm vụ của cánh quân này là đánh chiếm Bà Rịa, căn cứ Nước Trong (VC gọi Trường Thiết giáp là căn cứ Nước Trong), căn cứ Long B́nh, cầu xa lộ, chi khu Long Thành, chi khu Nhơn Trạch, Thành Tuy Hạ[1], căn cứ hải quân Cát Lái, ngăn chận sông Ḷng Tàu, đưa đại bác 130 ly vào Nhơn Trạch để pháo kích phi trường Tân Sơn Nhất.

    Các hướng tấn công của quân đoàn 4 CS đă được tư lệnh quân đoàn ghi nhận lại như sau (2), xem Sơ đồ 2-3 :

    “Về sử dụng lực lượng, Quân đoàn quyết định: Sư đoàn 341 đánh chiếm Trảng Bom, mở đường số 1, sau đó chiếm sở chỉ huy sư đoàn 3 không quân và sân bay Biên Ḥa. Sư đoàn 6 được tăng cường Trung đoàn 207 (sư đoàn 7) đánh chiếm căn cứ trung đoàn 3 ngụy và tiểu khu Biên Ḥa. Hai sư đoàn 341 và Sư đoàn 6 sẽ mở cửa lớn cho quân đoàn tiến vào Sài G̣n. Sư đoàn 7 là binh đoàn thọc sâu, hành quân bằng cơ giới thọc thẳng vào Sài G̣n, đánh chiếm các mục tiêu thuộc địa bàn quận 1. Nhưng đánh như thế nào? Đây cũng là vấn đề được nêu ra trao đổi. Căn cứ vào thời gian, vào đặc điểm địa h́nh và vào h́nh thái bố trí của địch không thể tiến công theo đội h́nh nhiều thê đội thay phiên nhau làm nhiệm vụ trước mắt, tiếp sau ... mà phải tiến hành đồng thời, xen kẽ hỗ trợ nhau, bảo đảm phối hợp chung giữa các hướng chiến dịch.

17 giờ ngày 26 tháng 4 năm 1975, Quân đoàn lệnh cho Sư đoàn 341 nổ súng tiến công chi khu Trảng Bom, đồng thời theo kế hoạch chung, ở đông-nam Trảng Bom, tiểu đoàn công binh thuộc quân đoàn triển khai mở đường quân sự làm gấp (gần như song song với đường 1 và đường xe hỏa) xuống tới bắc Hố Nai. Phối hợp với Sư đoàn 341 ở hướng chính diện Trảng Bom, Quân đoàn lệnh cho Sư đoàn 6 theo đường quân sự vừa mở, bất ngờ đánh vào tuyến pḥng ngự then chốt Hố Nai do lữ đoàn 258 thủy quân lục chiến và lữ đoàn 3 thiết giáp pḥng giữ, chặn viện từ Biên Ḥa ra Trảng Bom, đồng thời chặn đường rút của sư đoàn 18 từ Trảng Bom về, hộ trợ Sư đoàn 341 hoàn thành nhiệm vụ”.

    1. HUẤN KHU LONG THÀNH & CHI KHU LONG THÀNH

    Huấn khu Long Thành gồm có 3 cơ sở huấn luyện là Trường Thiết giáp, trường BB và trung tâm huấn luyện Quyết Thắng của Nha Kỹ thuật.

    17 giờ ngày 26/4/1975, trung đoàn 304 thuộc quân đoàn 2 CS tấn công Trường Thiết giáp và trường Bộ binh Long Thành (xem H́nh 2). Sư đoàn 325 tấn công chi khu Long Thành (xem Sơ đồ 4-5). Sư đoàn 3 đánh chi khu Đức Thạnh, thị xă Bà Rịa và Vũng Tàu. Đồng thời quân CS cũng pháo kích vào phi trường Biên Ḥa, căn cứ Long B́nh và thị trấn Hố Nai.

    Những ǵ xảy ra tại mặt trận này đă được tư lệnh quân đoàn 2 của CS ghi lại (3) :

    “Nhưng trận đánh có sơ hở về chiến thuật. Đánh vỗ mặt nên phần lớn quân địch trong căn cứ rút ra rừng cao su co cụm lại và phản kích vào sườn đội h́nh của trung đoàn 9 làm cho t́nh h́nh bị đảo lộn, từ thuận lợi trở nên khó khăn. Chúng gọi pháo bắn trùm lên trường thiết giáp gây cho ta thương vong. Tới 18 giờ ngày 26, tiểu đoàn 3 và đại đội 7, tiểu đoàn 2 cùng ba xe tăng truy kích địch được 2 ki-lô-mét th́ bị địch chặn lại.

Phía trung đoàn 24 đánh vào trường bộ binh địch, ngay từ đầu đă bị địch chống trả dữ đội, măi đến đêm 26 tháng 4 mới chiếm được một số vị trí ngoại vi phía tây bắc căn cứ. Sau đó bị hỏa lực địch ngăn chận quyết liệt, trung đoàn 24 lúng túng chưa t́m ra cách nào đánh tiếp các mục tiêu bên trong”.

    Trong khi CS đang pháo kích th́ lực lượng của trường Thiết giáp rút ra khỏi trường. Đại tá Huỳnh Văn Tám, CHT/TTG đang bận họp tại TBB Long Thành. Sau đó TTG phối họp với TQLC tổ chức pḥng thủ khu vực chung quanh ngă ba Thái Lan (4). Lệnh lui binh ra khỏi TTG không biết do ai và đến từ đâu (4-5).

    Một sĩ quan cơ hữu đă ghi lại những ǵ xảy ra tại Trường BB Long Thành vào sáng ngày 30/4 như sau (6):

    "Sáng ngày 30 tháng 4, 1975 vào lúc 8 giờ 30, Đại úy Hiếu, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5/SVSQ/TBB đang chỉ huy pḥng tuyến mặt xa lộ báo cáo là thấy đoàn xe thiết giáp và xe motolova của Cộng quân đang di chuyển trên xa lộ tiến về Sài G̣n. Tôi hết sức ngạc nhiên v́ theo như kế hoạch đã định th́ cầu Đồng Nai phải bị giật sập không cho thiết giáp và cơ giới của VC vượt qua sông.

Tôi liền liên lạc báo cáo về Biệt khu Thủ Đô, trong lúc đó th́ Trung tâm Hành quân/BKTĐ không ra lệnh dứt khoát mà chỉ nói là tùy nghi đơn vị. Không một chút do dự, Đại tá Minh liền xác quyết trách nhiệm một cách rất rơ ràng là: “Bổn phận của chúng ta là quân đội là phải bảo vệ đất nước, thấy địch là đánh”. Tôi liền truyền lệnh của Đại tá Chỉ huy trưởng đến các đơn vị, đồng thời gọi cho Hiếu chấm tọa độ và điều chỉnh để các khẩu đội súng cối 81 ly tác xạ chính xác vào mục tiêu. Đồng thời tôi gọi cho các pháo đội pháo binh 105 ly, 155 ly và 175 ly chuẩn bị sẵn sàng, đây là các loại pháo binh để yểm trợ tầm xa, mà Quân đoàn III gởi tạm ở đây. Nhưng trong giờ phút quyết liệt này tôi dự trù sẽ sử dụng để bắn thẳng, trực xạ, súng 175 ly được đặt trên thiết giáp nên dễ dàng di chuyển.

Bị sức kháng cự mạnh mẽ của Trường Bộ Binh nên Cộng quân liền đổi hướng tấn công thẳng vào Trường Bộ Binh. Một chiếc thiết giáp T54 ủi sập chướng ngại vật ở cổng chính và chạy thẳng vào trong, vừa chạy vừa bắn phá loạn xạ. Trong khi đó th́ súng đại liên ở cầu Bến Nọc mà VC vừa chiếm đuợc, bắn xối xả vào trường ở phía cổng số 9 tức cổng sau của Trường Bộ Binh.

Lúc đó súng nhỏ bên ta bắn trả dữ dội tóe lửa vào chiếc chiến xa nhưng không diệt được nó. Tôi thấy rơ chiếc chiến xa khi nó tới gần, súng trên pháo tháp quay qua bắn sập Trung tâm Hành quân, v́ trên nóc có nhiều cần ăng ten nên dễ nhận, Thiếu tá Lầu thuộc Trường Tổng Quản Trị đang ở trong đó may mắn thoát nạn. Trong khi đó Đại tá Minh cùng bộ chỉ huy nhẹ đang ở cách đó không xa.

Khi chiến xa này chạy xuống tới cổng số 9 th́ gặp phải sự kháng cự mạnh mẽ của các SVSQ do Thiếu tá Long chỉ huy giữ mặt hậu của Trường Bộ Binh nên quay đầu chạy ngược lại.

Chúng tôi đã t́m cách kêu gọi đối phương ra đầu hàng nhưng không có kết quả. Sinh viên Sĩ quan có thấy người lái chiến xa đứng lên dường như có ư định đầu hàng nhung rồi lại ngồi xuống và lại bắn phá tiếp tục làm chết và bị thương một số chiến hữu trong đó có Thiếu tá Vương Bá Thuận bị găy chân, Trung tá Ông Nguyên Tuyền bị tử thuơng v.v…

Mặc dù chưa từng ra chiến trận nhưng tinh thần chiến đấu của các Sinh viên Sĩ quan rất là hào hùng anh dũng. Nhưng với súng trường không thể nào hạ đuợc chiến xa, cho nên tôi gọi Đại úy Ngữ, Đại đội truởng ĐĐ663/ĐPQ là đơn vị bảo vệ trường dùng súng M72 để hạ chiếc chiến xa này. Khi nó chạy tới khỏi khu Tiếp tân đến gần miếu Tiên sư th́ bị ĐĐ663 bắn đứt xích nằm tại chỗ, nhưng súng trên pháo tháp vẫn c̣n quay bắn phá lung tung. Liền khi đó có một SVSQ thuộc Tiểu đoàn 1/SVSQ, đây là Tiểu đoàn của binh chủng Không Quân gởi sang học quân sự, đang ở pḥng tuyến gần đó nhanh nhẹn ḅ ra leo lên pháo tháp và liệng một quả lựu đạn vào bên trong xe tiêu diệt hẳn. Đại úy Ngữ lục soát trong xe lấy đuợc ba khẩu súng c̣n đang bốc khói mang lên tŕnh Đại tá Chỉ huy trưởng và cho biết là họ đã bị khóa xích trong xe nên không thể nào ra đầu hàng được.

Và liền sau đó không lâu vào khoảng 10 giờ 20 phút th́ nghe Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố ngưng bắn chờ lệnh bàn giao. Sau đó Đại tá Minh ra lệnh cho tôi gọi cho các đơn vị ngưng chiến đấu. Tất cả mọi nguời đều rơi nuớc mắt khi nghe tin này, Đại úy Trác ̣a lên khóc. Tôi vẫn c̣n nhớ lời Đại tá Minh nói lúc đó: “Nhiệm vụ của chúng ta là quân đội là phải tuân hành lệnh thượng cấp, kêu đánh là đánh, kêu đầu hàng là đầu hàng”. Tôi bỏ về pḥng thay đồ dân sự và lập tức lấy xe gắn máy phóng nhanh ra cổng, Đại úy Bảo bên Liên đoàn Sinh viên đang đứng đâu gần đó liền nhảy lên theo. Chúng tôi vừa thoát ra khỏi cổng th́ Cộng quân cũng vừa ập vô tới".

    Tiểu đoàn 7 Dù (TĐT là Trung tá Nguyễn Lô , TĐP là Thiếu tá Quư) đang hành quân đón nhận cuộc lui binh từ Xuân Lộc của sư đoàn 18 BB và lữ đoàn 1 Dù, hướng Bà Rịa - Vũng Tàu th́ nhận được lệnh trở về Long Thành để phối hợp với KBTG đánh chiếm lại huấn khu Long Thành.  

    Sáng ngày 27/4, tiểu đoàn 7 Dù đến thay thế cho tiểu đoàn 8 TQLC. Một đoàn xe thiết giáp của CS từ trong TTG theo con đường nhựa tiến ra ngă ba Thái Lan. Các chiến xa thuộc chi đoàn diễn tập của TTG đang bố trí chung quanh đă bắn cháy 2 chiến xa, bắn hư 2 chiếc khác bị bỏ nằm lại tại chỗ, hai chiếc c̣n lại chạy trở vào TTG. Quân đoàn III ra lệnh tái chiếm TTG, trinh sát Dù và các chiến xa theo cổng chính tiến trở vào trường. Hỏa lực địch đă gây thiệt hại cho đơn vị Dù. Cuộc tiến quân phải dừng lại. QLVNCH được lệnh pḥng thủ qua đêm tại vị trí (5). Sau trận đánh thăm ḍ và trong khi đang bố trí phía bên ngoài, chuẩn bị tấn công tiếp th́ tiểu đoàn 7 lại được lệnh tùng thiết trở về Biên Ḥa ngày 29/4. Tiểu đoàn đóng tại dinh tỉnh trưởng Biên Ḥa cho đến sáng ngày 30/4 th́ rút về đến ngă tư Hàng Xanh và tan hàng tại đây (xem H́nh 3-6).

    Trưa ngày 28/4, lực lượng của TBB Long Thành bắt đầu rút khỏi quân trường. Tư lệnh quân đoàn III và Tư lệnh LLXK/QĐ III đến thị sát mặt trận.

    TTG cũng đă lui binh sau khi các đơn vị thuộc LLXK/QĐ III được lệnh rời khỏi tuyến pḥng thủ. Trên đường rút lui về hướng cầu Đồng Nai, chi đoàn diễn tập chạm địch tại khu ḷ gạch, phía nam căn cứ Long B́nh và cách cầu Đồng Nai khoảng hơn 2 cây số. Sau khi thanh toán được chốt địch, lực lượng của TTG được lệnh tăng phái cho sư đoàn 18 BB (5).

    35 năm sau, cựu Trung tướng Nguyễn Ân, nguyên là Chính ủy sư đoàn 304 đă phóng đại sự kiện khi cho rằng sư đoàn của ông đă đánh tan hai thiết đoàn tại căn cứ Nước Trong khi phát biểu (7) :

“Pháo binh, xe tăng của ta đánh hơn 1 tiếng đồng hồ th́ đập tan căn cứ Nước Trong. Nhưng lúc đó, tên Trung tướng Nguyễn Văn Toàn của địch đă lập tức điều 2 thiết đoàn ra phản kích. Quân ta phải đánh từ 27/4 - 28/4 mới đánh tan 2 thiết đoàn gồm toàn xe tăng, xe bọc thép của địch”.

    Sự thật đă được tài liệu của chính CS xác nhận (8) :

    “Cuộc chiến đấu của Sư đoàn 304 ngày 28 tháng 4 năm 1975 vẫn không thuận lợi. Trời nắng như đổ lửa, mặt đất như bị nung nóng. Nước Trong, mà không t́m đâu ra một nguồn nước. Bộ đội chiến đấu bị khát v́ thiếu nước. Những bi đông nước đem theo chỉ c̣n đủ  để cung cấp cho thương binh một cách hạn chế. Nhiều chiến sĩ phải nhai cỏ tranh cho đở khát. Sư đoàn dùng xe téc chở nước nhưng bị địch đánh phá dữ dội, nước không đến được với bộ đội đang chiến đấu ở phía trước. Riêng ở hướng Trung đoàn 24, trung đoàn trưởng Phạm Thái Bân và chính ủy trung đoàn Nguyễn Thọ Nhạn đă phải sử dụng Đại đội 5 đánh chiếm điểm cao 39 để mở đường ra cầu sông Buông lấy nước tiếp tế cho bộ đội.

T́nh h́nh diễn ra rất khẩn trương, sáng ngày 29 tháng 4, Tư lệnh quân đoàn đă trực tiếp xuống cùng với sư đoàn trưởng 304 tổ chức một cuộc tiến công quyết định vào bọn địch ở ngă ba đường số 15. Toàn bộ cán bộ chỉ huy trung đoàn 9 đă xuống cùng với Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 1 tổ chức chiến đấu. Trong trận tiến công này Trung đoàn 9 đă sử dụng Tiểu đoàn 2 cùng ba xe tăng tổ chức thành một mũi vu hồi do trung đoàn phó Hoàng Đ́nh Thanh trực tiếp chỉ huy, chính trị viên phó tiểu đoàn Nguyễn Thiện Tinh nắm Đại đội 7. Tiểu đoàn 2 đă đánh vào phía sau quân địch, tạo nên một mũi tiến công vô cùng lợi hại chọc thủng đội h́nh địch; tuyến pḥng thủ ngăn chận của quân ngụy ở ngă ba đường 15 đi Nước Trong bị quân ta đập tan, lúc đó là 10 giờ ngày 29 tháng 4 năm 1975. Sau ba ngày chiến đấu, Sư đoàn 304 đă hoàn thành nhiệm vụ mở đường cho binh đoàn thọc sâu của quân đoàn tiến vào nội đô Sài G̣n”.

    Sau buổi họp tại BTL sư đoàn 18 bên trong căn cứ Long B́nh, lực lượng của TTG được phối trí bảo vệ phi trường Biên Ḥa. Khi di chuyển vào vùng trách nhiệm th́ nhận được tin phi trường Biên Ḥa đă di tản. Đơn vị được chỉ định vượt cầu Hóa An và dừng lại bố trí sau khi qua cầu (xem H́nh 7).

    Sáng sớm ngày 30/4, chiến đoàn của TTG nhận được lệnh di chuyển về Sài G̣n để bảo vệ biệt khu thủ đô. Khoảng 4-5 giờ sáng, chiến đoàn bị quân cảnh chận lại trước cầu Rạch Chiếc. CHT/TTG vào BTL/BKTĐ để nhận lệnh. Chuẩn tướng Thân giao trách nhiệm chiến đoàn TTG pḥng thủ đường Trần Quốc Toản, từ BKTĐ đến trường đua Phú Thọ. Trong khi đó th́ các đơn vị phía sau bắt đầu chạm địch. Tất cả được lệnh rút qua khỏi cầu. Chiến đoàn nhận được lệnh mới là bảo vệ hai cầu Thị Nghè và Phan Thanh Giản, cũng là vị trí sau cùng của chiến đoàn TTG trước khi có lệnh đầu hàng (5).

    Trong khi đó th́ cuộc tấn công chi khu Long Thành vẫn tiếp diễn một cách ác liệt theo tài liệu của CS (3) :

    “Khi tiểu đoàn 1 và 3 đánh càng sâu vào quận lỵ, sức chống cự của địch tăng lên. Bọn chúng đánh chia cắt mũi thọc sâu của ta ở phía trước, đồng thời luồn theo các ngơ hẽm đánh lén phía sau ta. Hai chiếc xe tăng của ta vừa vào đường phố đă bị địch bắn cháy. Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 Nguyễn Ánh Dương và một số chiến sĩ đă hy sinh trên đường phố. Súng cối, đại liên địch bắn xối xả vào khu vực sở chỉ huy trung đoàn 101. Máy bay, pháo binh địch liên tục bắn phá phía trước, phía sau đội h́nh quân ta.

Trận đánh trở nên hết sức gay go quyết liệt. Để nhanh chóng dứt điểm, trung đoàn trưởng 101 quyết định đưa tiểu đoàn 2 (dự bị) vào chiến đấu. Sư đoàn trưởng sư đoàn 325 lệnh cho trung đoàn trưởng trung đoàn 46 tổ chức lực lượng đánh vào Thái Lạc, hỗ trợ cho trung đoàn 101 đánh chiếm Long Thành; lêänh cho trung đoàn pháo binh 84 tổ chức đánh kiềm chế các trận địa pháo địch; tiểu đoàn 120 (trung đoàn cao xạ 284), tiểu đoàn cao xạ 75 của sư đoàn, đại đội tên lửa 12 A.72 áp sát thị trấn đánh máy bay địch bảo vệ đội h́nh tiến công của trung đoàn 101. Bộ đội cao xạ đă liên tiếp bắn rơi tại chỗ ba máy bay A.37, hai chiếc AD.6, một trực thăng vũ trang.

Bọn địch trong thị trấn Long Thành vẫn ngoan cố kháng cự. Các mũi tiến công của trung đoàn 101 do không nắm chắc t́nh h́nh địch, địa h́nh nên phát triển lúng túng. Liên lạc giữa sư đoàn, tiểu đoàn và một số phân đội bị gián đoạn. Chiến trận ở hướng sư đoàn 325 trở nên phức tạp. Tôi suy nghĩ, nếu hướng  này phát triển chậm sẽ ảnh hưởng đến việc đưa pháo 130 ly vào Nhơn Trạch để bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất, nên phân công tư lệnh phó Hoàng Đan xuống đốc chiến ở hướng đó, đồng thời chỉ thị cho sư đoàn 325 kịp thời rút kinh nghiệm, chấn chỉnh lại lực lượng, vận dụng cách đánh linh hoạt và mạnh dạn hơn”.

    Một sĩ quan QLVNCH cho rằng 4 chiến xa T-54 và 4 thủy xa PT-76 đă bị bắn hạ khi tấn công chi khu Long Thành (9).

    Chi khu Long Thành không thể nào chống cự lại cả sư đoàn BB 3 của CS nên đă thất thủ vào chiều ngày 27/4. Một sĩ quan cao cấp của QLVNCH đă ghi lại những ǵ ông quan sát được sau khi trận đánh đă tàn (10) :

    “Tới Long Thành một xe xích kéo đại bác 130 ly của VC bị bắn đâm nhào xuống sông. Trước cổng quận/chi khu một xe PT76 bị bắn cháy, một xác cháy đen gục trên tháp súng. Vài trăm sinh viên sĩ quan trường Vơ khoa Thủ Đức với quân phục kaki vàng, chân đất  (không giầy, dép) bị VC áp giải đi về phía Bà Rịa dưới trời nắng gắt, dân chúng ở các quán lề đường đem những túi nylon nước ngọt có nước đá chạy theo tiếp tế cho các sinh viên, có người ôm theo cả bánh kẹo, chỉ cho sinh viên, không cho bọn lính áp giải. Cách chi khu chừng 500m cạnh QL15 hai khẩu pháo 105 ly bị bắn banh càng, chứng tỏ binh sĩ CK Long Thành kháng cự mănh liệt cũng như sinh viên Thủ Đức không chịu đầu hàng, đánh trả nên bị bắt cầm tù”.

    Sau khi chiếm được Trường TG, quân CS tràn ra QL-15 nhưng đă bị chiến đoàn 322 do Trung tá Nguyễn Văn Liên chỉ huy được sự tăng phái của một đại đội thuộc tiểu đoàn 1 TQLC chặn lại. 12 chiến xa T-54 bị bắn cháy, quân CS phải rút lui về hướng đông (11). Tuy nhiên theo một cựu sĩ quan thuộc chiến đoàn 322 th́ chi đoàn 1/22 có ra Long Thành nhưng sau đó được lệnh trở về Biên Ḥa. Không có đụng độ với địch quân. Khi phi trường Biên Ḥa bỏ ngơ, chi đoàn của ông được lệnh rút về hướng Sài G̣n và tan ră trước nhà thờ Ba Chuông, sau khi có lệnh đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh (12).

    Trên hướng QL-1, địch quân t́m cách xâm nhập, thăm ḍ tuyến pḥng thủ của các tiểu đoàn 4 và 6 thuộc lữ đoàn 468 TQLC và tiểu đoàn 16 thuộc lữ đoàn 258 TQLC nhưng đều bị phát giác và đẩy lui. Riêng tiểu đoàn 16 TQLC đă sử dụng các đại bác 106 ly không giật gắn trên các xe jeep bắn cháy 2 chiến xa của CS (13).

    Tại tuyến pḥng thủ của tiểu đoàn 8 TQLC, TĐT cho các quân nhân thuộc ban 2 tiểu đoàn mặc thường phục trà trộn trong dân chúng đồng thời bắt liên lạc với cha xứ để ḍ biết t́nh h́nh địch. Khi xác định được một trung đoàn thuộc sư đoàn 304 đang ém quân dọc theo sông Lá Buông, tiểu đoàn yêu cầu pháo binh bắn tập trung khiến địch quân bị thiệt hại nặng. VC đă chặn các xe ḅ đi lấy gỗ để chở xác chết và thương binh. Tiểu đoàn 8 bắt được 3 tù binh xác nhận địch quân thuộc sư đoàn 304 (14).

    Sau khi sư đoàn 18 BB rút khỏi Trảng Bom, sư đoàn 325 đổi hướng sang QL-15 và tiến thẳng vào tuyến pḥng thủ của lữ đoàn 468. Hai tiểu đoàn 1 và 8 TQLC đă phải chống đở hướng tấn công chính của quân CS có chiến xa yểm trợ. Đêm 28/4, quân CS bị thiệt hại nặng khi tấn công vào tuyến pḥng thủ này. Khoảng 10 chiến xa của CS bị bắn hạ cùng nhiều xác địch quân để lại trên chiến trường. Địch quân rút lui nhưng tiếp tục pháo kích để tạo áp lực thường xuyên, gây giao động cho tinh thần của binh sĩ (14).

    Khoảng 3 giờ sáng ngày 30/4, tiểu đoàn 8 TQLC được lệnh lui binh vào căn cứ Long B́nh. Sau đó đơn vị được giao nhiệm vụ giữ cầu Đại Hàn. Đến 10 giờ sáng th́ được lệnh rút về căn cứ Sóng Thần (14).

    Tại phía nam, sư đoàn 3 CS gặp sự kháng cự mạnh mẽ tại tỉnh lỵ Phước Lễ (Bà Rịa) . Một sĩ quan thuộc trung đoàn 2 của sư đoàn này ghi nhận (15), xem H́nh 8 :

    “Tại thị xă Bà Rịa, tàn quân của sư đoàn 18 Sài G̣n, lữ đoàn Kỵ binh thiết giáp 3 từ Xuân Lộc rút về, cùng với lính dù, lính thủy quân lục chiến, tập trung tại căn cứ huấn luyện Vạn Kiếp chống trả quyết liệt. Trung đoàn 141 được tăng cường 5 chiếc xe tăng cùng trung đoàn bộ binh 12, phải đột phá liên tục vào thị xă Bà Rịa. Hai xe tăng của ta đă bị bắn cháy, bắn hỏng ngay trước cửa ngơ chính từ hướng Bắc vào thị xă. Khoảng 19-20 giờ ngày 27-4-1975, tôi đi qua đây thấy một số đồng chí của ta hy sinh bên cạnh những chiếc xe tăng bị bắn cháy, chưa được chuyển đi. Thật xót xa, trước thắng lợi hoàn toàn gần kề, chiến sỹ ta vẫn c̣n phải ngă xuống ...

Trước sức tiến công mănh liệt của 2 trung đoàn bộ binh 12 và 141 thuộc sư đoàn 3, đến 21 giờ, Sư đoàn 3 đă làm chủ thị xă Bà Rịa, căn cứ Vạn Kiếp. Sở chỉ huy sư đoàn, trung đoàn 141, trận địa pháo và xe tăng triển khai tại thị xă Bà Rịa. Hai trung đoàn 2 và 12 nống ra hướng Đông Nam thị xă. Trung đoàn bộ binh 12 nống ra hướng biển Long Hải, trung đoàn 2 tiến đến đầu đường số 51 Bà Rịa đi Vũng Tàu. Toàn bộ địch c̣n lại tại thị xă Bà Rịa tháo chạy xuống Vũng Tàu. Chúng đă đánh sập cầu Cỏ May và thiết lập tại đây một ổ đề kháng tại mố cầu phía Nam, ḥng làm chậm bước tiến của quân ta. Nhiệm vụ của Sư đoàn 3 lúc này là nhanh chóng đánh chiếm thành phố Vũng Tàu, vu hồi, chặn địch từ Sài G̣n tháo chạy theo đường biển. Do đó, tiến công đánh chiếm Vũng Tàu càng sớm càng tốt. Nhưng tại cầu Cỏ May, địch dựa vào sông Cỏ May chống trả quyết liệt.

Trong quá tŕnh tiến công đánh chiếm thị xă Bà Rịa, trung đoàn bộ binh 141 báo cáo: ‘Đă đánh chiếm được cầu Cỏ May!’. Nhưng không phải. Đó là chiếc cầu nhỏ, trước cầu Cỏ May. C̣n cầu Cỏ May đă bị địch phá sập trước khi rút chạy khỏi thị xă Bà Rịa.

Phía bên kia cầu (hướng Vũng Tàu) địch có khoảng một tiểu đoàn và hàng chục xe tăng - xe thiết giáp. Chúng xếp thùng phuy, đổ đầy cát, dựa vào sông Cỏ May làm thành trận địa pḥng ngự mạnh, chống trả quyết liệt.

Ngày 28-4, tiểu đoàn 3, do tiểu đoàn trưởng Lê Đ́nh Như và chính trị viên Nguyễn Văn Hùng, tổ chức tiến công nhiều lần, không thành công. Ta thương vong cao. Khu vực này, địa h́nh trống trải, đường độc đạo, hai bên śnh lầy. Khi thủy triều lên, nước mênh mông, khi thủy triều xuống, lầy lội. Địa h́nh chật hẹp, không có chỗ để triển khai binh hỏa lực. Tiểu đoàn phải dừng lại”.

    Do bị ngăn chận, sư đoàn 3 CS phải thay đổi kế hoạch. Trung đoàn 2 tiếp tục t́m phương cách vượt sông Cỏ May, đánh chiếm đầu cầu phía nam. Trung đoàn 12 theo hướng đông-nam, vượt cửa biển Long Hải rồi chia làm hai cánh. Một cánh đánh vào phía sau lưng tuyến kháng cự của QLVNCH tại cầu Cỏ May. Cánh thứ nh́ đi theo ven biển xuống băi Sau. Trung đoàn 141 dùng một tiểu đoàn đánh núi Nưa, trung đoàn (-) là thành phần trừ bị của sư đoàn.

    Trận đánh cầu Cỏ May được tài liệu của sư đoàn 3 CS mô tả (16) :

    "Cuộc chiến đấu vượt sông Cỏ May của trung đoàn 2 trên hướng tiến công chủ yếu gặp khó khăn ngay từ những phút đầu tiên. Địch bám chắc lấy đầu cầu bên kia, khống chế mặt sông rất chặt. Nhiều lần tiểu đoàn 3 tổ chức vượt sông nhưng không được.

3 giờ sáng ngày hôm ấy, lợi dụng nước thủy triều lên, địch phải lùi khỏi băi sú bờ bên kia, tiểu đoàn trưởng Lê Đ́nh Như bí mật cho hai đại đội và ĐKZ vượt sông để đánh chiếm bàn đạp cho trung đoàn. Nhưng khi bộ đội cập vào được băi sú th́ trời sáng. Nước thủy triều bắt đầu rút. T́nh h́nh trở nên hết sức bất lợi. Phát hiện ra lực lượng ta đă sang sông, địch tung quân ra phản kích. Những chiếc xe tăng được giấu kín trong các hầm tránh pháo bắt đầu ngóc dậy văi dạn xuống đội h́nh của tiểu đoàn 3 và bắn xối xả xuống mặt sông.

Trung đoàn ra lệnh cho tiểu đoàn bám chắc trận địa, nhanh chóng đào công sự và đề nghị hỏa lực sư đoàn chi viện. Chỉ một lát sau, đạn pháo ta đă dồn dập dội xuống đầu cầu bên kia. Lợi dụng pháo bắn, đại đội c̣n lại của tiểu đoàn 3 tổ chức vượt sông tiếp những không được v́ đạn đại liên địch đan dày trên mặt sông. Bám chắc vào băi đất như rễ đước, rễ sú, các chiến sĩ đánh địch liên tục suốt bảy giờ đồng hồ. Máu của các chiến sĩ hy sinh loang đỏ trên mặt bùn. Đến trưa, đội h́nh vẫn không phát triển lên được mặt đường, nhưng bọn địch cũng không đánh bật được họ ra khỏi băi sú.

Ở hướng vu hồi phía đông, tiểu đoàn 5 trung đoàn 12 được nhân dân giúp đỡ đăddùng thuyền bí mật vượt qua eo biển Phước Tĩnh, đổ bộ lên băi cát phía đông, đang phát triển về phía nam thành phố. Trước t́nh h́nh đó, thường vụ đảng ủy sư đoàn họp quyết định phải lật cánh, chuyển hướng tiến công. Hướng chủ yếu sẽ là trung đoàn l2. Đây là một quyết định nhạy bén, kịp thời. V́ nếu cứ tập trung lực lượng để vượt cầu Cỏ May, thời gian tiến công sẽ chậm. Trong khi đó, mũi vu hồi Phước Tĩnh với yếu tố bí mật, bất ngờ cao sẽ là một đ̣n rất hiểm hóc trong tiến đánh Vũng Tàu. Địch tin chắc có eo biển, có đầm lầy án ngữ, hoàn toàn không ngờ sư đoàn sẽ đổ bộ lên hướng đó.

Việc đổi hướng tiến công chủ yếu dă kéo theo những thay đổi sử dụng binh hỏa lực của sư đoàn. Tiểu đoàn 7 đang chuẩn bị trên hướng cầu Cỏ May được điều gấp về Phước Tĩnh làm dự bị cho trung đoàn 12. Tiểu đoàn cao xạ 37 cũng được tăng cường cho hướng đó. Tham mưu trưởng Nguyễn Duy Thương được cử đi trực tiếp tổ chức chỉ huy hướng chủ yếu này.

    Nhận được mệnh lệnh của sư đoàn, sở chỉ huy trung đoàn 12 quyết định huy động thêm thuyền của nhân dân, đưa ngay tiểu đoàn 4 và tiểu đoàn 6 vượt tiếp qua eobiển bám sát tiểu đoàn 5, thọc sâu vào Vũng Tàu đánh chiếm Núi Lớn, chia cắt thành phố và cản phía sau không để địch rút chạy ra biển. Trận địa pháo được bố trí thành ba tầng: tầng một gồm cối, DKZ, 12.8; tầng hai: pháo 105, 85; tầng ba: pháo 130 do phó trung đoàn trưởng trung đoàn 68 Nguyễn Văn Lưu chỉ huy, vừa yểm hộ trực tiếp cho bộ đội vượt sông, vượt biển, vừa chi viện chiến đấu.

T́nh h́nh thay đổi rất nhanh khi trung đoàn 12 được chuyển thành mũi tiến công chủ yếu. 9 giờ 15 phút, các chiến sĩ đánh chiếm điểm cao 31 và ấp Chí Linh rồi tiến xuống tiêu diệt cụm quân địch ở  trại nghỉ mát Thủy Vân. Để chi viện cho cuộc vượt sông Cỏ May của trung đoàn 2 lúc đó đă trở thành hướng quan trọng, sư đoàn ra lệnh cho đại đội 2 tiểu đoàn 6 băng qua g̣ cát rộng gần một ngàn mét, bất ngờ đánh chiếm ấp Phước Thành bên trục đường số 15, cô lập bọn địch ở cầu Cỏ May với trung tâm thành phố. Mũi chia cắt lợi hại này đă làm cho bọn địch đang chốt chặn ở cầu Cỏ May dao động. Nắm chắc thời cơ, trúng đoàn 2 mở đợt tiến công mới lên bờ bên kia sông. Sau một hồi chống cự tuyệt vọng, bộ bjnh và xe tăng địch rút chạy về cầu Cây Khế. Tiểu đoàn 3 trung đoàn 2 được lệnh truy kích. Địch ở cầu Cây Khế tan ră từng mảng, rút về Vũng Tàu nhưng vừa đến Phước Thành, chúng đă bị đại đội 2 tiểu đoàn 6, từ hai bên đường đổ ra đánh úp. Hàng loạt xe tăng, xe GMC bị bắn cháy, số c̣n lại đạp lên nhau chạy thục mạng về Vũng Tàu. Các chiến sĩ tiểu đoàn 3 và tiểu đoàn 6 gặp nhau trên mặt đường. Tiểu đoàn trưởng Lê Đ́nh Như ôm chầm lấy phó chính trị viên tiểu đoàn 6 Nguyễn Trọng Ba: “Xin cám ơn tiểu đoàn 6. Nếu không có mũi tập hậu hiểm hóc của các anh th́ bọn lính dù chưa chắc đă chịu rút chạy”.

Nửa giờ sau, hai tiểu đoàn được lệnh phối hợp phát triển tiếp về phía thành phố. Bọn lính thủy đánh bộ định giật ḿn phá cầu Rạch Bá nhưng không kịp. Đại đội 2 tiểu đoàn 3 đă xáp tới, dùng hỏa lực bắn nát các lô cốt hai bên đầu cầu. 18 giờ, tiểu đoàn 3 chiếm căn cứ hải quân Yên Thế trong tiếng reo mừng hoan hỉ của đồng bào phường Thắng Nhứt.

Lúc đó, toàn bộ đội h́nh trung đoàn 2 đă vượt qua sông Cỏ May, dùng xe địch thọc sâu vào trung tâm thành phố. Ở phía đông, trung đoàn 12 cũng chia thành nhiều mũi tiến thẳng vào thành phố".

    2. THỊ XĂ VŨNG TÀU

    BCH Trường Truyền tin (Trung tá Phùng Văn Thiện, CHP; Trung tá Lê Nguyên Hoàng, Trưởng khối huấn luyện và Thiếu tá Trần Khóa Tràng, Trưởng khối hành chánh yểm trợ) chỉ huy năm tiểu đoàn khóa sinh, chia thành 2 chiến đoàn A & B, giữ an ninh cho thị xă Vũng Tàu (xem Sơ đồ 6).

    Trưa ngày 29/4, quân CS từ 3 hướng, Rạch Dừa, phi trường và phía sau Trường TT đồng loạt tấn công. Trận chiến kéo dài đến khoảng 7 giờ tối th́ CHP/TTT ra lệnh rút lui ra khỏi trường v́ yếu thế do trang bị yếu kém. Sau đó không lâu, BCH chiến đoàn B (Thiếu tá Hứa Văn Giang) bị CS bắt tại ngă tư Trần Hưng Đạo - Trương Công Định.

    Sáng ngày 30/4, địch quân dùng Thiếu tá Giang kêu gọi chiến đoàn A (Thiếu tá Nguyễn Văn Thông) đầu hàng. Để tránh đổ máu, chiến đoàn A rút lui. Đoàn quân bị phục kích gần núi Nhỏ. Thiếu tá Tràng trúng đạn địch tử thương.

    16 giờ ngày 30/4, vị trí cố thủ cuối cùng tại hai cao ốc (khách sạn Grand và khách sạn Palace, xem H́nh 9-10), trong thị xă bị Cộng quân đàn áp do hết đạn. Trường Truyền Tin có tất cả 6 quân nhân bị tử trận (17).

    Trận đánh tại khách sạn Palace của tiểu đoàn 6 thuộc trung đoàn 12, sư đoàn 3 CS đă được tài liệu của chính CS ghi nhận, dĩ nhiên không giống với những ǵ đă mô tả ở trên (18) :

    “Trận đánh kéo dài, quyết liệt nhất ở trung tâm thành phố là trận đánh vào khách sạn Pa-lát, và cũng là trận đánh sau chót của chiến dịch.

Khách sạn Pa-lát là một ngôi nhà cao chín tầng, đứng sừng sững ở mé biển phía nam thành phố. Bọn sĩ quan ác ôn hầu hết tập trung cố thủ ở đây, chờ tàu biển vào đón để rút chạy. Nh́n ṭa nhà cao đồ sộ, phó tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 6 Lê Anh Kiên chưa nắm được lực lượng và bố pḥng của địch ra sao lệnh cho đại đội 61 đào công sự vây ém, phục bắt tù binh. Gần sáng, một chiếc xe tăng dẫn đầu bốn chiếc GMC chở lính từ băi biển chạy xộc vào đội h́nh bao vây của đại đội 61. Chính trị viên đại đội Nguyễn Việt Năng cho bộ đội xông ra bắt sống toàn bộ bọn địch, trong đó có tên thiếu tá B́nh, B́nh khai trong khách sạn có khoảng 450 đến 500 sĩ quan và lính. Chúng nhốt dân tị nạn ở tầng dưới làm lá chắn để cản sức tiến công của ta. T́nh h́nh trên được báo về tiểu đoàn và trung đoàn. Chính ủy trung đoàn 12 Trần Hữu Biển ra lệnh: ‘Dùng tên B́nh kêu gọi địch đầu hàng, nếu chúng ngoan cố th́ đánh. Phải t́m mọi cách đưa dân ra trước’.

Mờ sáng ngày 30 tháng 4 khi tiểu đoàn 6 điều chỉnh lại đội h́nh và tiến hành công tác binh vận, bọn giặc vẫn câm lặng, không chịu đầu hàng. Tiểu đoàn 6 được lệnh nổ súng. Bộ đội liên tục mở nhiều đợt tấn công nhưng đều bị địch dùng đại liên và lựu đạn đánh bật trở lại.

