Home

Trang Chính

Bản Tin

Sinh Hoạt

Tham Luận

Hoài Băo Quê Hương

Văn Học Nghệ Thuật

Thư Tín

Bài vở xin gửi về địa chỉ sau đây:
3108 E. Sawyer St.
Long Beach, CA 90805

                                                                  

 

 CHIẾN TRANH VIỆT NAM

        Lời tác giả: Đây là loạt bài ghi lại những sự kiện trong tháng 4/1975 dẫn đến sự sụp đổ của VNCH. Phần đầu tiên là chương cuối cùng (có bổ túc) được trích từ quyển sách "Chiến Tranh Việt Nam toàn tập" của tác giả, đă được Làng Văn xuất bản tại Canada năm 2001. Những bài kế tiếp được viết gần đây cho ấn bản thứ nh́ của quyển sách (sẽ được xuất bản). Qua đó, độc giả sẽ có một cái nhìn tổng quát khắp các mặt trận chung quanh Sài Gòn, chưa được ghi lại trước đây.

   Tác giả rất mong nhận được những phản hồi từ độc giả, nhất là những độc giả ở ngay tại Sài Gòn lúc bấy giờ, hầu bổ sung thêm những chi tiết cần giữ lại cho mai hậu. Mọi liên lạc xin gửi qua người phụ trách trang nhà của cựu sinh viên Học viện Quốc gia Hành chánh để nhờ chuyển (tranbachthu @quocgiahanhchanh.com).

Nguyễn Đức Phương, Anh quốc, Mạnh xuân 2013

      Nằm trong kế hoạch mùa khô năm 1975 của mặt trận B2, Trung ương cục miền Nam mở một hội nghị ngày 13/2/1975 để bàn thảo việc thực hiện kế hoạch chung của bộ TTL quân đội CSBV. Đặc biệt hướng tây và tây-nam Sài G̣n được CS lượng định (1), (xem Sơ đồ 1) :

“Khó khăn và phức tạp nhất v́ đồng ruộng śnh lầy, nhiều sông rạch chia cắt, đường giao thông không thuận lợi cho cơ giới - lộ 4 địch c̣n kiểm soát chắc - căn cứ ém quân và hậu cần của ta đều xa Sài G̣n. Trên đường tiến quân về Sài G̣n phải qua hệ thống đồn bót địch c̣n khá dày, chắc chắn phải đánh mở đường để tiến quân. Phải trù tính phương án vượt sông Vàm Cỏ Đông đối với xe và pháo lớn. Đồng bằng sông Cửu Long c̣n là nơi ngụy quyền có âm mưu co cụm cố thủ trong t́nh huống xấu nhất đối với chúng nên chúng ta cũng phải có kế hoạch đánh phá âm mưu này của chúng. Mục tiêu tổng nha cảnh sát, biệt khu thủ đô, kho xăng nhà bè”.

      Để thực hiện kế hoạch trên hướng này, CS cho thành lập đoàn 232 vào tháng 2 năm 1975. Đây là một quân đoàn (-) v́ chỉ gồm hai sư đoàn bộ binh do Lê Đức Anh (Sáu Nam) làm Tư lệnh và Lê Văn Tưởng (Hai Chân) làm chính ủy (1) :

·         Sư đoàn 3[1] do Đỗ Quang Hưng làm Sư trưởng với sự yểm trợ của trung đoàn pháo 65 tấn công tiểu khu Hậu Nghĩa, phối hợp với trung đoàn 25 công binh làm cầu phà vượt sông Vàm Cỏ Đông.

·         Sư đoàn 5 do Vũ Văn Thược (Út Liêm) làm Sư trưởng và Xuân Ḥa là Chính ủy, gồm 3 trung đoàn 1, 2 và 3 được tăng phái một trung đội pháo binh với hai đại bác 105 ly và một đại đội xe tăng lội nước gồm 12 thủy xa PT-76 (2). Sư đoàn đang tấn công Mộc Hóa th́ được lệnh ngừng lại[2] , trở về làm áp lực thị xă Tân An, cắt quốc lộ số 4 đoạn Long An - Bến Lức - ngă ba Trung Lương; chiếm giữ hai cầu Tân An và Bến Lức (xem H́nh 1-3).

·         Sư đoàn 9 do Vơ Văn Dần (Ba Hồng) làm Sư trưởng, gồm 3 trung đoàn là trung đoàn 1 (TrĐT là Nguyễn Văn Chia và Chính ủy là Lê Dũng), trung đoàn 2 (TrĐT là Lê Tấn Cẩm và Chính ủy là Lê Giao) và trung đoàn  3 (TrĐT là Hoàng Thuần và Chính ủy là Hồ Giáo). Sư đoàn 9 do quân đoàn 4 tăng phái cho đoàn 232 để phụ trách hướng tây. Đánh tuyến pḥng thủ Cầu Xáng, TL-10, Trầm Lạc, Xuân Thới Thượng, Tân Tạo, Bà Hom đến ngă năm Vĩnh Lộc, ngă tư Bảy Hiền, trường đua Phú Thọ, chiếm BTL/BK/TĐ.

      Ngoài hai sư đoàn bộ binh trên, CS c̣n huy động (1, 3) :

·         Sư đoàn 8 của quân khu 8 do Trần Văn Nhiên (Sáu Phú) là Sư trưởng và Nguyễn Văn Thạnh là Chính ủy, gồm ba trung đoàn là trung đoàn 1 (TrĐT là Nguyễn Văn Chẩn và Chính ủy là Lê Phú Tươi),  trung đoàn 207 (TrĐT là Tám Sơn và Chính ủy là Huỳnh Công Trứ) và trung đoàn 320 (TrĐT là Nguyễn Nhơn và Chính ủy là Nguyễn Công Thành).

·         Hai trung đoàn 115, 117 đặc công, biệt động Sài G̣n do Trần Văn Danh chỉ huy tấn công Phú Lâm

·         Một tiểu đoàn chiến xa T-54

·         Một tiểu đoàn thiết giáp PT-85

·         Một tiểu đoàn đại bác 130 ly

·         Một trung đoàn và một tiểu đoàn pháo pḥng không

·         Nguyễn Văn Linh phụ trách công tác nổi dậy của quần chúng

·         Vơ Văn Kiệt phụ trách chỉ đạo công tác tiếp quản sau khi chiếm Sài G̣n.

      1. HƯỚNG TÂY & TÂY-NAM

      1.1. Hậu Nghĩa

      Những ǵ xảy ra trên hướng tấn công của sư đoàn 3 CS đă được thiếu tá TMP hành quân của tiểu khu Hậu Nghĩa kể lại như sau (4), xem Sơ đồ 2 & H́nh 4-6 :

“Cánh thứ nhất xuyên qua mật khu Lư Văn Mạnh, nam lănh thổ quận Đức Ḥa tràn ngập vùng Mỹ Hạnh áp sát quận Hốc Môn.

Cánh thứ hai lấp cầu nổi vượt sông Vàm Cỏ Đông đưa 4 chiến đấu xa tấn chiếm Lộc Giang quận Trảng Bàng làm bàn đạp tấn công Tỉnh lỵ Hậu Nghĩa.

Đêm 23 rạng 22/4/75 cùng lúc VC tấn công căn cứ hành quân An Tịnh nằm cạnh tỉnh lộ 10 chạy dài từ bắc xuống nam xuyên qua Quận Trảng Bàng, Quận Đức Huệ, Tỉnh lỵ Khiêm Cương và Đức Ḥa, cùng đêm địch tấn công cửa ngơ tuyến chiến hào chống chiến xa bắc tỉnh lỵ 4 km, một Trung đoàn giặc tấn công tới tấp vào mặt tây Tỉnh lỵ với nhiều súng pḥng không 57 và đại bác 75 ly, giữa ban ngày cộng quân mở nhiều đợt xung phong vào tuyến pḥng thủ Tỉnh lỵ đều bị lực lượng pḥng thủ và pháo binh bắn trực xạ đánh bật.

Ngày 23/4/75, đài quan sát duy nhất do đại đội 773 TS đảm trách bị đại bác địch bắn sập, 2 quan sát viên tử thương, Trung Tâm Hành Quân (TTHQ) Bộ Chỉ Huy / TK trúng đạn pháo địch, pháo đội 105 ly đồn trú cạnh BCH / TK di tản ra sân bay Đức Lập theo kế hoạch định trước.

Trên phi vụ yểm trợ căn cứ hành quân An Tịnh và đồn Lộc Giang, Thiếu tá Tham Mưu Phó Hành Quân / TK phát hiện một đoàn quân xa dài của VC xuất phát từ trong ḷng mật khu Hố Ḅ, Bời Lời đang trực chỉ hướng về Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 25 BB. Pháo Đội 105 tại trung Lập được trực thăng hướng dẫn tác xạ chính xác bắn cháy 3 chiếc, số c̣n lại tán loạn chạy trốn vào rừng.

Chiều ngày 24/4/75, Tướng Ngô Quang Trưởng bất thần đáp trực thăng thăm Tiểu Khu Hậu Nghĩa, Đại tá Tôn Thất Soạn, Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng đang thanh sát chi khu Đức Ḥa, Thiếu Tá Tham Mưu Phó HQ thay mặt đón tiếp.