Trực tiếp chỉ huy trận đánh, phó trung đoàn trưởng Nguyễn Hồng Sơn cho hỏa lực bắn liên tục 30 phút, chi viện cho bộ đội vượt tường vào tiếp cận, dùng lựu đạn phá cửa tầng dưới đưa đồng bào ra ngoài, sau đó ṿng xuống phía nam, luồn qua các đường hẻm của khu dân cư đánh vào bên sườn khách sạn. Đây là những thước đất đẫm máu. Trung đội trưởng trung đội 3 - đại đội 63 hy sinh, phó trung đội trưởng lên thay thế, trung đội trưởng trung đội 1 và trung đội 2 bị thương nặng nhưng vẫn tiếp tục chỉ huy đơn vị điệt các ổ đại liên địch. Chiến sĩ B.41 Đinh Sĩ Cương bắn bốn quả đạn vẫn chưa diệt được chúng ở tầng tư. Từ phía sau, một chiến sĩ mới của đại đội 62 nhanh nhẹn vác đại liên lên sườn đồi bên cạnh bắn chi viện cho đơn vị bạn. Hỏa điểm địch bị dập tắt nhưng người chiến sĩ trẻ dũng cảm đó đă hy sinh bởi một loạt đại liên khác của chúng.

Ở sở chỉ huy sư đoàn, giữa lúc mọi người đang căng thẳng theo dơi trận đánh vào khách sạn Pa-lát th́ trưởng ban trinh sát Nguyễn Khác Vẽ thông báo về việc Dương Văn Minh đang kêu gọi ngừng bắn để bàn giao chính quyền. Anh bật công tắc mở đài Sài G̣n cho mọi người cùng nghe đoạn băng ghi âm chúng đang phát đi phát lại. Chính ủy sư đoàn Mai Tân trao đổi ư kiến trong thường vụ đảng ủy và ngay sau đó, một bức điện được gửi xuống các đơn vị: ‘Địch đang dùng thủ đoạn để hạn chế thắng lợi của ta. Lệnh của sư đoàn, bộ đội tiếp tục tiến công đập tan các ổ đề kháng cuối cùng của địch. Diệt gọn, bắt sạch. Tuyệt đối không được buông lỏng tay súng’.

Lúc đó cũng là lúc trung đoàn 12 đang tổ chức đợt tiến công mới vào khách sạn Pa-lát. Các tầng khách sạn lần lượt bị các chiến sĩ Sao vàng đánh chiếm. Cuối cùng, không chịu nổi sức ép ngày càng tăng của đạn hỏa lực và bộ binh ta, chúng phải kéo cờ trắng và phát loa xin đầu hàng. Hỏa lực ta ngừng bắn. Các chiến sĩ đứng chặn ở các cầu thang kiểm soát từng toán địch đang lũ lượt từ mấy tầng trên cùng bước xuống. Hơn 400 tên xếp thành hàng dài từ thềm nhà khách sạn ra đến cổng chính.

Chiếm được khách sạn Pa-lát, tiểu đoàn 6 đă đập tan cụm quân đầu sỏ, ngoan cố nhất của bọn địch trong thành phố. Đến 11 giờ trưa, thành phố Vũng Tàu hoàn toàn giải phóng”.

    Cũng trong sáng ngày 30/4, trung đoàn 2 của CS tiến vào trường Thiếu Sinh Quân của QLVNCH nằm dưới chân núi Lớn (xem H́nh 11-12). Thiếu sinh quân đă chống cự đến khoảng 14 giờ mới buông súng đầu hàng (19-20).

    Khoảng thời gian cuối cùng của Vũng Tàu đă được mô tả lại như sau (21) :

    “Vũng Tàu tan hoang như trải qua cơn động đất lớn. Đó đây bừa băi những súng đạn, ba lô, giầy trận. Những chiếc xe nhà binh bị cháy, bị lao xuống hố, đâm vào gốc cây. Ở chân núi trên đường ra Băi Dâu súng đạn do binh lính bỏ lại trước lúc xuống tàu chất cao như đống rạ. Tiệm vàng Kim Hoa của bạn tôi bị một xe GMC húc sập, tủ sắt bị đạn bắn nhiều vết nh́n vào trong rỗng tuếch, Hải đă tiên liệu điều đó nhưng không tiên liệu được là anh sẽ ôm túi vàng gục chết bên cạnh vợ con giữa giờ thứ hai mươi lăm của cuộc chiến.

Ty Xă hội bị người ta phá cửa lấy hết phẩm vật cứu trợ, lấy hết những máy may của lớp dạy nghề. Ngân hàng bị xe tông vào ăn cướp. Mới cách đó một tuần c̣n thấy nhân viên kho bạc mở những thùng tiền từ Sài G̣n gởi ra. Toàn giấy bạc một ngàn đồng mới tinh, mỗi bó một triệu đồng chất đầy các bàn, giờ không biết lọt vào tay ai. Điều đó chẳng có ǵ quan trọng khi nước đă mất nhà đă tan. Các kho gạo của thị xă và cả một số của tư nhân cũng bị cướp phá. Tất cả là sự tan hoang, đổ nát. Có một đám đông chen chúc nhau trước một cửa hàng ở chợ Vũng Tàu. Hàng mấy trăm người chen lấn, cưỡi lên nhau để tiến tới cửa tiệm chỉ hé mở, để mua cho được vài mảnh vải xanh đỏ lớn bằng hai cái bàn tay đem về may cờ giải phóng. Người ta kháo nhau là đi xe gắn máy, xe ô-tô không có cờ sẽ bị giữ xe.

Ngày hôm sau trên đường từ băi Sau vào thành phố súng vẫn nổ ở một con hẻm. Một vài người lính nhất định không chịu đầu hàng. Họ chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Trường Thiếu Sinh Quân vẫn chưa chịu đầu hàng. Các em nhỏ học sinh c̣n ra sân hát quốc ca, làm lễ hạ kỳ rất cảm động trước khi chịu cho bộ đội tiến vào. Thượng sĩ Bộ của trường Truyền tin không chịu ra tŕnh diện. Anh và vợ con khóa chặt cửa không tiếp xúc với ai từ bên ngoài. Hàng xóm sang khuyên th́ một đứa con gái mười hai tuổi ra nói rằng :

- Các bác về đi. Để gia đ́nh cháu tự giải quyết công chuyện gia đ́nh cháu.

Sau đó thượng sĩ Bộ tự sát cùng với tất cả vợ con. Thật khủng khiếp khi người ta quá phẫn uất và hoàn toàn thất vọng!”.

    Sư đoàn 341 có nhiệm vụ đánh chiếm Trảng Bom. Sư đoàn 6 và trung đoàn 209 thuộc sư đoàn 7 tấn công suối ông Hoàng, ngă ba Yên Thế, phát triển về hướng Hố Nai. Qua khỏi Hố Nai th́ hai trung đoàn c̣n lại của sư đoàn 7 là 141 và 165 rẽ về phía nam để chiếm cầu Đồng Nai.

    3. TRẬN TRẢNG BOM

    Sau khi lui quân khỏi Xuân Lộc, sư đoàn 18 BB về Long B́nh để tái chỉnh trang. BTL sư đoàn đặt tại căn cứ Long B́nh trong khi trung đoàn 43 BB đóng gần căn cứ, hướng về Sài G̣n. Trung đoàn 52 BB bị thiệt hại nặng tại mặt trận Long Khánh trên QL20, từ cuối tháng 3 đến 15/4/75, chờ tái trang bị và bổ sung quân số. Trung đoàn 48 BB được đưa lên pḥng thủ Trảng Bom (22), xem Sơ đồ 7.

    Thiết đoàn 5, đơn vị KBTG cơ hữu của sư đoàn 18 BB lúc bấy giờ gồm 4 chi đoàn và do Trung tá Trần Văn Nô làm ThĐT (23) :

·         Chi đoàn 1/5 (chiến xa M-41) do Đại úy Lê Đức Việt làm CĐT.

·         Chi đoàn 2/5 (thiết vận xa M-113) do Đại úy Vũ Đ́nh Lưu làm CĐT.

·         Chi đoàn 3/5 (TVX M-113) do Đại úy Lê Sơn làm CĐT.

·         Chi đoàn CH&CV do Đại úy Thạt làm CĐT.

    Cũng sau trận đánh tại Xuân Lộc, chi đoàn 3/5 TK được lệnh di chuyển về đóng tại Biên Ḥa (ngă ba Tân Hiệp).

    Ngày 26/4/1975, chi đoàn 3/5 nhận được lệnh mới cùng với tiểu đoàn 3/48 (TĐT là Thiếu tá Nguyễn Phúc) thuộc sư đoàn 18 BB tùng thiết lên xă Hưng Nghĩa, ấp Hưng Lộc lập tuyến ngăn chận quân CS từ Long Khánh đổ xuống. Chi đoàn được tăng phái một chi đội chiến xa M-41 thuộc chi đoàn 1/5 CX. Vị trí đóng quân đă có sẵn hệ thống hầm hố chống chiến xa địch. Đây là tuyến ngăn chận ṿng ngoài của quân đoàn III, tuyến trong được pḥng giữ bởi lữ đoàn 3 kỵ binh, đang đóng tại Biên Ḥa (22).

    Lữ đoàn 3 KB điều động một số đơn vị lên pḥng thủ tuyến trong (24) :

·         Chi đoàn 1/22 (chiến xa M-48) do Đại úy Tăng Khải Minh làm CĐT đóng tại Suối Đỉa.

·         Chi đoàn 1/15 (hỗn hợp M-41 và M-113) do Đại úy Phạm Văn Bản làm CĐT đóng tại Ga Sông Mây.

·         Chi đoàn 2/15 do Đại úy NDL làm CĐT được tăng phái cho tiểu đoàn 9 Dù đang hành quân tại Bà Rịa, tỉnh Phước Tuy. Chi đoàn 3/15 đang tăng phái cho thiết đoàn 22 tại trường bộ binh Long Thành.

    BTL sư đoàn 341[2] CS phân chia hướng tấn công chi khu Trảng Bom như sau (25) :

·         Trung đoàn 270 với 8 chiến xa, hai pháo 85 ly, một súng cối 120 ly tiến công hướng chủ yếu phía bắc chi khu.

·         Trung đoàn 273 với 2 pháo 85 ly, hai súng cối 120 ly tiến công hướng thứ yếu từ phía đông.

·         Tiểu đoàn 8 thuộc trung đoàn 266 với bốn chiến xa bố trí phía đông ấp Hưng Nghĩa tấn công phía đông-nam.

·         Trung đoàn 266 (-) là lực lượng trừ bị.

·         Trung đoàn 55 tập trung hỏa lực bắn vào chi khu.

·         Lực lượng cao xạ bắn trực tiếp các mục tiêu trên mặt đất.

·         Tiểu đoàn 17 công binh tăng phái cho mỗi trung đoàn bộ binh một trung đội. Số c̣n lại yểm trợ cho cơ giới di chuyển theo đường sắt từ Cây Gáo vào Trảng Bom.

·         Tiểu đoàn 18 thông tin chuẩn bị đầy đủ các phương tiện, bảo đảm hệ thống liên lạc trong suốt trận đánh.

    Sư đoàn 341 bắt đầu tấn công khu vực Trảng Bom lúc 4 giờ sáng ngày 27/4 (25). Cuộc tấn công của quân CS bắt đầu khi các chiến xa T-54 và thủy xa PT-76 len theo các rừng chuối dọc theo quốc lộ 1 từ Long Khánh ra. Mặc dù đă bắn cháy được hai chiến xa địch nhưng chi đoàn 3/5 cũng bị mất hai chiến xa bởi hỏa lực của quân CS. Bộ binh và thiết giáp quyết định lui binh trước áp lực quá mạnh của địch. Chi đoàn đă chuyên chở hầu hết bộ binh tùng thiết rút lui theo đoạn thiết lộ xuyên Việt chạy song song với quốc lộ 1 về hướng Biên Ḥa. Khi di chuyển ngang khoảng Trảng Bom, ngụy trang trong một vườn khoai ḿ, chi đoàn 3/5 bắn hạ thêm ba chiến xa nữa của địch quân. Đoàn quân tiếp tục di chuyển dọc theo đường xe hỏa cho đến khi về đến ngoại ô thành phố Biên Ḥa (23), xem Sơ đồ 8.

    Dĩ nhiên trận đánh khác đi nhiều qua ghi nhận của CS. Tiểu đoàn 8 thuộc trung đoàn 266, sư đoàn 341 có nhiệm vụ tiêu diệt chi đoàn 3/5 và tiểu đoàn 3/48 BB (25) :

    “Trong lúc các đơn vị bạn đánh tập trung hiệp đồng binh chủng vào yếu khu Trảng Bom th́ tiểu đoàn 8 do tiểu đoàn trưởng Hồ Sĩ Chinh và chính trị viên Nguyễn Phương Nhân chỉ huy được giao nhiệm vụ độc lập chiến đấu trên một hướng, tiêu diệt địch ở Bàu Cá.

Bàu Cá là vị trí quan trọng án ngữ 7km đường số 1 từ ấp Hưng Nghĩa đến ấp Bàu Cá. Chúng bố trí ở đây tiểu đoàn 2 [sic] chiến đoàn 48, chi đoàn 1 [sic] xe tăng thiết giáp và một trận địa pháo 105. Khi Bàu Cá bị tiến công th́ các trận địa pháo ở Trảng Bom, Suối Đỉa, Sông Thao, dốc Ông Hoàng và một chi đội xe tăng của thiết đoàn 5 trực tiếp chi viện.

Khi tiếng súng tiến công ở Trảng Bom bắt đầu th́ tiểu đoàn 8 cũng hiệp đồng phát hỏa. 39 quả đạn cối 82 của đại đội 8 bắn vào các mục tiêu trong Bàu Cá vừa dứt, lập tức các đại đội bộ binh tổ chức xung phong.

Từ hướng đông-nam, đại đội 7 với ba xe tăng chia thành ba mũi tiến công trên hướng chính, đánh thẳng vào Bàu Cá, dồn địch từ trung tâm dạt ra b́a rừng chuối. Bọn địch lợi dụng các khóm chuối san sát nhau, ngoan cố chống cự. Chúng gọi các trận địa pháo bắn chặn dọc b́a rừng cao su hai bên đường số 1, ngăn không cho ta đánh tràn qua rừng chuối. Pháo ta được lệnh kèm cứng các trận địa pháo địch ở Hố Nai, Đồng Lách, dốc Ông Hoàng. Trong lúc đó, sân bay Biên Ḥa bị đoàn 113 đặc công dùng súng cối kết hợp với pháo tầm xa của ta đánh liên tục. Địch phải đưa dần số máy bay về Tân Sơn Nhất. Sân bay Biên Ḥa tê liệt dần. Cùng đường, địch điều xe tăng đến phản kích; gần chục chiếc hùng hổ lao đến văi đạn ngăn chận sức tiến công của đại đội 7. Nhưng ba chiếc xe tăng của ta được bộ binh bảo vệ đă xuất hiện kịp thời, bắn tung xích bốn chiếc của chúng.

Trong lúc đó đại đội 6 sau khi diệt gọn bọn địch ở ấp Hưng Nghĩa, để lại trung đội 3 chốt giữ, c̣n hai trung đội thành hai mũi phát triển dọc hai bên đường số 1 vào Bàu Cá.

Trung đội 1 của đại đội 6 do Nguyễn Văn Thành chỉ huy đă mưu trí luồn qua rừng chuối đánh một đ̣n hiểm vào phía sau đội h́nh xe tăng địch. Lê Trọng Núi bắn cháy một chiếc, phó đại đội trưởng Nguyễn Bá Tạo bắn cháy chiến thứ hai, quản trị trưởng Phùng Bá Minh bắn cháy chiếc thứ ba. Số c̣n lại theo đường số 1 [sic] chạy về Trảng Bom. Chiến sĩ Nguyễn Văn Quang ṿng tắt đón đầu, quỳ ngay trên đường số 1, nâng khẩu B.40. Chiếc tăng đi đầu của địch định chồm lên nghiền nát Nguyễn Văn Quang, nhưng đă muộn. Một luồng lửa trùm kín chiếc xe tăng. Đại đội 6 lướt tới. Hai chiếc tăng c̣n lại của địch đứng nổ máy trên đường số 1. Trong xe không c̣n tên địch nào. Chúng đă bỏ xe, chạy thoát thân. Bọn bộ binh địch sống sót tại Bàu Cá vội xé quần áo trắng, nhặt những tờ giấy trắng làm cờ kéo nhau ra hàng.

Tiểu đoàn 8 tung đại đội 5 vào truy quét, 393 tên c̣n sống sót bị đại đội 5 bắt làm tù binh. Bên khẩu pháo 105, hai xe tăng c̣n mới nguyên, gần chục xe GMC được các chiến sĩ bộ binh giao cho các binh chủng bạn tiếp quản. Bàu Cá được giải phóng. Ta đă làm chủ đoạn đường từ ngă ba Dầu Giây vào đến bắc Trảng Bom”.

    Sau chiến tranh, TĐT tiểu đoàn 3/48 BB/QLVNCH đă ghi lại những sự kiện đă xảy ra (26) :

    “Sáng ngày 27 tháng Tư, xe tăng địch ḅ đến phía bên kia pḥng tuyến. Hai chiếc M41 của Thiết đoàn 5 ngụy trang chực sẵn bắn đại bác 90 ly trúng một tăng địch. Nhưng, từ hai mặt phải trái cách quốc lộ 1 khoảng trên 100 mét, cùng một lúc lính bộ binh và xe tăng địch xuất hiện. Th́ ra lực lượng địch biết không thể băng qua hào sâu nên len lơi trong rừng, bọc ṿng tạo thành thế gọng kềm để kẹp chặt Trung đoàn 48. Qua vô tuyến, lúc đó mới biết rằng Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn và Tiểu đoàn 1 đóng trong đồn điền cao su Trảng Bom đă rút về hướng Nam từ lúc mờ sáng. Như vậy tại tuyến đầu chỉ c̣n lại Tiểu đoàn 3 và một Chi đoàn M113 trong lúc xe tăng và bộ binh địch ào ào tràn ra từ ba hướng. Sau lưng không c̣n lực để dựa th́ c̣n đánh đấm ǵ được nữa ! Nếu không nhanh chân th́ chắc chắn sẽ bị quân CS bao vây cắt đường rút và diệt gọn.

Tiểu Đoàn Trưởng lệnh cho các đứa em phân tán, rút nhanh ra đường. Tội nghiệp chi đoàn M113 của Đại úy Sơn phải tức tốc phân tán để đón những người bạn bộ binh trong lúc tăng địch bắn phá dữ dội. Nếu thiếu tinh thần chiến đấu và đồng đội th́ anh em thiết giáp đă bỏ bạn bè bộ binh, v́ thật ra M113 đâu phải là đối thủ của tăng T54 CS. Ngay cả M41 của ḿnh cũng đă quá già nua yếu ớt đối với T54. Nhưng nếu M113 mà bỏ chạy th́ đâu c̣n là chiến sĩ Thiết Giáp Quân lực VNCH. Hơn nữa, Tiểu đoàn 3/48 với Chi đoàn 3 Thiết đoàn 5 đă quá quen biết giao t́nh qua bao cuộc hành quân chung khắp vùng 3 chiến thuật và bên kia biên giới Campuchea trong năm 1970.

Chi đoàn M113 của Đại úy Sơn vốn đă quen địa h́nh nên sau khi đă gom được bộ binh liền rút rất nhanh. T54 địch đuổi theo, nhưng không làm ǵ được.

Đây thật sự là một cuộc rút chạy. Đáng buồn thật. Đáng buồn v́ phải bỏ lại hai chiếc M41 anh hùng ở tuyến đầu, đáng buồn v́ đơn vị chưa nổ một phát súng đă t́m đường thoát thân. Nhớ lại đêm nào ở mặt trận Bến Cát B́nh Dương năm 1973, lính Tiểu đoàn đuổi tăng địch, bắn cháy tăng địch, và mới hai tuần trước đây thôi lúc c̣n ở mặt trận Xuân Lộc, tăng địch là miếng mồi ngon cho M72. Đáng buồn khi nghĩ đến anh em chiến sĩ Địa phương quân ở căn cứ Bầu Cá chiến đấu trong tuyệt vọng. Tội nghiệp cho những chiến sĩ và gia đ́nh c̣n bị bỏ lại trong căn cứ Bầu Cá nhỏ bé, cô đơn ...”.

    Trận đánh chính tại Trảng Bom đă được một cán binh CS mô tả lại như sau (27), xem Sơ đồ 9 :

    "Vừa chợp mắt một chút, anh Khoát thông báo chuẩn bị đến giờ “G”, tôi và anh em trong tiêu đội bừng tỉnh ngủ, sắp xếp súng, đạn, đeo xanh tuya vào người chuẩn bị chiến đấu. 

4 giờ 5 phút: Gần 100 khẩu pháo, cối các loại trút lửa vào chi khu địch. Pháo binh ta bắn chính xác. Những loạt đạn đầu bắn trúng khu trung tâm chỉ huy và 7 trận địa pháo địch, làm tê liệt hệ thống chỉ huy của chúng. Các trận địa pháo địch bị pháo ta áp chế ngay từ đầu một cách bất ngờ nên chúng bị câm họng. Các ổ hoả lực địch trong chi khu cũng bị pháo của ta phá hoại. Cả chi khu Trảng Bom ngập trong khói lửa của pháo cối các loại của ta. Có những cột điện cao thế cũng bị pháo làm cho ngả nghiêng …

4 giờ 7 phút: Trên hướng chủ yếu của Trung đoàn 270, xe tăng và bộ binh bắt đầu xuất kích. Các chiến sỹ tiểu đoàn 6 sử dụng bộc phá mở cửa đánh chiếm các tuyến hào ngoại vi, công sự đầu cầu và phát triển theo chiến hào vành khăn, đưa hai đại đội chia thành hai mũi đánh vào, dồn quân địch vào trung tâm.

4 giờ 22 phút: Trung đoàn 270 không bắt được liên lạc với xe tăng, nhưng vẫn tấn công địch. Tiểu đoàn 5 cơ động men theo b́a rừng đánh thẳng vào khu quân sự. Mũi của tiểu đoàn 4 do đồng chí Nguyễn Anh Đậu chỉ huy, luồn qua các trận địa pháo của địch, đánh chiếm Suối Đỉa, giành thế thượng phong đập tan cuộc phản kích của địch từ Hố Nai ra ứng cứu. Trong chi khu Trảng Bom, dựa vào công sự kiên cố và nhà cao tầng, địch cố sức chống cự, đồng thời cho 8 xe tăng cùng bọn bộ binh men theo sân bay đánh vào sườn đội h́nh tiến công của ta. Tiểu đoàn 5 và tiểu đoàn 6 Trung đoàn 270 phải lùi dần vào rừng cao su.

5 giờ 15 phút: Trời hửng sáng, mặt trời rực đỏ trên ngọn cây cao su. Các mục tiêu của địch trong chi khu hiện rơ. Các mũi tấn công bao vây, lần lượt tiêu diệt những ổ đề kháng của địch áp sát khu trung tâm.

Ở hướng thứ yếu, Trung đoàn 273 chúng tôi phát triển khá thuận lợi. Chia thành hai mũi xung phong áp sát khu hành chính địch. Tiểu đoàn 1 do đồng chí Hoàng Trung Trực (Trung đoàn trưởng) chỉ huy, tiểu đoàn 3 do đồng chí Nguyễn Văn Giáp (Trung đoàn phó) chỉ huy nhanh chóng thọc sâu vào trung tâm, chiếm lĩnh bảy trận địa pháo của địch, đồng thời phối hợp với tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 270) tiêu diệt các cụm bộ binh địch phía Đông đường số 1 thuộc tiểu đoàn bảo an 368.

Sau khi có tiếng hô “xung phong”, cả đoàn quân vừa vận động ào ào vào chi khu vừa đồng thanh thét lên “xung phong!” vang trời. Lần đầu tiên tôi cảm thấy ḿnh dũng mạnh đến thế. Có thể đây là lần đầu tiên và là lần cuối cùng trong đời người lính tôi được hô “xung phong”. Cảm giác vui sướng giống như đánh trận giả lúc c̣n đi chăn ḅ với mấy đứa cùng xóm. Ḷng ngực tràn đầy niềm kiêu hănh, không cảm thấy sợ hăi là ǵ, mặc dù đạn M79 bắn “cóc” “oành” liên tục xung quanh.

Chúng tôi bám sát các trung đội bộ binh, rồi dừng lại lấy thước tấm bắn cối. Sau khi bắn được mấy quả, chúng tôi xốc cối lên lại chạy. Lúc vận động hành tiến qua lô cao su, v́ đi dép nên chạy bị trật quai, nên tôi chạy hơi chậm. Anh Khoát quay lại la lên:

- ĐM! chạy nhanh lên chậm là ăn pháo của nó bây giờ.

Tiểu đội tôi vận động vào chiếm lĩnh trận địa pháo địch, một quả M79 nổ chát chúa cách tôi khoảng 2 mét, may mà không sao. Chúng tôi được lệnh phát triển và tiêu diệt các cụm hỏa lực c̣n lại của địch, hỗ trợ cho đơn vị bạn.

Tiểu đoàn 5 và tiểu đoàn 6 sau khi xốc lại lực lượng tiếp tục tấn công. Hai tiểu đoàn đă quần nhau với chúng từng ụ súng, từng căn hầm.

Các trận địa pḥng không 12,7ly của Trung đoàn 55 ở Nam Suối Rết hạ thấp ṇng bắn quét vào các cụm quân địch hất chúng trở lại trung tâm. Xạ thủ Trần Quang Tạo và Lê Duy Long lợi dụng địa h́nh có lợi, áp sát mục tiêu dùng B41 bắn cháy 4 xe tăng địch. Các lô cốt, các ổ đề kháng cũng lần lượt bị quân ta tiêu diệt. Đồng chí Nguyễn Thanh Vân (Trung đoàn trưởng Trung đoàn 270) phán đoán hầm chỉ huy của địch, lệnh cho tổ bộc phá của đồng chí Trần Thế Vững (Tiểu đoàn 5) đưa quả bộc phá 5kg đánh vào căn hầm chỉ huy, tiêu diệt tên trung tá chỉ huy trưởng chi khu và tên thiếu tá tiểu đoàn bảo an 368 cùng nhiều sỹ quan khác. Mất chỉ huy, bọn địch bỏ chạy tán loạn, ta bắt sống gần 500 tên địch.

8 giờ 30 phút: Toàn bộ quân địch ở chi khu Trảng Bom bị tiêu diệt. Trận mở đầu cuộc tiến công vào Sài G̣n trên hướng Đông Bắc đă thắng lợi gịn giă. Ta làm chủ một đoạn đường số 1 và 14 km từ ngă ba Sông Thao đến Trảng Bom".

    Phải đọc lại toàn diễn tiến của mặt trận mới thấy được mức độ mănh liệt của trận đánh tại Trảng Bom (28) :

    "Một giờ sáng ngày 29-4-75 trận chiến bắt đầu. Vị trí đóng quân của CĐ 2/5 TK lúc ban ngày, bị hỏa tập bằng đại pháo 130 ly và hỏa tiển 122 ly. Hàng trăm trái đạn trút xuống một vị trí nhỏ bé, bọn chúng tưởng rằng đủ để Thiết Giáp và Bộ Binh tại đây tan nát. Chúng có ngờ đâu đơn vị tôi đă di chuyển và đóng quân cách đó 300 mét. Hướng Hưng Nghĩa lực lượng CSBV cấp sư đoàn tấn công dữ dội vào các đơn vị của 2 Trung Đoàn 43, 48 và CĐ 3/5 TK. Đủ loại âm thanh vọng về, hàng trăm ánh hỏa châu soi sáng, lửa khói mù mịt khu vực Bàu Cá, Hưng Nghĩa. Tất cả mọi người tại đây đều căng mắt nh́n màn đêm, sẵn sàng cho cuộc giao tranh chắc chắn sẽ đến.

...

Khoảng 3 giờ sáng, có rất nhiều bóng người xuất hiện cách xa vị trí đóng quân và bị che khuất bởi rất nhiều cây như chuối, chồi, cỏ tranh cao đến cổ. Dưới ánh sáng mờ ảo của hỏa châu, chúng tôi không thể xác định bạn hay địch v́ hệ thống truyền tin của các đơn vị bạn bận rộn, rối ren không liên lạc được. Cũng không thể dùng ánh sáng cơ hữu v́ sợ lộ vị trí. Tôi báo cáo cho Hỏa Long[3] biết, ông nhắc lại quan sát thật cẩn thận, phải biết chính xác là địch mới được tác xạ.

Đoàn người càng ngày càng đông như đi biểu t́nh, và càng ngày càng tiến gần vị trí Chi Đoàn. Bổng trong hệ thống truyền tin, Th/úy Trự Chi Đội Trưởng nói thật nhanh: “Báo cáo Phi Hổ (Danh hiệu truyền tin của tôi) có nghe tiếng người nói: “Tăng ta hay tăng Ngụy?”. Phản ứng của tôi thật nhanh, ra lệnh các Chi Đội bấm ḿn và tác xạ. Hàng chục quả ḿn định hướng (ḿn Claymore) được kích hỏa bùng nổ. Hàng chục khẩu Đại liên nhả đạn, súng cá nhân M 16, M 79 của Bộ Binh cùng thi nhau bắn xối xả, như một con sóng lửa đẩy dạt bọn chúng về phía sau. Hỏa Long như hét vào tai tôi “Phi Hổ, coi chừng bắn vào bạn”. Tôi xác nhận đó là VC, ông mới an tâm. Tôi lệnh cho 3 khẩu 76 ly của chiến xa M 41, 3 khẩu 106 ly không giật gắn trên xe M 113 bắn đạn chài khoảng cách nổ 30 mét. Ba khẩu súng cối 81ly của Chi Đoàn và 3 khẩu cối 106 ly của Thiết Đoàn thi nhau phóng những quả đạn nổ, không thuốc bồi chung quanh vị trí pḥng thủ. Những quả đạn trái sáng bùng cháy, chúng tôi thấy rơ hàng trăm CSBV với trang bị đầy đủ hốt hoảng dội ngược, la hét chạy tán loạn về phía Đông (hướng chi khu Trảng bom) và hướng Nam (có đường rầy xe lửa). Ngay tức th́ hướng Bắc, CĐ 1/5 CX bắt đầu nổ súng càng ngày càng dữ dội. Hỏa lực của chiến xa đánh bạt chúng về phía sau một cách nhanh chóng.

Như vậy CSBV hoàn toàn không biết vị trí của Thiết Đoàn, di chuyển ngang qua và gặp phải Thiết Giáp. Tao ngộ chiến, như chui đầu vô ổ kiến lửa! Quá bất ngờ và dưới hỏa lực mạnh của Thiết Giáp, chúng không kịp có một phản ứng nào, chỉ biết tháo chạy tán loạn. Chừng 10 phút sau tôi và Việt cho ngưng tác xạ để quan sát t́nh h́nh. Hỏa Long nhắc các Chi đội của Bộ Chỉ Huy bố trí ở hướng Nam và Tây sẳn sàng tác chiến.T́nh h́nh trở lại im lặng, ngộp thở. Chúng tôi biết lực lượng CSBV không dưới cấp Trung Đoàn sẽ tấn công chúng tôi sau khi chỉnh đốn lại hàng ngũ. Và nhất là chúng sẽ điều chỉnh pháo cường tập vào chúng tôi v́ vị trí đă bị lộ. Thật t́nh nói rằng chúng tôi rất sợ pháo của CSBV. Hai bên xung trận, chết sống chúng tôi không sợ. Nhưng sợ pháo, trong thời gian qua chúng tôi đă bị hứng pháo quá nhiều. Riêng chi đoàn tôi tất cả các xe đều bị trúng mảnh gang của đạn pháo, thành xe M113 nào cũng rổ chằn rổ chịt! Nhưng nhờ ơn trên che chở nên chưa hề có một trái đạn nào … chui lọt vào trong xe cả!

Nửa giờ sau pḥng tuyến phía Nam bị lực lượng CS cấp tiểu đoàn tấn công, các Chi Đội Chỉ Huy của Thiết Đoàn chống trả mănh liệt. Theo lệnh Hỏa Long tôi điều động một Chi Đội Thiết kỵ và 3 Chiến xa M 41 bung ra khỏi vị trí pḥng thủ và đánh ngang hông địch. Chừng nửa giờ giao tranh ác liệt chúng rút lui về hướng Nam. Trong trận đụng độ này đơn vị tôi có 3 binh sĩ tử thương, một bị thương, một hạ sĩ quan là Tr/sĩ Hiếu bị thương v́ một xe M113 bị trúng hỏa tiển B40 bốc cháy. Tôi đưa anh em bị thương về xe Y Tá của Thiết Đoàn để băng bó vết thương và điều 2 Chi Đội trở về vị trí cũ pḥng thủ.

T́nh h́nh lại yên tỉnh, không biết địch mưu toan ǵ kế tiếp. Chúng tôi không biết sự thiệt hại của lực lượng CSBV như thế nào v́ không thể kiểm kê. Nhiều cánh quân tại tuyến đầu là Hưng Lộc, Hưng Nghĩa dựa vào đường rầy xe lửa rút về hướng Hố Nai đă qua khỏi vị trí của Thiết Đoàn. Đến 4 giờ sáng ngày 29-4-75, lực lượng CSBV bắt đầu pháo kích bằng Đại pháo 130 ly. Mới đầu một vài trái rơi khá xa; chúng điều chỉnh từ từ lại gần vị trí đóng quân. Và tiếp theo vài trái rơi chính xác trong chu vi pḥng thủ. Hỏa Long cho lệnh bung rộng đội h́nh để tránh pháo. Sau chừng 10 phút CSBV bắt đầu pháo cường tập vào vị trí. Pháo đủ loại 130 ly 122 ly, cối 82 ly đổ ập xuống vị trí. Chúng tôi bung đội h́nh rộng thêm, ngay lập tức chạm địch. LLCSBV đông đảo bắt đầu tấn công mănh liệt. Hướng Nam các Chi Đội Chỉ Huy bị tấn công mạnh bằng Bộ Binh và xử dụng nhiều loại súng chống chiến xa.

Tôi bấm ống liên hợp truyền tin xin Hỏa Long cho 3 xe phun lửa làm việc v́ phía ngoài chúng tôi toàn cỏ tranh cao đến đầu người. Ba xe M132 phun ra 2,400 lít xăng đặc nén tạo nên những đám cháy dữ dội bùng lên ở khoảnh cách 200 mét. Tiếp liền một xe phun lửa bị bắn hạ bởi đại bác 75 ly bốc cháy ngùn ngụt. Xe M 113 (xe Y Tá) bị B 40 bắn thủng hông. Thật xui cho các anh em bị thương vừa qua ở trên xe này phải một lần nữa… suưt chết! (Tr/sĩ Hiếu, một Hạ Sĩ Quan hành quân, trẻ nhưng can đảm và nhiều kinh nghiệm, mới có nửa tháng bị thương lần thứ 3!).

Hỏa Long và Th/tá Đào tức tốc điều Chi Đoàn tôi đối đầu với địch ở phía Nam (có đường rầy xe lửa Biên Ḥa-Long Khánh), để trám vào vị trí các Chi Đội Chỉ Huy đang chao đảo. CĐ1/5CX đánh trả ở hướng Bắc và hướng Đông thay đơn vị tôi. Ba hướng: Nam, Đông, Bắc đều bị sức tấn công dồn dập của quân đội CSBV. Chúng biết lực lượng đối đầu chúng là Thiết Giáp Binh nên chúng sử dụng toàn các loại súng chống chiến xa. Những quả đạn hực lửa của B 40, B 41, đại bác 57 ly, 75 ly không giật, tới tấp bay vào đội h́nh thiết Đoàn. Các Chi Đội Chỉ Huy chuyển sang giữ hướng Tây (hướng về Hố Nai). Sau hơn một giờ giằng co bất phân thắng bại. Hỏa Long ra lệnh lui binh”. 

    Lui binh dưới hỏa lực địch luôn luôn là một chiến thuật rất khó khăn khi thực hiện. Cuộc lui binh của lực lượng từ Trảng Bom khó thành công nếu không được sư yểm trợ của không quân, sử dụng bom napalm.

    V́ không ngăn chận được cuộc lui binh của QLVNCH nên diễn tiến của giai đoạn này qua mô tả của CS hoàn toàn khác xa với sự thật (25), xem Sơ đồ 10 :

    “Sau khi làm chủ Suối Đỉa, tiểu đoàn 4 lập tức chuẩn bị trận địa phục kích tiêu diệt địch từ Trảng Bom chạy về.

Đại đội 2, trung đội 2 đại đội 1 và trung đội 3 đại đội 3 do phó tiểu đoàn trưởng Dương Cao chỉ huy, tổ chức trận địa phục kích ở băi nghĩa địa các Suối Đỉa gần 2km. Lúc đó, bọn địch ở Trảng Bom đang kéo nhau chạy về Suối Đỉa. Đi đầu là chi đoàn 3 của lữ đoàn 3 kỵ binh mở đường cho các loại tàn quân của Sư đoàn 18, biệt động quân, bảo an, dân vệ. Cả cái mớ hổ lốn, vô tổ chức ấy xô nhau chạy về Suối Đỉa.

9 giờ 10 phút ngày 27 tháng 4, chúng lọt vào trận địa của tiểu đoàn 4, Nguyễn Anh Phong bắn cháy hai xe thiết giáp, chặn đầu. Lâm Anh Dũng bắn cháy hai xe GMC chở đầy lính, khóa đuôi. Gần 100 xe đủ loại của địch bị nhốt chặt vào rọ.

Như những cơn lốc, các chiến sĩ của tiểu đoàn 4 lao vào trận đánh. Thoạt đầu, hàng loạt những quả đạn B.40, B.41 lao vút vào cụm xe địch; tiếp đến là hàng tràng 12.7, đại liên, trung liên quét dọc quét ngang vào bọn bộ binh; sau cùng là những quả lựu đạn tới tấp ném vào thùng xe, ṇng pháo và những tràng AK đanh gọn, chính xác. Lửa khói mịt mù, xe pháo chỏng chơ, cong queo; tiếng kim khí va chạm nhau, hơi nóng bốc lên ngột ngạt. Xác địch ngổn ngang đủ h́nh đủ kiểu.

Trận phục kích tài t́nh của chiến sĩ tiểu đoàn 4 thắng lợi rực rỡ. Toàn bộ bọn địch ở Trảng Bom chạy vào Hố Nai bị tiêu diệt và bị bắt làm tù binh. Riêng đại đội 2 đă tóm gọn 400 tên tù binh đủ các sắc lính của Quân khu 3 ngụy Sài G̣n”.

    Trận đánh tại Trảng Bom kéo dài đến 8 giờ 30 cùng ngày th́ chấm dứt (18). BCH Thiết Đoàn 5 Kỵ binh, CĐ 1/5 CX và CĐ 2/5 TK di chuyển về Hố Nai và bố trí trên một ngọn đồi thoai thoải thấp phía sau Nhà Thờ Tân Bắc. Tuyến đầu bây giờ là LĐ 468 TQLC phụ trách, cách vị trí đóng quân của thiết đoàn 5 khoảng 2 cây số về hướng Trảng Bom. Tại đây lữ đoàn 468 TQLC, thiết đoàn 5 KB  gồm chi đoàn 1/5 CX (-) và chi đoàn 2/5 hỗn hợp đă giao tranh ác liệt với cánh quân của sư đoàn 341 CSBV. Chính nơi đây đă xảy ra trận xa chiến giữa các chiến xa M-41, M-113 đối đầu với chiến xa T-54 của CS. Kết quả TQLC bắn hạ 2 chiến xa T-54,  Ky binh Thiết giáp bắn hạ 6 T-54. Thiết giáp có 3 thiết vận xa M-113 và 2 chiến xa M-41 bị bắn cháy. V́ lực lượng địch với quân số áp đảo và lực lượng ta yếu thế phải rút lui về ngă 3 Tam Hiệp, Biên Ḥa lúc chiều tối ngày 29/4/75.

    Không bị bắt giữ trong chiến thắng tưởng tượng của CS nên khi lui binh dọc theo phía sau nghĩa trang quân đội Biên Ḥa vào sáng ngày 30/4, CĐT chi đoàn 3/5 TK đă quan sát được những chi tiết hào hùng đến giờ chót của QLVNCH mà ông không thể quên được trong suốt mấy chục năm qua. Đó là h́nh ảnh các pháo thủ không rơ của đơn vị nào vừa di chuyển vừa phản pháo lại địch quân. Họ kéo súng đi được một đoạn th́ dừng lại, tháo càng đại bác khỏi xe kéo rồi điều chỉnh nhắm bắn vào VC đang truy đuổi phía sau. Hành động được lập lại nhiều lần trên suốt đoạn đường di chuyển của toán quân này (23).

    Thừa thắng xông lên, sư đoàn 341 tiến xuống Hố Nai. Tiểu đoàn 6 TQLC đă chuẩn bị sẵn sàng. Hàng trăm quả ḿn đă được gài sẵn dọc trên tuyến pḥng thủ. Sư đoàn 341 CS sau nhiều đợt tấn công bọc sườn đều bị thất bại phải thay đổi chiến thuật, dùng chiến xa đánh trực diện theo hướng quốc lộ 1. Tuy nhiên tác chiến trên các trục đường giao thông đă là kinh nghiệm của tiểu đoàn 6 từ chiến cuộc mùa hè đỏ lửa năm 1972. Với yểm trợ của một chi đoàn chiến xa M-48, TQLC đă đánh bại các đợt tấn công của quân CS, hạ được nhiều chiến xa. Quân CSBV phải dừng lại. Kết quả này đạt được là do những yếu tố sau đây (29) :

·         Tiểu đoàn 6 TQLC tổ chức pḥng thủ chiều sâu.

·         Tinh thần binh sĩ rất cao do đánh trên đất nhà. Hố Nai gồm dân các giáo xứ, tinh thần chống cộng rất cao. Dân chúng tiếp tế thực phẩm, phụ trách tản thương, v.v.

·         Vô hiệu hóa đặc công VC bằng cách phối hợp với cảnh sát, quân tự vệ của giáo xứ.

·         TQLC đặc chốt trên các cao ốc trong vùng để bắn hạ các chiến xa của CS.

    Trong khi đó th́ trưa ngày 27/4, TQLC được BTL quân đoàn III cho tăng phái một liên đoàn BĐQ. Buổi chiều cùng ngày, sư đoàn 3 thuộc quân khu 5 của CS tấn chiếm chi khu Đức Thạnh rồi chiếm luôn thị xă Bà Rịa. Lữ đoàn 1 Dù đang trấn giữ tại đây phải lui binh về hướng Vũng Tàu. Đơn vị có nhiệm vụ giữ cầu Cỏ May đă hốt hoảng giật sập cầu sau khi thấy BCH lữ đoàn 1 qua cầu khiến ba tiểu đoàn 1, 8 và 9 Dù phải phá hủy các quân dụng cồng kềnh kể cả các đại bác trước khi vượt sông. Lữ đoàn tan hàng tại cửa Cần Giờ ngày 30/4 (30). Nhưng trung đội 2, đại đội 15 thuộc tiểu đoàn 1 Dù đă để lại một huyền thoại khi có những người lính của đơn vị hy sinh vào giờ chót. Chiến trường là khu Nhà Đá (bây giờ là nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) nằm cách cầu Cỏ May khoảng 2 cây số. Trung đội 2 là đơn vị đoạn hậu để tiểu đoàn lui binh. Trận đánh kéo dài từ sáng đến trưa ngày 30/4, trung đội chỉ c̣n một quân nhân sống sót (31). 

    Ngày 28/4, tiểu đoàn 6 TQLC được lệnh lui binh về ngă tư Ḷ Than. Quân CS tiến xuống lại bị một trận đánh dữ dội v́ ở đây có tuyến chống chiến xa đă được quân đoàn III cho đào sẵn từ trước. Binh sĩ cũng như chiến xa có một hệ thống công sự tốt. Bị thiệt hại nặng nên suốt ngày 29/4, không có cuộc tấn công nào của CS trên hướng này (29).

    Lúc bấy giờ, sư đoàn 325 cũng đă chiếm được Long Thành, theo LTL-25 tiến về hướng Nhơn Trạch.

    Sáng ngày 28/4, Tổng thống Trần Văn Hương bàn giao chức vụ lại cho Đại tướng Dương Văn Minh. Trong khi đó, địch quân pháo kích tuyến pḥng thủ của cả hai lữ đoàn TQLC. Sau đó chiến xa với bộ binh tùng thiết ồ ạt tấn công tuyến của hai tiểu đoàn 4 và 6 thuộc lữ đoàn 258 TQLC. T́nh trạng tương tự xảy ra bên kháng tuyến của lữ đoàn 468. Dưới yểm trợ của phi pháo, địch quân bị đẩy lui. Tin tức t́nh báo cũng cho biết có sự hiện diện của hai trung đoàn 266 và 270 thuộc sư đoàn 341.

    Trưa cùng ngày, BTL quân đoàn III dời về BCH/TG tại G̣ Vấp. Phi trường Biên Ḥa được lệnh di tản sau khi phá hủy kho bom (32).

    4. ĐẶC CÔNG ĐỘT NHẬP HẬU CỨ CỦA THIẾT ĐOÀN 15 KB

    Khuya ngày 28/4, tiểu đoàn 9 thuộc trung đoàn 113 đặc công xuất phát từ rừng Bùng Binh, cách hậu cứ khoảng 3-4 km về phía tây, dùng nội công ngoại kích đột nhập hậu cứ của thiết đoàn 15  KB ở cuối phi trường Biên Ḥa (Đồng Lách) (xem Sơ đồ 11).

    Hậu cứ của TĐ 15 là một phần của căn cứ Ngô Văn Sang, diện tích rộng khoảng hơn 2.5 km2, tọa lạc ở phía đông phi trường Biên Ḥa. Căn cứ này trước đây là nơi đóng quân của một đơn vị thuộc sư đoàn 1 kỵ binh không vận của Mỹ. Sau khi quân đội Mỹ rút lui, căn cứ được bàn giao lại cho QLVNCH và do bốn đơn vị đồn trú. Từ ngă ba Ḷ Than có một con đường dài khoảng 500 m dẫn đến cổng chính của căn cứ và đi xuyên suốt từ hướng nam cho đến hết căn cứ trên hướng bắc. Qua khỏi cổng căn cứ phía bên phải là doanh trại của TĐ 15 KB, nằm trên một ngọn đồi thoai thoải, diện tích kể cả trại gia binh rộng khoảng 1 km2. Kế tiếp là Trung tâm Yểm trợ Tiếp vận của tiểu khu Biên Ḥa rồi đến trại an dưỡng của tiểu khu. Sau cùng là doanh trại của liên đoàn 81 Biệt cách dù. Bốn doanh trại nằm sát nhau từ nam lên bắc và cùng sử dụng con đường từ ngă tư Ḷ Than đi vào. Mỗi doanh trại đều có hàng rào pḥng thủ riêng biệt (33).

    Những năm sau cùng của chiến tranh, t́nh h́nh chiến sự nặng nề do VC đánh phá khắp nơi, chiến đoàn 315 mà đơn vị nồng cốt là thiết đoàn 15 phải hành quân liên tục, hết nơi này đến nơi khác. Tùy theo t́nh h́nh chiến thuật và lực lượng địch tham chiến, BTL/LLXK/QĐ III đặt kế hoạch hành quân, khi th́ cho cả lực lượng, lúc khác mỗi chiến đoàn hành quân riêng biệt. Sau mỗi cuộc hành quân, chiến đoàn 315 di chuyển đến một địa điểm nào đó theo lệnh của BTL/LLXK/QĐ III để nghỉ vài ngày, bổ sung quân số, sửa chữa, bảo tŕ xe cộ và quân dụng, tái tiếp tế, v.v. Trong thời gian nghỉ dưỡng quân, chiến đoàn vẫn phải đặt trong t́nh trạng sẵn sàng di chuyển hành quân khi cần. Do đó đă từ lâu thiết đoàn 15 KB không trở về hậu cứ. Công tác pḥng thủ doanh trại được giao khoán hoàn toàn cho các quân nhân văn pḥng của hậu cứ đảm trách (33).

    Trung đoàn trưởng trung đoàn 113 đặc công và là phó tư lệnh binh chủng này cho rằng trận đánh có mục đích kềm giữ không cho QLVNCH dùng căn cứ làm bàn đạp phản công cánh quân chính (sư đoàn 341 thuộc quân đoàn 4) của CS trên QL-1.

    Cường độ của trận chiến khi QLVNCH phản công tái chiếm hậu cứ đă được tài liệu của CS ghi lại như sau (34) :

    “Đúng 6 giờ 15 phút ngày 29 tháng 4 năm 1975, địch mở đầu cuộc phản kích bằng một loạt pháo dồn dập vào đội h́nh Tiểu đoàn 9, kéo dài hai giờ đồng hồ. Đạn pháo các cỡ 100, 105 và 155mm trùm lên căn cứ, tạo thành những cột khói bay tỏa ra vẩn đục bầu trời. Nhà cửa lại đổ thêm, những vạt cỏ hiếm hoi bị cháy và trốc luôn cả gốc bay vật vờ trước khói bụi.

Sau đợt pháo bắn dọn đường là bộ binh địch có xe tăng yểm trợ chia làm ba mũi tiến vào căn cứ. Không gian càng bị dồn nén bởi có thêm tiếng xe tăng địch gầm rú, địch muốn bằng tiếng gầm rú đó uy hiếp đối phương trước giờ giăy chết của chúng.

...

Trên tất cả các hướng, chúng tôi chờ địch vào cách 10 mét mới nổ súng.

    Bị đánh bất ngờ, xác địch nằm ngỗn ngang ngay trước mặt các chiến sĩ, số sống sót lùi ra xa gọi pháo bắn vào trận địa ta. Tiếp sau, bộ binh địch lại bị những tên ác ôn ḥ hét, thúc lưng buộc phải tiến lên.

Trận đánh cứ giằng co rất ác liệt trước mép trận địa của các chiến sĩ ta. Măi cho đến 9 giờ 15 phút mới kết thúc”.

    Đợt phản công thứ nh́ cũng không kém phần ác liệt (34) :

    “Thoạt đầu địch bắn cối 81mm vào cổng chính của căn cứ. Cối chuyển làn, hai tiểu đoàn địch xông lên. Xe tăng địch từ hướng sở chỉ huy quân đoàn 3 ngụy vận động ra vừa gầm rú vừa bắn xối xả đạn vào đội h́nh quân ta trợ oai cho bộ binh địch chiếm lại mục tiêu đă mất. Kho đạn của địch trong căn cứ trúng đạn pháo của địch nổ theo”.

    Tiểu đoàn 9 đặc công sắp hết đạn, định rút lui th́ đại quân đến nên họ vẫn tiếp tục chiếm giữ hậu cứ của TĐ 15 lúc 16 giờ ngày 29/4/1975 (35).

    Tất cả những chi tiết trên chỉ là một sự tưởng tượng. Theo một sĩ quan KBTG cơ hữu của hậu cứ thiết đoàn 15 th́ đặc công có đột nhập nhưng không có đụng độ dữ dội như đă mô tả v́ hậu cứ chỉ gồm những binh sĩ thặng dư, bất khiển dụng v́ thương tật, v.v. Ngoài ra hậu cứ cũng không có một hệ thống pḥng thủ vững chắc, thiếu chướng ngại vật, cả một tuyến dài không có hàng rào kẽm gai v́ trước kia là sân bắn của quân đội Mỹ.

    ThĐT thiết đoàn 15 KB đă ghi lại diễn tiến thực sự như sau (33) :

    “Khoảng 11 giờ đêm 28/4, VC dùng pháo binh và hỏa tiển 122 ly pháo kích dữ dội vào hậu cứ của TĐ 15 KB khiến một số quân nhân bị thương, một dăy nhà gỗ lợp tôn bị cháy. Khoảng 20 phút sau, VC ngưng pháo kích để khoảng một trung đội đặc công, sử dụng lựu đạn và chất nổ đột nhập căn cứ. Sau một thời gian chống cự, lực lượng pḥng thủ yếu thế phải tác xạ để cầm chân địch hầu có thể bảo vệ và di chuyển thương binh, gia đ́nh và thân nhân binh sĩ ra khỏi căn cứ hướng ngă ba Ḷ Than. Đặc công VC tiếp tục sử dụng lựu đạn và chất nổ khắp nơi trong căn cứ với mục đích phá hủy những nơi nghi ngờ c̣n người ẩn núp. Khoảng 12 giờ rưỡi khuya, những tràng đạn và tiếng nổ mới chấm dứt khi địch quân chiếm được hoàn toàn hậu cứ của TĐ 15 KB.

Sau khi rút về đến thành phố Biên Ḥa, kiểm điểm lại thiệt hại th́ hậu cứ có tất cả 6 quân nhân bị thương, 1 nặng, 5 nhẹ kể cả sĩ quan hành chánh tài chánh của thiết đoàn”.

    Một trung đội trưởng thuộc tiểu đoàn 9 đặc công của CS đă gián tiếp xác nhận luận cứ trên khi viết (35) :

    “Do tác động chung của toàn chiến trường, đặc biệt tuyến pḥng thủ cuối cùng của địch ở Xuân Lộc, Dầu Giây và nhiều nơi khác chúng đă nao núng, hoang mang. Khi xuất hiện những tiếng nổ lạ và đanh, biết chúng bị tấn công. Sẵn đà cả căn cứ Hốc Bà Thức náo loạn, một số xe máy theo trục đường chạy thoát thân. Nhưng để tránh sự truy kích của đối phương và bị tiêu diệt, nên chúng quay súng bắn xối xả ra phía sau và cả hai bên đường. Khoảng 4 giờ sáng, lực lượng ta đă chiếm lĩnh và làm chủ toàn bộ căn cứ. Nhưng cũng vừa lúc máy bay trực thăng vơ trang địch từng tốp, từng tốp thay nhau tới bắn xối xả xuống căn cứ. Lợi dụng địa h́nh địa vật để bảo toàn lực lượng, nên ta hạn chế được thương vong”.

    Lư do VC chỉ tấn công hậu cứ  của thiết đoàn 15 trong căn cứ Ngô Văn Sang được đoán nhận như sau (36) :

    “Một mục tiêu có giá trị nhất trong căn cứ. Hậu cứ của TĐ 15 có hai kho nhiên liệu và đạn dược đào sâu xuống đất. Kho nhiên liệu chứa khoảng 3-4 chục ngàn lít xăng. Kho đạn dược có đầy đủ các loại súng của thiết đoàn từ đại bác đến các vũ khí cá nhân, ḿn, lựu đạn đủ để chiến đấu trong 15 ngày”.

    5. CHIẾM GIỮ CẦU CỐNG & CẮT ĐỨT HỆ THỐNG GIAO THÔNG

    Khi hành quân trong vùng sông nước và sử dụng cơ giới th́ cầu cống là những mục tiêu quan trọng cần phải được chiếm giữ. Trinh sát hay những người có trách nhiệm phân loại khi lập kế hoạch hành quân phải đặc biệt quan tâm (37). Một thí dụ trong quân sử là cuộc hành quân Market Garden (17-25/9/1944) trên đất Ḥa Lan. 7 cầu trên các sông và kinh đào như Niederrhein, Ljssel, Waal, Rhein và Mass là những mục tiêu quan trọng của cuộc hành quân (38). Đến khi chiến tranh thế giới thứ II bước vào giai đoạn sau cùng, việc chiếm giữ bất ngờ cầu xe lửa Ludendorff qua sông Rhine, gần Remagen ngày 7/3/1945 đă được xem là một thành công vượt bực của quân đội đồng minh (39). Thống chế Đức Kesselring cũng cho rằng việc để mất các cầu Remagen, Hanan và Aschaf-fenburg đă mang đến nhiều hậu quả tai hại cho nước Đức (40). Trong mùa hè đỏ lửa năm 1972, việc phá sập cầu Đông Hà bắc qua sông Cam Lộ đă ngăn cản được bước tiến của cơ giới CS (41-42).

    Tương tự như vậy, để tiến vào Sài G̣n, thiết giáp của CS phải vượt qua nhiều cầu cống. Sự phối hợp giữa lực lượng đặc công và các cánh quân của CS từ bên ngoài để chiếm giữ các cầu trên đường tiến quân hướng đông & đông-nam Sài G̣n sẽ được tuần tự xét đến trong phần kế tiếp.

    Tháng 4 năm 1974, BCH Miền của CS ra quyết định chuyển đoàn đặc công 27 thành sư đoàn đặc công 2 để chỉ huy 7 trung đoàn đặc công hoạt động chung quanh Sài G̣n là e10, e113, e115, e116, e117, e119 và e429 với 2 nhiệm vụ chủ yếu (43) :

·         Đánh chiếm, chốt giữ 14 cầu và một số căn cứ án ngữ các trục lộ giao thông dẫn vào Sài G̣n.

·         Đánh phá phi trường Tân Sơn Nhất và ngăn chận sông Ḷng Tàu.

    Đại tá Nguyễn Chí Điềm, Tư lệnh binh chủng đặc công được phái vào Nam để tham gia vào cơ quan tham mưu của BCH chiến dịch HCM.

    Trước khi phát động chiến dịch HCM, các đơn vị đặc công chung quanh Sài G̣n được phân nhiệm như sau :

·         Đoàn 10 Rừng Sác hoạt động từ Vũng Tàu đến Tân Cảng, phụ trách sông Nhà Bè, sông Ḷng Tàu, kho đạn thành Tuy Hạ và kho xăng Nhà Bè.

·         Đoàn 113 hoạt động tại Biên Ḥa, phụ trách phi trường Biên Ḥa, tổng kho Long B́nh và BTL/QĐ III.

·         Đoàn 115 hoạt động ở phía tây Phú Cường (Thủ Dầu Một), phụ trách phi trường TSN, TTHL Quang Trung và hai cầu Lái Thiêu và B́nh Dương.

·         Đoàn 116 phụ trách tấn công tổng kho Long B́nh và huấn khu Long Thành.

·         Đoàn 117 hoạt động trong khu vực Vườn Thơm, Bà Vụ (phía tây Sài G̣n), phụ trách phi trường TSN và cầu Bến Lức.

·         Đoàn 119 hoạt động ở phía bắc Lái Thiêu cũng phụ trách đánh phá phi trường TSN, phá hoại các cầu B́nh Phước, B́nh Lợi và Tân Cảng.

·         Trung đoàn 129 được tăng cường cho các sư đoàn chủ lực đồng thời phụ trách quấy rối đài “ra-đa” Phú Lâm, căn cứ truyền tin trên núi Bà Đen và căn cứ Đồng Dù.

    Ngoài ra trong nội đô Sài G̣n c̣n có lữ đoàn đặc công 316 gồm 4 tiểu đoàn d195, d197, d4 Gia Định và d4 Thủ Đức.

    Để mở đường cho 5 cánh quân chính tấn công Sài G̣n, các đơn vị đặc công được chỉ định theo 3 hướng chính :

·         Hướng đông (gồm 2 cánh đông và đông-nam) do các trung đoàn 10, 113, 116 và một phần lữ đoàn 316 phụ trách. Tư lệnh là Tống Viết Dương, Chính ủy là Lê Bá Ước.

·         Hướng bắc (gồm 2 cánh bắc và tây-bắc) gồm trung đoàn 115, một phần lữ đoàn 316 và trung đoàn 198 từ tây nguyên xuống. Tư lệnh là Nguyễn Thanh Tùng (Mười Cơ), Chính ủy là Tư Được.

·         Hướng đông (gồm 2 cánh tây và tây-nam) gồm trung đoàn 117, trung đoàn 429 và phần c̣n lại của lữ đoàn 316. Tư lệnh là Nguyễn Văn Mây, Chính ủy là Bảy Dũng.

    5.1. Cầu Đại Hàn & cầu Ghềnh

    Sông Đồng Nai trong khu vực tỉnh Biên Ḥa có 3 cầu lớn là cầu Đồng Nai, cầu Đại Hàn và cầu Ghềnh (xem Sơ đồ 12-13 & H́nh 13-16).

·         Cầu Đồng Nai cách cầu Ghềnh khoảng 4 km về phía hạ lưu. Từ Thủ Đức qua xa lộ Biên Ḥa, vượt cầu Đồng Nai để vào căn cứ Long B́nh rồi đi lên Hố Nai. Cầu có chiều dài 454 m và trọng tải 25 tấn, được xây cất năm 1964. Sau chiến tranh, cầu đă quá tải do chính quyền CS cho phép tải trọng đến 33 tấn đi qua cầu.

·         Cầu Đại Hàn hay cầu Mới (cầu Hóa An) nối liền xa lộ Đại Hàn với thị xă Biên Ḥa, dài khoảng 800 m, kiến trúc bê-tông. Tháng 10/1974, đặc công nước của CS phá sập hai nhịp nhưng cầu đă được sửa chữa lại.

·         Cầu Ghềnh là cầu sắt do người Pháp dựng lên, để dùng chung cho cả xe hơi và xe hỏa. Cầu bắc qua sông Đồng Nai nối với cù lao Phố và cũng dẫn vào thị xă Biên Ḥa qua cầu Rạch Cát và gặp phần kéo dài của xa lộ Đại Hàn ở ngă ba Kẻ Sặt, từ đây quốc lộ 1 đi ra Hố Nai và Trảng Bom.

    Sau trận đánh tại Khánh Dương, tiểu đoàn 5 Dù được chuyển vận về Sài G̣n. Sau đó được tăng phái cho BTL quân đoàn III. Tiểu đoàn lúc bấy giờ do Thiếu tá Vơ Trọng Em làm TĐT có nhiệm vụ giữ các cầu trên sông Đồng Nai. Mỗi cầu do một đại đội Dù được tăng phái một chi đội thiết vận xa trấn giữ. BCH của tiểu đoàn đặt tại cầu Đồng Nai, phía Sài G̣n v́ phía bên kia cầu là một căn cứ hải quân (44).

    Tiểu đoàn 6 TQLC được giao trách nhiệm đoạn quốc lộ số 1 nên đảm nhiệm luôn việc giữ an ninh cho hai cầu Ghềnh và cầu Rạch Cát khi nhận bàn giao từ ND. Đích thân TĐT tiểu đoàn 6 dẫn hai trung đội thuộc đại đội 4 đến tận cầu và chỉ định các yếu điểm do tầm quan trọng cũng như kinh nghiệm pḥng giữ cầu Đông Hà năm 1972 (30).

    Nằm trong nhiệm vụ yểm trợ cho quân đoàn 4 CS đang trên đường tiến về Sài G̣n, trung đoàn 113 đặc công được phân chia nhiệm vụ :

·         Đánh chiếm và bảo vệ hai cầu Mới và cầu Ghềnh do tiểu đoàn 23 đặc công và tiểu đoàn pháo 174 phụ trách. Cánh quân này do trung đoàn trưởng, TMT và phó chính ủy trung đoàn chỉ huy. Quân số trên thực tế gồm hai đại đội, đại đội 3 tiểu đoàn 23 và đại đội 13 tiểu đoàn 174 tấn công cầu Mới trong khi hai đại đội 1 tiểu đoàn 23 và 14 tiểu đoàn 174 phụ trách cầu Ghềnh. Các đơn vị c̣n lại bố trí gần sở chỉ huy, làm lực lượng trừ bị đồng thời giữ nhiệm vụ ngăn chận viện binh từ hướng Thủ Đức, Dĩ An lên.

·         Tấn công đánh chiếm hậu cứ của thiết đoàn 15 do tiểu đoàn 9 đặc công, đại đội trinh sát 53 cùng một bộ phận cơ quan trung đoàn đảm nhận. Hướng này do trung đoàn phó và chính ủy trung đoàn chỉ huy.

    8 giờ sáng ngày 28/4/1975, các mũi đặc công đồng loạt tấn công cả hai cầu. Theo tài liệu của CS th́ cuộc đánh chiếm hai cầu tương đối nhanh gọn mặc dù QLVNCH đă phản công mạnh mẽ !

    Các cấp chỉ huy của tiểu đoàn 23 đặc công đă ghi lại trận đánh như sau (45) :

·         “Hướng cầu Ghềnh, Đại đội 1 Tiểu đoàn 23 và Đại đội pháo 174 chiếm lĩnh địa h́nh có lợi, đánh lui nhiều đợt tiến công của địch diệt hàng trăm tên, bắn cháy năm xe tăng. Ba đồng chí trong Ban Chỉ huy đại đội 1 trong một lần tiến công của địch bị chúng bao vây chia cắt đội h́nh, không liên lạc được với anh em. Các đồng chí không nao núng, chiến đấu rất kiên cường, mưu trí, vừa nghi binh đánh lừa địch, vừa chiến đấu diệt nhiều tên, bằng mọi thứ vũ khí có trong tay nhằm kéo dài cuộc chiến đấu không cân sức với hàng trăm tên lính ngụy. Các đồng chí đă chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và anh dũng hy sinh tại trận địa.

·         Tại cầu Hóa An, các chiến sĩ ta ngoan cường giành đi giật lại từng tấc đất với địch để giữ cầu”.

    Sĩ quan ban 3 của tiểu đoàn 2 TQLC, đơn vị có nhiệm vụ giữ cầu Đại Hàn cho đến sáng ngày 30/4 ghi nhận có một toán du kích về gần cầu định bắc loa tuyên truyền đă bị toán tiền đồn của đại đội 4 thuộc tiểu đoàn 2 phục kích bắn hạ (46). Như vậy sự giành đi giật lại tại cầu Hóa An có thể cũng chỉ lại là một sự tưởng tượng nữa.

    Hướng phản công đánh chiếm lại cầu Ghềnh là từ cù lao Phố như một cán binh CS giữ đầu cầu phía chợ Đồn ghi lại (47) :

“Xe tăng! Một tiếng kêu của ai đó.

- Chuẩn bị chiến đấu!

Chúng tôi đă nghe tiếng gầm rú của xe tăng phía bên kia cầu và tiếng máy bay rít trên bầu trời quần đảo nơi chúng tôi đang chiếm giữ. Tôi nh́n thấy rất nhiều bóng những sắc phục lính ngụy bên cù lao, rồi tiếng đạn pháo, đạn xe tăng xen lẫn tiếng súng AR15, M79 của địch liên tục hướng về phía chúng tôi. Có lẽ chúng đang cố đánh bật bộ phận anh Thính phía bên kia. Chúng tôi tựa vào nhau kiên quyết chống trả những trận phản công của địch ḥng chiếm lại cây cầu. Xung quanh tôi bụi mù mịt v́ khói súng và bụi đất, đôi tai dần dần như không c̣n nghe thấy ǵ, chỉ thấy mặt đất rung từng đợt. Tiếng súng AK của chúng tôi lọt thỏm giữa không gian của trận chiến ác liệt. Một số đồng đội của tôi mặt mũi nhọ nhem, thỉnh thoảng ra hiệu cho nhau di chuyển t́m nơi thuận lợi có thể ngăn các các đợt tấn công của địch, không cho chúng vượt sang bên này cầu. Cứ như vậy đôi bên giằng co trận địa dưới những làn đạn pháo, đạn máy bay của địch.

Mặt trời lên cao dần, trận đánh cũng giảm bớt nhịp độ, tôi đổi vị trí cho Yên lùi một chút về phía sau. Xung quanh tôi có một số đồng đội đă nằm yên. Tôi đoán chắc họ đă hy sinh, ḷng căm hận trào dâng, tự nhủ phải cố gắng bảo vệ cầu và bảo vệ danh dự người chiến sĩ, không lùi bước trước những hy sinh của đồng đội. Phải chiến đấu để trả thù cho bạn và ḱa, h́nh ảnh của Tuân - y tá, quê Hà Bắc ôm súng vượt qua cầu nhưng anh chưa kịp qua cầu bỗng khựng lại chới với trước làn đạn của địch. Anh hy sinh trước mắt tôi mà không thể cứu được. Tôi kêu lên một tiếng: Tuân ơi!

Lệnh của tiểu đoàn: Phải giữ ǵn lực lượng không manh động qua cầu khi chưa có lệnh. Tôi lùi lại nắm vai Yên th́ người anh đă mềm nhũn từ khi nào, máu chảy dài trên khuôn mặt anh. Tôi ôm lấy anh mà thấy tim ḿnh buốt nhói trước sự hy sinh thầm lặng của anh cùng với những đồng đội của tôi đă ngă xuống khi thắng lợi đang đến gần.

...

Lệnh của tiểu đoàn: Chuẩn bị đánh địch rút chạy.

Chúng tôi tập họp lực lượng c̣n lại khoảng hơn 20 người và số đạn ít ỏi nằm phục bên đầu cầu. Tiếng pháo xen lẫn tiếng súng các cỡ của quân ta vẫn vang dội phía thành phố, không có tiếng máy bay lên xuống. Mọi kháng cự của địch hầu như thưa thớt, ít ỏi và tuyệt vọng. Chúng tôi hiểu căn cứ Biên Ḥa của địch đang thất thủ trước sự tấn công của quân ta. Rất nhiều nơi trong và ngoài thành phố chiến sự vẫn đang tiếp diễn, những ánh chớp của đạn pháo, của tiếng súng làm chúng tôi hồi hợp chờ giờ giải phóng miền Nam thân yêu. Chúng tôi chờ đợi quân địch rút chạy, nhưng không có động tĩnh ǵ”.

    Theo tài liệu của CS th́ có hơn 60 cán binh của họ bị chết chung quanh hai cầu này (40). Tuy nhiên điểm đáng lưu ư là CS cho rằng họ chiếm giữ được cầu Ghềnh nhưng không đề cập đến t́nh trạng của cầu Đại Hàn (48). Tương tự như vậy, bảng tuyên dương công trạng của trung đoàn 113 đặc công trong chiến dịch HCM cũng chỉ nhắc đến trận đánh hậu cứ của thiết đoàn 15 KB và chiếm giữ cầu Ghềnh mà không đề cập đến cầu Đại Hàn (49). Mặt khác, một bài viết trên báo Quân Đội Nhân Dân lại cho rằng tiểu đoàn 23 và tiểu đoàn 174 thuộc đoàn đặc công 113 đă đánh chiếm cầu Đại Hàn và cầu Ghềnh trong ba ngày 27-29/4/1975 (50).

    TĐT tiểu đoàn 6 TQLC xác nhận cầu Ghềnh được tiểu đoàn 6 TQLC pḥng giữ đến sáng ngày 30/4 và được bàn giao lại cho tiểu đoàn đoàn 4 TQLC. Trong suốt thời gian này không có một biến động nào chung quanh cầu (51).

    Tư lệnh sư đoàn 7 VC gián tiếp xác nhận đơn vị của ông không qua được cầu Ghềnh với lư do cầu yếu nhưng không cho biết lư do tại sao bộ binh cũng không qua cầu được mà đành phải trở lại QL-1 để vào Sài G̣n, chậm trễ việc chiếm mục tiêu dinh Độc Lập mà đơn vị ông đă được chỉ định (52) :

"Cuộc tiến công đánh chiếm các mục tiêu ở Biên Ḥa gặp nhiều khó khăn. Bọn địch ngoan cố nấp ở các nhà cao tầng vẫn bắn vào quân ta. Theo phương án đă duyệt, tôi ra lệnh giải quyết thật nhanh các cuộc cản phá của địch để thần tốc tiến vào Sài G̣n. Nhưng thật không may, đoàn quân đang hối hả chạy đua với thời gian th́ chựng lại ở đầu cầu Ghềnh v́ cầu quá hẹp và yếu, xe tăng không lọt qua được. Ḷng tôi như lửa đốt, lệnh bỏ đường Biên Ḥa - Thủ Đức, quay ra đường I".

    Cùng trong một t́nh trạng, cầu Đại Hàn vẫn c̣n nằm trong tay QLVNCH đến sáng ngày 30/4. Tất cả các đơn vị TQLC đă dùng cầu này để lui binh sang phía tây sông Đồng Nai. Đại tá Trí ghi nhận vẫn c̣n binh sĩ Dù giữ cầu (1). Ông xác nhận một lần nữa sự kiện này và cho biết thêm không quan sát thấy những dấu vết chiến trận chung quanh cầu khi chỉ huy cuộc lui binh của TQLC ngang qua đây vào sáng ngày 30/4 (53).

    CĐT chi đoàn 1/15 KB cho biết cầu đă bị phá sập sau khi đơn vị cuối cùng rút qua (21). Một kư giả Pháp ở lại Sài G̣n sau ngày 30/4 cũng cho rằng tất cả cầu bắc qua sông Đồng Nai đă được đặt ḿn nhưng chỉ một bị phá sập (54).

    Sau buổi họp với tư lệnh phó sư đoàn TQLC về việc tái phối trí các đơn vị, TĐT tiểu đoàn 6 TQLC đă đi xe đến ra lệnh cho hai trung đội giữ cầu Ghềnh và cầu Rạch Cát rút lui. Ông chắc chắn không có chiến trận nào đă xảy ra chung quanh hai cầu này từ ban đầu cho đến sáng ngày 30/4 (31).

    5.2. Cầu Đồng Nai

    Theo tài liệu của CS th́ hai ngày trước khi cầu Đại Hàn và cầu Ghềnh bị tấn công, trung đoàn 116 đặc công đă tấn công đánh chiếm được cầu Đồng Nai và giữ cho đến ngày 30/4 (xem Sơ đồ 13 & H́nh 17).

    Tư lệnh mặt trận B2 của CS viết (55) :

“Đêm 26 tháng 4, Trung đoàn đặc công 116 đă bắt đầu đánh chiếm cầu Đồng Nai nhưng ngày 27 địch phản kích chiếm lại. Đêm 28 tháng 4 đơn vị lại chiếm lại đầu cầu phía đông, đánh sang đầu cầu phía tây và tổ chức chốt giữ pḥng ngự”.

    Tư lệnh phó sư đoàn TQLC ghi nhận sự kiện này (1) :

“Khoảng 18 giờ, sau nhiều lần phản công tái chiếm một vài vị trí đă mất, hai Đại đội Nhảy dù đă phải rút lui trước lực lượng đông đảo của đơn vị thuộc đoàn 116 đặc công của địch. Đường về Sài G̣n trên xa lộ qua cầu Đồng Nai đă bị cắt. Giờ đây chỉ c̣n lại chiếc cầu Đại Hàn duy nhất bắc qua sông Đồng Nai trên quốc lộ 1 c̣n sử dụng được để về Sài G̣n, do hai Đại đội Nhảy dù khác đang bảo vệ”.

    Theo Tướng Trà th́ ngày đặc công tấn công cầu Đồng Nai là 26/4 trong khi Đại tá Trí ghi ngày 28/4. Bảng tuyên dương anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Thượng sĩ Phạm Huy Nghệ, y tá của đại đội 1, tiểu đoàn 19, trung đoàn 116, sư đoàn 2, quân khu 7 của CS viết (56) :

“Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, trận đánh chiếm cầu xa lộ Biên Ḥa ngày 28 tháng 4 năm 1975, sau khi Nghệ xung phong cắt rào, dẫn bộ đội tiến công địch ở khu vực đầu cầu th́ trời sáng. Địch đưa xe tăng từ Long B́nh tới phản kích, anh vác bộc phá lên mặt đường chận đánh xe tăng địch để đơn vị củng cố trận địa. Suốt hai ngày 28 và 29 tháng 4, Phạm Huy Nghệ chỉ huy 1 tổ ngoan cường đánh lui nhiều đợt phản kích của địch ở khu vực Ḷ Gạch, góp phần tích cực cùng đơn vị giữ vững khu đầu cầu, bảo đảm cho các đơn vị qua cầu tiến về Sài G̣n”.

    TĐT tiểu đoàn 5 Dù, đơn vị chịu trách nhiệm bảo vệ cầu trên sông Đồng Nai xác nhận (44) :

·         Ngày 28/4, tiểu đoàn báo cáo căn cứ hải quân đóng phía bên kia cầu Đồng Nai rút lui và phá hủy căn cứ.

·         Tối ngày 29/4, hậu cứ hai tiểu đoàn 5 và 7 Dù tại Tam Hiệp được di chuyển về Sài G̣n.

·         Sáng sớm ngày 30/4, ND bàn giao trách nhiệm giữ hai cầu trên sông Đồng Nai lại cho TQLC v́ TQLC cho biết c̣n khá nhiều quân đóng trong vùng phía đông sông Sài G̣n. Cũng v́ lư do này, tất cả ba cầu qua sông Đồng Nai đều đă được đặt ḿn nhưng không bị phá hủy.

·         Cho đến khoảng 2, 3 giờ sáng ngày 30/4, không có trận đánh nào xảy ra chung quanh 3 chiếc cầu nói trên.

    Một bài báo của CS sau chiến tranh kể lại trận đánh giữa quân chủ lực CSBV với QLVNCH tại cầu này chứng tỏ việc chiếm giữ cầu của đặc công là không có thật. Tuy nhiên như đă trích dẫn ở trên, tác chiến của bộ binh CS cũng không có nốt (57) :

"Mất tuyến pḥng ngự ṿng ngoài ở Nước Trong, sông Buông, địch co lực lượng về "tử thủ" ở ngă ba Long B́nh, cầu Xa Lộ, căn cứ Nguyễn Huệ, Thủ Đức, Học viện cảnh sát, căn cứ Rạch Chiếc, cầu Sài G̣n. Đặc biệt ở cầu Xa Lộ, địch bố trí lực lượng mạnh ở bờ tây sông. Đồng thời chúng sử dụng xe M113 chở đầy đạn pháo, lựu đạn, đạn súng bộ binh sẵn sàng cho nổ để phá cầu. Kiên quyết giữ vững tốc độ tấn công, quân đoàn sử dụng tiểu đoàn H pháo binh tầm xa của lữ đoàn 164 chế áp các trận địa pháo binh ở Long B́nh, sau đó bắn phá các trận địa hỏa lực địch ở bờ tây sông Đồng Nai, yểm hộ cho bộ binh và xe tăng ta chiếm ngă ba Long B́nh và cầu Xa Lộ. 24 giờ, ta đến cầu Xa Lộ, xe tăng và bộ binh ta tiến đánh cụm địch ở bên kia cầu Xa Lộ. Để tránh thiệt hại cho các lực lượng phía sau, ta cơ động tiểu đoàn xe tăng 1 tới sát cầu, bắn nổ tung 3 xe M113 chở đầy đạn ở giữa cầu; sau đó quân ta tràn lên cầu. Địch cho xe tăng dẫn bộ binh ra phản kích. Xe tăng của tiểu đoàn 1 bắn cháy 4 xe địch, số c̣n lại hốt hoảng bỏ chạy về Thủ Đức; Thừa thắng, lúc 3 giờ 15 phút bộ phận đi đầu được lệnh vượt qua cầu".

    Một sĩ quan không quân xác nhận quân nhân thuộc căn cứ không quân Biên Ḥa đă bị lực lượng nhảy dù chặn lại tại cầu Đồng Nai cho đến sáng ngày 29/4. Cầu chỉ được cho phép đi lại khi BTL quân đoàn III ra lệnh di tản (58). Tài liệu của binh chủng thiết giáp CS cũng xác nhận tiểu đoàn 1 thuộc lữ đoàn tăng 203 chỉ có thể vượt cầu Đồng Nai lúc 5 giờ sáng ngày 30/4 (59).