Ngày 25/4/75, một tiểu đoàn thuộc sư đoàn 25 BB do Thiếu Tá Ninh làm Tiểu Đoàn Trưởng tăng phái Chi Khu Trảng Bàng ră ngũ, Thiếu Tá Ninh chạy theo giặc[3], chiếc cầu nổi của VC bắc ngang sông Vàm Cỏ Đông tại Lộc Giang rộn rịp tiếng máy, pháo 155 ly từ BCH / TK tới tấp tác xạ vào cây cầu của địch quân.

Sau nhiều ngày tấn công vào Tỉnh lỵ Hậu Nghĩa thất bại, sáng sớm 25/4 địch tăng cường tấn pháo mạnh vào BCH / TK, pḥng không địch áp sát tuyến pḥng thủ, bắn trực xạ bằng pḥng không vào TTHQ / TK, một L19 phi cơ quan sát của Sư Đoàn 25 BB với Đại úy Giao, một quan sát viên hàng đầu của Sư Đoàn bị SA7 địch bắn rơi tại mặt trận Lộc Giang, viên phi công và Đại Úy Giao tử nạn.

Ngày 26/4/75, lần thứ 2, một phản lực cơ chiến đấu A37 cất cánh từ phi trường Tân Sơn Nhất bị SA7 bắn hạ tại mặt trận Lộc Giang, Trảng Bàng, viên Đại Úy phi công nhảy dù, trực thăng chỉ huy của Thiếu Tá TMP / HQ / TK đáp cứu và đưa về Tân Sơn Nhất, cảnh hỗn loạn di tản tại Tân Sơn Nhất làm nản ḷng các phi công của đoàn trực thăng, 2 trực thăng vơ trang tự ư rời đoàn. Thiếu Tá TMP/HQ được trực thăng chỉ huy trả về lại đơn vị.

Ngày 27/4/75, Tiểu Khu Hậu Nghĩa mất liên lạc với Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, mọi yểm trợ về không quân mất hết, Thiếu Tá Trần Văn Tốt, Trưởng Pḥng Truyền Tin / TK buộc phải liên lạc trực tiếp thẳng với Bộ Tổng Tham Mưu, một Đại Úy trực tại TTHQ / BTTM khuyên từ giờ phút này các anh phải tự lo, pháo 130 ly của địch thay nhau rót từng trái vào BCH / TK, Trung Tâm Hành Quân / TK trúng đạn 130 ly, chỉ thiệt hại vật chất.

Đêm 27/4, Trung Tá Bùi Văn Nhơn, Quận Trưởng, Chi Khu Trưởng Đức Huệ gọi máy xin lệnh triệt thoái, không được Đại Tá TKT chấp thuận. Nhân dịp này, Thiếu Tá TMP / HQ đề nghị nếu phải triệt thoái nên dùng 4 con cá Tango (tàu Hải Quân chống B40 và B41 VC), vài chiến xa địch lọt qua bên này sông Vàm Cỏ Đông, một số các nút chặn dọc theo Tỉnh Lộ 10 bị địch tràn ngập, Chi Đoàn 3/10 Thiết Quân Vận thuộc Sư Đoàn 25 BB tăng phái TK / Hậu Nghĩa tự động ră ngũ[4], VC được trớn tấn công dồn dập hơn, tuy nhiên chưa một tên VC nào lọt được vào bên trong hàng rào pḥng thủ Tỉnh lỵ, pháo 155 ly với những quả bắn trực xạ ngoạn mục đánh bật tất cả các đợt xung phong liều lĩnh, ngu xuẩn, mù quáng của địch.

Ngày 28/4/75, hoàn toàn mất liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu, luôn cả Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô. VC tấn công mạnh vào Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 25 BB có chiến xa yểm trợ, 2 chiến xa địch bị bắn cháy sát hàng rào pḥng thủ Trung Tâm Huấn Luyện Sư Đoàn do các tay súng thiện xạ tân khóa sinh.

Đại Tá Tôn Thất Soạn, Tiểu Khu Trưởng / HN họp khẩn cấp Bộ Tham Mưu lập kế hạch lui binh khi cần. Chiều 29/4, sau khi hoàn toàn mất liên lạc với BTTM. Đại Tá Tiểu Khu Trưởng quyết định lui quân về tuyến pḥng thủ xanh. Tuyến pḥng thủ phối hợp với Biệt Khu Thủ Đô, Đại Tá Soạn đích thân trực tiếp ra lệnh cho tất cả các Chi Khu, Liên Đoàn / ĐP cũng như các Tiểu Đoàn Trưởng tự lo liệu từ giờ phút này. Thiếu Tá TMP / HQ lệnh phá hủy 8 khẩu pháo 105 ly cơ hữu, Thiếu Tá Trần Văn Tốt dùng 2 quả lựu đạn lửa phá hủy TTHQ, đốt kho xăng, phá kho đạn, tất cả các đơn vị pḥng thủ gồm BCH / TK, Đại Đội 773 TS, Trung Tâm Yểm Trợ Tiếp Vận, Cảnh Sát, Chi Đội Cơ Giới, Pháo Binh cũng lui binh theo kế hoạch.

Trên đường lui quân chạm súng nhẹ với khoảng một Trung Đội VC, ta bắt sống 2 tên, thu 2 khẩu AK47, lực lượng TK phối hợp với Trung Đoàn 46 Sư Đoàn 25 BB tiến sát ranh giới Quận Hốc Môn khi trời vừa tối. Một cơn mưa đầu mùa như trút nước ập tới, cuộc lui quân được biến thành cuộc pḥng thủ đêm giữa bưng chờ trời sáng.

Một chiếc trực thăng không rơ của ai từ hướng Củ Chi bay về Tân Sơn Nhất, trong lúc bay ngang qua cầu An Hạ, 3 khẩu pḥng không của địch nổ tới tấp, đạn lửa đan cài chằng chịt vang dội một góc trời.

Sáng 30/4/75 lực lượng lui binh tiến sát sông cầu An Hạ ranh Hốc Môn Đức Ḥa và Củ Chi, ngay trong đêm chiến xa địch tràn ngập lấn chiếm xă Xuân Thới Hạ Hốc Môn, cuộc liên lạc vô tuyến ngắn ngủi cuối cùng đầy tuyệt vọng giữa Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh lănh thổ tháp tùng BCH / TK với một pháo đội 105 ly đồn trú tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, trong khi pháo đội này bị địch tấn công

Trưa 30/4 Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh[5]  (Tướng nội tuyến VC) thay mặt Dương Văn Minh đọc lệnh đầu hàng trên đài phát thanh Saigon, khoảng một đại đội VC tiến đến gần vị trí đóng quân của TK, hầu hết các sĩ quan trong đơn vị xin lệnh chiến đấu. Sau khi hội kiến với Đại tá TKT, Thiếu Tá TMP / HQ vô cùng khó khăn thuyết phục các đơn vị thuộc quyền thôi không đánh, v́ nhận thấy nếu đánh nhau lúc này chắc chắn hai bên đều có thiệt hại, ai là người sẽ chăm lo chữa trị cho các thương binh đàn em của ḿnh, thay mặt Đại Tá TKT, Thiếu Tá TMP lệnh phá hủy tất cả máy truyền tin, súng cá nhân, quyết không cho địch lấy sử dụng”.

      1.2. Long An[6]

      Nhiệm vụ của hai sư đoàn 5 và 8 đă được tư lệnh đoàn 232 kể lại (3) :

“Việc cắt lộ 4 là rất khó nên nhiệm vụ được giao cho Sư Đoàn 5, do ông Vũ Thược (Năm Thược) làm Sư đoàn trưởng, đồng chí Ḥa, Chánh văn pḥng Bộ chỉ huy Miền làm Chính ủy, v́ khó nên Sư 5 xuống từ hai, ba tháng trước đó, đứng chân giữa hai con sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây. Lúc đó có một cô du kích tên là Sáu Sửa dẫn trung đoàn ra cắt lộ. Trời mưa xối dữ lắm. Phụ nữ mà dầm ḿnh dưới nước, đỉa bu vào cứ bắt đỉa ném đi. Sau đó cô được phong Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Sau này cô làm Bí thư Huyện ủy Đức Huệ, rồi làm Phó chủ tịch tỉnh Long An.

Ông Anh ra lệnh cho Sư đoàn 5 không đánh Mộc Hóa mà tổ chức thành hai mũi tiến công, mũi thứ nhất cho một trung đoàn đánh Thủ Thừa, mũi thứ hai dùng hai trung đoàn đánh thị xă Tân An. Sư 5 khi đă làm tốt nhiệm vụ chia cắt quân địch tại lộ 4 th́ giữ chặt hai đầu, giữ chắc địa bàn đă đánh chiếm rồi mới phát triển chiến đấu. Sư đoàn 8 của Khu 8 xin đánh và giữ ở đoạn Cái Bè, ông yêu cầu tiến công giải phóng Mỹ Tho, nhất định phải giữ từ Đồng Tâm trở xuống, kiên quyết không cho quân ngụy từ Sài G̣n chạy về co cụm ở vùng 4 chiến thuật (tức Cần Thơ).

C̣n một mũi tiến công nữa cũng rất khó, đó là hướng Cần Giuộc, Nhà Bè đánh vô v́ ngập nước, śnh lầy. Bởi vậy ông đă cử ba đồng chí đảm nhiệm mũi này: Một là Tư Thân, Phó tư lệnh Khu 8, rất giỏi và thông minh; Chính ủy là Vơ Văn Thạnh tức Ba Thắng (Cục phó Chính trị Miền, quê gốc ở Nhà Bè); ba là Tư Chiểu, Chỉ huy trưởng Tỉnh đội Long An. Những người chỉ huy ở mũi này phải nhờ những xuồng nhỏ của dân để vận động, cả quảng đường dài tiến công là hệ thống đồn bót địch dày đặc, đi tới đâu phải gỡ đồn bót tới đó; tất cả có đến mấy chục đồn. Nhưng khi bộ đội ta đánh vài đồn phủ đầu th́ các đồn khác thấy quân ta tiến đến liền bỏ chạy.