    Có lẽ t́nh trạng chính xác nhất là lời tự thuật của một quân nhân thuộc tiểu đoàn 5 Dù đă chiến đấu tại cầu Đồng Nai (60) :

"Khoảng 2 giờ khuya ngày 27 rạng sáng ngày 28, một đoàn xe từ từ tiến qua cầu, ung dung như chỗ không người, khi tới giữa cầu họ bắn xối xả về phía bên đây, nhưng họ không ngờ rằng ĐĐ 51 và 50 đă chuẩn bị trước và chờ đón họ. Những trái đạn 106 ly cùng với M-72 thi nhau nả đạn, bắn mà không cần nhắm cũng trúng, giống như đánh Bida mà 3 bi đă được gom về lổ dậu. Cuối cùng họ cũng phải tháo chạy về bên kia cầu. Cầu Đồng Nai là nơi chôn vùi hằng trăm chiến binh Cộng Sản miền Bắc, và cũng chính nơi đây danh dự sau cùng của sư đoàn Nhảy Dù trong đó có tiểu đoàn 5 đă được khôi phục. Sáng ra cậu 3 Phương[4] đến nói với tôi : Thái em theo xe phụ giữ an ninh để áp tải 2 tù binh bị thương qua núi Châu Thới để khai thác, v́ lúc đó Thiếu tá Em đang chỉ huy đại đội 52 và 53 đánh bên núi Châu Thới và cầu Gành. Trên đường đi tôi nh́n 2 người tù binh mà ngao ngán, tôi c̣n trẻ mà họ c̣n trẻ hơn tôi nữa khoảng 14, 15 ǵ đó ! Tôi đưa nước và thuốc hút cho họ và hỏi thăm : em có biết tụi anh đang ở bên đây cầu không ? Mà tại sao tụi em dám qua. Cấp trên nói với tụi con là Sài G̣n giải phóng rồi ḿnh chỉ vào tiếp quản thôi, tụi lính ngụy nó nhát lắm bắn hù thôi là nó buông súng bỏ chạy rồi, không ngờ mới tới giữa cầu mà mấy chú bắn dữ quá ! Nghe họ nói mà tôi thấy tội nghiệp, họ là những con người không có lỗi, lỗi là do bọn chóp bu, c̣n họ là người chỉ làm theo lệnh ! Khi xe chạy qua núi Châu Thới vừa tới cầu Hang, tôi thấy Thiếu tá Em ngồi trên TVX M-113, bàn giao 2 tù binh xong. V́ muốn đến thăm những chiến hữu mà một thời đă từng vào sanh ra tử với nhau ở ĐD53 nên tôi đi thẳng lên ĐĐ53 ở cầu Gành cách cầu Hang 2km, vừa tới nơi tôi gặp ngay Trung úy Huỳnh Minh Trí cùng anh em ở trung đội 2 đa năng, nơi tôi đă ở suốt cuộc đời binh nghiệp trước khi về 50 ngày tôi c̣n là anh lính ṭ te được bổ sung vào trung đội của anh Trí, lúc đó anh là chuẩn úy khóa 4/71, nay anh là trung úy đang chỉ huy đánh chiếm lại cầu Gành, gặp tôi anh Trí mừng quá nói : Thái em mang máy giúp anh, nó bỏ máy về trại gia binh lo cho vợ con tối qua sao chưa thấy về, tạm thời em giữ máy liên lạc. VC nó đặt loa kêu gọi ḿnh buông súng hoài ḱa. Cầu Gành phía bên chợ Đồn gần chân núi có cái chùa, VC từ trong đó bắn ra liên tục, trong chiến tranh việc giết qua giết lại là điều phải xảy ra, và họ thừa hiểu rằng người quốc gia tôn trọng những chỗ linh thiêng như chùa, nhà thờ, lợi dụng vào chỗ tôn nghiêm đó họ chiếm toàn bộ khu vực của nhà chùa, đưa người dân ra trước họ núp vào trong, với một t́nh thế khó xử đó, Trung úy Trí quyết định cho đánh đột kích, một toán 7 người do Trung sĩ Vơ Mai vào ngay chính điện, toán thứ hai do Trung sĩ nhất Hải đánh vào bên hông chùa, hôm đó là ngày 28 tháng 4. 19h30 tối, hai toán bắt đầu xuất phát. Ai gây ra nhân tàn bạo th́ rồi phải gặt lấy quả bạo tàn thôi ! Thời gian chầm chậm đi qua, trong ḷng tôi th́ luôn luôn hồi hộp, mới tối qua đánh một trận vào sanh ra tử ở cầu Đồng Nai th́ vào đêm nay lại ở cầu Gành. Tôi liếc nh́n qua Trung úy Trí, trong ánh mắt đó con người đó, cho tôi một cái linh cảm ông là người có quá nhiều kinh nghiệm trong những lần táp-pi. Sĩ quan Nhảy Dù người chỉ huy có trách nhiệm cao nhất là : đảm bảo cho cả đơn vị hoàn thành và làm tṛn nhiệm vụ đó là đánh thắng, chứ không phải chỉ cá nhân người chỉ huy dũng cảm, c̣n người lính th́ tất cả đều chịu sự rũi ro như nhau ! Bóng đêm là đồng lỏa với tội lỗi chuyện đó th́ ai cũng biết, trong bóng tối của đêm nay ai c̣n ai mất, ai có tội và ai là người không có tội ... nghĩ đến điều đó ḷng tôi se lại. Cuộc đánh nhau đêm nay là xảy ra ở cầu Gành miền Nam VN chứ không phải ở miền Bắc, thế th́ ai mới là người đáng được gọi là "người xâm lược", nói như thế là để con cháu chúng ta tự so sánh. Bản tính của người lính VNCH là ôn ḥa và thân thiện, trong thâm tâm người lính họ muốn có một nền ḥa b́nh và hạnh phúc thật sự. Trong thánh kinh có nói  : "có gỏ th́ cửa sẽ mở". Tại sao chiến hữu của tôi và tôi đă gỏ quá nhiều lần mà cửa vẫn đóng ! 3h giờ sáng ngày 29 tháng 4, tiếng súng đầu tiên bắt đầu nổ ra từ hướng của Trung sĩ nhất Hải, tiếng nổ của lựu đạn cùng với tiếng đạn AK, B40, thượng liên của người phía bên kia ḥa lẫn với nhau, tầm đạn đi ngang qua đầu tôi nghe rào rào âm thanh của nó giống như là "cọp nhai đậu phọng". Một con cáo th́ nó có bao giờ tự bẻ răng và lột da của chính nó đâu ? V́ thế mà họ bắn ra dữ quá. Rồi tiếng súng từ hướng của Trung sĩ Vơ Mai cũng đă bắt đầu lên tiếng. 9h giờ sáng ngày 29 tháng 4, toán của Trung sĩ Vơ Mai đă áp sát được bờ tường của chùa. Khi Vơ Mai vừa trèo qua bờ tường th́ một loạt đạn AK cùng với súng thượng liên đồng loạt bắn thẳng vào Vơ Mai, và Vơ Mai gục ngă trên bờ tường chưa kịp nhảy vào phía trong khuôn viên của chùa, khi kéo được Vơ Mai xuống đất, tôi luôn nh́n thẳng vào mặt Vơ Mai, trong lúc nh́n nhau, anh ta thều thào nói ǵ đó ! ... Rồi anh ta lịm dần từ từ đi vào cỏi chết. Trung sĩ Vơ Mai là người đầu tiên nằm xuống trong trận đánh cuối cùng tại cầu Gành mà tôi nh́n thấy. Trong t́nh thế họ ẩn núp trong chùa bắn ra, Trung úy Trí quyết định tập trung hỏa lực bắn thẳng vào chùa. Có bao nhiêu M-72 và M-79 được đem ra sử dụng. Bởi v́ "người ta không thể chiên hột gà ốp la, mà không đập bể trứng". Sập chánh điện ngôi chùa tan nát, 12h30, trung đội làm chủ được khu vực chùa, chợ Đồn và những vùng xung quanh. VC rút về bên kia sông, phía chợ Biên Ḥa. Trong khu vực chánh điện có 4 xác VC, âu đó cũng là luật nhân quả giết người để rồi bị người giết. Nhưng chiến thắng đó chỉ kéo dài được 5 giờ sau, vào lúc 18h giờ chiều trong ngày đó : ngày 29 tháng 4. CSMB tập trung hỏa lực bắn dồn dập vào khu vực của ĐĐ 53, trong đó có trung đội đa năng đang chốt chặn bên đây cầu Gành, nơi tôi đang mang máy cho Trung úy Trí, họ bắn như điên cuồng, liên lạc về đại đội th́ không có ai bắt máy, hoàn cảnh của trung đội lúc đó giống như một đứa con nít bị lạc đường, không c̣n thuốc chữa nữa rồi ... ! Một trung đội không thể ngăn chận được sự tiến quân như vũ băo, biển người của CSMB khi họ muốn tiến về SG, họ đă tràn về như thác lũ, với một lực lượng đông hơn gấp 10 lần, CSMB làm chủ t́nh h́nh ngay từ phút đầu, nhưng với sự chống trả mănh liệt của các Thiên Thần sát địch từng lớp từng lớp bị bắn ngă rạp ngă xuống, nhưng họ vẫn hô hào vẫn tiến tới điên cuồng. Tạm thời ND cũng chặn được bước tiến quân của CSMB vào thời điểm đó. Tôi nói với anh Trí : đích thân ơi ! Nếu ta ở lại sẽ hy sinh thêm bao nhiêu đồng đội nữa, trong khi máy PRC 25 như cục sắt ḍm chơi, không liên lạc được, trong lúc tôi c̣n đang bàng hoàng và ngơ ngác trước một sự thật quá phủ phàng. Chiến tranh ǵ kỳ cục quá, một cuộc chiến không c̣n cấp chỉ huy, không yểm trợ, không tiếp tế, tản thương, máy móc liên lạc không được ... để mà la làng kêu cứu ... ! Đó là sự thật mà tôi là chứng nhân trong cuộc chiến đó, một cuộc chiến trong một đất nước có quá nhiều điều kỳ lạ này. Mười người đánh một th́ chẳng chột cũng què, trong đêm đó Trung úy Trí cho rút quân về cầu Hang nhưng không c̣n ai hết, tiếp tục về núi Châu Thới th́ hay tin ĐĐ 52 đă đi sáng nay rồi một nguồn tin cho hay, có một toán lính Nhảy Dù do Trung úy Bang thuộc ĐĐ 52 đang ở tại cầu B́nh Lợi".

    Những báo cáo lầm lộn như trên cũng là điều thông thường trong chiến tranh. Khi quân đội đồng minh tiến vào đất Bĩ vào tháng 9 năm 1944, trinh sát báo cáo các cầu đă bị Đức phá sập nhưng thực sự không đúng như vậy (61).

    Nhân dịp kỷ niệm 35 năm ngày đánh chiếm Sài G̣n, cựu Chính ủy sư đoàn 304 xác nhận sư đoàn của ông đă cùng với trung đoàn 116 đặc công tấn công cầu Đồng Nai vào sáng ngày 29/4 (6). Chi tiết này được xác nhận qua báo cáo của Tướng Lê Trọng Tấn, Phó tư lệnh chiến dịch HCM đồng thời là CHT cánh quân phía đông, về TTL quân đội CSBV ngoài Hà Nội (62) :

“Trong cuộc giao ban buổi tối, Tổng tư lệnh đă được báo cáo: Quân đoàn 4 tiến chậm v́ địch ngoan cố chống cự. Quân đoàn 2 phát triển thuận lợi hơn. Đơn vị thọc sâu của quân đoàn này đă ṿng qua căn cứ Long B́nh, đang phát triển theo xa lộ. Theo điện đêm nay của ông Lê Trọng Tấn th́ do t́nh h́nh tiến quân của các quân đoàn đang thuận lợi, nhưng lúc này đội h́nh của cả cánh quân hướng Đông c̣n cách vùng ven từ 15 đến 20km, đang vừa đánh địch vừa tiến quân, lại phải vượt sông Đồng Nai và sông Sài G̣n. Nếu để đến sáng (30-4) mới cùng các hướng đồng loạt nổ súng th́ sẽ không đến kịp. Theo tinh thần chỉ đạo của Tổng hành dinh, Tư lệnh cánh quân hướng Đông đă cho nổ súng trước”.

    Như vậy việc tấn công cầu Đồng Nai chỉ có thể xảy ra, sớm nhất là chiều ngày 29/4. Tấn công cũng không có nghĩa là chiếm được ngay.

    Phản ứng tại sở chỉ huy tiền phương của quân đoàn 4 CS khi nhận được tin BTL quân đoàn III/ QLVNCH di chuyển qua phía tây sông Đồng Nai vào trưa ngày 29/4 đă được ghi lại như sau (63) :

    “Quân đoàn phó nghĩ tới đó, lập tức ông cầm máy điện thoại gọi chủ nhiệm pháo binh quân đoàn:

-Alô, anh nghe rơ không? Chú ư, có tin bộ tư lệnh quân đoàn 3 ngụy đă chạy về bên tây sông Đồng Nai, chúng rút hết, có thể chúng sẽ phá cầu ngăn chận ta, anh biết đấy, với hai con sông lớn đó việc làm cầu quân sự, hoặc ghép phà dưới hỏa lực của hàng trăm khẩu pháo là một việc hết sức gay go. V́ vậy tôi ra lệnh dùng hai khẩu 130 ly đặc trách kiềm chế địch ở hai đầu cầu, hai bên cầu, bắn cầm canh, không cho địch phá cầu. Trong lúc bộ binh ta chưa chiếm được cầu th́ pháo phải làm nhiệm vụ đó. Anh rơ chưa? Rơ rồi à? Chấp hành ngay từ giờ phút này.

Quân đoàn phó bỏ máy xuống, nh́n đăm đăm vào khoảng không trước mặt. Nếu bọn địch phá những chiếc cầu lớn ấy th́ thật là một điều vô cùng tai hại, nó sẽ tạm thời chặn được xe tăng, pháo binh của các mũi tiến quân của ta ở bên này sông. 0 giờ đêm nay, ngày 30 tháng 4, cuộc tổng công kích vào Sài G̣n đă bắt đầu rồi. Phải mở ngay một cuộc chạy đua với địch không th́ sẽ khó khăn lớn. Ông đứng lên, lông mày hết nhíu lại rồi dăn ra, ông bước tới một chiếc máy điện thoại khác gọi về sở chỉ huy cơ bản báo cáo tin quan trọng đó và đề nghị ư kiến xử trí”.

    Như vậy quân đội CS vẫn chưa chiếm được các cầu bắc qua sông Đồng Nai trong ngày 29/4.

    5.3. Cầu Rạch Chiếc

    Để duy tŕ tốc độ tiến công trong hành tiến, các lực lượng địa phương của CS thay v́ phá hoại giao thông, cầu cống như trước đây đă được lệnh phải đánh chiếm và bảo vệ các cầu trên những tuyến đường chính dẫn vào Sài G̣n như cầu Hóa An, B́nh Triệu, Đồng Nai, Tân Cảng (phía bắc và phía đông), cầu Bông, cầu Xáng (phía tây-bắc), cầu Bến Lức, An Lạc (phía tây-nam).

    Đường tiến quân của hai quân đoàn 2 và 4 CS, trên quốc lộ số 1 (ngày nay là quốc lộ 1K), đoạn từ Biên Ḥa vào Sài G̣n có ba cầu quan trọng là cầu Đồng Nai, cầu Rạch Chiếc và cầu Tân Cảng (hay c̣n gọi là cầu Sài G̣n).

    Thực hiện mệnh lệnh của BCH chiến dịch HCM, lữ đoàn đặc công 316 và một đại đội của trung đoàn đặc công biệt động 116 tổ chức đánh chiếm và giữ cầu Rạch Chiếc (xem Sơ đồ 14-16 & H́nh 18-20). Lực lượng giữ cầu của QLVNCH gồm khoảng hai đại đội không rơ đơn vị.

    Trận đánh tại đây đă được tài liệu của CS ghi lại như sau (64) :

    “Đêm 27 rạng 28 tháng 4, khoảng 3 giờ sáng, khi Tiểu đoàn 4 Thủ Đức bắt đầu đánh chiếm cầu Sài G̣n th́ Lữ đoàn 316 nổ súng mănh liệt tấn công chốt địch trên cầu Rạch Chiếc. Địch phản ứng quyết liệt bằng tất cả các loại súng ... Pháo, cối ở một số bốt xung quanh cũng cấp tập bắn vào trận địa để ứng cứu đồng bọn. Nhưng với lối đánh sở trường thọc sâu, chia cắt, các chiến sĩ đặc công đă tiêu diệt, bắt tù binh và đánh tan ră bọn lính chốt cầu, làm chủ trận địa sau hơn một giờ chiến đấu liên tục.

Mờ sáng ngày 28 tháng 4, được máy bay, tàu chiến và xe tăng yểm trợ, quân ngụy tổ chức tái chiếm cầu Rạch Chiếc từ ba hướng. Chiến sự diễn ra vô cùng ác liệt. Ở phía đông cầu, Z22 và Z23 đặc công - biệt động đánh bật nhiều đợt phản kích của xe tăng và bộ binh địch. Nhưng nhờ vào sự tăng viện của liên trường Thủ Đức, lại có xe tăng dẫn đầu đột phá, địch phản kích rất mạnh ḥng chiếm lại trận địa. Do súng đạn bị hư hỏng, tiêu hao, các chiến sĩ ta phải dùng cả vũ khí thu được của địch để chiến đấu. Nhiều chiến sĩ bị thương vong do súng hết đạn. Trước sự phản kích điên cuồng của địch, một mũi tiến công của ta tạm phải rút lui. Khi vượt qua băi trống và băng sông dưới hỏa lực của địch, hàng chục cán bộ, chiến sĩ đă hy sinh.

Dưới chân cầu Rạch Chiếc, một bộ phận của Tiểu đoàn 81 làm nhiệm vụ chốt giữ cầu phải đẩy lùi nhiều đợt phản kích của xe tăng, bộ binh địch, có tàu chiến dưới sông yểm trợ. Nhiều toán địch cố vượt qua điểm chốt chặn của Z22, Z23, lao lên mặt cầu. Dưới sông, ca nô địch dùng hỏa lực khống chế cho bộ binh xông lên chiếm lô cốt đầu cầu phía đông. Trận chiến giằng co trong khói lửa mịt mù tràn ra cả mặt sông. Nhiều chiến sĩ ta leo lên lô cốt dùng lựu đạn thủ pháo ném tới tấp vào đội h́nh địch rồi xông lên đánh ‘giáp lá cà’ với chúng. Hàng chục tên địch bị diệt tại chỗ, nhưng số c̣n lại vẫn cố sống cố chết bám trên cầu. Địch tiếp tục cho xe tăng bắn mạnh, áp chế hỏa lực của ta cho bọn bộ binh tiến lên cầu, nhưng các đợt phản kích của chúng đều bị đánh bật trở lại ...

Đến trưa 28 tháng 4, do bị thương vong nặng, đơn vị giữ cầu buộc phải rút khỏi trận địa, dưới tầm oanh kích dày đặc của địch. Mặc dù vậy, anh em vẫn cố gắng đưa thương binh và vũ khí ra khỏi khu vực cầu Rạch Chiếc. Bộ phận chốt chặn ở ngă ba Cát Lái cũng rút về Ruột Ngựa để củng cố. Lúc này đă có hơn 40  cán bộ, chiến sĩ hy sinh, hàng chục đồng chí bị thương, vũ khí hao hụt, nhưng tinh thần anh em vẫn giữ vững. Tin các đơn vị chủ lực trên các hướng đang thần tốc tiến về Sài G̣n, làm mọi người thêm phấn chấn, quyết tâm hoàn thành trọng trách trong giờ phút lịch sử của dân tộc.

Sau khi hội ư rút kinh nghiệm và để thực hiện quyết tâm của trên, đêm 28 tháng 4, hơn 100 cán bộ, chiến sĩ c̣n lại của Lữ đoàn 316 và Trung đoàn 116, tổ chức tiến công chiếm lại cầu Rạch Chiếc. Trong đêm tối, các chiến sĩ đặc công dùng hỏa lực B40, B41, thủ pháo ... bí mật tiếp cận, bất ngờ nổ súng đánh bật xe tăng và bộ binh ngụy khỏi mặt cầu. Địch hoảng loạn tháo chạy về phía đông Rạch Chiếc, bỏ lại nhiều xác đồng bọn và xác xe tăng. Đơn vị nhanh chóng làm chủ toàn bộ trận địa, chốt giữ và bám trụ, tiếp tục đánh lui nhiều đợt phản kích mới của địch.

Lúc này tàn quân địch ở Long Khánh, Biên Ḥa, Bà Rịa ... rút chạy về Sài G̣n đều bị chặn lại ở phía đông cầu Rạch Chiếc.

Sáng 30 tháng 4, địch cố gắng phản kích lần cuối cùng ḥng t́m lối thoát một cách tuyệt vọng trước sức chiến đấu kiên cường của các chiến sĩ đặc công - biệt động cảm tử”.

    Một kư giả báo Quân Đội Nhân Dân mô tả trận đánh sáng ngày 30/4 (65) :

“Mờ sáng ngày 30-4-1975 đội h́nh hành quân tới cầu Rạch Chiếc th́ găp lực lượng địch nổ súng chống cự. Đồng chí trung úy Trần Văn Kim, trưởng tiểu ban tác chiến trực tiếp chỉ huy lực lượng bộ binh tiểu đoàn 7 cùng với đặc công chiến dịch chiến đấu quyết liệt khoảng 20 phút. Thấy lực lượng của ta mạnh địch bỏ chạy. Đội h́nh lại tiếp tục hành quân trên xa lộ Biên Ḥa - Sài G̣n”.

    Một tài liệu khác cũng của CS ghi nhận những thiệt hại của đặc công (66) :

    “Ở hướng đông bắc ngày 28-4 Lữ đoàn 316 đặc công đă phối hợp với lực lượng địa phương đánh chiếm và chốt giữ cầu Rạch Chiếc, giữ cầu Sài G̣n, cho Quân đoàn 2 tiến vào dinh Độc lập. Trận đánh rất ác liệt gần 2 ngày đêm, các chiến sĩ đặc công hi sinh 52 đồng chí.

Đây là tập thể hi sinh lớn nhất tại vùng ven thành phố trong ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh”.

    TMT tiểu đoàn 81, đơn vị CS tấn công cầu Rạch Chiếc kể lại (67) :

    “Tiểu đoàn chúng tôi nhận đầu cầu phía nam, thần tốc và bất ngờ nên chỉ vài chục phút đă chiếm được căn cứ. Sáng 28, Đỗ Ngọc Long đang ôm khẩu B40 ngắm bắn th́ bị trúng một quả đạn M79. Đến trưa, Nguyễn Văn Linh đang xả súng vào một toán quân tiếp viện của địch từ Sài G̣n xuống th́ bị trúng đạn. Tôi chỉ nghe em gọi: ‘Anh ơi, em chết rồi ...’. Chiều 28, Quyết bị trúng đạn từ máy bay bắn xuống khi đang ở trong chốt chỉ huy của địch ...

Thế trận giằng co như vậy giữa một bên là người, một bên là xe tăng, máy bay. Trong khi dùng máy kỹ thuật bắt sóng chỉ huy của địch, tôi phát hiện: địch xác định vị trí quân ta ở những chỗ không có lá cờ ba sọc và chỉ điểm xả rocket xuống. Ngay lập tức tôi ra lệnh cho anh em không bắn hạ cờ mà c̣n kéo cờ lên trong những chốt ḿnh đă chiếm được, trong những chỗ đang giao tranh giáp lá cà. Nhờ vậy mà hạn chế được thương vong. Đến đêm 29 rạng  sáng 30 chúng tôi mới chiếm trọn được hai đầu cầu. Tiểu đoàn 81 mất thêm hai chiến sĩ nữa khi chiếc máy bay cuối cùng của địch đến xả đạn. Sang được đầu cầu phía bắc, chúng tôi thừa thắng chiếm luôn nhà máy xi măng, nhà máy nhiệt điện, nhà nghỉ mát của Nguyễn Văn Thiệu. Nhưng quan trọng nhất là chúng tôi đă lấy lại được thi hài của em Tầm, một chiến sĩ của Z22. Em bị địch bắt từ đêm 27, cương quyết không khai chiến lược [sic] của quân ḿnh nên bị chúng chặt đầu cắm ở đầu cầu ...

10 giờ sáng 30-4 tôi nghe tiếng xe tăng đến. Anh em đă chuẩn bị ngắm bắn th́ chợt trông thấy ngôi sao vàng trên lá cờ. Chúng tôi vui mừng quá nhưng vẫn rất căng thẳng, vẫn sẵn sàng tư thế chiến đấu. Đến chiều chúng tôi mới vào Sài G̣n bằng xe lấy được của địch, mới được lấy quân phục ra mặc ... 52 anh em đă măi măi nằm lại nơi cửa ngơ thành phố, đă không được thấy Sài G̣n ...”.

    Sau chiến tranh, Đại tá Nguyễn Văn Tào, nguyên Chính ủy lữ đoàn 316 cho biết trong các đơn vị phụ trách chiếm giữ cầu Rạch Chiếc th́ tiểu đoàn 81 có 52 người chết; phân đội Z23 đặc công nước do Đại úy Trần Kim Thinh chỉ huy gần như bị tan ră, quân số trên 50, cuối trận đánh chỉ c̣n 3 người (68).

    Một người dân Sài G̣n vẫn c̣n nghe tiếng súng nổ từ hướng cầu Rạch Chiếc vào sáng ngày 30/4 (69) cùng với sự kiện chiến đoàn của TTG đă lui binh về đến cầu Rạch Chiếc và qua cầu an toàn sau đó khiến người ta có thể kết luận là chiến trận vẫn c̣n tiếp diễn tại đây cho đến khi có lệnh đầu hàng.

    Cũng nằm trên hướng tiến quân của quân đoàn 2 CS là huấn khu Thủ Đức và học viện CSQG. Trung đoàn 66 thuộc sư đoàn bộ binh 304 cùng với lữ đoàn xe tăng 203 trên đường tiến về cầu Rạch Chiếc tiếp tục bị pháo kích nên đă gửi một phân đội chiến xa trở lại với mục đích t́m diệt pháo binh. Sau hai giờ tấn công, quân CS đàn áp được học viện CSQG. Họ tiếp tục đánh vào huấn khu Thủ Đức. Các quân nhân pḥng thủ huấn khu vừa đẩy lui đợt tấn công đầu tiên từ hướng tây th́ có lệnh đầu hàng của Tổng thống Minh.

    Bị thiệt hại nặng nên Cộng quân đổi chiến thuật, dùng chiến xa đánh vào cổng chính của huấn khu. Tài liệu của CS viết (70) :

“Lúc 9 giờ 30 phút [sic], Dương Văn Minh tuyên bố trên đài phát thanh kêu gọi đơn phương ngừng bắn và bàn giao chánh quyền cho cách mạng, ḥng kéo dài thời gian tồn tại. Nhưng thực chất quân địch ở nhiều nơi vẫn ngoan cố chống cự cách mạng. Pháo địch từ phía đông xa lộ Sài G̣n - Biên Ḥa bắn ra cắt đội h́nh lữ đoàn xe tăng 203. Một phân đội của lữ đoàn 203 rẽ vào diệt chúng ở liên trường Thủ Đức (ở Cây Mai). Tại đây, xe tăng 707 của lữ đoàn 203 đă phải chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và người cuối cùng”.

    Trong khi đó, tài liệu chính thức binh chủng thiết giáp của CS tŕnh bày diễn tiến trận đánh với chi tiết khác đi ít nhiều (71) :

“Lúc này ta tiến quân theo xa lộ, đường tốt và rộng, lại giữa ban ngày nên xe tăng tiến rất nhanh, đánh lướt qua nhiều tuyến ngăn chặn của địch. 5 giờ 20 phút, bộ phận đi đầu của đội h́nh thọc sâu đánh tan quân địch ở ngă ba Thủ Đức. Khi đi ngang qua Suối Cái, Thủ Đức, quân ngụy ở liên trường huấn luyện sĩ quan địch dùng pháo bắn tới tấp vào đội h́nh quân ta. Một xe tăng trúng đạn, cả xe hy sinh. Ba khẩu pháo 37mm bị hỏng. Theo sự chỉ dẫn của đồng chí Tống Viết Dương, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 203 lệnh cho hai xe, một băng đồng, một ṿng vào hướng chợ Nhỏ, tiêu diệt ngay trận địa pháo địch ở liên trường (thuộc địa phận xă Tăng Nhơn Phú)”.

    Sự thật đă được một sĩ quan thuộc huấn khu Thủ Đức kể lại như sau (72) :

    “Chiếc T54 chưa chạm cổng số 9 đă quay nhanh về lại hướng cũ, vừa chạy vừa tác xạ liên tục. Chiếc T54 vừa lăn xích qua khỏi Vũ Đ́nh Trường đột nhiên tất cả kháng tuyến hai bên đường đồng loạt nổ súng như mưa vào chiến xa, nhắm thẳng vào tên xạ thủ đại liên trên pháo tháp trong lúc hắn tác xạ hai bên đường ra. Không biết hắn bị bắn gục lọt xuống ḷng xe hay hoảng hốt chui vào tránh đạn, hắn biến mất sau vài tràng đạn trên pháo tháp.

Không c̣n bị đại liên uy hiếp, các ổ M72 dọc hai bên hông chiến xa, từ hai phía, mặt Đông: Trung Tâm Thể Dục Thể Thao, Trường Quân Nhạc và mặt Tây: Trường Quân Báo Cây Mai và Trường Tổng Quản Trị ... đồng loạt phóng hỏa tiển tập trung vào chiến T54. Chiếc T54 bị vây trong lưới lửa, kinh hoàng rú ga. Một quả, hai quả, ba quả và hàng loạt quả, cái trúng cái trật, nhưng một quả M72 phóng từ hướng Đông phía Trường thể Dục Thể Thao trúng thẳng vào xích sắt chiếc T54 làm nó đứt xích khựng lại và rung người lên v́ sức nổ. Tuy nhiên nó vẫn cố lết về hướng cổng số 1 để hy vọng thoát ṿng vây. Xích sắt bên trái chiến xa đứt ĺa ra, đầu chiến xa xoay thẳng vào hướng Khu Tiếp Tân khựng lại cách cổng số 1 không xa.

Quân ta trong chiến hào đứng vụt dậy reo ḥ như tham dự một trận đánh hào hứng đẹp như trong xi nê. Chiếc T54 nằm cọ quay ngay tại chỗ nhưng chưa cháy. Bỗng người ta thấy một sinh viên sĩ quan trường Bộ Binh đứng bật dậy khỏi hố chiến đấu, ném ống M72 xuống đất, phóng ra khỏi hố, rút chốt lựu đạn chạy thẳng về chiếc T54, nhảy vọt lên xe và thảy vào ḷng chiến xa rồi nhảy khỏi xe. Một tiếng nổ long trời trong ḷng xe T54 tiếp theo là những tiếng nổ phụ của các loại đạn trong xe. Người sinh viên sĩ quan gan dạ đó không quay đầu lại cho đến khi anh nhảy lọt vào hố chiến đấu. Anh đứng thẳng người nh́n khói bốc ra từ chiến T54 bất động. Tiếng reo ḥ của quân ta lại vang lên khắp các chiến hào”.

    Kết quả trên đă được một quyển sách khác của CS mô tả (73) :

“Cách đánh địch trong hành tiến phải kiên quyết, táo bạo và linh hoạt. Trường hợp gặp địch ngăn cản dọc đường phải t́m cách ḱm chế, đánh lướt qua, hoặc vừa đánh địch trước mặt vừa đánh ṿng sau lưng địch, buộc chúng phải tháo chạy. Như trong trận đánh địch ở ngă tư Thủ Đức, chiếc xe tăng do đồng chí Trần Quang Nhàn chỉ huy đă dũng mănh thọc sâu vào phía sau trường quân sự Thủ Đức, buộc bọn sĩ quan và học sinh [sic] ở đây phải tháo chạy”.

    Huấn khu Thủ Đức buông súng đầu hàng lúc 13 giờ.

    5.4. Cầu Tân Cảng (cầu Sài G̣n)

    Khu vực Tân Cảng được xây dựng để giải tỏa sự ứ động của cảng Sài G̣n khi cường độ chiến tranh gia tăng. Công tŕnh của lục quân Mỹ được bắt đầu năm 1966 và hoàn tất khoảng 15 tháng sau đó. Bến tàu dài 1200 m, rộng 24 m, bến nghiêng rộng 40 m với 8 kho chứa hàng có diện tích 16800 m2. Bến cảng được thiết kế với khả năng để hai dương vận hạm (LST) cập bến cùng một lúc cũng như để có thể bốc dở hàng cho bảy xà-lan. Khả năng bốc dở hàng lúc bấy giờ là 80000 tấn mỗi tháng để cung cấp hàng tiếp liệu cho các đơn vị đồng minh đồn trú trên lănh thổ hai quân khu 3 và 4 của VNCH. 

    Sau khi chiếm miền Nam và kéo dài cho đến năm 1989, nhiều đơn vị quân đội CSBV thay nhau tiếp quản nhưng lại không trùng tu, bảo quản nên Tân Cảng ở trong t́nh trạng suy thoái.

    Ngày 15/3/1989, bộ trưởng quốc pḥng của chính quyền CS ra quyết định số 41/QP thành lập Quân Cảng Sài G̣n trực thuộc hải quân. Tuy nhiên do thời bao cấp, bế quan tỏa cảng, Tân Cảng chỉ tiếp nhận một số rất nhỏ các thương thuyền.

    Ngày 29/3/1989, chủ tịch hội đồng bộ trưởng (nay là thủ tướng chính phủ) ban hành quyết định số 77/QĐ-HĐBT công nhận quân cảng Sài G̣n là một doanh nghiệp quốc pḥng với tên mới là Công Ty Tân Cảng Sài G̣n (Saigon Newport Company), gồm bốn vị trí (74) :

·         Bến Tân Cảng (có diện tích tổng cộng là 320000 m2 )

·         Bến Cát Lái (600000  m2)

·         Khu công nghiệp Sóng Thần (500000 m2)

·         Khu kho Nhơn Trạch (8100 m2).

    Khả năng chuyển vận hàng là 1.7 triệu TEU[5] trong năm 2006.

    Cầu Tân Cảng do công ty Mỹ Johnson - Drake & Piper xây cất từ tháng 11/1958 và đến tháng 6/1961 th́ hoàn tất. Cầu có tất cả 22 nhịp và dài 1010 m. Năm 1998, với viện trợ của Pháp, công ty Preyssinet (công ty đă từng xây cất cầu chữ Y), giúp mở rộng ḷng cầu từ 19.63 m ra 24 m. Cầu nối liền đường Điện Biên Phủ (đường Phan Thanh Giản cũ) thuộc quận B́nh Thạnh và xa lộ Hà Nội (xa lộ Sài G̣n - Biên Ḥa cũ) của quận 2 (xem H́nh 21-24).

    Theo bảng tuyên dương anh hùng trong chiến dịch HCM th́ đại đội đặc công huyện Thủ Đức do Dương Văn Th́ chỉ huy đă đánh chiếm cầu Tân Cảng ngày 25/4/1975 (75).

    Một kư giả người Anh kể lại trận đánh như sau (76) :

“Cầu Tân Cảng như được biết được đặt theo tên của bến cảng kế cận do người Mỹ xây cất, đây là một cấu trúc kiên cố bằng thép bắc qua sông dài khoảng 100 thước Anh [sic]. Đi đến cầu bằng một con đường rộng và dốc cao ở khoảng giữa. Cùng với một kư giả và một toán chuyên viên quay phim của đài truyền h́nh BBC, tôi bước đi về phía cầu nhưng ngay lập tức chúng tôi phải ḅ càng xuống đất bởi một tràng đạn rít ngang qua đầu. Chúng tôi khám phá thấy quân CS trú ẩn bên cạnh cầu phía bên kia sông và từ những hố cá nhân cạnh bờ sông họ tác xạ vào bất cứ cái ǵ di chuyển ngang qua cầu. Cũng giống như những trận đánh trước đây tại Việt Nam, trận đánh kéo dài suốt ngày trong vùng Tân Cảng, nhỏ nhưng rất mănh liệt. Theo những sĩ quan QLVNCH mà chúng tôi hỏi chuyện th́ địch quân chỉ có khoảng 50 người. Tuy nhiên nhờ hố đào sâu vào tối ngày hôm qua, quân đội chánh phủ mặc dù có quân số trội hơn và được không yểm vẫn chưa thể đánh bật họ ra được. Tôi đến quan sát trận đánh hai lần trong ngày hôm nay, di chuyển thận trọng giữa những ngôi nhà bằng ván dọc theo con lộ cho đến khi tôi leo lên được cầu. Từ một hầm núp bằng bao cát ở giữa và một phía bên cầu, tôi có thể quan sát trận đánh xảy ra chỉ cách đó khoảng 100 thước Anh. Lính nhảy dù của QLVNCH được yểm trợ bởi một vài chiến xa đang cố gắng đánh bật cộng quân ra khỏi bờ sông, tuy nhiên mỗi lần quân chính phủ tiến lên th́ bị hỏa lực của địch quân chận lại. Có lúc tôi nh́n thấy một người lính CS ló ra khỏi hầm núp và giơ cao khẩu súng tự động. Anh ta bị bắn chết ngay tức khắc bởi những tràng đạn của QLVNCH, tuy nhiên những đồng chí của anh ta vẫn quyết giữ vững vị trí và không chịu rút lui. QLVNCH có một pháo đội ở phía sau và bắn phá vị trí của quân CS trong suốt buổi sáng, đạn rít trên đầu và nổ cách đó khoảng vài trăm thước Anh. Nhiều quả đạn quá tầm và trúng vào một kho cũ của Mỹ gây ra một đám cháy kéo dài suốt ngày. Trưa lại, QLVNCH đưa thêm hai tiểu đoàn CSDC đến tăng viện và sử dụng trực thăng vũ trang để bắn phá hệ thống pḥng thủ của quân CS. Ḅ lên đầu cầu, tôi nh́n thấy trực thăng lượn ṿng trên bờ sông, bắn từng loạt đạn và hỏa tiển. Cuộc bắn phá có vẻ như phá tan nát bờ sông và tôi tự hỏi, như thông thường trong quá khứ, là làm sao người lính CS có thể tiếp tục được che chở và sống trong những lỗ bùn như vâäy. Tuy nhiên cứ mỗi khi trực thăng ngừng tác xạ th́ chúng tôi vẫn nghe những tràng đạn trả lời của địch quân, và mỗi lần như vậy chúng tôi đều cúi thấp xuống trong hầm núp khi những viên đạn rít qua đầu. Tôi rời khỏi cầu vào lúc 3 giờ chiều và quân CS vẫn c̣n tiếp tục chịu đựng tất cả những ǵ mà QLVNCH có thể ném vào họ”.

    Trận đánh theo tư lệnh quân đoàn 2 của CS (3) :

    “9 giờ 30 sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975 phân đội đi đầu của lực lượng thọc sâu do lữ trưởng xe tăng thiết giáp 203 chỉ huy đă tiến sát cầu Sài G̣n. Giống t́nh huống cầu Xa Lộ (Đồng Nai), cầu Sài G̣n cũng được bộ đội đặc công bảo vệ không cho địch phá. Nhưng bọn địch vẫn c̣n dày đặc ở phía nam cầu và dùng chướng ngại vật để ngăn cản bước tiến của quân ta. Khi phát hiện lực lượng ta, địch dùng hỏa lực của 8 chiếc xe M.113, bốn xe M.41 và hỏa lực của sáu chiếc tàu chiến đậu ở Tân Cảng, kết hợp với bộ binh ở phía tây đường chống cự quyết liệt. Ngay những phút đầu ta đă bị thiệt hại, hai chiếc xe tăng bị bắn cháy, một số cán bộ chiến sĩ đă anh dũng hy sinh trên cầu. Để dập tắt các ổ hỏa lực hiểm ác của địch, tiểu đoàn 9 (trung đoàn 66) thuộc sư đoàn 304 đă nổ súng tiêu diệt bọn địch co cụm ở gần ngôi chùa phía tây xa lộ. Pháo 85 của trung đoàn 68 cùng với ĐKZ của trung đoàn 66 bắn cháy 2 tàu chiến. Được hỏa lực pháo chi viện đắc lực, trung đoàn 66 cùng với xe tăng của lữ đoàn 203 đă đột phá qua cầu trong khoảng 30 phút.

Mười giờ đội h́nh thọc sâu đă tới cầu Thị Nghè. Bốn chiếc xe tăng địch phục kích ở đây, chưa kịp hành động ngăn chận, đă bị các chiến sĩ của ta dùng súng chống tăng bắn cháy”.

    Lữ đoàn trưởng lữ đoàn xe tăng 203 mô tả cùng một trận đánh (77) :

“Tiến về cầu xa lộ sông Sài G̣n, một xe thiết giáp chỉ huy bị trúng đạn, bốn cán bộ chiến sĩ hy sinh và bị thương. 8 giờ 30 phút sáng tiểu đoàn xe tăng dẫn đầu đội h́nh đă tiếp cận cầu xa lộ sông Sài g̣n. Địch pḥng thủ ở đây có tổ chức với đủ các loại hỏa lực. Tư lệnh cho chúng tôi dùng hỏa lực chế áp, nhanh chóng vượt qua chiếm cầu. Chúng tôi lệnh cho Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn xe tăng 1 triển khai hỏa lực chế áp mục tiêu địch trên và bên kia cầu, cho xe tăng tốc độ vượt qua chiếm cầu. Sau khi đă dùng hỏa lực chế áp. Tiểu đoàn trưởng xe tăng Ngô Văn Nhỡ cho hai xe tăng tốc độ vượt cầu. Hai xe tăng tiến lên đều bị địch bắn hỏng. T́nh thế lúc này rất khẩn trương, Ngô Văn Nhỡ mở nắp cửa xe, nhô nửa người ra khỏi tháp pháo, quan sát kỷ từng hỏa điểm địch, chỉ huy trận đánh. Địch bên tây cầu đă bắn trúng anh, anh hy sinh nằm vắt ngang trên tháp pháo tay vẫn chỉ về hướng cầu. Địch lợi dụng thế cong của cầu, bố trí xe tăng M48 đứng trên cầu phía tây, bên ta chỉ thấy ló lên tháp pháo. Lữ đoàn phó Trần Minh Công lên trực tiếp chỉ huy. Anh tập trung hỏa lực xe tăng mới bắn cháy được xe tăng M48 đứng trên cầu. Xe cháy, lửa và khói bốc lên bao phủ một đoạn cầu. Lợi dụng khói lửa, che khuất, chúng tôi nhanh chóng cho đội h́nh vượt qua chiếm cầu, tiến vào thành phố”.

    Trung đoàn phó trung đoàn 66, sư đoàn 304, quân đoàn 2 của CS ghi lại lúc sáng ngày 30/4 (78) :

    “Khoảng bảy giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, trung đoàn chúng tôi hành quân đến đầu cầu Sài G̣n. Lúc này, địch pḥng ngự bên kia cầu Sài G̣n chống cự rất quyết liệt, đội h́nh thọc sâu phải dừng lại bên này cầu. Khoảng bảy giờ ba mươi phút, đồng chí Hoàng Đan lúc đó là Tư lệnh phó quân đoàn đi từ Sở chỉ huy Quân đoàn đến giao nhiệm vụ cho tôi lên kiểm tra t́nh h́nh cụ thể và đưa pháo chống tăng cùng hỏa lực của trung đoàn, kết hợp chặt chẽ với pháo trên xe tăng chiến đấu tiêu diệt địch để giải phóng cầu, mở đường cho đội h́nh binh đoàn thọc sâu tiến công. Lúc đó tôi đi chiếc xe Zeep [sic] cùng với hai đồng chí trợ lư tác chiến, một đồng chí trợ lư trinh sát, hai đồng chí vệ binh, hai đồng chí thông tin tiến đến cách cầu khoảng ba trăm mét. Lúc này, địch ở bên kia cầu bắn rất mạnh nên chúng tôi phải men theo bức tường thấp chia đôi xa lộ để tiến đến sát cầu. Đồng thời pháo xe tăng cùng pháo 85 của sư đoàn phối hợp với đại đội ĐKZ của Trung đoàn 66 đă triển khai đội h́nh trên toàn cầu và tiêu diệt một số ụ súng bên kia cầu. Khoảng tám giờ ba mươi phút, bọn địch bên kia cầu bỏ chạy, một số xe tăng địch chạy bị trúng đạn của pháo trong xe tăng ta nổ rất mạnh rồi bốc cháy nhưng đoàn xe của chúng tôi vẫn chưa qua được. Khoảng chín giờ, đạn nổ thưa dần, đội h́nh thọc sâu của chúng tôi tiếp tục tiến qua cầu. Khi đoàn xe tăng của ta  qua cầu, tôi lên xe Zeep [sic] đi cùng với lực lượng xe tăng đi đầu dựa theo sơ đồ để tiến vào Thành phố.

Đến ngă tư Hàng Xanh, chúng tôi rẽ trái qua cầu Thị Nghè, qua Thảo Cầm Viên, theo đường Hồng Thập Tự rồi tiến thẳng vào dinh Độc lập. Sau khi chiếc xe tăng húc bật cánh cổng dinh Độc lập, tiếp theo đó, một xe tăng khác lao vào, sau đó là chiếc Zeep [sic] của tôi tiến vào đến sân dinh Độc lập”.

    Trưa ngày 30/4, kư giả người Anh trên trở lại cầu Tân Cảng và viết tiếp (76) :

“Tại cầu Tân Cảng nơi mà cách đây mấy ngày tôi đă theo dơi những người lính QLVNCH, một chiếc chiến xa của quân chính phủ bị bắn hạ nằm giữa đường với ṇng súng hướng về phía các ruộng lúa nơi quân CS đă ẩn núp. Quan sát chiến xa tôi thấy nó bị hạ bởi hỏa tiển trúng vào pháo tháp. Có sự kháng cự của QLVNCH tại những chiếc cầu sau cùng dẫn vào Sài G̣n. Một toán truyền h́nh của đài BBC đă ở tại cầu này hồi sáng cho biết xe của họ đă bị quân chính phủ tịch thu. Những người lính sử dụng chiếc xe để tăng cường cho hệ thống pḥng thủ chống chiến xa của họ, nhưng chiếc xe du lịch của Nhật không giữ được quân CSBV được lâu. Khi toán chuyên viên truyền h́nh trở lại đây vào buổi chiều, họ t́m thấy chiếc xe đă bị chiến xa cán bẹp dúm v́ chỉ cần cán bừa qua. Đoàn chiến xa của CS vẫn c̣n đang chiến đấu trên xa lộ Biên Ḥa, phía bên ngoài Sài G̣n khi Tổng thống Minh tuyên bố đầu hàng, và căn cứ vào vận tốc mà họ tiến vào thành phố, họ phải đi thật nhanh ngay sau đó. Theo những nhân chứng th́ vẫn c̣n tiếng súng nổ, nhưng phần lớn những người lính pḥng thủ đă bỏ cuộc hay cởi bỏ quân phục và tan hàng”.

    5.5. Cầu B́nh Phước

    Cầu B́nh Phước nằm trong địa phận xă An Phú Đông, quận G̣ Vấp, tỉnh Gia Định, cách G̣ Vấp khoảng 4 km, trung tâm Sài G̣n khoảng 7 km đường bộ hay khoảng 4 km đường chim bay (xem Sơ đồ 17 & H́nh 25). Tháng 6 năm 1976, xă An Phú Đông được sáp nhập vào huyện Hóc Môn. Đến tháng 4 năm 1997, ba phường An Phú Đông, Thạnh Lộc và Thọ Xuân được sáp nhập vào quận 12 của thành phố HCM.

    Cuộc tấn công đánh chiếm cầu B́nh Phước của đặc công đă được ghi lại như sau (79) :

“Tại các xă An Phú Đông, Thạnh Lộc, đêm 29 tháng 4 năm 1975, một bộ phận của Trung đoàn 115 tấn công dồn ấp 3 cầu B́nh Phước, địch tăng cường một tiểu đoàn trên lộ và dưới sông, phối hợp dùng đại liên bắn trả quyết liệt. Với quyết tâm chiếm giữ đầu cầu, ḱm chân địch, không cho chúng phá hủy cầu và mở đường cho xe tăng ta tiến vào thành phố, Trung đoàn 115 đă dũng cảm chiến đấu. Vào lúc 7 giờ 30 sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975 bộ đội ta đă hạ được đồn, chiếm được cầu B́nh Phước”.

    CĐT chi đoàn 1/15 KB của QLVNCH quan sát thấy ĐPQ vẫn c̣n giữ cầu khi đơn vị của ông rút lui ngang qua đây vào trưa ngày 30/4 (24).

    Ngày 29/4, Tướng Toàn triệu tập một phiên họp tại BTL sư đoàn 18 BB với sự hiện diện của Thiếu tướng Lê Minh Đảo, Tư lệnh sư đoàn 18 BB, Chuẩn tướng Trần Quang Khôi, Tư lệnh lữ đoàn 3 KBTG và Đại tá Nguyễn Thành Trí, Tư lệnh BTL nhẹ của sư đoàn TQLC. Lệnh cho các đơn vị thu hẹp tuyến pḥng thủ để bảo vệ thành phố Biên Ḥa và căn cứ Long B́nh.

    Mặc dù sư đoàn 341 đă tiến vào gần đến thị xă Biên Ḥa, các đơn vị di chuyển phía sau vẫn bị kháng cự. Một tài liệu của trung đoàn 165 thuộc sư đoàn 7 quân đội CSBV ghi nhận (65) :

“Trong cơn giăy chết, bọn địch từ bờ tây sông Đồng Nai bắn pháo dữ dội sang bờ đông sông. Bộ đội ta tiến lên trong làn mưa pháo của địch. Khi đơn vị bạn qua khỏi Hố Nai tiến về phía nam Biên Ḥa, th́ Tiểu đoàn 5 có bốn xe tăng dẫn đầu, thuộc phân đội đi đầu của Trung đoàn, Sư đoàn cũng bắt đầu tiến về Hố Nai. Đội h́nh lọt vào giữa hai dăy phố. Pḥng tuyến địch bị chọc thủng ngay từ chập tối, nhưng đơn vị bạn phải hành quân gấp theo lệnh của Bộ chỉ huy nên không kịp lùng sục tiêu diệt địch. Bọn địch vỡ ra, trà trộn vào trong dân, phân tán từng nhóm nhỏ, dùng M16, M79 và M72 từ trên các nóc nhà, trên các gác chuông nhà thờ, bắn xuống đường. Đội h́nh hành tiến của Tiểu đoàn 5 vừa đến nhà thờ Kim Bích th́ một quả đạn chống tăng M72 từ trên tháp chuông phụt ra đỏ lừ, lao chém qua bên trái đại đội 8, nổ đanh. Lập tức trung đoàn trưởng Trần Quang Triệu lệnh cho bộ đội xuống xe, triển khai đội h́nh chiến đấu. Măi đến 23 giờ đại đội 8 mới ra khỏi Hố Nai được gần 2 ki-lô-mét. Trung đoàn trưởng lệnh cho xe tăng vọt lên. Nhưng bốn chiếc xe tăng vừa vọt lên được một đoạn, th́ bỗng từ hai bên sườn và cả phía trước mặt nhiều chóp lửa xanh ḷe lóe lên, từng quả đạn đỏ lừ vun vút lao tới bốn chiếc xe tăng ta. Trung đoàn trưởng cho cối 120, pháo 85 bắn trả. Bốn khẩu pháo 85 nhả đạn. Bốn khẩu pháo trên xe tăng cùng nhả đạn, nhưng mới bắn được vài quả đạn th́ ba chiếc trúng hỏa tiển chống tăng của địch bốc cháy. Các chiến sĩ xe tăng dũng cảm chưa chịu rời xe, cố gắng bắn cho hết tràng trọng liên cuối cùng về phía địch. Chiến xe tăng c̣n lại thụt lùi, nấp vào một g̣ đất lớn, tiếp tục dùng pháo và trọng liên bắn trả. Đại đội 6 và đại đội 8 được lệnh xuất kích. Các chiến sĩ bật dậy, rời khỏi bờ suối cầu Xăng Máu [sic] vọt lên. Đại đội trưởng đại đội 6 Trần Ngọc Diễn, dẫn bộ đội cập theo bên trái đường đánh tới. Trong lúc Quư đang quan sát mục tiêu để cho khẩu đại liên tiêu diệt địch, th́ một quả ĐK57 của địch từ trên dốc bắn tới, trúng cột điện té lửa! Bốn chiến sĩ của đại đội 8 hy sinh”.

    Sáng ngày 30/4, sư đoàn 6 cùng lực lượng địa phương chiếm thành phố Biên Ḥa. Sư đoàn 341 vượt cầu Ghềnh đi vào G̣ Vấp, hai quận 3 và 10. Sư đoàn 7 quay trở lại xa lộ để vào quận 1 (80). Lư do là cầu Ghềnh không chịu nỗi sức nặng của chiến xa trong khi cầu Đại Hàn đă bị phá sập.

    5.6. Cầu B́nh Lợi & cầu B́nh Triệu

    Từ cầu B́nh Phước, xuôi theo ḍng sông Sài G̣n về phía nam khoảng 6-7 km là hai cầu B́nh Lợi và B́nh Triệu. Hai cầu cách nhau không đến 1000 m. Cầu B́nh Lợi được người Pháp xây dựng năm 1920 (xem Sơ đồ 17). Sau chiến tranh, một cầu mới (B́nh Triệu II) được xây cất song song với cầu cũ (B́nh Triệu I), xem H́nh 26-30.

    Theo một sĩ quan cao cấp hải quân VNCH th́ sáng ngày 28/4, ông đă đến thăm phân đội tuần thám của hải quân đang tuần tiểu trên đoạn sông này. Một ngày trước đó, quân CS đă tấn công nhưng bị đẩy lui. Ngày 29/4, phân đội tuần thám của hải quân nhận được lệnh rút lui. Cũng theo ông th́ ngay từ ban đầu, trong kế hoạch pḥng thủ Sài G̣n, không có kế hoạch phá hủy hai cầu này (81). Theo một sĩ quan phục vụ tại hậu cứ của thiết đoàn 15 KB th́ sáng ngày 30/4, ông nh́n thấy tiểu đoàn 5 Dù đang giữ cầu B́nh Lợi và ngăn chận không cho bất cứ ai đi vào thành phố.

    TĐT tiểu đoàn 5 Dù xác nhận khi tiểu đoàn của ông di chuyển từ cầu Đồng Nai về đến cầu B́nh Lợi th́ các cầu nhỏ khác trên đường lui binh vẫn c̣n được ĐPQ trấn giữ. Khi qua khỏi cầu B́nh Lợi th́ ông cho lệnh phá cầu. V́ không có ḿn nên tiểu đoàn 5 đă dùng một xe chở xăng và cho phát nổ ở giữa cầu. Cũng theo ông th́ không có trận đánh nào xảy ra tại đây vào sáng ngày 30/4 (44).

    9 giờ 30 ngày 30/4, quân CS mới tấn công cầu B́nh Triệu và đụng độ mạnh đă xảy ra tại đây (1).

    Khi lập kế hoạch đánh chiếm Sài G̣n, CS cho rằng họ có đến 7 trung đoàn đặc công nhằm đánh và chiếm giữ các cầu cống quan trọng hầu tạo dễ dàng cho các hướng tiến quân chính cấp quân đoàn.  Thượng tướng Trà viết (61) :

    “Trước đây Bộ Tư lệnh Miền đă giao nhiệm vụ chính là đánh các mục tiêu được phân công, từ năm mục tiêu chủ yếu cho đến các mục tiêu quan trọng khác cùng lúc các quân đoàn vào để kết hợp tiến công từ bên trong và tấn công từ ngoài vào. Bây giờ phải chuyển thành nhiệm vụ chính là đánh chiếm và giữ các cầu quan trọng ở các hướng cho tới khi quân đoàn tiến qua. Tuy vậy vẫn c̣n nhiều biệt động và một số đơn vị đặc công vẫn phụ trách đánh mục tiêu bên trong nhưng những đơn vị mạnh phải chuyển qua nhiệm vụ mới. Việc chuyển nhiệm vụ chính lại quá gấp rút, chỉ trong ṿng bốn đến năm ngày vừa hành quân, vừa điều tra nghiên cứu vừa làm kế hoạch chiến đấu. Hơn nữa khó khăn là chiếm rồi lại phải giữ, đánh địch phản kích, đó là chiến thuật mà đặc công ít khi sử dụng, mà nay không c̣n th́ giờ để huấn luyện lại. Tuy vậy tin ở khả năng và truyền thống của đặc công, biệt động, tin ở ư chí cao và ḷng dũng cảm của anh em, ngày 25 tháng 4 chúng tôi quyết định chuyển nhiệm vụ. Các cầu phải được chiếm và giữ ngay trước giờ ‘G’ và ngày ‘N’, đồng loạt tiến công vào nội thành. Muộn sẽ trở ngại cho tiến quân, cho thành công của cả chiến dịch, nhưng sớm quá, nhiều khi rất nguy hiểm. V́ lẽ các đơn vị đặc công với chiến thuật tiến công bất ngờ chớ không phải pḥng ngự và không được trang bị để tiến công bằng sức mạnh công khai v́ vậy khó mà giữ cầu lâu ngày, hay đánh chiếm lại lần thứ hai, thứ ba. Hơn nữa địch có thể đánh trả lại mạnh khi quân đoàn ta chưa đến và nhân đó có thể phá luôn cầu. Tính toán lúc nào nên chiếm giữ cầu là phải ăn khớp với hành động của các quân đoàn. Bộ chỉ huy chiến dịch giao cho Bộ chỉ huy các hướng quyết định ngày giờ cho đặc công.

Hướng có nhiều cầu lớn là hướng đông. Ngoài các cầu qua sông Đồng Nai như cầu xa lộ Đồng Nai, cầu Ghềnh; qua sông Sài G̣n như cầu xa lộ Tân Cảng, cầu B́nh Lợi, lại c̣n các cầu nhỏ hơn nhưng không kém quan trọng như cầu rạch Chiếc ... các hướng khác cầu không lớn lắm, nhưng nhiều và nếu bị phá cũng gặp trở ngại không nhỏ”.

    Cũng theo Thượng tướng Trà th́ các đơn vị đặc công được phân chia nhiệm vụ như sau (56) :

·         Trung đoàn 10 ĐC ngăn chận sông Ḷng Tàu

·         Trung đoàn 115 ĐC đánh chiếm cầu B́nh Phước

·         Trung đoàn 116 ĐC đánh chiếm cầu Đồng Nai

·         Hai trung đoàn 117 ĐC và 429 ĐC sẽ đánh chiếm hai cầu Bà Hom và Nhị Thiên Đường

·         Trung đoàn đặc công của quân đoàn 3 đánh chiếm cầu Bông và cầu Xáng.

    Trên thực tế công tác của đặc công không thực hiện được v́ QLVNCH c̣n khá mạnh. Không có cầu nào bị VC chiếm giữ cho đến sáng ngày 30/4.

    Ngày 29/4, theo lệnh của tư lệnh quân đoàn III, liên đoàn 81 BCD với 2 BCH 1 và 2 chiến thuật từ vị trí tại hướng bắc phi trường Biên Ḥa đă rút lui qua ngă cầu Đại Hàn về tuyến pḥng thủ tại Thủ Đức. Đơn vị với khoảng 2000 quân đă tan hàng trên xa lộ Đại Hàn ngày 30/4.

    Tương tự như vậy, hai lữ đoàn TQLC được lệnh tái phối trí. Lữ đoàn 258 được tăng phái cho LLXK/ QĐ III trong khi lữ đoàn 468 cho sư đoàn 18 BB. Tuy nhiên sư đoàn 18 BB đă rút về đóng tại nghĩa trang quân đội tối ngày 29/4.

    LLXK/QĐ III với BTL đặt tại tư dinh TL/QĐ III, lực lượng được bố trí như sau (11) :

·         Chiến đoàn 322 tại phía nam phi trường Biên Ḥa, bảo vệ mặt bắc BTL/QĐ III.

·         Lữ đoàn 258 TQLC tại phía nam QL-1, bảo vệ mặt nam thành phố Biên Ḥa.

·         Lữ đoàn 2 ND giữ cầu Đại Hàn và các trục lộ mà địch có thể xâm nhập vào thành phố Biên Ḥa.

·         Chiến đoàn 315 án ngữ ngă ba Kẻ Sặt đến ngă tư Ḷ Than, án ngữ phía đông.

·         Chiến đoàn 318 là lực lượng trừ bị, đóng từ cổng phi trường Biên Ḥa đến cầu Đại Hàn, chịu trách nhiệm mặt tây. 

    Khoảng một tuần trước khi Sài G̣n thất thủ, Trung tướng Nguyễn Văn Minh, Tư lệnh BKTĐ đến văn pḥng của hăng thông tấn AP. Chi tiết của buổi gặp gở này đă được một phóng viên người Tân Tây Lan kể lại như sau (82) :

“Ông tướng nói một cách rơ ràng mục đích của chuyến thăm viếng. Ông ta muốn chúng tôi giúp đở về kế hoạch ra đi của ông ta: đó là cho ông biết tọa độ của đệ thất hạm đội Mỹ ngoài biển cùng với chỉ danh truyền tin của hàng không mẫu hạm để ông có thể  thoát đi trên trực thăng nếu kết cuộc đến quá nhanh chóng. Ông ta giải thích rằng hiện tại BTL của Mỹ không muốn cung cấp cho ông những tin tức như vậy nên ông chỉ có thể có được khi thật cần thiết mà thôi. Tướng Minh muốn an toàn hơn. Ông ta không che dấu sự thật là Sài G̣n sẽ thất thủ. Ông ta than phiền là chỉ có trong tay khoảng một sư đoàn trừ với khoảng 6000 quân để bảo vệ thủ đô. Tin tức t́nh báo của ông cho thấy có đến 16 sư đoàn của quân đội CSBV đang tập trung để tấn công thủ đô”.

    Trung tướng Toàn, Tư lệnh quân đoàn III rời bỏ nhiệm sở lúc 1500 giờ ngày 29/4 (14).

    Thông thường trong chiến tranh, quân số đông là một trong những yếu tố tất thắng (nguyên tắc khối lượng của Clausewitz). Tuy nhiên người ta cũng biết rằng quân tinh th́ đôi lúc không cần phải có nhiều. Nói một cách khác, chiến thắng c̣n tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác. Việc Sài G̣n thất thủ khá nhanh chóng khiến người ta nhớ đến sự thất thủ của thủ đô Bá Linh năm 1945. 

    Khi Bá Linh bị bao vây, Thống chế Goering khuyên Hitler di chuyển ra khỏi thủ đô về Berchtes-gaden trước khi quá muộn. Hitler đă trả lời (83) :

“Làm thế nào tôi có thể kêu gọi quân đội chiến đấu trong trận đánh quyết định tại Bá Linh trong khi đó tôi lại chạy đến nơi an toàn ?”.

    Không ít các tướng lănh Đức và nhiều người khác nữa không biết như vậy. Tuy nhiên sự kiện Hitler ở lại hầm chỉ huy đến giờ phút cuối cùng rồi tự sát ngày 1/5 cũng như Tướng Weidling, CHT lực lượng pḥng thủ Bá Linh chỉ đầu hàng ngày 2/5 đă khiến chiến trận kéo dài và khốc liệt. Nếu không kể những tổn thất trong vùng biên giới năm 1941 th́ trận chiến tại thủ đô Bá Linh đă gây thiệt hại nhân mạng nhiều nhất cho phía tấn công. Hồng quân Nga có 78291 người chết và 274184 người bị thương. Tính trung b́nh, quân Nga có 15325 người chết và bị thương mỗi ngày tác chiến trong thành phố (84).

    Một hạ sĩ quan quân cảnh đă viết lại những ǵ ḿnh chứng kiến tại cổng chánh của cơ quan quyền lực cao cấp nhất của QLVNCH vào sáng ngày 30/4 (85) :

“Tôi được lệnh tăng cường cho cổng 1 TTM. Lúc bấy giờ cộng quân gia tăng cường độ pháo kích dữ dội. Các Quân Cảnh cơ hữu của Đại Đội 1 Quân Cảnh rất bận rộn. Có tin cổng 4 có một số sĩ quan TTM phá rào chui ra đến nỗi Quân Cảnh Đại Đội 1 TTM phải dùng hàng rào người mà cản lại. Cũng có một số sĩ quan cấp Trung và Đại tá tự kư Sự Vụ Lệnh ra cổng. Chưa đến nỗi hỗn loạn nhưng Quân Cảnh khá mệt nhọc vất vả mới giữ được trật tự”.

    Tuy nhiên không phải ai cũng hành động như vậy lúc dầu sôi lửa bỏng. Hăy nghe tiếp câu chuyện cũng tại Bộ TTM/QLVNCH (85) :

    “Lệnh Tướng Hạnh là nội bất xuất, ngoại bất nhập. Chúng tôi th́ chỉ có nhiệm vụ yểm trợ cho Đại Đội 1 Quân Cảnh mà thôi. Tôi quan sát tại điếm canh cổng số 1 có anh Quân Cảnh làm việc thật tích cực và hiệu quả. Nh́n kỹ ra là anh Minh người cao lớn. Tôi thật t́nh quên mất họ của Minh là Trần hay Nguyễn. Nhưng có thể là Trần Văn Minh. Minh cùng chung một khóa với tôi ở Trường HSQ Đồng Đế. Đó là khóa 1/71 Đặc Biệt HSQ hiện dịch, lúc đó Tướng Linh Quang Viên làm Chỉ Huy Trưởng. Sau đó chúng tôi gặp lại nhau tại Trường Quân Cảnh một hai lần nữa. Giờ đây, rơ ràng là Minh đang ở Đại Đội 1 Quân Cảnh TTM. Giơ tay chào nhau, nói vài câu, rồi ai làm việc nấy. Lúc đó tôi ở cổng chánh khoảng 100 mét về hướng ṭa nhà chánh.

    11 giờ 30 ngày 30 tháng 4-1975:

Lúc 11 giờ 30, từ cổng 1 TTM tôi nghe súng nổ dữ dội ở phía Bệnh Viện Dă Chiến Hoa Kỳ, th́ ra các anh em LĐ 81 BCND đang bắn xe tăng Việt cộng. Khi chiếc xe T54 của Việt cộng có treo cờ GPMN hướng về cổng 1 TTM th́ tất cả chúng tôi lái xe jeep rút về văn pḥng Đại Đội 1 Quân Cảnh v́ xe cộ đồ đạc tất cả đều để đây. Khi xe ngừng, Minh bước xuống và nước mắt đă đầm đ́a. Tôi nh́n Minh mà lo cho thân ḿnh nên vội vàng cột ba lô mang súng ống, rồ xe mobylette phóng chạy. Cái cảnh lúc đó thật là hoảng loạn, mạnh ai nấy lo, giành đường thoát ra.

    11 giờ 40 ngày 30 tháng 4-1975:

Sau lưng tôi, Minh khóc và nói một ḿnh “Thôi rồi, mất nước rồi”. Nói xong anh Minh bước tới gần cột cờ, nghiêm chỉnh đưa tay lên, chào xong móc khẩu Colt 45 bên hông kê lên màng tang, Một tiếng nổ đơn độc vang lên. Tôi chắc tiếng nổ đó đă ḥa tan trong tiếng máy của hàng trăm chiếc xe Honda, Vespa, Suzuki. Minh ngă xuống. Trung sĩ I Trần Văn Minh đă trả xong nợ nước vào giờ thứ hai mươi lăm. Tôi là một người sợ chết nên nh́n Minh một lần chót, nén xúc động và chạy thoát thân với hàng đoàn người kia.

Giờ đây Minh họ Nguyễn hay Trần tôi không biết chắc. Anh đă chết thật hay chỉ bị thương cũng không biết chắc. Có điều Minh đă làm một việc thật là đáng để tôi quỳ xuống mà lạy anh. Tất cả các đoạn trên tôi viết dông dài chỉ nhằm mục đích kể lại đoạn cuối về cái chết của một Quân Cảnh tại Bộ Tổng Tham Mưu. Chúng tôi là binh chủng lo về quân kỷ của quân đội. Xin các anh em chiến hữu hiểu rằng chúng tôi cũng sống chết với quân đội như anh em. Và trong hàng ngũ hạ sĩ quan chúng tôi cũng có người tự vẫn dưới ngọn cờ Tổng Tham Mưu vào giờ thứ 25”.

    Dĩ nhiên nhiều đơn vị của QLVNCH vẫn sẵn sàng trong tư thế chiến đấu mà điển h́nh là chiến đoàn 315 (86) :

    “Từ Trảng Bom rút về Biên Ḥa, chi đoàn 1/15B  (CĐT là Đại úy Phạm Văn Bản) cùng với tiểu đoàn 64 BĐQ (TĐP là Đại úy Nguyễn Ngọc Tùng xltv chức vụ TĐT) tùng thiết đến phối hợp với tiểu đoàn 6 TQLC (TĐT là Trung tá Lê Bá B́nh) tại khu vực chung quanh ngă ba Kẻ Sặt. Chiến đoàn 315 (-) tổ chức tuyến pḥng thủ từ ngă tư Ḷ Than đến giáp tuyến của lữ đoàn 2 ND, sử dụng chiến hào chống chiến xa đă đào sẵn. Pháo binh và súng cối chuẩn bị tác xạ vào những hướng địch quân có thể xâm nhập, nhất là con đường từ ngă ba Kẻ Sặt đi vào.

Đến 2200 giờ, địch quân với bộ binh tùng thiết tấn công vào Kẻ Sặt nhưng đă bị tiểu đoàn 6 TQLC, chi đoàn 1/15B và BĐQ đánh bật ra. Bị thiệt hại nặng, VC phải rút lui về hướng Hố Nai. Thiết giáp có 4 binh sĩ bị thương nhẹ. Tiểu đoàn 6 TQLC được lệnh rút về tuyến pḥng thủ của lữ đoàn 258 TQLC”.

    CĐT chiến đoàn 315 ước đoán :

·         Địch quân tấn công để chỉ thăm ḍ lực lượng và tuyến pḥng thủ của đối phương

·         Địch rút lui để tổ chức lại lực lượng.

·         Đoán biết đối phương có chiến xa nên đợt tấn công sau sẽ dốc toàn lực có chiến xa yểm trợ hầu đánh chiến xa và chọc thủng pḥng tuyến địch.

·         Mở đường cho cánh quân chính đánh vào thành phố Biên Ḥa.

    Ông bèn ra lệnh cho chi đoàn 1/15B cùng BĐQ tùng thiết trở về tuyến pḥng thủ chung của chiến đoàn để củng cố. Lệnh cho tất cả chiến xa tập trung hướng về con đường từ ngă ba Kẻ Sặt đi vào, đại bác của chiến xa hạ ngang tầm pháo tháp. Pháo binh sẵn sàng đạn nổ, đạn nổ chụp và trái sáng. Tất cả hỏa lực sẽ đồng loạt bắt đầu khi có lệnh.

    Đúng 23 giờ 45 phút, địch quân từ hướng Trảng Bom bắt đầu pháo kích với cường độ dữ dội vào Biên Ḥa. Tuyến pḥng thủ của chiến đoàn 315 vẫn yên tỉnh và không bị pháo kích. Ngay sau đó, một lực lượng bộ binh cấp trung đoàn có chiến xa yểm trợ tiến từ Hố Nai - ngă tư Kẻ Sặt tấn công về hướng ngă tư Ḷ Than. Khi lực lượng địch đến ngang xă Ngọc Động, một đơn vị địch tấn công vào đồn quân cảnh và trại giam ‘Tù Binh Phiến Cộng’ nhưng hai vị trí này đă bị bỏ trống từ trước. Khi chiến xa và bộ binh địch tiến vào đúng tầm tác xạ hữu hiệu của chiến xa M-48, lệnh khai hỏa được ban hành. Pháo binh tác xạ đạn chiếu sáng trong khi toàn tuyến pḥng thủ nổ súng. Địch quân bị bất ngờ. Ngay trong giây phút đầu tiên, một số chiến xa địch bị trúng đạn bốc cháy cùng với những tiếng nổ lớn. Đội h́nh của địch bắt đầu rối loạn và t́m cách rút lui sau đó. Khoảng 30 phút sau th́ chiến trường im tiếng súng. Những cán binh địch c̣n sống sót rút lui về hướng Long B́nh. Trong đợt tấn công của địch lần này, chiến đoàn 315 không bị một thiệt hại nào cả.

    Khoảng 8 giờ sáng ngày 30/4, Đại úy Bản được lệnh đưa chi đoàn lên thám sát chiến trường và báo cáo. Địch quân có 10 chiến xa vừa bị cháy, vừa bị hư hỏng nằm ngổn ngang cùng với nhiều xác chết.

    Khoảng cuối thập niên 90, đồng bào sống quanh vùng Kẻ Sặt cho biết trong trận tấn công vào ngă tư Ḷ Than, VC bị thiệt hại tất cả 12 chiến xa, 4 bị cháy và 8 bị hư hại. 42 cán binh bị chết, được chôn trong một hố tập thể hai ngày sau đó. Một thời gian sau, họ được cải táng vào nghĩa trang liệt sĩ tại địa phương”.

    Trận đánh trên theo tài liệu của CS (77) :

    “Trong cơn giăy chết, bọn địch từ bờ tây sông Đồng Nai bắn pháo dữ dội sang bờ đông sông. Bộ đội ta tiến lên trong làn mưa pháo của địch. Khi đơn vị bạn qua khỏi Hố Nai tiến về phía nam Biên Ḥa, th́ Tiểu đoàn 5 có bốn xe tăng dẫn đầu, thuộc phân đội đi đầu của Trung đoàn, Sư đoàn cũng bắt đầu tiến về Hố Nai. Đội h́nh lọt vào giữa hai dăy phố. Pḥng tuyến địch bị chọc thủng ngay từ chập tối, nhưng đơn vị bạn phải hành quân gấp theo lệnh của Bộ chỉ huy nên không kịp lùng sục tiêu diệt địch. Bọn địch vỡ ra, trà trộn vào trong dân, phân tán từng nhóm nhỏ, dùng M16, M79 và M72 từ trên các nóc nhà, trên các gác chuông nhà thờ, bắn xuống đường. Đội h́nh hành tiến của Tiểu đoàn 5 vừa đến nhà thờ Kim Bích th́ một quả đạn chống tăng M72 từ trên tháp chuông phục ra đỏ lừ, lao chéo qua bên trái đại đội 8, nổ đanh. Lập tức trung đoàn trưởng Trần Quang Triệu lệnh cho bộ đội xuống xe, triển khai đội h́nh chiến đấu. Măi đến 23 giờ đại đội 8 mới ra khỏi Hố Nai được gần 2 ki-lô-mét. Trung đoàn trưởng lệnh cho xe tăng vọt lên được một đoạn, th́ bỗng từ hai bên sườn và cả phía trước mặt nhiều chớp lửa xanh lè lóe lên, từng quả đạn đỏ lừ vun vút lao tới bốn chiếc xe tăng ta. Trung đoàn trưởng cho cối 120, pháo 85 bắn trả. Bốn khẩu pháo 85 nhả đạn. Bốn khẩu pháo trên xe tăng cùng nhả đạn, nhưng mới bắn được vài quả đạn th́ ba chiếc trúng hỏa tiển chống tăng của địch bốc cháy. Các chiến sĩ xe tăng dũng cảm chưa chịu rời xe, cố gắng bắn cho hết tràng trọng liên cuối cùng về phía địch. Chiếc xe tăng c̣n lại thụt lùi. Nấp vào một g̣ đất lớn, tiếp tục dùng pháo và trọng liên bắn trả. Đại đội 6 và đại đội 8 được lệnh xuất kích. Các chiến sĩ bật dậy, rời khỏi bờ suối cầu Xăng Máu [sic] vọt lên. Đại đội trưởng đại đội 6 Trần Ngọc Diễn, dẫn bộ đội cặp theo bên phải đường vận động lên. Chính trị viên đại đội 8 Nguyễn Xuân Quư dẫn bộ đội cặp theo bên trái đường đánh tới. Trong lúc Quư đang quan sát mục tiêu để cho khẩu đại liên tiêu diệt địch, th́ một quả ĐK 57 của địch từ trên dốc bắn tới, trúng cột điện té lửa! Bốn chiến sĩ của đại đội 8 hy sinh.

T́nh h́nh trở nên hết sức căng thẳng. Trung đoàn trưởng vừa báo cáo xin chỉ thị của Sư đoàn, vừa tổ chức đột phá pḥng tuyến. Sở chỉ huy Trung đoàn được thiết lập ngay trong một ngôi nhà bỏ trống và đă bị đạn pháo làm sạt lở những mảng lớn. Tham mưu trưởng Phạm Hựu trải bản đồ trên nền nhà, bấm đèn pin xác định tọa độ tuyến pḥng thủ của địch để báo cáo cho pháo binh. Vừa xác định xong th́ Sư trưởng Lê Nam Phong tới. Trung đoàn trưởng Triệu báo cáo vắn tắt t́nh h́nh và ư định tác chiến của Trung đoàn. Được sư trưởng nhất trí và giục Trung đoàn đánh ngay. Lúc bấy giờ là 2 giờ sáng ngày 30 tháng 4.

Hố Nai, Biên Ḥa, Long B́nh không c̣n điện, nhưng nhờ có ánh trăng, ánh lửa của những đám cháy, của pháo chớp, của đèn dù, sư đoàn trưởng và trung đoàn trưởng quan sát, nh́n rơ tuyến hào chống tăng cắt qua đường. Tuyến hào như một cánh cung đen khổng lồ bao lấy căn cứ Tam Hiệp. Chỉ c̣n ba tiếng đồng hồ nữa là sáng, nếu không giải quyết dứt điểm được bọn này th́ làm sao vào Sài G̣n sớm được. Trung đoàn trưởng Triệu chạy lên phía Tiểu đoàn 5, tổ chức chiến đấu cho đến sáng 30 tháng 4, Tiểu đoàn 5 mới đột phá được cụm pḥng ngự của 60 xe tăng thuộc lữ 3 kỵ binh và tiểu đoàn 6 thủy quân lục chiến ở Tam Hiệp”. 

    Sau khi mất liên lạc với Bộ TTM, lúc 0800 giờ ngày 30/4, Chuẩn tướng Khôi họp bàn với các đơn vị trưởng thuộc quyền và quyết định đưa toàn lực lượng LLXK/QĐ III về giải cứu Sài G̣n (11).

    Quyết định của Tướng Toàn thu hẹp pḥng tuyến về Thủ Đức và quyết định “về giải cứu thủ đô” tiếp theo sau đó của Tư lệnh LLXK/QĐ III đă mở cánh cửa phía đông vào Sài G̣n (xem H́nh 31-32). Chính các chiến xa của cánh quân CS trên hướng này đă vào dinh Độc Lập.

    Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng lúc 10 giờ 24. Lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam VN được treo lên nóc dinh lúc 12 giờ 15 phút ngày 30/4/1975 (87), xem Sơ đồ 18 & H́nh 33-34.

    Thiếu Tướng Nguyễn Công Trang, Phó Chính ủy quân đoàn 2 phân tích chiến thắng của đơn vị ông sau chiến tranh (88) :

“Được trên chấp thuận, Bộ tư lệnh Binh đoàn đă xây dựng cách đánh phù hợp, bảo đảm phát huy sức mạnh hỏa lực, cơ động nhanh, đột kích mạnh, thần tốc, quyết thắng như binh đoàn đă thực hiện trước khi mở chiến dịch HCM. Đảng ủy, Bộ tư lệnh Binh đoàn nhất trí xây dựng phương án tác chiến mới, rất sáng tạo trên chiến trường lúc đó với tên gọi: Binh đoàn thọc sâu. Thực chất của binh đoàn thọc sâu là sử dụng cụm cơ động tác chiến với nồng cốt là xe tăng, pháo binh tầm xa và lực lượng bộ binh chiến đấu tinh nhuệ. Cũng như các binh đoàn bạn, Binh đoàn Hương Giang được biên chế một lữ đoàn xe tăng (Lữ đoàn 203) và phối thuộc một đơn vị đặc công của Bộ tư lệnh Miền (Đoàn đặc công 116). Trong đội h́nh Binh đoàn c̣n có Sư đoàn bộ binh 3 của Quân khu 5 phối thuộc (thay thế Sư đoàn 324 bảo vệ Đà Nẵng và Nam Trung bộ). Về lực lượng, Bộ tư lệnh Binh đoàn chỉ tăng cường cho mỗi sư đoàn một đại đội xe tăng, hai tiểu đoàn xe tăng c̣n lại do Bộ Tư lệnh trực tiếp chỉ huy, biên chế cho mũi tiến công của binh đoàn thọc sâu. Trên hướng thọc sâu, Bộ tư lệnh sử dụng hai trung đoàn bộ binh tinh nhuệ gồm Trung đoàn 66 (Sư đoàn 304) và Trung đoàn 18 (Sư đoàn 325), trong đó, một đại đội của Trung đoàn 18 đi cùng với Lữ đoàn xe tăng 203. Đoàn đặc công 116 được giao nhiệm vụ bằng mọi giá phải giữ được cầu Sài G̣n và đă hoàn thành nhiệm vụ”.

    Phương án tác chiến “binh đoàn thọc sâu” không có ǵ mới lạ v́ đă được các binh thuyết gia Nga mô tả từ thập niên 20 và 30 của thế kỷ trước . Cuộc thanh trừng trong quân đội Nga của Stalin sau đó khiến phương pháp đi vào quên lăng. Chiến thắng nhanh chóng của Đức tại Ba Lan và Pháp cũng như của Nga tại Khalkhin-Gol, Măn Châu vào đầu chiến tranh thế giới thứ II đă khiến các cấp chỉ huy cao cấp của hồng quân Nga xét lại. Điển h́nh là thống chế Zhukov (1896-1974) đă áp dụng lối đánh thọc sâu thành công trong hai năm sau cùng của chiến tranh với Đức. Tuy nhiên phải biết rằng hồng quân Nga sử dụng cả pháo binh, chiến xa lẫn không quân cho mũi thọc sâu (89).

    V́ không có phi cơ, các quân đoàn của CS khi tấn công vào Sài G̣n đành áp dụng một cách gượng ép với chiến xa, bộ binh cơ giới và pháo binh. Gượng ép là nói về số chiến xa tăng cường trong mỗi mũi tấn công, chỉ khoảng 6-10 chiếc. Chưa nói đến ở giai đoạn sau cùng khả năng yểm trợ của không quân VNCH đă bị giới hạn. Trên phương diện yểm trợ bộ binh trong thế công, giai đoạn sau cùng của chiến tranh thế giới thứ II đă cho thấy, dù mất ưu thế trên không, các đơn vị thiết giáp Đức cùng với hệ thống pḥng không được tăng cường vẫn có thể tác chiến một cách hữu hiệu (90). Ở đây cũng cần nên biết thêm rằng tỉ số tối ưu của nhị thức bộ binh thiết giáp là 1/1 để có thể duy tŕ khả năng đối kháng với chiến thuật chống chiến xa của đối phương (91). Từ khi bắt đầu cuộc phản công Vistula-Oder vào khoảng tháng 2/1945, tỉ lệ BB cơ giới/chiến xa của Nga là 2/1 (92).

    Kết quả trận chiến chung quanh Sài G̣n vào những ngày cuối cùng đă cho thấy, chỉ một chi đoàn thiết giáp hỗn hợp và một tiểu đoàn TQLC có thể chận đứng được lối đánh thọc sâu của CS theo quốc lộ 1 đi vào thành phố Biên Ḥa.

    Ngày 17/4/1975, Đại tướng Vơ Nguyên Giáp từ Hà Nội ra lệnh cho các đơn vị (93) :

“Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng”.