Khi xe tăng thiết giáp của ta vượt qua sông Vàm Cỏ th́ trời đổ mưa, chỗ đó thuộc huyện Đức Huệ (Long An) śnh lầy, ta không đi được. Nhân dân liền về dỡ nhà ḿnh ra lót đường cho xe tăng ta vượt qua. Lúc đó ông Anh nói, anh nào đi đánh th́ đi, c̣n anh nào ở lại th́ làm lại nhà cho dân; tuy dân không hề đ̣i hỏi. Sau đó ông Năm Ngà đă trở lại chỉ huy việc bộ đội ḿnh làm lại nhà cho dân, phần lớn là bằng gỗ.

Mũi tiến công do ba đồng chí Tư Thân, Ba Thắng và Tư Chiểu phụ trách được giao mục tiêu chủ yếu trong nội đô là Tổng nha Cảnh sát và Cảnh sát đô thành. Mũi này đă thực hiện dứt điểm được sớm nên quân địch không kịp chạy, càng không kịp tẩu tán và hủy tài liệu. Khoảng hơn 9 giờ sáng 30 tháng 4 bộ đội đă chiếm lĩnh, làm chủ và tổ chức gác hết tất cả các vị trí. Anh em rất hăng hái nên dù không được giao mục tiêu nhưng khi hoàn thành nhiệm vụ sớm ở Tổng nha Cảnh sát, đă cho một mũi vào dinh Độc Lập, c̣n một mũi phát triển ra cảng Hải quân.

Sau khi Sư đoàn 3, do đồng chí Sáu Hưng chỉ huy thực hiện đánh địch và mở được tuyến sông Vàm Cỏ, đánh chiếm tiểu khu Hậu Nghĩa, tạo điều kiện cho Sư đoàn 9 vượt sông để tiến công vào nội đô. Lực lượng trực tiếp đánh vào Biệt khu Thủ đô là một trung đoàn của Sư đoàn 9, lúc đó ông Ba Hồng (tức Vơ Văn Dần) làm Sư đoàn trưởng. Mũi phát triển vào tới dinh Độc Lập th́ hợp điểm với mũi thọc sâu của Quân đoàn 2 ở đó. ‘Thời khắc lịch sử’ trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, tại dinh Độc Lập có mặt ba mũi tiến công từ hai hướng: 1 mũi của Quân đoàn 2, 1 mũi của Sư đoàn 9 và 1 mũi do đồng chí Tư Thân dẫn đầu. Thực tế lịch sử là như vậy”.

      Chi tiết trận đánh tại quận Thủ Thừa, tỉnh Long An của sư đoàn 5 VC đă được chính chi khu trưởng chi khu Thủ Thừa ghi lại (5), (xem Sơ đồ 3-4) :

“Đêm mùng 7 rạng ngày mùng 8 tháng 4 năm 1975, một lực lượng VC đánh vào tỉnh Long An chiếm phi trường Cần Đốt, một lực lượng nữa đánh vào bên hông của tỉnh chiếm xă Lợi B́nh Nhơn của Thủ Thừa. Cuộc chiến bắt đầu, hai cánh quân đánh vào Long An chỉ là dương đông để cầm chân tiếp viện, chủ địch là công trường 5 nằm phía sau cách quận 5 cây số. Chúng tung từng toán đặc công tinh nhuệ, táo bạo đánh thẳng vào hông quận qua ngă chợ. Chúng sẽ giết toán đầu năo, chiếm bộ chỉ huy chi khu, và kéo cờ VC lên tại quận đường. Đó là hiệu lệnh cho đại quân của chúng xồ ra, và với khí thế đó, quân ta lại tan hàng như đă chạy ở miền Trung.

...

Bọn CS đă điều nghiên kỹ càng là không bao giờ đoàn tàu đi tuần lại về đậu ở đó trước sáu giờ sáng, nên chúng đánh vào hông quận giờ đó, th́ gần như là lỗ trống, chỉ thọc bộc phá phá hàng rào kẽm gai là giết được ông quận dễ dàng. Không may cho chúng, điều nghiên đúng nhưng sai cho ngày hôm đó, v́ nước thủy triều lên cao, nên đoàn tàu đă về bến từ lúc gần sáng, đúng lúc lực lượng đặc công di chuyển đến, nên vô t́nh chúng đă bị tao ngộ chiến. Không chịu nổi những khẩu đại liên bên thành tàu, toán đặc công đành lẫn vào dân, dạt ra chợ. Ba đêm trước toán đặc công VC đă điều nghiên và thả lục b́nh để đánh ch́m tàu. Thời may, chiếc tàu đi tuần về đậu chệch trên băi, phía trước của đám lục b́nh mà Việt Cộng đă dấu ḿn, tên VC cố vượt bóng đêm đẩy đám lục b́nh ngược con nước, táp sáp vô thành tàu. Lính gác nhanh trí, v́ thấy lục b́nh lại trôi ngược nước, bèn nổ súng, biết lộ, tên đặc công trên bờ đă hy sinh hai tên dưới nước bằng cách cho nổ quả ḿn.

...

Cái may thứ nhất đă giúp cho bộ chỉ huy thoát chết, thêm cái may thứ hai là theo thường lệ, đại úy Khánh, trưởng ban 3, ra lệnh cho hai trăm lính Nghĩa quân về quận để nhận lệnh đi phát quang ở những chỗ t́nh nghi có VC trú ẩn. Khi toán đặc công dạt ra chợ th́ trong quận đă có sẵn 200 lính với súng đạn đă sẵn sàng, đại úy Khánh chỉ điều động cho đánh.

...

Vài tên đặc công VC chạy lạc vào thánh thất cao đài đă bị lực lượng chiếm cao ốc sát hại. Cả toán c̣n lại bị dồn vào trọng rạp hát. Chúng tử thủ bên trong. Cảnh sát Dă chiến và t́nh báo chi khu bay lên nóc rạp trổ nóc đánh xuống. Giết một mớ và bắt sống trọn ổ”.

      V́ tin tức t́nh báo cho biết sư đoàn 5 VC đang lảng vảng phía bên ngoài chi khu, tiểu khu cho tăng phái hai tiểu đoàn ĐPQ để t́m và diệt địch. Cuộc hành quân được vị sĩ quan trên viết tiếp (5) :

“Lấy văn pḥng quận làm tâm điểm, một tiểu đoàn cánh trái, một tiểu đoàn cánh phải, lần lượt qua sông dàn quân xuất phát. Từ trên một cái nóc của công sự pḥng thủ, tôi đă liên lạc với cả hai cánh quân, trên sáu trăm người lính dàn hàng ngang đă tạo một chiều dài cả cây số. Chưa có lệnh xuất phát, v́ khi xă Lợi B́nh Nhơn thất thủ, chi khu đă ra lệnh cho đại úy Hải , đại đội biệt lập, vượt sông Vàm Cỏ về làm tuyến án ngữ phía cầu Long An để chặn đặc công VC có thể xâm nhập vùng đó phá cầu, đồng thời cũng có thể ḍ xét dọc sông Vàm Cỏ xem VC có ém quân tại đó hay không. Hải chạm súng rất lẻ tẻ chứng tỏ chỉ có du kích quân quấy rối quân ta ở vùng sông Vàm Cỏ mà thôi. Cánh trái của phía cầu Long An đă có quân bạn, hai tiểu đoàn bắt đầu xuất quân. Trời tháng Tư, chưa vào mùa cày cấy, đất khô và nứt nẻ, những thửa ruộng bỏ trống đă làm cho quân ta có một xạ trường quan sát rất là xa. Hai cánh quân liên lạc hàng ngang tiến song song. Từ trên lô cốt, tôi theo dơi bằng mắt và giữ liên lạc máy với hai tiểu đoàn trưởng. Quân đi khoảng ba trăm thước th́ bắt đầu chạm địch. Điều khủng khiếp nhất là chạm súng trên một tuyến dài cả cây số, hỏa lực của địch đàn áp trận địa, súng nổ rền trời, đạn bay vun vút, xé gió như mưa băo nhắm vào quân bạn. Đạn cày dưới chân tôi như đàn dế rúc. Đủ loại súng mạnh, cối 61, 82 và 130 ly choảng liên hồi về phía bạn. Quân ta chỉ chống trả bằng những vũ khí cá nhân, v́ là khu dân chúng nên không thể dùng hỏa lực pháo binh. Trời ạ! Không thể ngờ được! Sau những đợt hỏa lực dũng mănh, cộng quân bắt đầu xung phong và tràn ngập. Chúng ùa lên đen cả cánh đồng trước mặt, nhưng cuộc cận chiến đă không xảy ra, v́ trước thế tấn công biển người tàn bạo, hai tiểu đoàn ĐPQ đă tháo lui. Chỉ chớp nhoáng là sáu trăm người lính hoảng hồn đâm đầu xuống nước. Hai tiểu đoàn tinh nhuệ đă bị địch áp đảo đến nỗi không c̣n sức phản công. Điểm may mắn cuối cùng là có con sông thiên nhiên chắn lối, nếu không, sự tháo lui của hai tiểu đoàn đă lôi theo cả sáu chục ngàn dân trong quận, và Thủ Thừa sẽ thất thủ vào tay cộng quân một cách không ngờ.

...

Nhưng niềm may cuối cùng đă đến ... Số là cái rạch Thủ Thừa ăn thông với sông Vàm Cỏ. Tại đây nó bị ảnh hưởng của nước thủy triều, khi lên khi xuống, và nếu gặp nước ṛng th́ tàu bè xuống thấp, có khi mũi tàu chưa lên cao bằng bờ đất nên vũ khí trên tàu hoàn toàn bất khả dụng khi có nước ṛng (thủy triều xuống). Trong lúc này vào đầu tháng âm lịch, th́ đặc biệt nước không lên mà cũng không xuống. Nó luôn luôn đầy bờ và giữ nguyên mực nước. Nhờ vậy khi đoàn tàu được che giấu từ cái lạch con ra xung trận. Đại đội trưởng tuần giang nhận lệnh rất rơ ràng, chiếc tàu nào trúng hỏa tiển bị ch́m là bỏ, không tàu nào được dừng lại tiếp cứu tàu nào, phải tiếp tục xạ kích cho đến khi đẩy lui được địch. Mỗi tàu có 6 đại liên, một bên thành tàu là có 3 đại liên, 6 chiếc tàu của tuần giang có 36 khẩu, nhưng chỉ bắn được 18 khẩu đại liên cho một phía, mỗi khẩu súng này có thể bắn 350 phát đạn trong một phút. Đạn dược th́ ê hề ở trên tàu. Sáu cái tàu há mồm với 18 khẩu đại liên một bên, mỗi phút có thể nhả gần sáu ngàn viên đạn về phía địch quân, đă di chuyển hàng dọc trên sông và tác xạ rất nhịp nhàng. Đại quân của địch đang hăng tiết xung phong đến điểm chiến thắng, bất ngờ bị hỏa lực quá mạnh của đoàn tuần giang làm chúng gục xuống như sung rụng. Bọn cộng cũng phản ứng rất nhanh, chúng phản công bằng B-40, B-41 và các loại súng cối thi nhau nổ trên sông. B-40, B-41, đại pháo đă rơi và nổ trên sông như mưa băo. May mắn đoàn tàu ở vị thế di chuyển, nên chưa chiếc nào trúng đạn, nhờ vậy mà hàng rào hỏa lực đă chặn đứng được cuộc xung phong khổng lồ này. Đoàn tàu đă tạo một lưới lửa trên sông, những lằn đạn mănh liệt đă hạ hết cây cối, chướng ngại vật trước mặt làm cho xạ trường thêm quang đăng. T́nh thế đă đổi ngược không ngờ, quân ta đă chuyển bại thành thắng trong chớp nhoáng.

...

Gần một tiếng đồng hồ sau, hai tiểu đoàn ĐPQ mới ngoi được lên mặt đất, tái bố trí và bắt đầu tiến lên để tiếp tục giao tranh với bọn VC. Hai tiếng đồng hồ sau đó, địch bị đẩy lui hoàn toàn”.

      1.3. Tân Trụ & Rạch Kiến

      Trong khi đó, sư đoàn 8 VC tấn công đánh chiếm chi khu Tân Trụ và chi khu Rạch Kiến[7] (xem Sơ đồ 5-6 & H́nh 7) với mục đích theo ngă B́nh Chánh để tiến vào Sài G̣n từ hướng nam. Họ gặp sự kháng cự mạnh mẽ tại Rạch Kiến và sắp tràn ngập chi khu Tân Trụ th́ vừa lúc lực lượng đặc nhiệm 99 của hải quân đang trên đường từ Nhà Bè tiến về Long An, di chuyển ngang qua. Giang đoàn 40 ngăn chận thuộc lực lượng hải quân vùng 3 sông ng̣i cũng đang chuyển vận một tiểu đoàn ĐPQ từ Long An lên tiếp viện. Hai đơn vị hải quân này đă phối hợp yểm trợ quận Tân Trụ đẩy lui địch quân (6).

      Tư lệnh LLĐN 99 nhớ lại trận đánh (6) :

“Sáng ngày 16 tháng 4, khi đoàn chiến đĩnh của Lực Lượng trên đường giải tỏa áp lực địch trên kinh Thủ Thừa, chúng tôi thấy ở phía bên kia bờ rạch Cần Đốt có rất đông người đang tắm. Lấy ống nḥm quan sát, mới hay đó là một đơn vị địch. Tôi cho lệnh đoàn tàu ủi thẳng sang, tấn công. Chúng chấp nhận giao chiến không chạy. Hai bên cách nhau rất gần, trên dưới 10 thước mà thôi. Sức phản công của chúng cũng dữ dội, gồm nhiều loại súng lớn rất ác liệt, như 82 ly không giựt, 12 ly 8. Phía các chiến đĩnh của chúng ta được một phen đáp ứng ngon lành. Tôi c̣n nhớ anh Đức, một Thủy Thủ, bị thương ở mặt và ở đầu, máu tuôn xối xả, nhưng anh Đức chỉ lấy tay vuốt máu trên mặt, đúng thẳng trên nóc chiến đĩnh, ôm khẩu MK19 nă thẳng vào đối phương. Trận chiến kéo dài suốt ngày. Phía ta có các đơn vị Bộ Binh và Địa Phương Quân đến tiếp ứng. Tới 5 giờ chiều địch rút. Trong trận này phía chúng ta thiệt hại nhẹ. Phía địch thiệt hại không dưới một tiểu đoàn. Vũ khí ta thu được gồm 4 khẩu 82 ly, 2 khẩu 12 ly 8, 12 khẩu B40, rất nhiều súng AK và súng trường Nga.

... Kể cũng thật ghê gớm. Vẫn tại Cần Đốt, hôm trước chúng ta giải tỏa, hôm sau địch lại kéo tới, đông hơn. Các chiến đĩnh của ta đụng địch liên tục. Tôi c̣n nhớ một chiếc monitor của Giang Đoàn 42 Ngăn Chặn bị trúng 82 ly không giật trực xạ, khiến 3 nhân viên và Thiếu Tá Phạm Ngọc Lô, khóa 12, Chỉ Huy Trưởng, bị thương. Máu đầy mặt, nhưng tất cả vẫn ở trong các ổ súng, tiếp tục bắn. Cứ như thế, ta và địch giằng co, ‘gặp nhau’ đều đều.Trong khi đó pháo 122 ly của địch hàng ngày câu hàng trăm trái vào Long An, gây rất nhiều đổ nát, thương vong cho dân chúng. Đạn rơi cả vào nhà thương, khiến những người đă bị thương lại bị thương lần nữa. Thân nhân của họ vội tản thương khỏi nhà thương. Sư Đoàn 22 Bộ Binh, từ miền Trung di tản về, đang được tái trang bị, dưới sự chỉ huy của Tướng Phan Đ́nh Niệm, đem một trung đoàn ra giải tỏa áp lực địch tại Cầu Voi, nhưng áp lực địch vẫn rất nặng nề. Ta và địch giằng co nhau, nhưng Cầu Voi vẫn không bị phá, giao thông trên quốc lộ 4 nhiều lúc khó khăn, nhưng không hề bị cắt, v́ được người nhái của ta ngày đêm tận t́nh bảo vệ. Những phen nhái ta và nhái địch quần nhau ở chân Cầu Voi đầy cam go, hồi hợp. Rồi lợi dụng đêm tối nhái của chúng lội ra giữa sông, leo lên các chiến đĩnh của người nhái ta. Nhưng chúng ta đă phát giác kịp thời, tất cả nhái của địch đều bị nhái của ta hạ sát khi vừa xuất hiện bên mạn chiến đĩnh, ch́m mất xác dưới ḷng sông. Cũng v́ thế các chiến đĩnh không bao giờ được neo ngủ, phải luôn luôn di động và dùng lựu đạn ném quanh tàu. Nhiều chi tiết rất khiếp đảm trong việc chống lại người nhái địch, nói ra không hết. Một thủy thủ đứng gác trên nóc chiến đĩnh bỗng thấy mặt nước khua động, rồi một cái đầu ló lên, một cánh tay bám vào mạn chiến đĩnh, rất nhanh như một phản xạ, một trái lựu đạn được quăng xuống nước, nổ ục, tung một quầng nước lớn đỏ thẩm những máu. Tên nhái địch buông tay, ch́m. Mặt nước lại lững lờ trôi như không có ǵ xảy ra. Đêm cũng như ngày, có thể nói sự nguy hiểm có mặt ở sát bên ḿnh.