    Lệnh trên cùng với việc Sài G̣n thất thủ ngày 30/4 khiến người ta có thể lầm lộn cách đánh của CS với chiến tranh chớp nhoáng (Blitzkrieg) của quân đội Đức trong hai năm 1939-40 (94). Giáo sư Gat đă giải thích sự khác biệt này như sau (95) :

“Người Đức trong thập niên 30 cũng muốn có một đạo quân càng đông càng tốt khi ra lệnh  tổng động viên. Nhưng với Hitler , Blomberg  hay Guderian  th́ để tránh chiến tranh hao ṃn với b́nh diện rộng lớn và v́ tài nguyên của nước Đức có giới hạn nên họ đành phải chọn lựa một phương cách táo bạo, nhanh chóng và không qui ước. Trong khi đó, nước Nga Xô Viết không bị lệ thuộc bởi những giới hạn như vậy. Truyền thống của liên bang Xô Viết tùy thuộc vào khối lượng và không gian to lớn ngay cả trong thời đại mới. Thêm vào đó, chiến lược của Xô Viết h́nh thành từ quan niệm của chủ nghĩa xă hội. Tổng hợp lại th́ những yếu tố này tạo thành nền tảng cho quan niệm tác chiến thọc sâu”.

    Nói một cách khác đi là hồng quân Nga tác chiến với cơ giới và quân số đông. Chiến trường Việt Nam có diện tích giới hạn, dân số không đông, phương tiện chiến tranh hạn hẹp cho thấy áp dụng một cách máy móc quan niệm thọc sâu khiến quân đội CS phải dùng đến chiến thuật biển người. Khi đánh vào Sài G̣n, CS đă dùng quân số đông gấp năm  lần quân số pḥng thủ. Nếu tính theo từng hướng tấn công riêng lẽ th́ trong giai đoạn sau cùng, CS thường sử dụng cấp sư đoàn để đánh chiếm các chi khu (Đôn Luân, Định Quán, Trị Tâm, Tân Uyên, v.v.) trên lư thuyết được pḥng thủ bởi cấp tiểu đoàn. Tỉ số lực lượng giữa hai bên do đó tăng lên đến 10/1 hay hơn nữa.

    Ngày hôm nay, các sử gia Nga xác nhận có hai nguyên nhân khiến Nga bị thiệt hại cao về nhân mạng khi đánh chiếm thủ đô của nước Đức. Lư do đầu tiên là v́ Stalin muốn Nga vào Bá Linh trước các nước đồng minh. Lư do thứ nh́ là sử dụng quá nhiều quân số khiến chính quân đội Xô Viết đă bắn lẫn nhau (92). Tương tự như vậy, quân đội CSBV khi vào Sài G̣n cũng đă bắn lầm nhau. Sau khi chiếm được dinh Độc Lập, quân đoàn 2 CS đă bị một đơn vị CS khác pháo kích (3).

    Có lẽ cần nên tạm dừng ở đây để phân tích về nghệ thuật chiến dịch, là trung gian giữa chiến thuật và chiến lược (96), trên mặt trận hướng đông & đông-nam như một thí dụ điển h́nh. Nên nhớ thêm rằng đây là 2 mũi mạnh nhất trong 5 hướng tấn công vào Sài G̣n của quân đội CS trong chiến dịch HCM.

    Đại tướng Lê Trọng Tấn, lúc bấy giờ mang cấp bậc trung tướng và là tư lệnh mặt trận này, đă nghiên cứu nghệ thuật chiến dịch trong chiến dịch HCM. Trong đó yếu tố thứ 3 (Khéo léo chỉ huy và vận dụng nghệ thuật chiến dịch để đánh tiêu diệt địch) trong 6 yếu tố đă đưa đến chiến thắng, đă được ông phân tích như sau (97) :

    “Trong chiến dịch Tây Nguyên, ta dùng ưu thế lực lượng có mức độ (1,5/1) nhưng phát huy ưu thế tinh thần, cách đánh bất ngờ, hiểm hóc và ưu thế chia cắt, bao vây cô lập để tạo thế mạnh trên từng hướng trọng điểm. Trong chiến dịch Huế - Đà Nẵng, lực lượng ta xấp xỉ địch (1/1) nhưng ta có thế mạnh hơn địch rất lớn về chính trị - tinh thần, lại có thể bao vây chia cắt địch, đồng thời cơ động lực lượng nhanh, đánh địch đúng thời cơ với cách đánh hay nên ta vẫn tạo được sức mạnh áp đảo. Trong chiến dịch HCM, ta lại tạo được sức mạnh áp đảo chưa từng có, bằng cả các yếu tố tổng hợp lại: lực lượng mạnh (3/1) , thế mạnh, tinh thần áp đảo, cách đánh bất ngờ hiểm hóc, thời cơ chiến lược hết sức thuận lợi.

Xin nêu một thí dụ: Các quân đoàn tiến công trên hướng đông, đă tập trung đến 5/6 lực lượng của ḿnh trên chính diện khoảng 30 ki-lô-mét, với ưu thế 2/1, tạo nên một sức mạnh áp đảo kẻ địch để nhanh chóng đập tan tập đoàn pḥng ngự có tổ chức của địch ở phía đông sông Đồng Nai; tổ chức những lực lượng đột kích thọc sâu mạnh vào trung tâm thành phố Sài G̣n. Xe tăng thiết giáp được sử dụng tập trung. Pháo binh, pháo cao xạ được tổ chức thành từng cụm lớn. Cách sử dụng lực lượng đó đă h́nh thành một tập đoàn tiến công rất mạnh, đạt được tốc độ tiến công cao, đánh địch với ưu thế lực lượng và hoàn thành được nhiệm vụ với thời gian ngắn nhất.

Rơ ràng bằng nghệ thuật chỉ huy tài giỏi, ta đă biến lực lượng một thành sức mạnh mười, hoàn toàn áp đảo quân địch”.

    Nhận xét về nghệ thuật chiến dịch trên có 2 điểm đáng nói. Điểm đầu tiên, như đă tŕnh bày, tỉ số trung b́nh lực lượng giữa quân đội CSBV và QLVNCH là 5/1 hay lớn hơn chứ không phải chỉ 2/1 như Tướng Tấn đă phân tích. Điểm thứ nh́ là khi đề cập đến khả năng nhân (multiplier) hay bội số 10 cho thấy ông chỉ lập lại lư thuyết của Tôn Tử. Trong thiên VI nói về hư thực, Tôn Tử viết (98) :

“Ta làm cho địch bộc lộ lực lượng mà ta th́ như vô h́nh, như vậy ta có thể tập trung binh lực, c̣n địch th́ phân tán lực lượng. Ta tập trung binh lực ở một nơi, địch phân tán lực lượng ở mười nơi, tức là ta dùng mười đánh một, như thế quân ta đông, quân địch ít, thế có lợi hẳn cho ta”.

    Nếu sử dụng tỉ lệ quân số là 2/1 khi đánh vào tuyến pḥng thủ của QLVNCH th́ Tướng Tấn đă vi phạm nguyên tắc căn bản về “chiến đấu tiến công tiêu diệt địch trong công sự vững chắc (công kiên)” trong chính chiến thuật của quân đội nhân dân; lực lượng tấn công ít nhất phải gấp 3 lần lực lượng pḥng thủ (99-100). Ngoài ra khi sử dụng kỳ tập hay cường tập trong công kiên chiến th́ cần phải có đủ nội công và ngoại kích (101). Các đơn vị đặc công của CS không hữu hiệu trong chiến dịch HCM cho thấy kế hoạch hành quân của quân đội CSBV không thỏa măn được yêu cầu trong tác chiến. Như vậy nếu không có lệnh đầu hàng và tỉ số lực lượng giữa hai bên là 2/1, mũi tiến quân này của CS có thể không vào được Sài G̣n, nếu đặt căn bản trên nguyên tắc khối lượng.

    6. NHƠN TRẠCH & SÔNG L̉NG TÀU

    Ngoài cầu cống th́ đường hàng không và đường thủy từ Sài G̣n cũng là những mục tiêu quan trọng trong chiến dịch HCM. Thượng tướng Trà phân tích (102) :

    “Sau đó chúng tôi thống nhất kế hoạch và quyết tâm: Sư đoàn 6 của Quân khu 7 quen thạo địa phương được tăng cường pháo và xe tăng, bí mật hành quân, bất ngờ giải phóng 1 đoạn trên đường 15, nhanh chóng giải phóng Nhơn Trạch, đặt cho được trận địa pháo 130ly tại đây. Từ trận địa pháo này, trước khi có lệnh thống nhất tiến công vào Sài G̣n th́ bắn khống chế sân bay Tân Sơn Nhất. Khi các hướng tiến vào nội đô th́ không được bắn vào các mục tiêu trong nội thành nữa mà chi viện đắc lực cho cánh quân phía đông.

Để hiệp đồng ở hướng này, dùng Đoàn 10 đặc công khóa chặt sông Ḷng Tàu không để bất cứ sự lưu thông ra vào nào được tiến hành và một bộ phận lực lượng vượt sông Đồng Nai kết hợp với địa phương vào giải phóng quận 9 Sài G̣n”.

    Chi tiết địa thế chủ yếu của vùng hành quân mà Tướng Trà đề cập là sông Ḷng Tàu. Sông Ḷng Tàu là thoát lưu của sông Đồng Nai tại Nhà Bè, dài khoảng 35 km, rộng 300-600 m, có độ sâu khoảng 9-29 m. Đoạn sông này được gọi dưới tên là sông Nhà Bè và cũng từ đây sông Nhà Bè phân lưu thành hai nhánh là sông Soài Rạp và sông Ḷng Tàu :

Nhà Bè nước chảy chia hai,
Ai về Gia Định, Đồng Nai th́ về.

    Sông Ḷng Tàu mang đầy tính chất lịch sử. Mùa xuân năm Nhâm Dần (1782), Nguyễn Huệ dẫn một đoàn chiến thuyền vào cửa Cần Giờ đánh tan quân của Nguyễn Ánh, gồm 400 thuyền chiến và 70 ghe lớn. Nguyễn Ánh phải bỏ chạy về Định Tường. Đến tháng 8, Châu Văn Tiếp chiếm Gia Định, rước Nguyễn Ánh trở lại Sài G̣n. Được tin, tháng 2 năm Quư Măo (1783), Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ lại kéo quân vào cửa biển Cần Giờ. Quân Tây Sơn tiến vào sông Ḷng Tàu, đánh tan quân của Nguyễn Ánh. Nguyễn Ánh chạy về Tam Phụ.

    Xuôi theo hạ lưu khoảng 7 cây số, sông Ḷng Tàu phân lưu thành hai là sông Ḷng Tàu và sông Đồng Tranh. Sông Đồng Tranh chảy thêm khoảng 10 cây số nữa th́ lại phân thành hai nhánh nữa là sông Đồng Tranh và sông G̣ Gia trước khi đổ ra biển qua cửa Cần Giờ.

    Sông Soài Rạp khi chảy ngang xóm Tân Nhơn th́ thoát nước qua ngă sông Vàm Sát (Rạch Vàm) rồi phân thành hai nhánh là sông Đinh Ba và sông Cát Lái. Cuối cùng sông Soài Rạp chảy ra biển qua cửa Soài Rạp.

    Như vậy cửa sông Đồng Nai là một tứ giác với các góc là Nhà Bè, Phú Mỹ trên QL-15 (bây giờ là QL-51), Vũng Tàu và Vàm Láng trên cửa Soài Rạp. Đây là một vùng đầm lầy mọc đầy cây tràm, cây đước, thường bị ngập, với nhiều sông, rạch mà người ta gọi là Rừng Sát. Chiến tranh tại đây khá ác liệt giữa hai bên để kiểm soát thủy lộ thiết yếu. Sau chiến tranh, chính quyền CS tổng kết có tất cả 625 đặc công thuộc đoàn 10 Rừng Sát và khoảng 1400 cán binh thuộc 12 xă của huyện Nhơn Trạch đă bị thiệt mạng trên chiến trường này (103).

    Mặc dù có bề ngang rộng hơn sông Ḷng Tàu nhưng sông Soài Rạp không thuận tiện cho lưu thông của tàu bè v́ ḷng sông cạn, tốc độ lấp cạn lại khá nhanh dù được xáng đào vét. Thủy lộ Ḷng Tàu lại không có sương mù thường xuyên như sông Soài Rạp nên là huyết mạch nối liền giữa biển Đông và cảng Sài G̣n. Tàu có tầm nước 12 bộ (3.7 m) hay nhỏ hơn có thể vào ra bất cứ lúc nào. Các tàu trọng tải lớn với tầm nước khoảng 28 bộ (8.5 m) chỉ có thể vào sông Ḷng Tàu khi thủy triều lên. Khi lưu lượng giao thông cao, tàu bè thường mất khoảng năm giờ để đi từ biển vào Sài G̣n.

    Để kiểm soát an ninh khu vực, QLVNCH có hai căn cứ là Cát Lái và đặc khu Rừng Sát đóng cạnh căn cứ yểm trợ tiếp vận Nhà Bè. Phía bên kia sông là chi khu Nhơn Trạch và kho đạn Thành Tuy Hạ. Xem Sơ đồ 19-20 và H́nh 35-36.

    Căn cứ Cát Lái nguyên là căn cứ yểm trợ tiếp vận của hải quân Mỹ, được bàn giao lại cho hải quân VNCH vào tháng 9/1971. Căn cứ YTTV Nhà Bè được chuyển giao vào tháng 4 năm 1972. Năm 1975, căn cứ Cát Lái là nơi đặt BCH của liên đoàn người nhái với CHT là HQ Trung tá Trịnh Ḥa Hiệp. CHT căn cứ YTTV Nhà Bè là HQ Trung tá Lê Bá Thông.

    Năm 1871, khu vực Cần Giờ gồm hai tổng là An Thít và Cần Giờ thuộc tỉnh Gia Định. Năm 1947, người Pháp sáp nhập hai tổng này vào thị xă Ô Cấp (Vũng Tàu) để thành lập tỉnh Cap Saint-Jacques. Sau hiệp định Genève, chính phủ VNCH đặt hai tổng An Thít và Cần Giờ thuộc tỉnh Phước Tuy. Năm 1959, quận An Thít được đổi tên thành quận Quảng Xuyên. Năm 1965, hai quận Cần Giờ và Quảng Xuyên được chuyển từ tỉnh Phước Tuy sang tỉnh Biên Ḥa. Năm 1970, hai quận này lại được đặt trực thuộc tỉnh Gia Định như cũ.

    Để ngăn chận sự xâm nhập của CS bằng đường biển, biệt khu Rừng Sát được VNCH thành lập từ những năm đầu của thập niên 60. Đến năm 1963, biệt khu Rừng Sát được đổi thành đặc khu Rừng Sát (ĐK/RS), chịu trách nhiệm lănh thổ hai quận Quảng Xuyên và Cần Giờ, thuộc tỉnh Gia Định trên phương diện hành chánh nhưng trực thuộc BTL/HQ trên phương diện hành quân, tác chiến. ĐK/RS có một BCH gồm CHT là Đại tá Cổ Tấn Tinh Châu với hai phụ tá thủy (cấp trung tá hải quân) và bộ (cấp trung tá bộ binh) cùng một sĩ quan liên lạc không quân (cấp thiếu tá).

    Lực lượng bộ gồm hai tiểu đoàn và bốn đại đội ĐPQ biệt lập được phân phối trấn giữ các đồn bót với nhiệm vụ chủ yếu là bảo vệ sông Ḷng Tàu (104).

    Lực lượng thủy là liên đoàn 33 do HQ Trung tá Nguyễn Kim Khánh chỉ huy gồm bốn giang đoàn (105):

·         Giang đoàn 28 xung phong

·         Giang đoàn 30 xung phong

·         Giang đoàn 51 tuần thám

·         Giang đoàn 91 trục lôi.

    ĐK/RS và căn cứ hải quân nguyên trước đây là căn cứ yểm trợ tiếp vận Nhà Bè của hải quân Mỹ. Đây là một căn cứ lớn nhất trong vùng Sài G̣n, được bàn giao lại cho QLVNCH vào tháng 4/1972.

    Năm 1966, BCH Miền của CS cho thành lập đặc khu Rừng Sát với ngụy danh là T10, về sau đổi lại là đoàn 10 để khỏi trùng tên với một tổ chức mới của Trung ương Cục miền Nam. Lương Văn Nho (Hai Nhă) là Đặc khu trưởng kiêm Chính ủy và Nguyễn Văn Mây (Sáu Tâm) là CHP với quân số lúc thành lập và nhiều nhất là khoảng 600 người (106).

    Ngày hôm nay, quận Nhà Bè cũng thuộc tỉnh Gia Định và gồm có 9 xă, 4 xă đă đô thị hóa và 5 xă nông thôn. Tháng 10 năm 1976, quận Nhà Bè trở thành một trong 5 huyện của thành phố HCM. Ngày 18/3/1997, Ủy ban Nhân dân Thành phố HCM kư quyết định số 1197/QĐ.UB.NC chia huyện Nhà Bè thành hai là huyện 7 và huyện Nhà Bè. Huyện Nhà Bè mới có diện tích là 97 km2 gồm thị trấn Nhà Bè và 6 xă là Phú Xuân, Phước Kiển, Phước Lộc, Long Thới, Nhơn Đức và Hiệp Phước.

    Trong chiến dịch HCM, hai trung đoàn 46 và 101 thuộc sư đoàn 325, quân đoàn 2 CS được lệnh tiến đánh chi khu Nhơn Trạch với hai nhiệm vụ :

·         Mở đường đưa pháo tầm xa để bắn vào phi trường Tân Sơn Nhất, khóa chặt đường vận chuyển hàng không ra khỏi Sài G̣n trước giờ tổng công kích.

·         Ngăn chận đường biển từ sông Ḷng Tàu đi ra biển.

    Ngày 26/4, kho đạn Thành Tuy Hạ nổ tung v́ trúng pháo địch (107). Trận đánh Thành Tuy Hạ được bắt đầu lúc sáng sớm và chấm dứt lúc 18 giờ ngày 29/4 sau nhiều đợt xung phong có chiến xa yểm trợ (24). Trong khi đó quân CS pháo kích vào ĐK/RS làm một binh sĩ gác cổng bị thiệt mạng (104).

    Sự kháng cự mănh liệt của QLVNCH khiến CS không chiếm được chi khu Nhơn Trạch đúng theo kế hoạch, hậu quả là pháo binh 130 ly phải đặt tại khu vực hai ấp Long Tân và Phú Thạnh và chỉ có thể bắt đầu pháo kích vào Tân Sơn Nhất vào chiều ngày 29/4 (xem Sơ đồ 21). Những cuộc pháo kích ngày 28/4 là do pháo binh của hai đoàn đặc công 115 và 117 từ hướng B́nh Dương (108). Cuộc pháo kích này kéo dài đến sáng ngày 29/4. Hai binh sĩ TQLC Mỹ bị thiệt mạng v́ pháo kích tại Cơ quan Tùy Viên Quốc Pḥng (DAO) (109), xem Sơ đồ 22 & H́nh 37.

    Chiến trận tại khu vực này vẫn tiếp diễn vào sáng ngày 30/4 qua mô tả của các sử gia CS (25) :

    “6 giờ sáng ngày 30 tháng 4, mong đánh thông đường tháo chạy ra biển và cứu nguy cho đồng bọn ở Cát Lái, Bộ tư lệnh hải quân ngụy liều lĩnh tập trung lực lượng mở cuộc phản kích. Từ Tân Cảng, hàng đoàn tàu chiến đầy lính ngụy theo sông Nhà Bè hùng hổ tiến ra vừa đi vừa bắn tới tấp vào những nơi chúng nghi ngờ có trận địa hỏa lực của ta bố trí.

Mặc cho địch phản pháo ác liệt, các chiến sĩ Trung đoàn 84 và tiểu đoàn 120 cao xạ gan góc chờ địch vào gần mới nổ súng đánh trả. Chỉ trong chớp nhoáng lại thêm năm tàu địch bị nhấn ch́m tại chỗ. Nhiều chiếc khác trúng đạn pháo bị thương. Một tàu kéo theo ba xà lan chở đầy đạn bốc cháy, nổ dữ dội”.

    CHT/ĐK/RS cho biết ông được Phó Đô đốc Chung Tấn Cang căn dặn sẽ là đơn vị lui binh sau cùng, sau khi tàu dầu chót của hải quân đi ngang qua đặc khu. Lúc bấy giờ là khuya ngày 29/4 (97). Như vậy trận đánh tại căn cứ Cát Lái với sự phản công của hải quân VNCH sáng ngày 30/4 chỉ là một sự kiện tưởng tượng. Bắn ch́m các tàu lẻ tẻ tiếp tục cuộc di tản ngày 30/4 th́ có thể đúng nhưng đánh lại cuộc phản công của tàu chiến th́ chắc chắn là không có thật.

    Tài liệu của CS ghi nhận sau khi chiếm được Cát Lát, sư đoàn 325 để lại hai trung đoàn 46 bộ binh và 84 pháo binh để ngăn chận sông Ḷng Tàu nhưng lại không nói ǵ về kết quả ngăn chận (24). Đoàn 10 Rừng Sát cũng cho rằng họ đă khống chế sông Ḷng Tàu đoạn từ  Phước Khánh đến ngă ba Đồng Tranh từ ngày 27/4 (100). Trường hợp ngăn chận duy nhất được biết khi VC tác xạ vào thương thuyền Việt Nam Thương Tín lúc 13 giờ 30 ngày 30/4. Trong khi đó, sông Soài Rạp vẫn c̣n lưu thông được b́nh thường lúc 14 giờ (110). Đến 17 giờ, tàu Trường Xuân ra biển không bị cản trở (111). Sau cùng, việc cả hạm đội của hải quân VNCH ra biển an toàn bằng chính thủy lộ này đă nói lên sự thật. 

    T́nh h́nh chung của quận Nhà Bè sau sau khi chiến tranh chấm dứt cũng cho thấy t́nh h́nh an ninh của khu vực này thời VNCH tương đối ổn định. Sau chiến tranh, lịch sử đảng bộ CS địa phương xác nhận (112):

“Sau khi tiếp quản, Đảng bộ quận Nhà Bè có 16 đảng viên sinh hoạt trong Ban Cán sự Đảng do đồng chí Phan Văn Ṭng (Nguyễn Văn Tư) làm bí thư. Ở 9 xă không có chi bộ Đảng, cơ sở ṇng cốt rất mỏng, nhất là các xă ở phía bắc quận.

...

... Trong hoàn cảnh mới mẻ, bỡ ngỡ, chưa thông tỏ địa bàn, chưa nắm được dân, cơ sở quần chúng hầu như chưa có, nhưng với sự quyết tâm của tất cả cán bộ, đảng viên và sự lănh đạo của Thành ủy, Quận ủy đă bám sát đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, dựa vào quần chúng, phát huy vai tṛ và tinh thần cách mạng của quần chúng, phát động quần chúng tạo thành một lực lượng mạnh mẽ, khống chế có hiệu quả bọn tàn dư phản động”.

    7. PHI TRƯỜNG TÂN SƠN NHẤT

    Trong chiến tranh, việc tấn công đánh chiếm các phi trường thường được thực hiện nhằm 4 mục đích chủ yếu (113) :

1)      Làm đầu cầu, căn cứ hành quân

2)      Ngăn cản địch quân sử dụng

3)      Quấy phá căn cứ của địch

4)      Phá hủy phi cơ và quân dụng.

    Để chuẩn bị cho chiến dịch HCM, tổ trung tâm thuộc Bộ TTM quân đội CSBV được thành lập để nghiên cứu các phương án tác chiến. Dĩ nhiên việc bao vây cô lập đối phương đă được cứu xét. Đại tướng Vơ Nguyên Giáp viết (114), xem H́nh 38-43 :

“Tôi gợi ư một số điểm để tổ đi sâu nghiên cứu như phương án h́nh thành thế bao vây, chia cắt địch về chiến lược, chiến dịch; khả năng tiêu diệt địch ở ṿng ngoài không cho chúng co cụm vào nội đô; trận then chốt là ở đây? Thọc sâu vào thành phố từ hướng nào? Biện pháp khống chế sông Ḷng Tàu, kênh Chợ Gạo, sân bay Biên Ḥa, sân bay Tân Sơn Nhất; sử dụng máy bay của địch đánh các mục tiêu trong thành phố và chặn đường địch chạy ra biển ...

Pḥng họp của tổ thường trực được bố trí ngay tại Sở chỉ huy. Tôi thường xuyên chủ tŕ các cuộc thảo luận, ghi lại những ư kiến tốt.

Lời khai của Nguyễn Vĩnh Nghi[6] cũng mang lại nhiều thông tin quan trọng. Sau khi bị bắt ngày 16-4 tại Phan Rang, viên trung tướng này được đưa ngay ra miền Bắc. Trước thái độ đối xử khoan hồng, nhân đạo của cách mạng, Nguyễn Vĩnh Nghi đă tiết lộ nhiều điều, cho thấy lực lượng pḥng thủ của địch đă bị căng ra rất mỏng, lực lượng dự bị c̣n rất ít. Trong nội đô, địch chỉ dựa vào lực lượng cảnh sát và pḥng vệ dân sự. Hướng hiểm yếu nhất, theo y, là tiến công từ G̣ Dầu Hạ - Trảng Bàng. Trên hướng đông, địch có thể phá các cầu để chặn bước tiến của quân ta. Địch bố trí các kho đạn chính ở Nhà Bè và Cát Lái. Long B́nh chỉ là kho tiếp liệu. Do địch dựa chủ yếu vào lực lượng không quân, nên các sân bay Tân Sơn Nhất, Biên Ḥa và Cần Thơ giữ vai tṛ quan trọng, đặc biệt sân bay Biên Ḥa, nơi đậu các máy bay cường kích F5 và A37”.

    Từ BCH Miền, nơi phát xuất những mệnh lệnh tác chiến, Thượng tướng Trà kể lại (115) :

“Sau đó chúng tôi thống nhất kế hoạch và quyết tâm: Sư đoàn 6 của Quân khu 7 quen thạo địa phương được tăng cường pháo và xe tăng, bí mật hành quân, bất ngờ giải phóng 1 đoạn trên đường 15, chọc qua tỉnh lộ 19 chạy quanh ḷng chảo Nhơn Trạch, đặt cho được trận địa pháo 130ly tại đây. Từ trận địa pháo này, trước khi có lệnh thống nhất tiến công vào Sài G̣n th́ bắn khống chế sân bay Tân Sơn Nhất. Khi các hướng tiến vào nội đô th́ không được bắn vào mục tiêu trong nội thành nữa mà chi viện đắc lực cho cánh quân phía đông”.

    Như vậy việc đánh chiếm các phi trường ở đây, theo phân loại ở trên (113) là để ngăn cản QLVNCH sử dụng vào các mục đích mà Đại tướng Văn Tiến Dũng đă phân tích (116) :

“Lúc này một vấn đề c̣n làm cho chúng tôi băn khoăn là việc triển khai trận địa pháo ở Nhơn Trạch để khống chế sân bay Tân Sơn Nhất. Sân bay Biên Ḥa th́ đă bị trận địa pháo của ta ở Hiếu Liêm khống chế, địch phải di chuyển máy bay về sân bay Tân Sơn Nhất và sân bay B́nh Thủy (ở Cần Thơ). Như vậy là ta đă rút ngắn tầm hoạt động của máy bay địch lùi về phía nam 150 ki-lô-mét nếu chúng cất cánh từ B́nh Thủy. Nhưng tại sân bay Tân Sơn Nhất c̣n đang để đủ loại máy bay mà địch có thể từ đây gây thêm tội ác [sic] và cũng từ đây máy bay vận tải các loại đang nhộn nhịp không ngớt chở những tên đầu sỏ Mỹ, ngụy tháo chạy ra nước ngoài”.

    Theo lượng định của các cấp chỉ huy CS th́ quan trọng nhất là phi trường TSN. Phi trường này nằm cách thủ đô Sài G̣n khoảng 7-8 km, rộng khoảng 150 héc-ta, được chính phủ thuộc địa Pháp cho xây dựng từ những năm đầu của thập niên 20 thuộc thế kỷ trước với phi đạo dài 1500 m. Năm 1956, viện trợ Mỹ giúp mở rộng đường băng mới dài 2200 m. Trước năm 1975, TSN là một trong những phi cảng rộn rịp nhất thế giới (117).

    Sau chiến tranh, chính phủ CSVN cho thành lập “Cụm Cảng Hàng Không Miền Nam” để quản lư các phi trường của VNCH. Một nhà ga mới tại TSN với 85% vốn vay của Nhật (ODA) có khả năng tiếp nhận 15-17 triệu hành khách mỗi năm được khánh thành ngày 14/8/2007. TSN hiện có hai đường băng song song, dài lần lượt là 3048 m và 3800 m, rộng 45 m. Trong tương lai, một phi trường quốc tế mới sẽ được xây cất tại Long Thành, dự tính sẽ được hoàn thành năm 2015. Lúc đó phi trường TSN sẽ dành cho các chuyến bay nội địa.

    Trở lại kế hoạch đánh phá phi trường TSN, tư lệnh pháo binh của quân đội CSBV viết (108) :

    “Sở pháo binh chỉ huy chiến dịch đă lấy tâm của sân bay Tân Sơn Nhất khoanh thử một ṿng với bán kính 27 ki-lô-mét  trên bản đồ, th́ những khu vực mà Đoàn 75 đă cử người đi nghiên cứu, bí mật chuẩn bị, tuy nằm trong đường tṛn nhưng đều là vùng địch hiện đang kiểm soát.

Trong quá tŕnh trao đổi, có ư kiến đề nghị là nên dùng một sư đoàn bộ binh đánh trước ngày N của chiến dịch, giải phóng trước khu vực B́nh Dương - Bến Cát để kéo pháo 130 vào. Nhưng Bộ chỉ huy chiến dịch thấy như vậy không lợi cho thế trận chung, không giữ được thế bất ngờ của toàn chiến dịch. Tuy vậy, quyết tâm dùng pháo 130 đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất vẫn không có ǵ thay đổi v́ đây không chỉ là vấn đề sử dụng hỏa lực mà c̣n có những yêu cầu khác, nhất là về mặt chính trị. Khi nhân dân trong nội thành thấy pháo lớn của ta, quân chủ lực của bộ đội giải phóng, đánh vào các hang ổ cuối cùng của Mỹ - ngụy th́ có nghĩa là giờ tận số của chế độ Sài G̣n đă điểm.

Những ngày sau, chính các đồng chí trong Bộ chỉ huy chiến dịch đă quyết định chọn Nhơn Trạch - một vùng trũng ở phía đông-nam Sài G̣n làm vị trí đặt pháo 130. Nhưng để kéo pháo vào, bộ binh ở hướng Đông cần đánh chiếm được Nhơn Trạch sớm (ở hướng này, các quân đoàn được phép tiến công trước ngày N của chiến dịch). Đồng chí Tạ Vân, Phó tư lệnh pháo binh chiến dịch được cử đi cùng đoàn đồng chí Lương Văn Nho  sang hướng Đông, có nhiệm vụ bàn bạc kỹ về việc đưa pháo 130 vào Nhơn Trạch.

Ngày 23 tháng 4, đồng chí Tạ Vân điện về cho biết đă làm việc với đồng chí Đào Lan (Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh pháo binh đi với cánh quân ‘Duyên Hải’ từ Đà Nẵng vào). Nhiệm vụ đánh chiếm Nhơn Trạch để đưa pháo vào sẽ giao cho Quân đoàn 2 và yêu cầu cơ quan pháo binh chiến dịch gửi ngay những tọa độ cụ thể cần bắn để phổ biến cho đơn vị.

Lữ đoàn 164 pháo binh Quân đoàn 2 giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 3 pháo 130  đi theo sau đội h́nh tiến công của Sư đoàn 325 vào Nhơn Trạch, đặc trách nhiệm vụ trút đạn vào Tân Sơn Nhất”.

    Ông cho rằng đại bác 130 ly đă pháo kích vào phi trường TSN ngày 28/4 (98). Một vài sĩ quan QLVNCH cũng đồng ư như vậy (118-119). Tuy nhiên nhiều kư giả ngoại quốc lại cho rằng đó là ngày 29/4 (120-121). Không quân Mỹ xác nhận ngày 29/4 (122). Nhiều sĩ quan không quân cũng cho rằng CS bắt đầu pháo kích từ sáng sớm ngày 29/4 (123-125).

    Phó Tư lệnh pháo binh của chiến dịch HCM đă giải thích những chi tiết trên như sau (126) :

    “Để chuẩn bị cho pháo bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất, tôi được Bộ tư lệnh chiến dịch cử sang hướng đông cùng đoàn cán bộ chiến dịch đón cánh quân của binh đoàn Hương Giang  do anh Lê Trọng Tấn chỉ huy ở khu vực Gia Ray - núi Chứa Chan, trên quốc lộ số 1. Sau khi báo cáo và được phép anh Tấn và anh Nguyễn Hữu An, Tư lệnh Binh đoàn Hương Giang, tôi đă cùng cơ quan pháo binh của Binh đoàn bàn kế hoạch và tổ chức đưa pháo vào Nhơn Trạch. Kế hoạch được phê chuẩn, về thời gian chậm nhất là ngày 28-4 phải bắn được vào sân bay Tân Sơn Nhất. Sư đoàn 325 được giao nhiệm vụ mở đường và giúp đở tiểu đoàn 3 pháo 130 ly thuộc lữ pháo 164 vào chiếm lĩnh trận địa.

Sáng ngày 26-4, đoàn chúng tôi về đến sở chỉ huy tiền phương của chiến dịch. Tôi được cử làm thường trực ở sở chỉ huy chiến dịch, trong đó có nhiệm vụ theo dơi và giúp Bộ tư lệnh chỉ đạo trận địa pháo Nhơn Trạch. 17 giờ ngày 26-4, pháo Binh đoàn Hương Giang nổ súng mở màn chiến dịch, sư đoàn 325 đánh chiếm Long Thành, ngày 27-4 phát triển theo đường 25 về Nhơn Trạch. Vừa tiến vừa chiến đấu, đội h́nh của sư đoàn bị đạn pháo và máy bay địch đánh phá ác liệt. Quá tŕnh phát triển, pháo của sư đoàn tích cực chi viện, nhưng vẫn không bảo đảm cho tiểu đoàn 3 đưa pháo vào Nhơn Trạch đúng kế hoạch. Để vẫn đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất đúng thời gian, chỉ huy chiến dịch đă có phương án dự pḥng. Sáng 28-4, Bộ tư lệnh chiến dịch đă ra lệnh dùng hai đại đội pháo phản lực  của đặc công Miền, trận địa đặt ở Quới Xuân, bắn 200 viên đạn ĐKB vào sân bay Tân Sơn Nhất, gây nhiều đám cháy, cơ quan chỉ huy quân sự Mỹ trúng đạn. Cùng ngày 28-4, sư đoàn 325 đă mở được đường và bảo đảm cho pháo qua phà Phước Thiện, tiến vào Nhơn Trạch, khi cách Nhơn Trạch 2km, được tin trong quận lỵ vẫn có địch. Sau khi đo đạc tính toán tọa độ trận địa đặt ở đó vẫn bắn tới sân bay, tiểu đoàn trưởng Ngô Đức Tuấn cho triển khai trận địa bắn tại chỗ và tiến hành mọi công tác chuẩn bị bắn. 4 giờ 30 ngày 29-4, mới được 1 khẩu bắn vào sân bay, 6 giờ được 2 khẩu, 16 giờ được 4 khẩu, và 17 giờ càng ngày mới đủ 8 khẩu bắn. Đạn tiêu thụ 245 viên 130 ly. Sân bay Tân Sơn Nhất ch́m ngập trong lửa đạn và bị tê liệt hoàn toàn, tạo điều kiện cho các hướng tiến công nâng cao tốc độ và phát triển thuận lợi.

20 giờ ngày 29-4, sở chỉ huy chiến dịch ra lệnh trận địa pháo Nhơn Trạch tạm ngừng bắn vào sân bay. Đến lúc này mới thấm thía một khuyết điểm lớn là không tổ chức mạng thông tin giữa pháo binh Binh đoàn Hương Giang với cơ quan pháo binh chiến dịch. Tôi phải loay hoay măi mới phát đi được bức điện, nhưng vẫn thấp thỏm, không biết điện đó có đến kịp không? Sau đó được biết, do nắm được t́nh h́nh chung, 22 giờ, Binh đoàn Hương Giang cũng chủ động ra lệnh cho trận địa Nhơn Trạch ngừng bắn. Khi tổng kết gặp nhau, chúng tôi nói vui: ‘Trí lớn gặp nhau’ “.

    Trận pháo kích sáng ngày 28/4 [sic] đă trúng vào trụ sở của ủy ban liên hiệp quân sự gây tử thương cho một đại úy CSBV, một trung tá và một cán binh bị thương (127). Pháo binh của CS đă bắn trúng mục tiêu. Ở đây mục tiêu không phải là trụ sở của UBLH/QS mà là băi đậu phi cơ của không đoàn 92 mới từ Phan Rang di tản chiến thuật về. Thiếu tá Trưởng pḥng hành quân của không đoàn mô tả trận pháo kích vào sáng sớm ngày 29/4/1975 như sau (128) :

“Nửa đêm tôi lả người thiếp đi lúc nào không hay. Đến khi nghe tiếng c̣i hụ báo động liên hồi. Tôi chụp điện thoại hot line pḥng hành quân chiến cuộc được biết có pháo kích; tôi hỏi cần phi tuần khẩn không? Sĩ quan trực trả lời chưa có tọa độ. Rồi chúng tôi nghe tiếng nổ lớn đàng trước ụ bên cạnh. Tiếng hét của Trung tá Cả: “Tất cả ra sau ụ nhanh lên”. Trời tờ mờ sáng, liến nh́n đồng hồ gần ba giờ sáng sáng 29 tháng 4. Những trái pháo đầu nghe từ phía trái lần lượt gần lại và cuối cùng trúng một phi cơ, sau đó tiếng nổ ầm ầm liên tục trong màn lửa ngợp một góc phi trường. Mười mấy năm thả bom đây là lần đầu tiên nghe bom đạn nổ; chát chúa dây chuyền phi cơ bốc cháy theo. Sơn khều vai tôi: “Anh Tư thấy chưa, chúng nó điều chỉnh pháo kích từ Camp Davis”. Ngồi bịt tai chịu trận đàng sau bức tường dài cao hơn mười thước Anh. Tôi nôn nóng lom khom đến cuối bức tường ló mặt ra nh́n về phía trước băi đậu, một cảnh hoang tàn đang hủy diệt trước mắt, hơn năm chục chiếc A37 đang bốc cháy khói lửa ngút ngàn. Tôi quay trở lại tựa lưng vào tường sắt lạnh, đầu óc chùn lại. Những cánh thép A37 là huyết mạch của ba phi đoàn khu trục Phan Rang . Giờ đây hơn trăm phi công chiến đấu bằng tay không ư? Thế là hết! Cuộc chiến bên ta đă lâm vào ngơ cụt. Hèn ǵ cả đêm hôm qua không có một phi tuần nào được điều động cả. Trung tá Khôi và Cả hỏi Đại tá Thảo: “Giờ tính sao sư phụ?”. Không đoàn trưởng trả lời: “Đợi sáng hết pháo kích di chuyển anh em về Bộ Tư Lệnh Không Đoàn 33 rồi tính!”. 5 giờ 40 sáng, vẫn c̣n những trái pháo kích rớt răi rác khắp phi trường. Chúng tôi vẫn ngồi tựa lưng bức tường sau ụ, hướng về phía bắc. Có mấy chiếc vận tải và U17 cất cánh quẹo trái phía G̣ Vấp để lấy hướng tây đi B́nh Thủy hay Utapao? Pḥng không xịt lên liên tục. Một chiếc AC119 trúng cao xạ [sic] găy làm đôi trước mắt chúng tôi. Cảnh tượng thật bàng hoàng, anh em nh́n thấy lắc đầu bùi ngùi cho số phận những người có mặt trên tàu định mệnh đó. Sáu giờ mười lăm, mặt trời ló dạng. Đạn pháo thưa dần”.

    Một sĩ quan cao cấp không quân kể lại những ǵ ông chứng kiến ở một góc cạnh khác của phi trường TSN, cũng từ sáng sớm ngày 29/4 (123) :

    “Khoảng 1 giờ sáng loạt pháo đầu tiên của VC bắt đầu vào TSN, khu nhà của nữ quân nhân bốc cháy dữ dội, điện bị cắt, trong nhà tối thui, căn pḥng rung lên từng chập theo nhịp độ pháo 130 m/m bắn từ Nhơn Trạch gần Long Thành và từ Cát Lái, hơn 300 quả pháo đă bắn vào TSN trong đêm 28 rạng ngày 29 tháng tư, tiếng đổ vỡ loảng xoảng trong nhà, cháu trai lớn của tôi bị thương nơi đầu do một mảnh gương văng phải, Thiếu tá Minh (Minh chè) ở gần đó chạy sang và giúp gia đ́nh tôi đem các cháu chạy bộ vào Trường CH và TM gần đó để tránh đạn v́ nhà trường được xây cất kiên cố để chịu đựng những cuộc pháo kích, ngay trước cổng trường xác của người Quân cảnh giữ an ninh cho doanh trại của ủy ban hỗn hợp 4 bên, nằm ch́nh ́nh giữa mặt đường, trong khi đó một binh sĩ mất b́nh tĩnh la hét ầm ỉ, ôm súng lăn lộn trên vỉa hè, anh ta sợ quá nên phát điên.