... Không biết tụi nó tưởng tàu ḿnh bằng giấy bồi, lính của ḿnh là lính gỗ chắc. Hết nhái của tụi nó bơi ra, lại có cả những ghe gỗ, chở lính, cũng cứ nhào ra, một lúc mấy chiếc. Chúng dùng đủ loại súng bắn vào các chiến đĩnh của ta. Đạn súng nhỏ bắn vào thành chiến đĩnh rào rào như mưa. Chúng ta phản pháo bằng súng thường không xuể. Các ghe chở đầy lính của địch lại tiếp tục túa ra. May mà hai chiếc Zippo vừa nạp đầy nhiên liệu, loại xăng đặc dùng cho bom napalm, đă sẵn sàng. Hai chiếc zippo, dưới sự bảo vệ của các chiến đĩnh khác, tiến sát vào bờ, lưỡi lửa phun ra dài cả trăm thước. Trong nháy mặt cả một vùng bờ cây xanh từ gốc tới ngọn cháy rực, gẩy đổ, lửa khói bốc cao, khét lẹt. Từng lớp người ở sát bờ sông ngă ra, tràn xuống mặt nước. Các đợt xung phong dại dột của địch khựng lại, pḥng tuyến địch rối loạn. Nhưng quân trên bờ của địch người ở đâu vẫn đen đặc, kêu thét chạy tán loạn, đặc nghịt. Pḥng tuyến của chúng vỡ. Ông Tỉnh Trưởng Trần Vĩnh Huyến và bộ tham mưu của ông đứng trên Long An quan sát, chứng kiến cảnh này, với những đôi mắt trợn trừng kinh khiếp. Ta không đủ quân để lên bờ thu chiến lợi phẩm, nhưng thiệt hại của chúng không dưới một tiểu đoàn. Sau trận ‘hỏa công’ này, mặt trận hai con sông Vàm Cỏ trở nên yên tĩnh. Có lẽ nhờ thế chúng đă không thể nào vượt qua hai con sông Vàm Cỏ, để áp đảo Sài G̣n. Nh́n mấy chiếc ghe cháy xám, trôi lênh đênh, đúng là những chiếc thuyền ma, ḷng ḿnh vừa giận, vừa thương, vừa hú vía ...

Mấy ngày sau, mặt sông có những xác người trôi đen đặc, mùi tử khí bay nồng nặc. Nghĩ lại cuộc chiến thật đau ḷng ...

Đó là một trong những cuộc tao ngộ chiến, mà sau này đọc tài liệu của họ tôi mới biết, Lực Lượng Đặc Nhiệm 99 đă cản đường tiến của Đoàn 232, tương đương với một Quân Đoàn, do tướng Lê Đức Anh chỉ huy, nằm ém quân bất động ở ngă ba sông Vàm Cỏ, đợi sẵn khi có thể là vượt sông, tiến vào Sài G̣n. Tại đó, Lực Lượng 99 lúc nào cũng có sáu chiến đĩnh hiện diện. Vậy mà chúng nín khe, suốt bao nhiêu ngày không một tiếng súng bắn ra. Bây giờ cuộc chiến đă tàn. Mọi việc đă nhạt nḥa như không có thực. Nhưng giả thử Cộng Quân không bị cản đường, chúng qua được sông Vàm Cỏ, nằm sẵn ở hai bên sông Ḷng Tàu và Soài Rạp, khi đoàn tàu, thuyền trong đêm 29 rạng 30 tháng 4, chở đầy quân, dân, đàn bà và con trẻ túa ra biển, những điều ǵ đă phải xảy ra. Với hỏa lực của mấy sư đoàn địch trên bờ và hàng mấy trăm cỗ hải pháo trên các chiến hạm cùng thi nhau nhả đạn, hai con sông Ḷng Tàu và Soài Rạp chắc chắn sẽ là hai con sông kinh hoàng ngập máu, sẽ tàn khốc và rùng rợn nhiều lần hơn Đại Lộ Kinh Hoàng trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972”. 

      Sư đoàn 22 BB đang đóng tại Bến Lức đưa trung đoàn 47 đến đặt BCH tại Cần Giuộc để giải tỏa áp lực địch trong vùng. Tiểu đoàn 3/47 khi giải tỏa con lộ nối liền Rạch Kiến và Cần Giuộc đă bị VC phục kích độn thổ gây thiệt hại nặng cho hai đại đội. Trung đoàn 43 (TrĐT là Trung tá Vơ Ân) do đó được đưa đến để thay thế. Tiểu đoàn 1/43 được chỉ định mở cuộc hành quân. Cuộc hành quân bắt đầu lúc 4 giờ sáng và chấm dứt khoảng 10 giờ ngày 29/4. Các đơn vị VC đă bị quét sạch trên trục lộ hành quân (7).

      Trận đánh theo tài liệu của  CS (8) :

“4 giờ 55 phút ngày 27 tháng 4, trung đoàn bắn hỏa tiển H.12 vào chốt địch ở bắc Cầu Voi phát lệnh tiến công. Tiểu đoàn 4 vận động ra lộ 4 đánh chiếm khu vực phía nam Cầu Voi.

Từ 7 giờ ngày 27, địch cho lực lượng bộ binh và xe tăng từ Tân An đánh lên và lực lượng trung đoàn 42 [sic] từ bắc Cầu Voi đánh xuống nhằm giải tỏa lộ 4. Đại đội 1 Tiểu đoàn 4 và Đại đội 7 Tiểu đoàn 5 chốt giữ cầu ở Cầu Voi và G̣ Kho cùng các đại đội trong tiểu đoàn kiên cường đánh lui nhiều đợt phản kích của địch sang hướng tây ngă tư tỉnh lộ 2 và lộ 4, diệt 30 tên địch.

Đêm 27 tháng 4, căn cứ t́nh h́nh địch - ta, Ban chỉ huy trung đoàn điều chỉnh phương án: sử dụng Tiểu đoàn 4 đánh chiếm Cầu Voi, một đại đội của Tiểu đoàn 5 thành một mũi đánh ở phía đông Cầu Voi, tập trung Tiểu đoàn 6 tiến công đánh chiếm dứt điểm đồn Rạch Ngang, tạo thế đứng chân vững chắc cho trung đoàn thực hiện nhiệm vụ đánh chiếm và chốt chặn lộ 4. Cùng thời gian này Trung đoàn 3 của sư đoàn tiến công chi khu Thủ Thừa, Trung đoàn 1 bao vây thị trấn Tân Hiệp và tiến công đánh chiếm cầu Tân Hương. Kết quả, trong đêm 27 tháng 4, trung đoàn đă đánh chiếm lại Cầu Voi, củng cố chốt G̣ Kho.

Sáng ngày 28 tháng 4, địch tập trung lực lượng mạnh phản kích rất quyết liệt ḥng giải tỏa giao thông lộ 4. Lúc 8 giờ chúng chiếm lại được Cầu Voi, Đại đội 3 Tiểu đoàn 4 phải lui về tây cầu 800 mét. Đại đội 7 Tiểu đoàn 3 vẫn trụ vững tại chốt G̣ Kho, hiệp đồng cùng Đại đội 6 vận động đánh vào bên sườn địch, diệt 10 tên, thu 6 súng, buộc địch phải lui về ngă tư.

Đêm 28 tháng 4 Tiểu đoàn 4 tổ chức lực lượng đánh chiếm lại Cầu Voi nhưng không dứt điểm. Trên hướng Tiểu đoàn 5 (đông lộ 4), Đại đội 5 đánh chiếm được cụm địch ở đông Cầu Voi lúc 5 giờ sáng, sau đó Tiểu đoàn 5 cùng Đại đội 19 công binh củng cố chốt và lập thêm một số chướng ngại vật trên lộ 4.

Ngày 29 tháng 4, địch tiếp tục dùng bộ binh, xe tăng từ hai đầu đánh vào đoạn bắc cầu Tân An và nam Cầu Voi, đưa lực lượng chốt ngay trên lộ 4 (ở nam Cầu Voi, giữa chốt của Đại đội 3 và Đại đội 7). Trong đêm trung đoàn tổ chức một số trận tập kích đánh vào đội h́nh của địch.

Sáng ngày 30 tháng 4, sau khi hỏa lực của trung đoàn bắn vào 3 vị trí địch chốt từ Cầu Voi đến ngă tư lộ 2, theo kế hoạch Tiểu đoàn 4 nổ súng tiến công cụm chốt của địch ở nam Cầu Voi, Tiểu đoàn 5 đánh địch bên ngoài chốt, tiến công đánh chiếm chốt dă ngoại (5 giờ 10 phút). Tiểu đoàn 4 đánh chiếm được ấp B́nh Mỹ, làm chủ lộ 4, Đại đội 5 và Đại đội 7 về vị trí chốt củng cố lại trận địa, sẵn sàng đánh địch phản kích.

Đến 10 giờ, khi sư đoàn giải phóng được Thủ Thừa và địch ở Sài G̣n chuẩn bị đầu hàng th́ địch ở ngă tư lộ 2 rút chạy về thị xă Tân An, quân địch ở Cầu Voi cũng rút chạy. Trung đoàn lệnh Tiểu đoàn 4 phát triển chiếm bắc Cầu Voi, bắt liên lạc với Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 3. Sử dụng Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 6 đánh chiếm thị xă Tân An từ hướng bắc, giải phóng thị xă lúc 12 giờ ngày 30 tháng 4”.

      1.4. Tân An

      Trong khi trung đoàn 2 thuộc sư đoàn 5 tấn công Thủ Thừa th́ ngày 9/4/1975, trung đoàn 1 đánh thị xă Tân An. Tiểu đoàn 1 ra ngăn chận QL-4. Tiểu đoàn 2 tấn công vào thị xă trong khi tiểu đoàn 3 vượt qua rạch Cần Đốt đánh vào phi trường. Mặc dù cho rằng đă  diệt và làm bị thương 682 binh sĩ QLVNCH, bắn hỏng 24 xe quân sự, phá hủy một đại bác 105 mm và một đại bác 155 mm, bắn rơi một phi cơ A-37, tất cả các đơn vị của CS phải rút lui về phía tây của hương lộ 222 (8). Với những thương vong và thiệt hại cho phía pḥng thủ khá cao cho một trận đánh, người ta có thể đặt câu hỏi phía tấn công sẽ như thế nào khi phải rút lui.

      Trung đoàn 12 (TrĐT là Trung tá Đặng Phương Thành) thuộc sư đoàn 7 BB được tăng phái chi đoàn 2/6 thiết kỵ (CĐT là Đại úy Diệp Phong Hóa) đă đánh thiệt hại nặng mũi tiến quân của sư đoàn 5 CS trong dự tính cắt đứt QL-4 đoạn gần thị xă Tân An (9), (xem Sơ đồ 7). Thất bại tại đây đă được tài liệu của chính CS xác nhận (10) :

“Biệt động thị xă Tân An phối hợp cùng sư đoàn 5 chủ lực Miền và bộ đội địa phương Thủ Thừa, hiệp đồng tấn công vào Tân An và Thủ Thừa, nhưng địch pḥng thủ khá mạnh, trận đánh không thành phải chuyển ra ngoài đánh phản kích”.

      Hoạt động của các sư đoàn 3, 5, 8 và 9 của CS trong ngày chót của cuộc chiến được tổng kết như sau (11), xem H́nh 8-10 :

“Sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, Sư đoàn 3 đă hoàn thành việc ‘mở luồng’ qua sông Vàm Cỏ, bảo đảm bến vượt cho Sư đoàn 9 do anh Ba Hồng, tức Vơ Văn Dần làm Sư đoàn trưởng tổ chức tiến quân theo hai mũi: mũi thứ nhất, Trung đoàn 1 sau đánh tan một tiểu đoàn dù ngụy ở ngă ba Bà Quẹo, đánh chiếm phân chi khu Vĩnh Lộc, trung đoàn tiến vào ngă tư Bảy Hiền, đập tan sự kháng cự của địch ở đây và phát triển theo đường Lê Văn Duyệt, đánh chiếm Biệt khu thủ đô, bắt sống tướng ngụy Lâm Văn Phát[8]. Mũi thứ hai, Trung đoàn 3 tiến công tiêu diệt sở chỉ huy Liên đoàn 8 và Tiểu đoàn biệt động quân 88 ngụy trên tuyến vành đai Đại Hàn; tiếp theo đó đánh tan Tiểu đoàn bảo an 327 ở nam Vĩnh Lộc, tiến công chốt của Tiểu đoàn bảo an 317, diệt chi khu Bà Hom, đánh chiếm trường đua Phú Thọ và phái một bộ phận sang họp điểm ở Dinh Độc Lập.

Mũi tiến công của Trung đoàn 24, lúc 5 giờ 30 phút, trung đoàn cùng đơn vị đặc công tiến công diệt đồn ngă ba Đ́nh Hưng Đông, sau đó chiếm cầu Nhị Thiên Đường và cầu Chữ Y, 10 giờ 30 phút, đánh chiếm Bộ Tư lệnh Cảnh sát quốc gia và đưa một bộ phận sang họp điểm ở Dinh Độc Lập.

Trung đoàn 88, từ 5 giờ 30 đến 8 giờ, tiến công diệt đồn và phân chi khu Bà Phước, sau đó phát triển tiến công và làm chủ đồn Ông Th́n, ngă ba An Phú, khu Nhà Bè.

Trung đoàn 16, lúc 16 giờ 30 phút, chiếm ga An Lộc. 10 giờ 30 chiếm cầu B́nh Điền, sau đó phát triển vào nội thành.

Sư đoàn 5, từ 5 giờ đến 12 giờ, tiến công diệt và bức hàng toàn bộ Sư đoàn 22 và các liên đoàn biệt động quân, cùng lực lượng tại chỗ của quân ngụy, đánh chiếm thị xă Tân An, chi khu Thủ Thừa.

Các đơn vị đặc công, 8 giờ chiếm quận Tân B́nh. 10 giờ, chiếm quận B́nh Chánh. 12 giờ chiếm khu Rừng Sác”.

      2. HƯỚNG NAM

      Trong kế hoạch tấn công Sài G̣n do đoàn 232 phụ trách, phải kể thêm hướng nam do lực lượng của quân khu 8 đảm nhận. Bộ chỉ huy hướng nam gồm Thiếu tướng Vơ Văn Thạnh (Ba Thắng) làm Tư lệnh, Thiếu tướng Huỳnh Văn Mến (Tư Thân) làm Phó Tư lệnh và Chín Phẩm làm Chính ủy. Lực lượng[9] gồm (xem Sơ đồ 8) :

·         Trung đoàn 24 (TrĐT là Hà Đ́nh Thuyên và Chính ủy là Đàm Hữu Vấn)

·         Trung đoàn 88 (TrĐT là Bùi Văn Dơ và Chính ủy là Năm Tứ)

·         Trung đoàn 271B

·         Hai tiểu đoàn 1 và 45 của tỉnh Long An.

      Ở đây nên xét sự điều quân của quân khu 8 CS trong chiến dịch Hồ Chí Minh bằng cách khảo sát sự di chuyển của tiểu đoàn 1[10] Long An, một trong những đơn vị tiêu biểu của quân khu này.

      Từ Bến Lức, tiểu đoàn 1 Long An được lệnh di chuyển về Chợ Gạo, G̣ Công. Ngày 10/4/1975, tiểu đoàn tấn công các đồn bót trong vùng Thanh Phú Long. Bốn ngày sau, tiểu đoàn hành quân sang Tân Trụ để đánh phân chi khu Cây Thẻ, yểm trợ cho trung đoàn 88 của quân khu 8 bao vây chi khu Tân Trụ.

      Từ Tân Trụ, tiểu đoàn vượt sông Vàm Cỏ Đông sang địa phận Cần Đước, tấn công ấp Nhà Dài.

      Ngày 28/4/1975, tiểu đoàn tiến đến An Phú, cách cầu Nhị Thiên Đường khoảng 8 cây số về phía nam.

      T́nh h́nh trên hướng nam vào Sài G̣n lúc bấy giờ đă được CS ghi nhận (12) :

“Ngày 29 tháng 4 năm 1975, Tiểu đoàn 1 và các trung đoàn chủ lực được lệnh tiến vào địa phận quận 8, ta lại đi qua sông Quán Cơm, Kiều Công Mười. Hầu hết những tên ngoan cố ác ôn đă bỏ chạy, binh sĩ cũng tự bỏ đồn trốn về nhà”.

      Thế nhưng phải đến ngày 30/4, tiểu đoàn 1 Long An mới qua được cầu Chữ Y để vào Sài G̣n.

      Như vậy trên hướng tây-nam Sài G̣n, các lực lượng của CS chỉ có thể áp sát thành phố Sài G̣n sáng ngày 30 tháng 4 mà thôi, mặc dù Trung ương cục miền Nam đă chỉ đạo việc tiếp quản Sài G̣n - Gia Định và các tỉnh thành phía Nam từ ngày 10/4/1975 (13), xem Sơ đồ 9.

      Tướng Trà đă tiên đoán sự thất bại của chiến tranh nhân dân, dân chúng miền Nam không nổi dậy, ngay cả ở thời điểm sau cùng của chiến tranh, khi quân CS tấn công vào Sài G̣n. Ông viết (14):

“Rồi ta cũng sẽ khắc phục được từng bước thôi nhưng địch sẽ có th́ giờ xây dựng công sự, vật cản, tổ chức pḥng thủ và biệt động ta đánh mục tiêu bên trong bị cô lập, nhân dân không nổi dậy được ta lại phải đánh từng tuyến, từng đường phố, căn nhà th́ đâu c̣n là bất ngờ, thần tốc và thành phố đâu c̣n nguyên vẹn”.

      Một thí dụ điển h́nh là quận B́nh Chánh thuộc tỉnh Gia Định, cửa ngơ phía tây-nam Sài G̣n, kiểm soát QL-4 từ thủ đô đi các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long. Từ giữa tháng 4 năm 1975, BTL Miền đă hướng dẫn nhiệm vụ chiến dịch Hồ Chí Minh, lực lượng gồm hai trung đoàn đặc công 116 và 117 do chính cán bộ thành ủy trực tiếp lănh đạo. Tuy nhiên chỉ sau khi Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng th́ bộ chỉ huy quân sự huyện mới tiến được vào quận lỵ (15, 16).

      Sau chiến tranh, một sĩ quan cao cấp của CS phải phân tích một cách gượng gạo (17) :

“Nhân dân các quận vùng ven thành phố mang cớ, đánh trống mơ, kêu gọi binh lính và cảnh sát ngụy buông súng, truy lùng bọn lẫn trốn, tước súng địch, diệt bọn tề điệp, dẫn đường cho bộ đội. Công nhân bảo vệ nhà máy, kho tàng giao cho bộ đội. Các cơ sở chính trị cùng lực lượng tự vệ, an ninh nhân dân nhanh chóng chiếm các trụ sở hành chính quận, phường và khu phố. Nhân dân nhiều khu trong nội thành Sài G̣n - Gia Định được động viên tổ chức từ trước đă kịp thời nổi dậy theo kế hoạch của Thành ủy, dưới những h́nh thức và mức độ khác nhau, trên những địa bàn khác nhau, trong những t́nh huống khác nhau, kết hợp với đ̣n tiến công quân sự. Có nơi chủ lực chưa tiến đến hoặc ở xa các trục đường tiến quân, quần chúng nhân dân đă tranh thu thời cơ địch tan ră, bỏ mặc hoặc bị tê liệt do tác động của đ̣n tiến công quân sự, nhanh chóng nổi dậy làm chủ. Tại nhiều điểm khác, bộ đội tiến tới đâu nhân dân nổi dậy tới đó cùng với lực lượng vũ trang làm chủ địa bàn, thiết lập trật tự an ninh, truy quét tàn binh địch.