Trong văn pḥng làm việc của tôi nhờ hệ thống dây điện ngầm nên vẫn có điện sáng, Đại Tá Phan quang Phúc cũng tới gặp tôi, hai anh em ngồi chịu trận để chờ trời sáng, mỗi lần nghe tiếng nổ và rung nhẹ của hàng loạt pháo bắn đi từ xa vang lại là chúng tôi lại nh́n nhau hồi hợp để chờ những tiếng nổ xé trời làm rung chuyển mặt đất của những loạt đạn đến v́ chẳng biết chúng sẽ rơi vào đâu. Đại Tá Phúc than phiền: ‘Đúng là anh em ḿnh đang nằm trong cái rọ’, c̣n tôi th́ vẫn mang một triết lư trong thời chiến là sau khi đă thực thi những biện pháp an toàn th́ đạn nó né ḿnh, nếu chẳng may ḿnh lănh đủ th́ cũng không c̣n th́ giờ để mà ân hận.

...

Mờ mờ sáng hôm sau đứng trước cổng trường CH và TM, nh́n về phía nhà thờ qua làn sương mù xen lẫn khói của đạn pháo, tôi thấy ẩn hiện những bóng người thất thểu đi về phía cổng Huỳnh hữu Bạc, khi mặt trời sáng rơ con đường chạy dài từ đài radar đến cổng BTLKQ bắt đầu rộn rịp đủ những loại xe chạy tới lui. Trên không trung một chiếc AC119 Hỏa Long đang tiếp tục nhả đạn xuống ṿng đai phi trường, tôi đang nh́n theo với ḷng cảm phục tinh thần chiến đấu của phi hành đoàn nhiệm vụ được giao phó th́ một phi đạn địa không xịt khói màu da cam đâm thẳng vào phía sau chiếc Hỏa Long đang ở cao độ khoảng 1,000 bộ, cánh trái gẫy rời khỏi thân phi cơ từ từ rơi xuống lạng qua lạng lại như một chiếc lá khô, c̣n chiếc phi cơ th́ vừa xoáy vừa đâm thẳng xuống mặt đất, tấn thảm kịch chỉ diễn ra trong vài giây tôi nghĩ không một ai sống sót. Tôi buồn bă quay vào vừa lúc Trung Tá Yên mang xe Jeep vào trả và hối hả đi ra khỏi bằng xe Mini Lambretta của anh, một số hoa tiêu A37 và F5 được tập họp tại BCH Không Chiến  theo lệnh của Đại Tá Vũ văn Ước, một lát sau mọi người lên xe ra đi, sau cùng tôi thấy Đại Tá Ước lên chiếc sedan của không quân, ông nói với tôi là sang bên Nhảy dù họp, một HSQ phóng xe qua nói vọng với tôi: ‘Ở bên BTL người ta đi hết cả rồi, Đại Tá c̣n đứng đấy làm ǵ?’, một chiếc xe ‘hai ngựa’ màu hồng của bác sĩ Phạm gia Lữ chạy qua về phía BTLKQ.

Trở lại văn pḥng, tôi gặp Thiếu Tá Lưu huy Cảnh và Phạm quư B́nh, tôi giục họ nên t́m cách đi ngay v́ bên ngoài đă bắt đầu có tiếng súng nhỏ vọng lại, tôi lái xe sang bên BTLKQ th́ thấy vắng lặng, trên sân cờ xe cộ vất ngổn ngang, từng cơn gió hất tung những giấy tờ vất bừa băi, tôi thấy chiếc xe VW màu đỏ kiểu sport rất đẹp của một sĩ quan Quân báo cánh cửa mở tung. Tôi vội vă trở lại Trường cho phép những nhân viên c̣n ở lại hăy trở về nhà theo dơi t́nh h́nh mà tùy cơ ứng biến, trong số này có gia đ́nh Thiếu Tá Phụng và gia đ́nh Thiếu Tá Hưng, t́nh h́nh trong căn cứ có vẻ bất an v́ các binh sĩ Quân cảnh bắn súng bừa băi nên tôi cho tài xế chở gia đ́nh tôi tạm lánh ra nhà bà chị ngoài phố.

Tôi đi kiểm soát lại các pḥng sở, lớp hội thảo, giảng đường, tất cả đều ch́m trong một sự im lặng lạ thường, anh tài xế đă trở lại báo cáo ngoài phố rất là hỗn loạn, tôi nghĩ ở lại trong căn cứ cũng không ích ǵ nên lên xe cùng tài xế đi ra phía cổng Lăng Cha Cả, trên người tôi chỉ có một áo bay mũ ca lô và giây đeo súng P38, anh tài xế có một khẩu AR15, tôi gặp một vài anh Quân cảnh mặt mũi hung dữ đ̣i giữ xe tôi lại và hỏi một cách vô lễ: ‘Bây giờ các đàn anh bỏ rơi đàn em phải không?’ và họ bắn từng tràng tiểu liên lên không như để giải tỏa nỗi uất ức và thất vọng. Tôi phải trả lời là nếu tôi bỏ các anh em th́ tôi đă đi rồi, bây giờ các anh kéo dây kẽm gai ra để tôi sang Bộ Tổng Tham Mưu nhận chỉ thị.

Ra khỏi TSN điều làm tôi ngạc nhiên là trên đường phố gần phi trường sao nhiều dây kẽm gai kéo ngang đường thế, xe Jeep muốn vượt qua chỉ c̣n cách leo lên lề và thay v́ bấm c̣i để qua những đám đông người th́ cứ bắn một tràng AR15 lên không là có lối đi ngay, sau lưng tôi những cột khói đen bốc cao trong phi trường như chào vĩnh biệt, trên không những phi tuần khu trục cơ của hạm đội Mỹ bay bảo vệ cho những trực thăng đang di tản những nhân viên của chính phủ Mỹ theo yêu cầu của Tổng Thống Dương văn Minh trên đài phát thanh là phải rời khỏi Việt Nam trong ṿng 24 tiếng đồng hồ.

Suốt đêm, trong căn pḥng nhỏ nơi gia đ́nh tôi tạm trú trên đường Tự Đức gần ṭa Đại sứ Hoa kỳ, tiếng trực thăng xen lẫn tiếng nhạc của đài FM Mỹ phát ra để hướng dẫn trực thăng Mỹ làm homing vào ṭa Đại sứ Mỹ cho đến 6 giờ sáng ngày 30 tháng tư th́ cuộc di tản bằng trực thăng chấm dứt. Đài phát thanh Sài g̣n thỉnh thoảng lại phát đi những chỉ thị của Tổng Thống, nào là Tướng Vĩnh Lộc hiện là Tham mưu trưởng của quân đội, Tướng Nguyễn hữu Tần là tân tư lệnh KQ, quân nhân các cấp phải tŕnh diện ngay Bộ TTM, tôi tới nhà Thiếu Tá Đoàn Hựu để cùng nhau lên Bộ TTM tŕnh diện th́ bỗng nghe trên đài phát thanh lời tuyên bố của Tổng Thống Dương văn Minh: ‘Người anh em bên kia hăy ngưng bắn ...’, thôi thế là tan hàng rồi, tôi trở về nhà và giữ thái độ chờ xem”.

    Sáng ngày 29/4, trên bầu trời thủ đô có tất cả 5 phi cơ của không quân VNCH (129) :

·         Hai phi cơ AD-5 Skyraider thuộc phi đoàn Phi Long 518, cất cánh từ phi trường Biên Ḥa. Một chiếc do Đại úy Trần Văn Phúc lái (danh hiệu truyền tin là Phi Long 51), chiếc thứ nh́ của Thiếu tá Trương Phùng (Phi Long 52). Một động cơ bị bốc cháy khiến Thiếu tá Phùng phải đáp khẩn cấp xuống ruộng gần cầu B́nh Điền. Ông bị VC bắt lúc 7 giờ sáng và xử bắn tối ngày 29/4/1975.

·         Hai phi cơ A-1 Skyraider thuộc phi đoàn Phượng Hoàng 514, đang trên đường bay từ Long An lên. Một chiếc do Thiếu tá Hồ Ngọc Ẩn lái, chiếc thứ nh́ của Đại úy Nguyễn Tiến Thụy.

·         Phi cơ hỏa long AC-119K do Trung úy Trang Văn Thành làm trưởng phi cơ (Tinh Long 07). Phi cơ bị trúng hỏa tiển tầm nhiệt SA-7. Trong số phi hành đoàn chỉ có Thượng sĩ I Nguyễn Văn Chính nhảy dù ra được và c̣n sống sót.

    Trong khi đó th́ bên phía đông, mặc dù có những chuẩn bị trước, trận đánh Nhơn Trạch đă không theo đúng kế hoạch của các cấp chỉ huy CS do sự kháng cự của chi khu này. Cuộc pháo kích ngày 29/4 đă khiến đại sứ Mỹ Martin quyết định cho di tản bằng trực thăng, thay thế các vận tải cơ C-130 v́ ông tin rằng phi đạo tại TSN không c̣n sử dụng được nữa (130).

    8. THỜI ĐIỂM SAU CÙNG CỦA NỀN CỘNG H̉A

    Giờ phút cuối cùng của cuộc chiến tranh đă được trung đoàn phó trung đoàn 66 thuộc sư đoàn 304 của CS kể lại (131) :

    “Tiêu diệt xong mấy xe tăng của địch, tăng của Lữ đoàn 203 lao vút ngay qua cầu Sài G̣n. Trên mỗi xe tăng của ta đều có một tiểu đội bộ binh của Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66. Anh em đặc công cũng bám vào xe tăng, thẳng tiến. Tôi đi trên chiếc xe jeep lấy được của địch ở Đà Nẵng, sau mấy chiếc xe tăng đi đầu. Xe nào cũng cắm lá cờ nửa đỏ nửa xanh bay phần phật trước gió. Đến cầu Thị Nghè th́ địch không c̣n chống cự ǵ nữa, những tên lính ở hai ụ súng bảo vệ cầu đă bỏ chạy hết! Một xe tăng M41 của địch c̣n đang cháy trước cầu. Mặc cho đạn pháo trong xe tăng M41 c̣n nổ, đoàn xe của ta băng qua cầu Thị Nghè. Một số binh lính địch lố nhố và lẫn trong dân chúng vội chạy biến vào cửa ‘Thảo Cầm Viên’. Mặc chúng. Chúng tôi đều chưa ai biết đường phố Sài G̣n nhưng cứ qua cầu Thị Nghè, qua bảy ngă tư, rẽ trái là tới dinh Độc Lập. Lính dù đứng trước dinh Độc Lập rất đông, chúng đều mang súng nhưng không có hành động chống cự ǵ. Anh em ta cũng chỉ bắn chỉ thiên. Xe tăng thứ nhất của ta tiến ṿng sang phía trái dinh Độc Lập, xe tăng thứ hai mang số hiệu 843 tiến thẳng vào dinh, húc đổ cổng. Bọn lính dù dạt vào góc trái sân ở trước dinh. Các xe khác lần lượt vây quanh dinh Độc Lập. Bộ binh, đặc công nhảy ào xuống, chiếm lĩnh các vị trí cao, vị trí chiến đấu thuận lợi. Tôi và hai đồng chí vệ binh, hai chiến sĩ thông tin đi thẳng lên cửa chính của ṭa nhà. Đồng chí lái xe cũng chạy theo. Một người tầm thước trung b́nh, mặc quân phục nhưng không đội mũ, không có cấp hiệu, đi nhanh ra đón chúng tôi và tự giới thiệu.

    - Báo cáo cấp chỉ huy Quân giải pḥng: Tôi là Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá cho Tổng thống Dương Văn Minh. Toàn bộ nội các của Tổng thống Dương Văn Minh đang trong pḥng khánh tiết. Mời cấp chỉ huy vào làm việc.

Rất nhiều phóng viên nước ngoài và trong nước vây quanh, đưa máy ảnh chụp lia lịa.

    Tôi hơi ngỡ ngàng, chưa biết nên làm ǵ. Tôi chỉ được giao nhiệm vụ chiếm dinh Độc Lập. Tôi chỉ có ư định vào kiểm soát ṭa nhà rồi cho anh em lên treo cờ trên nóc dinh. Làm việc ǵ và làm như thế nào với cái nội các này?”.

    Một nhân chứng đă ghi lại những ǵ xảy ra tại cầu Thị Nghè như sau (132) :

    “Đồng bào Sài G̣n từ trước đến giờ có cái tánh rất đặc biệt. Ai chạy loạn cứ chạy, người khác vẫn b́nh thản đứng nh́n cuộc chiến đang diễn ra cách đó không xa. Xe tăng và bộ đội cộng sản tùng thiết tới ngă tư Hàng Xanh chia làm hai cánh. Một toán thẳng về cầu Phan Thanh Giản, toán c̣n lại rẽ trái đi về hướng Thị Nghè. Trên đường chúng bị các thiết vận xa M.113 và xe tăng án ngữ dọc phố chận đánh.

Hai chiếc T.54 đă bị bốc cháy dưới dốc cầu, một chiếc khựng lại định quay đầu nhưng không chạy được nữa, v́ xích và bánh bị bắn tung. Các chiếc sau tiến lên, kịp thấy xe tăng VNCH, chúng hạ ṇng súng bắn thẳng vào. Có chớp lửa lóe lên ở đó ...

Thêm một xe tăng T.54 nữa của cộng quân bị bắn cháy lúc lên cầu Thị Nghè. Bộ đội thuộc Trung đoàn 66 Bắc Việt phải xuống xe chiến đấu, v́ đơn vị Dù và cánh quân của Sư đoàn 18 rút về pḥng thủ tuyến cửa ngơ này bắn rất rát vào hai cánh hông. Khi vào được nội thành, lữ đoàn 203 xe tăng của cộng sản chỉ c̣n 9 chiếc T.54 khả dụng, trong đó có mấy chiếc mang thương tích lỗ chỗ”. 

    Chứng kiến toàn cảnh trước cổng chính của dinh Độc Lập, thứ trưởng quốc pḥng của nội các Vũ Văn Mẫu thuật lại (133), xem H́nh 44-49 :

    “Trên đường Thống Nhất rộng, lực lượng thiết giáp địch tiến theo đội h́nh 2 hàng dọc chạy song song với tốc độ trung b́nh (15-20km/giờ). Chúng vừa chạy vừa bắn chỉ thiên. Khi hai hàng dọc chạy gần tới cổng dinh (cổng khóa bằng một chuổi xích ràng cánh cổng này với cánh kia) th́ chiếc chiến xa T54 dẫn đầu ḍng xe bên trái (nh́n từ dinh Độc Lập ra) thắng chậm lại, nhường cho chiến xa T54 dẫn đầu ḍng xe bên phải (nh́n từ dinh Độc Lập ra) tiến lên húc vào cánh cổng dinh. Cánh cổng bên phải bung ra, đổ xuống. Chiếc T54 đó chạy càn lên trên cánh cổng đă đổ, phóng thẳng tới thềm cao nơi tôi đang đứng. 5, 6 chiến xa khác theo nhau tràn vào dàn thành ṿng cung hướng vào dinh. Tất cả các chiến xa c̣n lại bố trí ngay trên vườn cây ở trước dinh.

Chiếc T54 đầu tiên phóng thẳng tới cách thềm cao chừng 20 mét th́ đậu lại. Một tên VC ngồi bên trên và bên ngoài chiến T54 đầu tiên đó (danh từ chuyên môn gọi đó là một tên bộ binh ‘tùng thiết’, nghĩa là theo xe) nhảy xuống đất chạy xông tới tôi. Tên VC mặc một bộ đồ trận lấm láp, quần xắn ống thấp ống cao, dép râu, đầu đă bị thương nhẹ nên quấn một băng trắng dầy và to bằng cái khăn đóng của các cụ già. Cuộn băng trắng trên đầu y có máu đỏ thấm từ trong ra. Đặc biệt điều này: hắn cầm khẩu phóng lựu M79 của Mỹ chĩa về phía tôi vừa chạy tới vừa gào lên ‘Dương Văn Minh đâu ! Dương Văn Minh đâu ! Dương Văn Minh đâu !’. Hắn dừng lại trước mặt tôi, gào nhỏ hơn một chút ‘Dương Văn Minh đâu!’. Hắn không hề gào một tiếng nào khác ... Tôi nói ‘Dương Văn Minh đang chờ các anh trên kia, đi theo tôi’. Theo tôi đến gần cầu thang chính ở giữa dinh, hắn cảm thấy sợ (có lẽ v́ đi một ḿnh) không dám theo nữa và nói với tôi : ‘Anh lên bảo Dương Văn Minh xuống đây’ ... Tôi đi lên một ḿnh ...

Một điều may mắn ghê gớm : (Xin đọc kỹ đoạn này).

Tôi vừa lên hết cầu thang th́ gặp một anh trung sĩ nhất, mặt mày hung dữ, tay cầm trái lựu đạn đă rút chốt, sẵn sàng ném ... Chợt thấy tôi, anh ta nói : ‘Đ.M. phải cho nó chết, phải cho nó chết ...’. Chỉ trong mấy giây đồng hồ thôi, tôi đă can được anh ta ... Tôi nói với anh đại khái : ‘Thôi ! Thôi hết tất cả rồi em ơi ...’. Tôi vỗ tay vào vai anh ta nói thêm : ‘Thôi gài chốt lại, gài chốt lại ! ...’. Cám ơn Trời Phật, anh ta đă nghe tôi và vội vă đi như chạy dọc theo hành lang lầu 2 của dinh về hướng Nam (đường Nguyễn Du). Anh trung sĩ nhất, chắc thuộc toán cận vệ, dáng người gầy cao, da đen (lai Miên ?), mặc quân phục nhảy dù tề chỉnh, rất đáng kính trọng đó, quả thật là một quân nhân đáng tuyên dương về nhiều mặt : can đảm, kỷ luật, hết ḷng v́ nhiệm vụ ... và có lẽ từ sáng nay đến phút đó, anh không biết rơ ǵ về sự việc đă và đang xảy ra chăng ? Đến phút ấy anh vẫn hiên ngang, quyết tâm làm tṛn nhiệm vụ của anh : diệt địch để bảo vệ ...(Cầu trời cho anh c̣n sống để hưởng tuổi già yên lành ở đâu đó với vợ con cháu chắt ...).

Sự kiện tuy nhỏ bé vừa kể phải được luận giải thế này : nếu tên VC đă can đảm hơn, dám một ḿnh tiếp tục theo tôi lên lầu ... th́ trái lựu đạn kia đă nổ ? Hoặc nếu khi đó có vài ba tên VC th́ dứt khoát chúng đủ can đảm theo tôi lên lầu ... và trái lựu đạn kia cũng đă nổ ? Sau khi lựu đạn nổ, có VC chết ... các xe tăng sẽ tức tốc phản ứng, bắn phá dinh Độc Lập ? Chuyện ǵ xảy ra ... sẽ không đoán được ? Một tên lính CS nhát gan, không dám đi một ḿnh ... và một chiến sĩ nhảy dù có tinh thần kỷ luật cao, đă cứu mạng nhiều người ?

Tôi tiếp tục đi lẹ tới văn pḥng TT và nói : ‘Chúng mời tổng thống xuống tầng dưới’. TT Minh và mọi người ở trong pḥng bước ra. Vừa ra khỏi pḥng được mươi bước, th́ một toán CS gồm vài chục tên, tay cầm AK, xông tới, dẫn TT Minh và mọi người xuống lầu ... Toán CS đưa chúng tôi vào pḥng khách lớn ở lầu 1 thuộc cánh trái của dinh (về phía đường Hồng Thập Tự). Các kư giả ngoại quốc tràn vào pḥng ... binh lính CS tràn vào pḥng ... và toán chúng tôi gần 30 người ... lẫn lộn chen lấn nhau không c̣n trật tự ǵ nữa ... một nữ phóng viên ngoại quốc bự con, vùng vẫy, chen lấn lính CS, tới đưa micro vào miệng TT Minh để phỏng vấn. Chúng tôi đứng chen chúc quanh ông, nhớ rơ ràng câu trả lời của ông : ‘Je n’ai rien à dire, madame’ (Tôi không có ǵ để nói, thưa bà).

    Bỗng có một tên CS hung hăng xông tới, chĩa súng lục vào bụng TT Minh quát to : ‘Anh là ai? Anh là ai?’. Ông Minh trả lời : ‘Tôi là đại tướng’. Tên CS chưa vừa ư lại quát to : ‘Không phải, anh là ai?’. Tôi đoán chắc là y muốn nghe ông Minh trả lời rằng ông là tổng thống. Tôi thấy TT Minh nổi nóng. Ông trợn mắt như đang sắp sửa quát tháo một điều ǵ trước thái độ hỗn láo của tên CS. Ngay lúc đó, một tên CS khác nói lớn : ‘Yêu cầu các đồng chí ra ngoài, ra ngoài ngay’. Tôi đoán rằng tên CS này có cấp bậc và chức vụ lớn. Khổ nỗi lúc ấy tất cả quân lính CS không một ai đeo lon (VC gọi là ‘cấp hàm’ ?) nên không thể phân biệt cấp trên cấp dưới ... Tên CS vừa hỗn láo với TT Minh, mất trớn ... rời chỗ ... đi ra mà c̣n ngoái cổ lại hằn học nh́n TT Minh giống như một con chó dữ, đang sủa oang oang, và muốn cắn khách lạ vào nhà th́ bị chủ đuổi đi ... con chó c̣n nhe răng ngoái cổ ... hầm hừ với khách !

Tất cả phóng viên ngoại quốc ... tất cả đám bộ đội CS ... đều ra khỏi pḥng. Chỉ c̣n lại TT Minh và chúng tôi (trên 20 người) . Lúc ấy có mấy quân nhân CS đă đứng tuổi, quân phục sạch sẽ (cấp lớn ?) nói năng thật lịch sự, tử tế, yêu cầu TT Minh và chúng tôi theo họ lên lầu, vào cái pḥng khách rộng và đẹp nhất dinh, cái pḥng khách TT Minh và chúng tôi đă tới ngồi lúc sáng sau khi rời phủ thủ tướng.

Thật là mau lẹ, tại đây đă có chừng hai chục bộ đội CS canh giữ chúng tôi. Chúng hẳn đă có lệnh trên, tỏ ra kỹ luật và lịch sự. Từ pḥng khách đó, liếc ra phía trước dinh, tôi thấy binh lính CS đă kéo tới khá đông ... Tôi nhẩm đếm sơ qua th́ thấy đoàn xe tăng CS không quá 40 cái ... và thật đáng buồn cười, trong số đó hơn một nửa là các loại tăng và thiết giáp của QLVNCH. Chắc chúng đă bắt được các chiến xa của ta ở đâu đó và sử dụng luôn ?

Lại một trận đánh bất ngờ :

T́nh h́nh yên lặng được khoảng gần một giờ th́ bổng nhiên súng lại nổ, nổ mạnh từ phía đường Công Lư (phía Bắc dinh Độc Lập). Tiếp theo đó là súng từ phía lực lượng quanh dinh lại nổ rền ... ầm ầm như đang đánh lớn ... càng lúc càng nổ mạnh ... Tôi hoang mang nghĩ rằng có thể c̣n một đơn vị VNCH nào đă tự động kéo tới phản công ? Nghe bắn rát quá, có cả tiếng đại bác của xe tăng nữa ... Cảm thấy rất nguy hiểm, tôi ngoái cổ về phía sau nói với một tên bộ đội đang canh giữ tôi rằng ở đây rất nguy hiểm phải đi chỗ khác. Tên bộ đội ấy trả lời tôi : không sao, không sao ... Anh ta vừa dứt lời th́ một phát đạn từ ngoài bắn vào, trúng ngay tấm kính dày thuộc bức tường kính ngay giữa phía trước mặt dinh. Tấm kính lớn trúng đạn vỡ tung, đổ xuống một đống thủy tinh (tôi phải nói thêm để ai chưa từng vào dinh Độc Lập có thể biết sơ. Từ bên ngoài nh́n vào dinh, chỉ thấy tường ghép bằng những tấm xi-măng đúc theo h́nh quả trám. Từ tường xi-măng phía trước tới tường xi-măng phía sau của dinh, c̣n có 4 bức tường kính dày và dài suốt dinh để phân cách 2 hành lang trước và sau ở bên trong với các pḥng khách lớn).

Ngay sau khi tấm kính lớn nổ tan, th́ CS vội dẫn tất cả chúng tôi xuống lầu, theo hành lang phía sau, xuống một cái hầm lớn thuộc tầng dưới cùng (lầu 1) ở góc sau của dinh về phía Nam (phía đường Nguyễn Du) để tránh đạn. Súng cứ nổ rền ầm ầm xen lẫn những tiếng la hét để truyền đạt lệnh từ phía ngoài ... Sau chừng nửa giờ, tiếng súng bớt đi rồi yên hẳn. Bọn CS lại đưa chúng tôi trở lại pḥng khách trước đó. Khi c̣n ở dưới hầm, chật chội v́ đông người, nóng bức chúng tôi phải cởi veston cho bớt nực. Tiến sĩ Nguyễn Văn Hảo nhặt được chiếc chiếu, kéo tôi ngồi chung. Anh ta mệt, muốn nằm. Tôi hỏi : ‘Sao ? Tụi ḿnh thế nào ?’. Hảo trả lời : ‘Prisoniers de guerre’ (=tù binh). Ai gặp Hảo cứ hỏi anh ta về điều tôi viết ở đây để kiểm chứng.

Sau đó một lát, nhờ bọn lính CS hớ miệng nói với nhau, tôi biết được như sau : Sau khi đoàn xe tăng CS đă chiếm dinh Độc Lập và đang ổn định t́nh h́nh ... th́ có một đoàn xe tăng CS khác  (thuộc cánh quân khác) tiến tới dinh từ hướng Bắc theo đường Công Lư. V́ thiếu liên lạc, phối hợp chặt chẽ, nên xảy ra đánh nhau lộn bậy. Tôi c̣n đoán thêm : cánh quân từ phía Công Lư xuống chợt thấy các chiến xa lạ M48, M41, M113 đang có mặt ở trước dinh Độc Lập vội vàng tức tốc khai hỏa. Thế là trận đánh lộn bắt đầu. Tôi c̣n biết thêm, ‘phe ta’ (phe CS ở dinh Độc Lập) có 2, 3 người chết trong đó có 1 sĩ quan. Trận đánh này chưa thấy ai kể ra mặc dù đă có nhiều cây viết viết như đă thật sự có mặt tại dinh trong ngày 30-4-1975. VC sẽ không bao giờ dám viết về trận đánh ‘thần tốc và oai hùng’ này”.

    9. NHẬN XÉT:

    9.1. Đặc công CS không hữu hiệu như đă tuyên truyền. Gần như không có cầu nào trên hướng tiến quân của hai quân đoàn 2 và 4 bị đặc công chiếm giữ trước sáng ngày 30/4/1975. Trung đoàn đặc công 113 cho rằng chiếm đóng được cầu Ghềnh, một trong ba chiếc cầu bắc qua sông Đồng Nai. Chiến công này không có thật v́ tiểu đoàn 6 TQLC đă giữ cầu này cho đến sáng ngày 30/4, không ghi nhận có chiến sự ở đây. Chiến sự chung quanh cầu Đại Hàn cũng không có xảy ra. Chiến đoàn của TTG rút qua cầu Rạch Chiếc an toàn vào sáng ngày 30/4 cho thấy chiến trận tại đây đă được các tài liệu của CS phóng đại. VC có tấn công nhưng không bao giờ chiếm được cầu.

    9.2. Tất cả ba cầu bắc qua sông Đồng Nai đă được QLVNCH đặt ḿn. Nếu tất cả các cầu này đều bị giật sập và VC không đánh chiếm được Cát Lái th́ cả hai quân đoàn 2 và 4 không thể vào được Sài G̣n. TĐT tiểu đoàn 5 Dù cho biết các cầu này đă được đặt ḿn nhưng không được giật sập v́ lúc bấy giờ ông được thông báo rằng TQLC c̣n rất nhiều lực lượng đóng bên phía đông sông Đồng Nai, chưa kịp lui binh.

    Đại tá Nguyễn Hữu Thu, nguyên là Chủ nhiệm công binh thuộc quân đoàn 2 của CS đi trong cánh quân thứ nh́ của quân đoàn (sư đoàn 325) tấn công chi khu Long Thành, chi khu Nhơn Trạch, cảng Cát Lái, thành Tuy Hạ rồi vượt sông Ḷng Tàu, Đồng Nai vào Sài G̣n qua ngă hai quận 4 và 9; hồi tưởng lại (134) :

    “Sau đó quân ta tập trung lực lượng ở quân cảng Cát Lái để chuẩn bị vượt sông. Nhưng công binh chúng tôi không đủ tàu thuyền. Thật là bất ngờ là bà con kéo đến lúc một đông. Nhiều người đă dỡ nhà cho chúng tôi đỗ xe pháo, mời bộ đội về nhà ḿnh nghỉ, cho quà bánh, trái cây, rồi nấu cơm, nấu nước, bảo cho chúng tôi những người xấu mà đề pḥng ... Chúng tôi quyết định cho một chiếc xe lội nước sang bờ Nam để vận động những người có giang thuyền giúp bộ đội vượt sông. Nhưng xe bơi đến giữa ḍng th́ quân địch ở phía bờ Nam bắn ra dữ dội. Trung úy Trương Ṭng, đại đội trưởng trinh sát công binh nhà ở số 4 Hàng Đào, Hoàn Kiếm trúng đạn hy sinh. Hà Nội đă có người con hy sinh ngay cửa ngơ Sài G̣n. Lại có ư kiến là xe lội nước sang bờ Nam bị địch bắt th́ sao? Chúng tôi quyết định tiếp tục tiến. Bên ấy tuy ít người nhưng sẽ có bà con ủng hộ, nhân dân là lực lượng, c̣n quân địch đă hoang mang và lo sợ ... Cuối cùng th́ xe lội nước trở về cùng với 5 chiếc giang thuyền lớn. Năm giờ sáng ngày 30-4-1975, đúng lúc nước thủy triều dâng cao thêm đến 80 phân, ḍng sông rộng ra thêm 500 mét, có đoạn 800 mét, cánh quân chúng tôi gồm bộ binh, xe tăng, pháo binh, pháo cao xạ ... bắt đầu vượt sông trong t́nh cảm lưu luyến của bà con”.

    Đoạn văn trên có nhiều chi tiết đáng chú ư. Đầu tiên là BCH chiến dịch HCM không tiên đoán được phải vượt sông, công binh cấp sư đoàn nhưng lại không có phương tiện qua sông. Điểm kế tiếp là QLVNCH tại Cát Lái đă chuẩn bị chiến đấu mà bằng chứng là các tàu bè đă được đem hết về bên bờ phía Sài G̣n. Sau đó, khi quân đội CS vượt sông với các giang thuyền lớn lấy được phía bên kia sông và chở được những chiến cụ nặng như chiến xa và pháo binh th́ người ta có thể kết luận rằng đây phải là những phương tiện của hải quân hay công chánh tại bến phà. Nhận xét sau cùng là sông chỉ có thể qua lại được sau khi lực lượng pḥng thủ Cát Lái đă bỏ đi hay tan hàng hoặc sau khi có lệnh đầu hàng.  Cũng liên quan đến các cầu dẫn vào Sài G̣n, người ta có thể đặt câu hỏi là tại sao QLVNCH không phá sập các cầu này để cản bước tiến của cơ giới địch ? Hầu hết các cầu đă được gài ḿn sẵn, tuy nhiên chỉ có một cầu duy nhất bị phá sập là cầu Đại Hàn hay cầu Mới. Có thể giải thích là vào giờ chót, yếu tố cấp bách và sự hỗn loạn khiến không ai ra lệnh, chịu trách nhiệm cũng như thi hành. Cũng có thể các cấp chỉ huy quân sự e ngại tiếng nổ làm dân chúng thêm hốt hoăng tương tự như hải quân đă từ chối đề nghị của Mỹ phá hủy trung tâm chiến báo và các ụ nổi trước khi rút ra biển (135).

    Sau chiến tranh, cựu Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh phát biểu với báo chí trong nước (136): “Sáng 29/4, tướng Lê Minh Đảo xin rút qua bên này sông Đồng Nai để cố thủ và phá cầu. Tôi cho rút quân nhưng không cho phép phá cầu. Từ đó, tôi ra lệnh chung là các đơn vị muốn phá cầu phải có lệnh của Bộ tổng tham mưu”.

    Đây cũng là một sự tưởng tượng nữa của Chuẩn tướng Hạnh. Theo một sĩ quan cao cấp của tổng cục CTCT/QLVNCH, rời Sài G̣n vào sáng ngày 30/4 th́ chiều ngày 29/4, Chuẩn tướng Hạnh mặc quần áo dân sự đến họp tại Bộ TTM với tư cách là liên lạc viên giữa Tổng thống Minh và Bộ TTM. T́nh trạng này kéo dài cho đến trưa ngày 30/4 khi Tướng Vĩnh Lộc rời VN. Ông Hạnh do đó không có quyền hành ǵ để ra lệnh như ông đă tuyên bố.

    Thủ đô Bá Linh cũng thất thủ ngày 30/4 (1945) khiến người ta nhớ lại t́nh trạng của nước Đức vào thời điểm cuối cùng của chiến tranh thế giới thứ II. Khi quân đội đồng minh tiến gần đến sông Rhine, Hitler đă ra lệnh không để một cầu nào bắc qua sông này c̣n nguyên vẹn. Một sĩ quan Đức bị xử bắn ngay tại chỗ v́ đă để cho Mỹ chiếm được cầu xe lửa gần thị trấn Remagen (41). Cũng v́ lư do này, von Rundstedt, Tư lệnh BTL phía tây được thay thế bởi Kesselring  (137). Tuy nhiên sau đó rất ít cầu cống bị phá hủy khi quân đội đồng minh tiến sâu vào lănh thổ Đức. Quyết định không phá hủy cầu được cho là của Bộ trưởng Speer v́ lư do sinh tồn của dân chúng trong các thành phố. Tất cả hệ thống dẫn nước cũng như cống thoát nước đều đi qua các cầu này (93). Hành động của Speer đă khiến ông chỉ bị 20 năm tù thay v́ bị xử giảo bởi ṭa án Nuremberg (138).

    Các cầu tại Bá Linh không bị phá hủy v́ lư do dân sinh (83) trong khi các cầu tại Sài G̣n c̣n nguyên vẹn là do nội tuyến, nếu người ta tin được những lời phát biểu của ông Hạnh.

    9.3. Trong chiến dịch HCM, tỉ số lực lượng giữa quân đội CSBV/QLVNCH thường bằng hay lớn  hơn 5/1. Nguyên tắc công kiên chiến theo chính chiến thuật của CS sẽ bị vi phạm nếu tỉ số này nhỏ hơn 3/1 và sẽ đưa đến hậu quả là hướng tiến công có thể không thành công, quân đội CSBV không vào được Sài G̣n.

    9.4. Số tử thương của quân đội CSBV trong trận đánh cầu Rạch Chiếc là 52 người. Tài liệu của họ cho rằng con số này chiếm tỉ lệ 8.5% tổng số tử thương trong chiến dịch Hồ Chí Minh (139). Như vậy quân đội CSBV có tất cả 612 người chết. Một tài liệu khác cũng của CS cho rằng QLVNCH có 31305 binh sĩ bị tử thương và 12619 người khác bị thương (140).     Sau khi hiến tranh đă chấm dứt khá lâu và trong một cuộc phỏng vấn của đài BBC vào tháng 4 năm 2010, Trung tướng Nguyễn Văn Thái nguyên là Phó Chính ủy sư đoàn bộ binh 7 thuộc quân đoàn 4 của quân đội CSBV cho biết họ tổn thất 6000 quân trong chiến dịch HCM, kể cả 4000 người bị tử trận tại Xuân Lộc (141). Những sự khác biệt quá lớn này khiến các con số trở nên đáng nghi ngờ. Nói nghi ngờ là v́ trên nguyên tắc th́ phía thắng thường có tổn hại ít hơn phía thất trận, tuy nhiên trong chiến dịch HCM th́ gần như không nơi nào có tác chiến với cường độ dữ dội một khi quân đội CSBV đă bỏ qua được tuyến pḥng thủ bên ngoài.

    9.5. Trong cố gắng ngăn chận đường không và đường thủy ra khỏi Sài G̣n, quân đội CS chỉ thành công phân nửa khi pháo kích và sử dụng các phản lực cơ A-37 chiếm được để oanh tạc làm tê liệt phi trường Tân Sơn Nhất (xem H́nh 50-51). Trong khi đó, những đơn vị có nhiệm vụ khóa chặt đường thủy không thực hiện được kế hoạch đă đề ra. Hầu hết các chiến hạm của hải quân VNCH đă thoát được ra biển. Sau chiến tranh, thất bại này đă được tài liệu của CS mô tả một cách trái ngược.

    9.6. Quyết định lui binh về Sài G̣n của QLVNCH đang pḥng thủ Biên Ḥa không cần thiết v́ đúng ra các đơn vị này phải bố trí khi vừa sang bờ phía tây sông Đồng Nai. Với các cầu bị phá sập th́ hai quân đoàn 2 và 4 của CS không thể nào vượt sông Đồng Nai dưới hỏa lực được.

    9.7. Không có sự phối hợp tác chiến giữa các đơn vị v́ các sĩ quan có trách nhiệm tại Bộ TTM /QLVNCH đă rời bỏ nhiệm sở quá sớm. Hậu quả là tuy tập trung được khá nhiều quân chung quanh Sài G̣n nhưng lại không tổ chức được một hệ thống pḥng thủ hữu hiệu. Những ngày cuối cùng, không có liên lạc giữa LLXK/QĐ III, sư đoàn 18 BB và TQLC mặc dù đây là những đơn vị có trách nhiệm chung để pḥng thủ phía đông và đông-nam Sài G̣n. Một thí dụ nữa là Trường BB Long Thành, Trường TG cũng như chi khu Long Thành và các đơn vị  thuộc chiến đoàn 315, 318, 322 được lệnh đến tăng viện nhưng không cho thấy một kế hoạch hợp đồng tác chiến nào.

    9.8. Tinh thần của quân và dân là yếu tố quan trọng nhất nhưng đă bị làm hỏng bởi phương cách điều quân sai lầm cũng như các âm mưu chính trị hay toan tính liên hiệp, ḥa giải với CS (142).

    Một kư giả Anh, ở lại Sài G̣n sau ngày 30/4 đă tóm tắt (76) :

    “Đến lúc này quân CS có tất cả những lư do để chắc chắn chiến thắng. Ngay cả không kể đến sự mất tinh thần chết người của QLVNCH cũng như sự thắng thế chiến lược [sic] của quân đội CSBV và VC trên hầu hết các mặt trận. Trên giấy tờ, việc bảo vệ Sài G̣n cũng c̣n rất đáng kể với sáu sư đoàn chủ lực quân được yểm trợ bởi lực lượng địa phương và CSDC, giữ ǵn hệ thống đường xá dẫn vào thủ đô. Nhưng trong vài ngày cuối cùng của chiến dịch HCM, quân CS đă thành công khi hóa giải một số khá lớn các lực lượng này bằng cách bao vây, bỏ qua và trong một số trường hợp chỉ đơn giản đánh trực diện. Có hai nguyên nhân chính khác khiến chiến thắng của CS không thể tránh được. Đầu tiên là họ tập trung lực lượng để phá vỡ vũ khí pḥng thủ tối hậu, hữu hiệu sau cùng của Sài G̣n: không quân. Tác xạ nhiều và chính xác cùng với cuộc oanh tạc tại phi trường Sài G̣n đă phá hủy một số phi cơ trên mặt đất làm cho các phi công VNCH lo ngại và bấn loạn. Một nguyên nhân quan trọng khác là việc bỏ chạy của một số sĩ quan cao cấp. Các viên chức Mỹ làm việc tại Phi Luật Tân, nơi tiếp nhận nhiều người tị nạn, đă phỏng chừng có đến ít nhất 30 tướng lănh của quân đội chánh phủ đă bỏ chạy trong ngày cuối cùng trước khi mất nước. Trong số này có cả tư lệnh CSQG, Chuẩn tướng Nguyễn Khắc B́nh, người đóng giữ một vai tṛ quan trọng về an ninh và t́nh báo, và cũng là người làm kế hoạch sau cùng để di tản người Mỹ. Ông ta đă rời khỏi nước trên một trong những trực thăng đầu tiên khiến cho cuộc di tản có thêm nhiều khó khăn. Một vai tṛ quan trọng khác là Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh quân khu 3 chung quanh Sài G̣n. Ông ta đă ra đi sau cái chết của người phụ tá, chết v́ tai nạn súng cướp c̣, dĩ nhiên là tự tạo, mấy tuần trước. Hậu quả là sự tan ră, mặc dù hăy c̣n phức tạp, khiến hệ thống chỉ huy không c̣n người lănh đạo, và những cấp chỉ huy ngoài mặt trận phải tự quyết định vào giờ chót. Nhiều đơn vị quan trọng của quân đội chính phủ bị cô lập và không được không quân yểm trợ mà họ thường lệ thuộc vào, khi các đơn vị của CS bắt đầu tiến quân vào Sài G̣n”.