H́nh thức, mức độ nổi dậy và dạng kết hợp của nổi dậy với tiến công quân sự như vậy phản ảnh quy luật của khởi nghĩa trong chiến tranh. Trong chiến tranh giải phóng miền Nam, cả quy luật chiến tranh và quy luật khởi nghĩa đều phát huy tác dụng và luôn tác động lẫn nhau, trong đó quy luật chiến tranh ngày càng giữ địa vị chi phối và quyết định, nhất là trong bước kết thúc chiến tranh ở trận quyết chiến cuối cùng. Bởi lẽ đó, chúng tôi nghĩ rằng những ư kiến đánh giá quá mức vị trí và tác dụng của hành động nổi dậy, đều không phản ánh đúng hiện thực sinh động của chiến dịch giải phóng Sài G̣n - Gia Định”.

      Một trận đánh duy nhất đă xảy ra khi quân CS đánh chiếm đài “ra-đa” Phú Lâm (xem H́nh 11). Tài liệu của đảng bộ CS quận 6, thành phố HCM viết (18) :

“Đài ra-đa Phú Lâm, án ngữ trên trục lộ 9 từ Xa lộ Đại Hàn, B́nh Chánh lên Sài G̣n - Chợ Lớn, địch tập trung quân biệt động rất đông, bám đồn để án ngữ, tiêu diệt lực lượng ta từ Long An tiến lên. Do đó theo lệnh của Thành ủy, một đơn vị vũ trang đă tiến đánh trước ngày 29-4-1975. Trận đánh diễn ra rất gay go ác liệt, địch nhả đạn như mưa, ta pháo kích vào dập các ổ súng máy. Sau đó theo hào xung quanh do dân chỉ đường ta vào chiếm được Đài ra-đa và tiêu diệt toàn bộ số c̣n lại. Ta hy sinh mất 22 đồng chí trong trận này”.

      Liên đoàn 7 BĐQ do Đại tá Nguyễn Kim Tây làm LĐT và Trung tá Nguyễn Hạnh Phúc là LĐP, gồm 3 tiểu đoàn 32, 58 và 85. Liên đoàn bị thiệt hại nặng sau cuộc lui binh trên LTL-7B trong tháng 3/1975. Về đến thủ đô, liên đoàn được chỉ định giữ QL-4 dẫn vào Sài G̣n. Tiểu đoàn 58 chịu trách nhiệm pḥng thủ đài "ra-đa" trong khi hai tiểu đoàn c̣n lại giữ vùng chung quanh. Đơn vị vũ trang mà VC mô tả ở trên chỉ có khoảng một đại đội của trung đoàn 429 đặc công (19). Đặc công VC đụng độ với BĐQ đang pḥng thủ ṿng đai chung quanh đài "ra-đa" và đă bị BĐQ đẩy lui. Việc chiếm đài rơ ràng là một câu chuyện tưởng tượng. Do quân số thiếu hụt cũng như áp lực địch, Đại tá Tây sau đó đă ra lệnh cho liên đoàn lui binh vào Chợ Lớn và vào đóng quân tại trường tiểu học Minh Phụng cho đến khi được lệnh đầu hàng (20).

      3. QUỐC LỘ 4

      Có lẽ cũng cần biết thêm về nỗ lực của CS nhằm cắt đứt quốc lộ số 4 nối liền các tỉnh miền Tây, vựa lúa gạo của VNCH lúc bấy giờ và thủ đô Sài G̣n. Mục đích chính là để ngăn cản cuộc lui binh về Cần Thơ của QLVNCH nếu phải bỏ Sài G̣n. Sự thiết yếu của quốc lộ này khiến CS đă đặt ra mặt trận đường 4 Mỹ Tho với BCH gồm (21) :

·         CHT: Mười Phục là Trưởng pḥng dân quân khu 7

·         Chính ủy: Nguyễn Thị Lụa (Sáu Tâm) là khu ủy viên

·         CHP: Lê Quang Công là tỉnh đội phó tỉnh Tiền Giang, Nguyễn Anh Dũng và Đặng Tiến Nghĩa.

      QL-4 được CS chia thành 7 khu vực (16), (xem Sơ đồ 10-11) :

·         Khu vực 1 từ Tân Hương đến ngă ba Trung Lương gồm 7 xă là Tân Hiệp, Thân Cửu Nghĩa, Long An, Tân Hương, Tân Lư Tây, Ḥa Tịnh và Đạo Thạnh. Lực lượng phụ trách khu vực này gồm 46 du kích xă, 30 du kích ấp, 265 dân quân được tăng phái một đại đội công binh thuộc tiểu đoàn công binh 341, đại đội đặc công 209. Sở chỉ huy đặt tại Long An.

·         Khu vực 2 từ ngă ba Trung Lương đến cầu Long Định với 5 xă là Tân Hiệp, Long Định, Trung An, Long Hưng và Phước Thạnh. Lực lượng phụ trách khu vực này gồm 81 du kích xă, 71 du kích ấp,  30 du kích mật, 340 dân quân được tăng phái một đại đội công binh thuộc tiểu đoàn công binh 341, tiểu đoàn đặc công 269 (-), một đại đội pháo của tiểu đoàn pháo 309F, đại đội đặc công nước 318 (-). Sở chỉ huy đặt tại ấp Long Định và ấp Nam Long Hưng.

·         Khu vực 3 từ cầu Long Định đến thị trấn Cai Lậy với 9 xă là Dưỡng Điềm, Đông Ḥa, Nhị B́nh Nam, Nhị B́nh Bắc, Điềm Hy, Tân Hội, Nhị Quư, Phú Quư và Nhị Mỹ. Lực lượng phụ trách khu vực này gồm 183 du kích xă, 146 du kích ấp, 90 du kích mật, 446 dân quân được tăng phái tiểu đoàn công binh 341 (-), một đại đội thuộc tiểu đoàn đặc công 269 và một đại đội trinh sát. Sở chỉ huy đặt trong khu vực Tân Hội, Dưỡng Điềm.

·         Khu vực 4 từ Cai Lậy đến Bà Tồn gồm 5 xă là Thanh Ḥa, B́nh Phú, Tân B́nh, Phú Nhuận Đông và B́nh Phú Bắc. Lực lượng phụ trách khu vực này gồm 84 du kích xă, 180 du kích ấp, 30 du kích mật, 1021 dân quân được tăng phái một đại đội công binh thuộc tiểu đoàn công binh 341, một đại đội đặc công thuộc tiểu đoàn đặc công 269, đại đội đặc công nước 318 (-). Sở chỉ huy đặt trong khu vực Thanh Ḥa, B́nh Phú Bắc.

·         Khu vực 5 từ Bà Tồn đến ngă tư Văn Cang gồm 4 xă là Phù An, Mỹ Thạnh, Hội Cư và Đông Ḥa Hiệp. Lực lượng phụ trách khu vực này gồm 54 du kích xă, 101 du kích ấp, 41 du kích mật, 280 dân quân được tăng phái một đại đội công binh thuộc tiểu đoàn công binh 343, một đại đội đặc công thuộc tiểu đoàn đặc công 283, đại đội đặc công nước 320 (-). Sở chỉ huy đặt tại ấp An Hữu, xă Hội Cư, Mỹ Thành Nam.

·         Khu vực 6 từ ngă tư Văn Cang đến Mỹ Đức Tây gồm 5 xă là Hậu Thành, Mỹ Đức Tây, Ḥa Khánh, Mỹ Thiện, Mỹ Đức Đông. Lực lượng phụ trách khu vực này gồm 77 du kích xă, 118 du kích ấp, 61 du kích mật, 439 dân quân được tăng phái một đại đội công binh thuộc tiểu đoàn công binh 343, một đại đội đặc công thuộc tiểu đoàn đặc công 283, đại đội đặc công nước 320 (-). Sở chỉ huy đặt tại Rạch Chùa, ấp Mỹ Phúc, xă Mỹ Thiện, Mỹ Đức Đông.

·         Khu vực 7 từ Mỹ Đức Tây đến bến bắc Mỹ Thuận gồm 4 xă là An Hữu, An Thái Đông, An Thái Trung và Ḥa Hưng. Lực lượng phụ trách khu vực này gồm 57 du kích xă, 39 du kích ấp, 32 du kích mật, 202 dân quân được tăng phái một đại đội công binh thuộc tiểu đoàn công binh 343, một đại đội đặc công thuộc tiểu đoàn đặc công 283, đại đội đặc công nước 320 (-). Sở chỉ huy đặt tại ấp Ba, An Thái Trung, ấp Đông Thạnh.

      Chỉ huy sở toàn mặt trận đặt cùng vị trí với ban chỉ huy tỉnh đội Mỹ Tho, tại Điềm Hy, phía tây-nam ấp Đông (xem Sơ đồ 10).

      QLVNCH cũng đă tập trung hầu hết các đơn vị của hai sư đoàn 7, 9 và 22 BB cùng với thiết đoàn 6 để bảo vệ QL-4. Sư đoàn 7 BB gồm có bốn trung đoàn được phân bố như sau :

·         Trung đoàn 10 (TrĐT là Trung tá Định) đóng tại Long Định

·         Trung đoàn 11 (TrĐT là Trung tá Tập) đóng tại Cần Thơ

·         Trung đoàn 12 (TrĐT là Trung tá Thành) hành quân gần Long An

·         Trung đoàn 61 (TrĐT là Trung tá Hoành) là một đơn vị tân lập đóng gần Cai Lậy.