    Nguyên nhân đầu tiên đưa đến chiến thắng sau cùng của CS cũng đă được CHT/BCH Hành quân Không quân VNCH giải thích (143) :

    “Nếu các căn cứ không quân được bảo vệ an toàn, chắc chắn chiến tranh sẽ kéo dài v́ mọi việc sẽ trở lại cân bằng ... Không quân không có cơ hội để hủy diệt địch quân bởi v́ các căn cứ của chúng tôi bị quấy rối bởi hỏa tiển, súng cối và pháo binh của địch ... Trực thăng không hữu hiệu để chuyển vận trong chiến tranh du kích. Một thí dụ là nếu sử dụng phi cơ C-130, mỗi lần cất hay hạ cánh th́ đều bị họ tấn công bằng hỏa tiển. Bộ binh không bảo vệ được các căn cứ không quân một cách hữu hiệu - Cần phải kiểm soát ít nhất khoảng 30 dặm Anh chung quanh các phi trường. Lục quân không đủ sức bảo vệ căn cứ không quân nên không quân không thể làm tṛn sứ mệnh của ḿnh”.

    Tinh thần của QLVNCH vào khoảng thời gian cuối cùng đă được một sĩ quan nhận xét (144):

    “Các đơn vị tiền phương cùng các đơn vị tân lập vừa mới được tái phối trí ở tỉnh Phước Tuy, do Trung Tướng Vĩnh Lộc trực tiếp chỉ huy và điều động để chiếm giữ sân bay cùng toàn bộ lănh thổ của tỉnh lỵ này, là những toán quân mới vừa di tản từ vùng I và vùng II chiến thuật về. Có nhiều quân nhân mà gia đ́nh, vợ con của họ đă bị thất lạc, không biết rơ là đang lưu trú ở phương nào? Sống chết ra sao? Cho nên tinh thần của họ rất sa sút, giao động. Nhất là khi hay tin: Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, một vị Tướng Lănh nắm quyền Tổng Tư Lệnh Quân Đội, đă ra lệnh rút quân khỏi vùng cao nguyên Trung phần, vùng II chiến thuật, chặt đôi miền Nam, đẩy toàn thể quân lực vùng I chiến thuật vào thế cô lập, buộc các Tướng lănh và binh sĩ tại đây, dù có tinh thần cao cách mấy, cũng không dám cưỡng lại lệnh rút lui quân lực ban ra từ Tổng Thống Thiệu để về pḥng thủ ở các tỉnh vùng ven bờ biển. ...

    Do đó các cuộc di tản chiến thuật đă diễn tiến một cách quá bi thảm ... ‘Địch chưa đến, chưa đánh, chưa giao chiến đă phải bỏ chạy!’. Thế mới là một sự việc đáng buồn tủi cho một triệu binh sĩ kiêu hùng, từng chiến thắng lẫy lừng trước địch quân mà nay ‘chưa bị đánh đă thua’. Ấy vậy mới là một chuyện khó hiểu. Tất cả các tin tức mà tôi biết được và ghi lại trên đây là do các toán tiếp liệu của Tiểu đoàn 311 Tồn Trử chúng tôi đi tiếp tế cho các đơn vị tiền phương về kể lại. Thậm chí, c̣n có những quân nhân, sau khi được trang bị vũ khí, đạn dược, cùng quân trang, quân dụng xong, họ đă vứt bỏ tất cả để đi t́m kiếm gia đ́nh vợ con! V́ hầu hết các quân nhân này vừa mới sát nhập vào các đơn vị tân lập nên chẳng ai biết rơ ai và cũng rất khó nhận diện nhau, không bảo toàn được khả năng tác chiến cao! Bởi vậy đă gây ra những cảnh rối loạn, vô kỹ luật đáng tiếc!”. Khá lâu sau khi chiến tranh chấm dứt, cựu Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn viết về những âm mưu trong giai đoạn chót của cuộc chiến (145):

    “Thực sự những đối tượng bị CSBV lường gạt là Chính phủ Pháp và lớp người tự nhận là thành phần thứ ba tại Việt Nam.

    Tiểu biểu cho thành phần thứ ba là Đại tướng Minh và hai nghị sĩ Huyền, Mẫu. Các nhân vật này ngỡ rằng nếu họ lật đổ được TT Thiệu th́ Cộng Sản sẽ chấp nhận thương thuyết với họ. Trong buổi lễ nhậm chức từ tay cựu Tổng Thống Trần Văn Hương, ngày 28 tháng 4, Tướng Minh đă kêu gọi phía bên kia ngừng bắn ngay và mở cuộc thương thuyết nhưng chờ măi không thấy phía bên kia đáp ứng nên ngày 29 tháng 4, Tướng Minh phải phái 3 đại diện trong đó có luật sư Trần Ngọc Liễng và Linh mục Chân Tín  đến Tân Sơn Nhất để gặp Vơ Đông Giang trong Phái bộ Quân sự 4 bên. Vơ Đông Giang cho biết một cách thẳng thừng là đă quá trễ và lệnh tấn công Sài G̣n đang được thi hành!

    Khi biết Bắc Việt đă trở mặt, ông Minh không dám nói cho ai biết v́ sợ thủ đô náo loạn, mà chỉ ngầm cho con rể là Đại tá Đài và Trung tá Đẩu, Chánh Văn Pḥng của ông, đi tị nạn. Phụ tá báo chí của ông Minh là dân biểu Nguyễn Hữu Chung cũng lên tàu Việt Nam Thương Tín để ra đi vào ngày 29-4-1975. Trong khi đó, Trung tướng Vĩnh Lộc là tân Tổng Tham Mưu Trưởng không biết ǵ nên vẫn hăng sai làm việc và suưt kẹt lại nếu không t́m được một trong những chiếc tàu cuối cùng rời thương cảng Sài G̣n. C̣n về việc đuổi Mỹ ra khỏi Việt Nam th́ sau nầy, khi tỵ nạn ra ngoại quốc, ông Dương Văn Minh tiết lộ rằng phía Hoa Kỳ viết sẵn lệnh này và trao cho ông đọc! Người Mỹ ra đi, phủi tay rời khỏi Việt Nam trong tư thế ‘danh chính ngôn thuận’.

    Một nhân vật hoạt động trong các phong trào thanh niên tại Sài G̣n lúc bấy giờ cho rằng đă thuyết phục được Đại tướng Dương Văn Minh ra nhận lănh chức vụ tổng thống với quan niệm “c̣n nước c̣n tát”. Đại tướng Minh đă biết rơ t́nh h́nh quân sự tuyệt vọng từ ngày 22/4, sau khi nghe Trung tướng Trần Văn Đôn, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng quốc pḥng trong nội các của Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn thuyết tŕnh (146). Tướng Đôn cũng xác nhận trong hồi kư của ông là t́nh h́nh quân sự rất đen tối khi ông thông báo và thuyết phục Tổng thống Hương trao quyền lại cho Đại tướng Dương Văn Minh (147). Tuy nhiên, một quyển sách khác lại cho rằng Tướng Đôn bi thảm hóa t́nh h́nh để làm áp lực quốc hội nhanh chóng chấp thuận việc chuyển giao quyền hành tổng thống lại cho Tướng Minh (148). Trong khi đó, cựu Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn cũng đồng ư là t́nh h́nh quân sự đă tuyệt vọng kể từ ngày 20/4. Tuy nhiên, thứ trưởng quốc pḥng trong nội các của Thủ tướng Vũ Văn Mẫu cho rằng ông Đôn hoàn toàn không nắm vững được t́nh h́nh quân sự khi được hỏi lúc bàn giao ngày 29/4 (133). Cuộc chiến rồi cũng phải chấm dứt nhưng sẽ kết thúc khác với những ǵ đă xảy ra khi quân đội CSBV không vào được Sài G̣n trong tháng 4/1975.

    Dù bất cứ trường hợp nào th́ Tổng thống Dương Văn Minh cũng có thể sẽ phát biểu tương tự như Đô đốc Doenitz, quyền quốc trưởng nước Đức tháng 5 năm 1945 (149) :

    “Tôi vẫn thấy rằng tôi có nghĩa vụ đối với dân tộc để nhận lănh trách nhiệm chấm dứt chiến tranh và làm bất cứ điều ǵ trong khả năng quyền hạn của tôi hầu ngăn chận sự rối loạn. Điều thành công là mang lại sự đầu hàng tiệm tiến đă cứu được mạng sống của nhiều người. Tôi biết ơn sự kiện thực tế v́ chính tôi đă có ảnh hưởng ít nhiều khi thi hành nhiệm vụ cuối cùng.

    Tính cương quyết, khiến tôi ngăn cản với hết khả năng của ḿnh về sự tàn sát đến từ phía đông, điều này có được là do tôi lo ngại để cứu dân chúng. Mặc dù tôi chống đối Cộng sản v́ không chấp nhận được bởi người dân Đức, tuy nhiên những hành động của tôi năm 1945 không thể và không nên hiểu là thái độ của chính tôi về câu hỏi làm thế nào mà nước Đức có thể ḥa hợp được với các nước láng giềng đông hay tây trên phương diện chính trị”.

    Quả đúng như vậy, ngày 2/5/1975, Tổng thống Dương Văn Minh đă nói với đại tá chánh vơ pḥng của phủ Tổng thống rằng (150) :

    “Anh Chiêm à! Tôi nghĩ việc tôi làm không có ǵ ân hận cả. V́ việc làm của tôi đă cứu rất nhiều người, giúp cho Sài G̣n không bị đổ máu”.   


TÀI LIỆU THAM KHẢO :

1.         MX Nguyễn Thành Trí, Ngày Tháng Không Quên, trang 37-69; Đặc San Sóng Thần, Tổng    Hội TQLC Việt Nam tại Hoa Kỳ, 2004.

2.         Thượng tướng Hoàng Cầm, Chặng đường Mười Ngh́n Ngày, trang 428; nxb Quân Đội Nhân Dân, Hà Nội, 2001.

3.         Thượng tướng Nguyễn Hữu An, Chiến Trường Mới, trang 247, 251, 254-255 & 267-271; nxb QĐND, Hà Nội, 2002.

4.         KB Trần Châu Giang, Trường Thiết Giáp Giờ Thứ 24, trang 50-53; Đặc San Kỵ Binh, số 5,   tháng 6-2006.

5.         Thư riêng của cựu Đại úy Trương Gia Lương gửi cho tác giả ngày 18/12/2007.

6.         Nguyễn Ngọc Thạch, Những ngày cuối cùng của Truờng Bộ Binh; http:// batkhuat.net /tl-nhungngaicuoi-tbb.htm, 25/3/2013.

7.         Hoàng Đức Nhă, Nghe Sư trưởng 304 kể chuyện “tiến về Sài G̣n”; http:// www6.vnmedia.vn             /newsdetail.asp?NewsId=191306&CatId=23, 30/4/2010.

8.         Trung tá Đinh Văn Thiên & Đỗ Phương Linh, Một Số Trận Đánh Trước Cửa Ngơ Sài G̣n,    trang 110; nxb QĐND, Hà Nội, 2005.

9.         Vũ Hữu Hưng, Kỷ Niệm Ngày: Quân Lực 19/6, trang 74-76; Tuần Báo Mơ, 16/6/2001.

10.       Thư riêng của cựu Đại tá Vũ Ngọc Hướng gửi cho Jay Veith ngày 30/4/2003.

11.       Chuẩn tướng Trần Quang Khôi, Tường-Tŕnh Về Vai-Tṛ Lữ-Đoàn III Kỵ-Binh Và Lực-       Lượng Xung-Kích Quân Đoàn III - Danh Dự Và Tổ Quốc, trang 363-375; Hà Mai Việt, Thép     và Máu - Thiết Giáp Trong Chiến Tranh Việt Nam, tác giả xuất bản, Texas, 2005.

12.       Điện thoại viễn liên với cựu Trung úy Huỳnh Bá Long ngày 8/9/2007.

13.       Mủ xanh Đinh Xuân Lăm, Lữ Đoàn 468 TQLCVN, trang 67-71; Đặc San Sóng Thần, Kỷ     Niệm 44 năm thành lập Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Ḥa, Iowa, 1998.

14.       Điện thư của cựu Trung tá Nguyễn Đăng Ḥa gửi cho tác giả ngày 10/9/2007.

15.       Đại tá Nguyễn Văn Hồng, Cuộc Chiến Đấu Tự Nguyện, trang 214-215; nxb Thanh Niên, Hà            Nội, 2005.

16.       Lịch Sử Sư Đoàn 3, Trận chiến pḥng tuyến cầu Cỏ May; http:// www.vnmilitaryhistory.net /index.php /topic,11573.0.html, 7/4/2013.

17.       Nguyễn Văn Thông, Những Ngày Cuối Của Các Chiến Sĩ Cán Bộ Và Khóa Sinh Trường       Truyền Tin / QLVNCH; http:// www.viettide.net, 10/5/2008.

18.       Lịch sử Sư đoàn 3 Sao Vàng, trang 109; nxb Quân Đội Nhân Dân, Hà Nội.

19.       Nguyễn Anh Dũng & Lâm A Sáng, Trận chiến đấu bi hùng cuối cùng của Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu 1975, trang 12-23; Nhóm Những Nhà Văn Quân Đội, Những Trận Đánh Không      Tên Trong Quân Sử, nguyệt san Việt Nam xuất bản, Canada, 2003.

20.       Nguyen Phuc Hau, “Yes. We Fought”, Chương XVI - Civilians, trang 253-256; L      Engelmann, Tears Before The Rain - An Oral History of the Fall of South Vietnam, Da Capo    Press, New York, 1997.

21.       Nguyên Khai, Vũng Tầu tàn chiến cuộc; http:// vantuyen.net index.php?view=story&subject-           id=22627, 16/5/2008.

22.       Điện thoại viễn liên với cựu Đại tá Hứa Yến Lến ngày 21/8/2007.

23.       Điện thoại viễn liên với cựu Đại úy Lê Sơn ngày 22/8/2007.

24.       Điện thoại viễn liên với cựu Đại úy Phạm Văn Bản ngày 23/8/2007.

25.       Tiến sĩ Phạm Huy Dương & Thạc sĩ Phạm Bá Toàn, Chủ biên, Chiến Dịch Hồ Chí Minh -     Trang Sử Vàng Qua Các Trận Đánh, trang 450-530; nxb QĐND, Hà Nội, 2005.

26.       Nguyễn Phúc Sông Hương, Người Lính Chưa Qua Sông, sách đă dẫn trên (19), trang 25-39.

27.       Đậu Thanh Sơn, Kư Ức Sư Đoàn; http:// www.vnmilitaryhistory.net /index.php /topic, 22547.290 /wap2.html, 7/4/2013.

28.       Kb. Vũ Đ́nh Lưu, Trảng Bom Băo Lửa - Trảng Bom-Hố Nai ngày 29-4-1975; http:// baovecovang2012.wordpress.com /2013 /03 /30 /trang-bom-bao-lua-trang-bom-ho-nai-ngay-29-4-1975-kb-vu-dinh-luu, 8/4/2013.

29.       Điện thoại viễn liên với cựu Trung tá Lê Bá B́nh ngày 9/9/2007.

30.       Vũ Đ́nh Hải, Việt Ngủ Ngáy, trang 101-127; Đặc San Mũ Đỏ, số 55, California, 18/2/2007.

31.       Nhóm Bốc Mộ, Một Chuyến Viếng Thăm, trang 148-153; Đặc san Mũ Đỏ, số 67, Xuân Quư Tỵ, 2013.

32.       Quân Sử Không Quân Việt Nam Cộng Ḥa, trang 198; Lư Tưởng Úc Châu, Australia, 1-7-    2005.

33.       Tài liệu riêng của cựu Trung tá Đỗ Đức Thảo gửi cho tác giả ngày 10/10/2007.

34.       Đỗ Văn Ninh, Kỷ Niệm Miền Đông, trang 169-187; Đại tá Đồng Kim Hải & Đại tá Giáp Văn           Phúc, Đường Tới Toàn Thắng, nxb QĐND, Hà Nội, 2005.

35.       Trung tá Nguyễn Long Hưng, Đêm Trước Ngày Toàn Thắng, trang 250-258, sách đă dẫn trên.

36.       Thư riêng của cựu Trung tá Đỗ Đức Thảo gửi cho tác giả ngày 22/10/2007.

37.       J M Collins, Military Geography for professionals and the public, trang 218; Brassey’s,        Washington, 1998.

38.       Operation Market Garden; http:// en.wikipedia.org /wiki /Operation_Market_Garden#Ter-     rain, 28/2/2007.

39.       The Last Fence, trang 1177-1178; Images of War - The Real Story of World War II, số 43,   tập 3; nxb Marshall Cavendish Ltd., U.K., 1995.

40.       The Memoirs of Field-Marshal Kesselring, trang 276; nxb Greenhill Books, London, 2007.

41.       J G Miller, The Bridge at Dong Ha, trang 180; Naval Institute Press, Maryland, 1989.

42.       Colonel G H Turley, The Easter Offensive - The Last American Advisors Vietnam, 1972,     trang 188; Presidio Press, California, 1985.

43.       Lịch sử Bộ đội Đặc công Quân đội Nhân dân Việt Nam (1945-2007), trang 113-120; nxb     QĐND, Hà Nội, 2007.

44.       Điện thoại viễn liên với cựu Thiếu tá Vơ Trọng Em ngày 2/9/2007.

45.       Văn Dĩ & Đại tá Vũ Chiến, Tư Thế Đặc Công, sách đă dẫn trên (34), trang 232-249.

46.       MX Kiều Công Cự, Những ngày tháng Sau Cùng của TĐ2/TQLC (8/3/75-30/4/75), trang       504-525; Tuyển Tập 2: Hai Mươi Mốt Năm Chiến Trận Của Binh Chủng Thủy Quân Lục       Chiến Việt Nam (1954-1975), Tổng Hội TQLC/VN tại Hoa Kỳ, California, 2005.

47.       Nguyễn Văn Chương, Hăy Xứng Đáng là Trai Đất Tổ - Vua Hùng, sách đă dẫn trên (34),      trang 270-279.

48.       Nguyễn Thành Lộc, Biên Ḥa Một Thời Kỷ Niệm, sách đă dẫn trên (34), trang 212-221.

49.       Trung đoàn 113 Đặc Công - Bộ Chỉ Huy Miền, trang 94-95; Lê Hải Triều, Anh Hùng Trong             Chiến Dịch Hồ Chí Minh, nxb QĐND, Hà Nội, 2005.

50.       Nguyễn Quốc Hoàn, Những người ngă xuống trước ngày toàn thắng; Sự Kiện & Nhân           Chứng, Hồi Ức - Kỷ Niệm, Quân Đội Nhân Dân ngày 26/7/2007.

51.       Trung tướng Lê Nam Phong, Cuộc Đời và Chiến Trận; nxb Thanh Niên, Hà Nội.

52.       Thư riêng của cựu Trung tá Lê Bá B́nh gửi cho tác giả ngày 18/9/2007.

53.       Điện thoại viễn liên với cựu Đại tá Nguyễn Thành Trí ngày 16/8/2007.

54.       Jean Lartéguy, Vĩnh Biệt Sài G̣n, trang 112; Phạm Kim Vinh chuyển ngữ, nxb Thế Giới, California, 1991.

55.       Thượng tướng Trần Văn Trà, Kết Thúc Cuộc Chiến Tranh 30 Năm, trang 816-837; nxb         QĐND, Hà Nội, 2005.

56.       Sách đă dẫn trên (34), trang 302.

57.       Mạnh Hùng, Đường đến Dinh Độc Lập; http:// lichsuvietnam.info /index.php? option=com_ content&task=section&id=3&Itemid=17, 29/3/2013.

58.       Thiên Ân, Nghe tiếng hát Phùng Văn Chiêu nhớ những ngày cuối cùng của Biên Ḥa; Kư Sự,           http:// members.optusnet.com.au /vnaf, 2/4/2008.

59.       Trần Văn Bê & Vơ Tá Trọng, Lịch Sử Binh Chủng Thiết Giáp Quân đội nhân dân Việt Nam             1959-1975, trang 292; nxb QĐND, Hà Nội, 1982.

60.       MĐ Bùi Văn Thái, Trận Đánh Cuối Cùng của TĐ5ND; http:// nhaydu.com /index_83hg_files /left_files /T-Chien /tran-danh-cuoi-cung-cuaTD5ND.pdf, 30/3/2013.

61.       G Forty, Road To Berlin - The Allied Drive from Normandy, trang 89 & 160; nxb Cassel &             Co, London, 1999.

62.       Trần Trọng Trung, Lịch sử và nhân chứng - Đại tướng Vơ Nguyên Giáp ở Tổng hành dinh;   http:// www.sggp.org.vn /chinhtri /35namgiaiphongmiennam /2010 /4/224795, 30/4/2010.

63.       Nam Hà, Mặt Trận Đông Bắc Sài G̣n, trang 227-228; nxb Hà Nội, 2005.

64.       Hồ Sĩ Thành, Trận Chiến Đấu Ác Liệt Bảo Vệ Cầu Rạch Chiếc, sách đă dẫn trên (34), trang             280-284.

65.       Phùng Bá Đam, Bắt Dương Văn Minh Cùng Nội Các Chính Quyền Sài G̣n, trang 305-315; Nguyễn Đăng Vinh & Nguyễn Phương Túy sưu tầm, biên soạn, Trận Quyết Chiến Cuối   Cùng, nxb Từ Điển Bách Khoa, Hà Nội, 2005.

66.       Hồ Sĩ Thành, Biệt Động Những Chiến Công Bất Tử, trang 172; nxb Trẻ, Thành phố HCM, 2002.

67.       Phạm Vũ, 52 Anh Em Đă Nằm Lại Ở Cầu Rạch Chiếc, trang 102-104; hồ sơ một thế hệ Viết            Nên Huyền Thoại, nxb Trẻ, Thành Phố Hồ Chí Minh, 2004.

68.       Nguyễn Văn Tào, Lữ đoàn 316 trong ngày giải phóng Sài G̣n 30/4/1975, Tư Liệu Lịch Sử; ttp:// honvietquochoc.com.vn /Tu-lieu /Tu-lieu-lich-su /Lu-doan-316-trong-ngay-giai-phong-        G-30-4-1975.aspx, 15/6/2011.

69.       TS. Đặng Văn Thắng, Xuân Ất Măo ở một ngôi trường đại học, trang 94-101; nhiều tác giả, 30-4 Và Tôi, nxb Trẻ, Thành Phố HCM, 2005.

70.       Đại tá, Ts. Dương Đ́nh Lập & Thượng tá Trần Minh Cao, Cuộc Tổng Tiến Công Và Nổi Dậy           Mùa Xuân 1975 (Biên Niên Sự Kiện), trang 221; nxb Tổng Hợp TP.HCM, 2005.

71.       Thượng tá TS Đinh Thu Xuân, Lịch sử bộ đội Tăng - Thiết giáp Quân Giải phóng miền Nam             và Quân khu 7, trang 49; nxb QĐND, Hà Nội, 2003.

72.       Trần Văn Trung, Lê Nguyễn & Hải Triều, Trận đánh không có đại bàng tại Huấn Khu Thủ   Đức ngày 30/4/1975, trang 114-115; Nhóm Nhà Văn Quân Đội, Những Trận Đánh Không       Tên Trong Quân Sử (Tập II), nguyệt san Việt Nam xuất bản, Canada, 2006.

73.       Thiếu tướng Lê Xuân Kiện, Nghệ Thuật Tác Chiến Của Bộ Đội Xe Tăng - Thiết Giáp Trong             Tổng Tiến Công Và Nổi Dậy Xuân 1975, trang 85; Trận Quyết Chiến Lịch Sử Xuân 1975,        Viện Lịch sử quân sự Việt Nam biên soạn và xuất bản, Hà Nội, 1990.

74.       http:// www.saigonnewport.com.vn /vietnamese /lichsu.aspx, 31/8/2007.

75.       Nguyễn Xuân Quư, Lịch Sử Trung Đoàn Bộ Binh 165 Sư Đoàn 7 - Quân Đoàn 4 1946-2001,           trang 219-220; nxb QĐND, Hà Nội, 2003.

76.       J Manyon, The Fall of Saigon, trang 102-104 & 116-117, Rex Colling Ltd, London, 1975.

77.       Đại tá Bùi Văn Tùng, Một Sáng Kiến Về Tổ Chức Chỉ Huy Trận Tấn Công Đánh Chiếm Phủ            Tổng Thống Ngụy, sách đă dẫn trên (65), trang 297-304.

78.       Người Dẫn Tổng Thống Dương Văn Minh Đọc Bản Tuyên Bố Đầu Hàng, trang 324-326; Lưu           Vinh, Những Chứng Nhân Lịch Sử, nxb Công An Nhân Dân, Hà Nội, 2003.

79.       Ths. Huỳnh Văn Chúm và nhiều người khác, Lịch Sử Truyền Thống Chiến Khu An Phú       Đông, trang 260; nxb Tổng Hợp Thành Phố Hồ Chí Minh, 2005.

80.       Đại tá Trần Xuân Ban, Chủ biên, Lịch Sử Sư Đoàn Bộ Binh 7 (1966-2006), trang 229; nxb   QĐND, Hà Nội, 2006.

81.       Phỏng vấn Phó Đề Đốc Đinh Mạnh Hùng, Những Tiết Lộ Thêm Về Chuyến Di Chuyển Của             Đoàn Tàu, trang 523-530; Hải Sử Tuyển Tập, Tổng Hội Hải Quân & Hàng Hải, California,        2004.

82.       P Arnett, Live From The Battlefield From Vietnam To Baghdad 35 Years in the World’s War            Zones, trang 306; nxb Corgi Book, UK, 1995.

83.       A Speer, Inside The Third Reich, trang 633 & 624-625; nxb Orient Books Ltd, London, 2003.

84.       C Bellamy, Absolute War - Soviet Russia in the Second World War, trang 668 & 642; nxb Pan Books, London, 2007.

85.       Huỳnh Hồng Hiệp, Tự Sát Dưới Chân Cờ; http:// tvvn.org /tvvn /index.php?categoryid=67&             p2003_articleid=85, 3/4/2008.

86.       Tài liệu riêng của cựu Trung tá Đỗ Đức Thảo gửi cho tác giả ngày 12/10/2007.

87.       Minh Surrenders, Vietcong In Saigon, 1,000 Americans and 5,500 Vietnamese Evacuated by           Copter to U.S. Carriers, The New York Times, April 30, 1975.

88.       Hương Hồng Thu, Thọc sâu cấp binh đoàn, Quốc Pḥng - An Ninh, Nghệ Thuật Quân Sự,    Quân Đội Nhân Dân, 9/6/2007.

89.       D M Glantz, Soviet Military Operational Art - In Pursuit of Deep Battle, trang 148; nxb Frank           Cass and Company Limited, U.K., 1991.

90.       Champs De Bataille, Thématique H.S. No. 4 - Le Combat Tactique: Les Blindés Allemands,             trang 6, France, Avril 2008.

91.       R E Simpkin, Mechanized Infantry, trang 68; Brassey’s Publishers Ltd., England, 1980.

92.       Đại tướng Vơ Nguyên Giáp, Tổng Hành Dinh Trong Mùa Xuân Toàn Thắng, trang 286; nxb             Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2000.

93.       The Fall of Saigon; http:// ews.bbc.co.uk /aboutbbcnews /hi /news_update /newsid_3853000             /385353.stm, 17/12/2005.

94.       A Gat, A History of Military Thought from the Enlightenment to the Cold War, trang 639;    Oxford University Press, U.K., 2001.

95.       A Beevor, Berlin The Downfall 1945, trang 424 & 156; Penguin Books Ltd, London, 2002.

96.       J C Berry, Jr., Synopsis of the Marine Corps Doctrinal Publications, trang 9; Thoughts on The          Operational Art, United States Marine Corps, Virginia, October 2006.

97.       Vận Dụng Sáng Tạo Nghệ Thuật Tiến Công, Kết Hợp Tiến Công Và Nổi Dậy, Tổ Chức Và   Thực Hành Trận Quyết Chiến Chiến Lược, Giành Thắng Lợi Hoàn Toàn, trang 666; Đại tá      Kiều Bách Tuấn & Trung úy Bùi Thu Hương, Đại Tướng Lê Trọng Tấn Tổng Tập, nxb         QĐND, Hà Nội, 2007.

98.       S Tzu, The Art Of War, trang 98; S B Griffith chuyển ngữ và giới thiệu, Oxford University   Press, New York, 1971.

99.       L Jikun, Mao Zedong’s Art of War, trang 161; Hai Feng Publishing Co., Hong Kong, 1993.

100.     Đại tá, ThS. Khoa học Quân sự Phạm Vĩnh Phúc & nhiều người khác, Lịch sử chiến thuật    Quân đội Nhân dân Việt Nam 1945-1975 - Tập 1, trang 151; nxb QĐND, Hà Nội, 2003.

101.     Đại tướng Văn Tiến Dũng, Chiến Tranh Nhân Dân Quốc Pḥng Toàn Dân, trang 170; Tập    Hai, nxb QĐND, Hà Nội, 1979.

102.     Sách đă dẫn trên (52), trang 791.

103.     http:// www.dongnai.gov.vn /gioi_thieu_chung /du_lich_thuong_mai /mldocument.2004-12-            26.5924848152, 3/6/2008.

104.     Điện thoại viễn liên với cựu Đại tá Cổ Tấn Tinh Châu ngày 5/11/2007.

105.     Điệp Mỹ Linh, Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa Ra Khơi 1975, trang 233-234; tác giả xuất bản,          Texas.

106.     Hồ Sĩ Thành, Đặc Khu Rừng Sác, trang 63-65 & 127-128; nxb Trẻ, Thành Phố HCM,           2002.

107.     Nguyễn Nhật Cường, Tưởng Niệm 30-04-75: Tháng Tư, Cả Một Đời Người Trước...; http:// batkhuat.net /van-thang4-camot-doinguoi.htm, 29/3/2013.

108.     Trung tướng Doăn Tuế, Pháo Binh Xuân 1975, sách đă dẫn trên (25), trang 695-716.

109.     Lieutenant Colonel J Kean, After Action Report 17 April - 7 May 1975; http:// www.fallofsai-          gon.org /final.htm, 5/7/2002.

110.     Lê Bá Thông, Tưởng Niệm Tháng Tư Đen: Chuyến hải tŕnh định mệnh, trang 34-44; Làng, 30/4/2004.

111.     Vũ Thụy Hoàng, Sài G̣n Tuyết Trắng - Việt Nam: tháng 4, 1975, trang 297-300; nxb Vietnam Books, Virginia, 2000.

112.     Đại tá, TS. Hồ Sơn Đài, Chủ biên, Lịch Sử Đảng Bộ Huyện Nhà Bè (1975-2005), trang 15-  16; nxb Tổng Hợp Thành Phố HCM, 2007.

113.     A Vick, Snakes in the Eagle’s Nest, trang 9-20; Rand, California, 1995.

114.     Sách đă dẫn trên (92), trang 307-308.

115.     Sách đă dẫn trên (55), trang 791.

116.     Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại Thắng Mùa Xuân, trang 261-262, in lần thứ hai; nxb QĐND,             Hà Nội, 1977.

117.     http:// en.wikipedia.org /wiki /Tan_Son_Nhat_Air_Base, 11/11/2007.

118.     Dương Hiếu Nghĩa, Hồi kư dang dở ...; http:// www.geocities.com /nhd18 /hoikydangdo.html,           15/5/2008.

119.     Vĩnh Hiếu, Phi Đoàn Thần Tượng - Giờ Thứ 25; Kư Sự, http:// members.optusnet.com.au     /vnaf; 1/4/2008.

120.     T Terzani, Giai Phong The Fall and Liberation of Saigon, trang 45-48; nxb Angus & Robertson (UK) Ltd., 1976.

121.     D Butler, The Fall of Saigon Scenes from the sudden end of a long war, trang 414; Sphere    Books Limited, London, 1985.

122.     T G Tobin, A E Laehr & A F Hilgenberg, Last Flight from Saigon, trang 91-95; USAF South-            east Asia Monograph Series, Volume 4, Monograph 6, 1/1/2005.

123.     Đằng Vân, Tháng Tư 1975; Kư Sự, http:// members.optusnet.com.au /vnaf, 1/4/2008.

124.     Đinh Đồng Kỳ, Bầy Chim Vỡ Tổ - Trên Sân Bay Cỏ Ống, trang 27-38; Tập San Biệt Động   Quân, Số 23, Tháng 5 Năm 2008, California.

125.     THTR, My Last Flying Combat Mission in Saigon - The true story of Vietnamese Air Force super heroes in final hours; http://vnafmamn.com/VNAF_LastMission.html, 11/3/2013.

126.     PGS. Thiếu tướng Tạ Vân, Đánh Phá Sân Bay Tân Sơn Nhất Trong Chiến Dịch Hồ Chí         Minh, sách đă dẫn trên (65), trang 282-286.

127.     Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự, Những ngày cuối cùng ở trại Davis; http:// ww.cand.com.vn    /vi-VN /phongsu /2008/4/89542.cand, 17/8/2008.

128.     Thiên Lôi 524, Chuyện 30 năm trước; http:// www.thta.net /BaiVo /BaiVo_Chuyen30Nam   ruoc.htm, 9/11/2009.

129.     t́nhhoàihương, Phi Vụ Oanh Liệt Cuối Cùng; http:// www.quanvan.net /index.php?             view=story&subjectid=27405&chapter=1, 12/6/2011.

130.     F Snepp, Decent Interval - The American Debacle in Vietnam and the Fall of Saigon, trang   96; Penguin Books Ltd, England, 1980.

131.     Thiếu tướng Lê Linh, Tiến Về Thành Phố Mang Tên Bác, trang 214-248; Chiến Dịch Hồ Chí            Minh Qua Hồi Ức các tư lệnh và chính ủy; nxb QĐND, Hà Nội, 2005.

132.     Tô Kiều Phương, Khoảnh Khắc Sau Cùng Sài G̣n Vẫn Sống Lẫm Liệt; http:// www.take2-   ango.com /News.aspx?NewsID=5040, 23/1/2008.

133.     CSVSQ Bùi Thế Dung, trang 102-106-6, Kỷ yếu của khóa 11 SVSQ/TVBQGVN.

134.     Theo HNM, Chúng tôi tiến vào Sài G̣n; http:// vitinfo.com.vn /Muctin /CTXH /42129 /def- ult.aspx, 31/5/2008.

135.     Kiem Do & J Kane, Counterpart - A South Vietnamese Naval Officer’s War, trang 198;        Airlife Publishing Ltd, England, 1998.

136.     Phạm Cường, Kỳ 2: Viên tướng chế độ cũ mang bí số cách mạng; http:// vietnamnet.vn         chinhtri /2007 /04 /687808, 2/5/2007.

137.     R Holmes & M M Evans, Chủ biên, Battlefield Decisive Conflicts in History, trang 255;       Oxford University Press, U.K., 2007.

138.     J Owen, Nuremberg Evil on Trial, trang 327, Headline Publishing Group, London, 2006.

139.     Trần Anh, Cầu Rạch Chiếc, Chiến công quả cảm của lữ đoàn 316 đặc công; http:// www.     dnd.vn /qdnd /baongay.dlbp.33438.qdnd, 29/4/2008.

140.     Thiếu tướng Trần Hải Phụng, Tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 ở miền Đông Nam Bộ, trang 58; Trận Quyết Chiến Lịch Sử Xuân 1975, Viện lịch sử quân sự Việt Nam xuất bản, Hà          Nội, 1990.

141.     'Ḥa giải dân tộc phải dần dần'; http:// www.bbc.co.uk /vietnamese /vietnam /2010 /04             /100426_30april_general_thai.shtml, 6/7/2011.

142.     Lê Trọng Quát, Việt Nam Đi Về Đâu? Huyền Thoại Và Sự Thật 1930-2002, Tập 2, trang 935-          38; tác giả xuất bản, California, 2003.

143.     S T Hosmer, K Kellen & B M Jenkins, The Fall of South Vietnam - Statements by Vietnamese Military and Civilian Leaders, trang 150; nxb Crane, Russak & Company, Inc., New York, 1980.

144.     Hoàng Văn Yên, Ngày Giă Từ Vũ Khí, trang 96-99; Hội Ái Hữu Quân Nhu Quân Lực Việt   Nam Cộng Ḥa, Tập San Đất Mới, Đặc San Tân Niên 2007, California.

145.     Nguyễn Bá Cẩn, Đất Nước Tôi, trang 544-545 & 420; Hoa Hao Press, California, 2003.

146.     Diễn Đàn NVQG 04-24-05: Nguyễn Đ́nh Toàn: Đại Tướng Dương Văn Minh; http:// www.  nationalistvietnameseforum.com /Nationalist%20Vietnamese%20Forum /Pages /Main /Am-  %20thanh.htm, 24/4/2005.

147.     Tran Van Don, Our Endless War nside Vietnam, trang 248; Presidio Press, California, 1978.

148.     Phạm Kim Vinh, Cái Chết Của Nam Việt Nam: Những trận đánh cuối cùng, trang 358-359; nxb Xuân Thu, California, 1988.

149.     Admiral K Doenitz, Memoirs Ten Years and Twenty Days, trang 474; nxb Cassell & Co., London, 2000.

150.     Thanh Thương Hoàng, Dinh Độc Lập 30 Tháng 4 Năm 1975; http:// www.vantuyen.net        /index.php?view=story&subjectid=24640, 14/5/2008.


[1] Thành Tuy Hạ là tên một trong ba tổng là Thành Tuy Hạ, Trung và Thượng, thuộc huyện Long Thành, phủ Phước Tuy, tỉnh Biên Ḥa; có từ thời nhà Nguyễn. Năm 1936, quân đội Pháp thiết lập căn cứ trên đất Thành Tuy Hạ. Thời VNCH, căn cứ là nơi tồn trữ bom và đạn dược lớn nhất của QLVNCH, có tên là căn cứ Phan Bội Châu.

[2] Sư đoàn 341 được thành lập ngày 23/11/1972 tại huyện Nam Đàn để tạo thành lực lượng trừ bị cho quân khu 4 CSBV (gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng B́nh), đề pḥng Mỹ và lực lượng đồng minh có thể đổ bộ tấn công miền Bắc trong năm 1972. Sư đoàn c̣n có tên là sư đoàn Sông Lam v́ sông Lam cùng với núi Hồng Lĩnh là biểu tượng của tỉnh Nghệ An.

Tư lệnh sư đoàn lúc bấy giờ là Đại tá Trần Văn Trân (1927-1997) hay Ba Trân. BTL sư đoàn của ông đă bị QLVNCH bắt giữ tại Thất Sơn, tỉnh An Giang năm 1970. Nhờ giả làm y tá, Thượng tá Trân đă được trao trả như một cán binh thường tại bờ sông Thạch Hăn ngày 18/3/1973. Ông được thăng cấp đại tá, làm Tư lệnh sư đoàn 341 tham dự chiến dịch HCM. Năm 1974, khi quân đoàn 4 (hay binh đoàn Cửu Long) được thành lập, sư đoàn 341 là thành phần của quân đoàn này nhưng mang phiên hiệu là sư đoàn 1 để ngụy trang. Sau chiến tranh, ông Trân được thăng cấp thiếu tướng làm Phó Giám đốc Học viện Lục quân Đà Lạt.  

[3] Hỏa Long là danh hiệu truyền tin của Trung tá Nô, ThĐT thiết đoàn 5.

[4] Trung sĩ nhất Phương, thường vụ tiểu đoàn 5 ND.

[5] Twenty-foot Equivalent Unit (TEU) là đơn vị dùng để chỉ khả năng chứa hàng hóa của một tàu chở container hay kho hàng chứa container của một cảng sông hay biển. TEU là thể tích tương đương với một container tiêu chuẩn dài 6.1 m (20 feet), ngang 2.44 m (8 feet). Tuy nhiên chiều cao của container lại thay đổi từ 1.3 m đến 2.9 m nên TEU chỉ có tính cách tương đối.

[6] Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi (1927-), Tư lệnh tiền phương quân đoàn III kiêm Tư lệnh mặt trận Phan Rang. Ông cùng với Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang, Tư lệnh sư đoàn 6 Không quân bị sư đoàn BB 3 CS bắt ngày 16/4/1975 sau khi mặt trận Phan Rang bị vỡ. Quân đội CSBV đă dùng phi cơ đưa họ ngay ra Bắc để khai thác (V.C., Hai viên bại tướng tại pḥng tuyến Phan Rang; http:// antg.cand.com.vn /vi-vn /tulieu /2012 /4 /77946.cand, 9/4/2013).

 








Copyright @ 2005 quocgiahanhchanh.com
Webmaster@tranbachthu