      Thiết đoàn 6 KB (ThĐT là Trung tá Ngô Đức Lâm) phụ trách QL-4 đoạn từ bắc Mỹ Thuận[11] đến hết địa phận chi khu Bến Tranh (22) :

·         Chi đoàn 1/6 phụ trách từ bắc Mỹ Thuận đến Cai Lậy

·         Chi đoàn 2/6 phụ trách từ Cai Lậy đến Bến Tranh

·         Chi đoàn 3/6 là lực lượng trừ bị đóng chung với BCH thiết đoàn tại Cai Lậy (xem H́nh 12)

·         Lực lượng tăng phái gồm một tiểu đoàn ĐPQ tùng thiết và bốn chi đội V-100.

      Các đơn vị CS tuy có tổ chức những đơn vị phụ trách từng đoạn của quốc lộ 4 nhưng chỉ có thể làm gián đoạn lưu thông trong một thời gian ngắn. ThĐT thiết đoàn 6 xác nhận trong khoảng thời gian chót của chiến tranh, CS chỉ cắt QL-4 đoạn nằm trong vùng trách nhiệm của quân đoàn III hai lần. Lần đầu tiên khoảng giữa tháng 4 nhưng trung đoàn 12 cùng với chi đoàn 2/6 đă giải tỏa ngay sau đó. Khu vực hành quân nằm trong vùng trách nhiệm của quân đoàn III nhưng lệnh từ Bộ TTM sử dụng lực lượng có mặt trong vùng thuộc quân đoàn IV (21). Lần thứ nh́ xảy ra ngày 27/4 tại Cầu Voi (23). Sư đoàn 22 BB hành quân giải tỏa ngay ngày hôm sau (24).

      Một thí dụ điển h́nh nữa là cầu Bến Lức và cầu Tân An, một trong những mục tiêu chính của đoàn 232 vẫn không chiếm giữ được cho đến khi chấm dứt chiến tranh. Ngoài ra nội các Dương Văn Minh không có kế hoạch di tản về vùng 4 chiến thuật cũng như sử dụng các sư đoàn thuộc quân đoàn IV để bảo vệ Sài G̣n nên CS chỉ đạt được mục đích duy nhất là cầm chân các lực lượng tại địa phương.

      Cường độ chiến tranh ác liệt giữa sư đoàn 7 BB/QLVNCH và các đơn vị của sư đoàn 8 VC tại tỉnh Kiến Tường đă được một sĩ quan cao cấp của CS ghi lại (25) :

“Từ 15-4 đến 30-4, tất cả chiến trường Quân khu 8 diễn ra rất quyết liệt, phát huy tất cả cái ǵ mà địa phương có cho chiến thắng lịch sử. Tinh thần tự lực, tự cường, ư chí quyết chiến, quyết thắng lúc bấy giờ phát huy cao độ hơn lúc nào hết. Đối với F8[12] về vùng Kinh Năng đánh ra ngă tư Chợ Bưng, gần trung tâm F7 và thành phố Mỹ Tho, đưa E320 xuống vùng Đạo Thanh, E1 từ Bến Tre về, với E207 và ba E của F7 quần nhau vùng Kinh Năng, Châu Thành, Mỹ Tho, v́ nó đụng ta, ta đụng nó, súng ta và địch liên hồi không c̣n phân biệt súng nổ của ta, hay của địch. Bộ chỉ huy F8 ở giữa có hai E quyết đánh lên ngă tư Chợ Bưng, đánh vào F7, c̣n F7 nó biết ta về đây nên đưa ba E vây ta, không cho xuất phát, v́ thế chạm súng giằng co hết sức quyết liệt, không có lúc nào không có pháo địch và bom. Nó cũng không chặn được ta. C̣n ta chưa mở đường tiến công, chỉ có E320 qua lộ 1 xuống vùng Đạo Thanh. Tôi nhớ măi anh Mười Liên, E320, xuống Đạo Thanh cùng Tám Vỵ, Tư Thắng, biết đơn vị ta xuống vùng này, pháo địch ở các hướng Mỹ Tho, Đồng Tâm, Thân Cửu Nghĩa dồn dập nă vào đội h́nh ta. Qua điện thoại Mười Liên nói : ‘Tôi biết thế nào ngày độc lập giải phóng cũng đến gần, nhưng tôi chắc là chết, không sống được tới ngày đó, v́ t́nh h́nh ác liệt tưởng chừng như chưa lúc nào có’. Tôi động viên anh : ‘Pháo ḿnh biết rồi, phải có hầm, công sự; trúng ngay mới chết, chứ không th́ dễ dàng ǵ. Cầu Chúa trời ban phước cho ḿnh’ .

      Như vậy QLVNCH vẫn làm chủ lănh thổ do quân đoàn IV chịu trách nhiệm và giữ thế tiên phong về chiến thuật cho đến khi nhận được lệnh đầu hàng, điển h́nh là tại tỉnh Long An. Tỉnh trưởng kiêm TKT tiểu khu Long An đă ghi lại giây phút cuối cùng của đơn vị vào trưa ngày 30/4 như sau (26), (xem Sơ đồ 12) :

“11 giờ 30: Chúng tôi bắt đầu rút quân với Bộ Chỉ Huy nhẹ, hai Tiểu Đoàn Địa Phương Quân, một chi đội Commando car V-100, hai trung đội pháo hỗn hợp. Đoàn quân nhanh chóng vượt qua cơn mưa pháo của Việt Cộng vào tỉnh lỵ, nhập vào quốc lộ trong tinh thần kỷ luật cao nhất. Nhiều con mắt lo âu, e sợ, nửa ngạc nhiên, nửa ṭ ṃ của những người dân thị trấn nh́n theo. Xa rồi các bạn ơi, cho dù có muốn th́ chúng tôi cũng không được ở lại để bảo vệ tỉnh lỵ thân thương của các bạn nữa rồi! Xa xa, tiếng súng vẫn nổ ḍn giữa ta và địch nơi xă Long Đức. Hướng tỉnh lỵ có nhiều cụm khói bốc cao. Từng loạt hỏa tiển 107 và 122 của những người đi ‘giải phóng’ đang giết hại dân lành vô tội. Tiến tới ngă ba Khánh Hậu, chúng tôi tiếp nhận thêm Tiểu Đoàn Biệt Động Quân trước đây thuộc Liên Đoàn 6 tăng cường. Đơn vị mũ nâu này cũng v́ cái lệnh đầu hàng quái gở mà rời pḥng tuyến, chính họ đă xin lệnh của tôi cho bắn bỏ bất kỳ tên Việt Cộng nào dám ḅ qua cầu Kinh. Thiếu tá Ch., Trưởng Pḥng 3 Tiểu Khu - vốn là một sĩ quan thuộc binh chủng mũ nâu sau bốn lần bị thương được biệt phái về Long An - nhận lệnh tôi cho điều chỉnh đội h́nh rất nhanh chóng. Giờ đây, một đại đội biệt động trinh sát đă lên tuyến đầu.

Từ 15 giờ trở đi, chúng tôi chạm súng lẻ tẻ nhưng mục đích chính vẫn là mở đường, nên nếu địch cứ dạt ra một chút là chúng tôi lấn tới chứ không truy kích như những cuộc hành quân mà chúng tôi vẫn tiến hành. Qua ranh quận Bến Tranh, tới gần trường học, chúng tôi chạm súng mạnh với lực lượng chốt tại đây. Buộc ḷng tôi phải ra lệnh cho hai con ‘gà cồ’ lên tiếng gáy, điều chỉnh trực xạ vào chốt địch. Chúng tôi không c̣n thời gian để kiểm tra kết quả, chỉ ghi nhận báo cáo nơi toán tiền sát là địch bỏ chạy rời pḥng tuyến. Chúng tôi lại tiến quân. Loay hoay thế nào mà chúng tôi mất gần hơn hai tiếng đồng hồ để rồi măi gần 20 giờ mới vào được Ngă Ba Trung Lương, ngơ vào Định Tường. Rẽ trái, dự trù vượt cầu đúc th́ toán tiền sát báo cáo bị nghẽn: cầu đă bị chiếm, VC ngăn chận và kiểm soát hoàn toàn. Tôi thật sự phân vân, với lực lượng này, tôi có thể chiếm được ưu thế. Tuy nhiên, tránh sao khỏi hao tổn sinh mạng chiến hữu và máu đổ thịt rơi trong khi cuộc chiến sắp tàn, trong tay không c̣n phương tiện yểm trợ và tản thương. Sự thất bại nhiều hơn thắng lợi là lẽ tất yếu, v́ đàng trước bị chặn đứng, mặt sau không có đường rút. Long An đă bị tràn ngập, liên lạc vô tuyến ngoài hệ thống nội bộ, không thực hiện được với Định Tường và SĐ 7 BB. Trước t́nh h́nh bất khả kháng, hoàn toàn bất lợi cho lực lượng bạn, tôi đành bó tay, không thực hiện được ư định mong ước là tiếp tục chiến đấu mà phải thở dài ban lệnh cho ră quân để tiết kiệm xương máu thuộc cấp. Đây là mệnh lệnh mà trong đời binh nghiệp, tôi vừa ứa nước mắt vừa vẫn phải giữ giọng nói b́nh tĩnh trên ống liên hợp để chuyển tiếp.

Trong đêm tối chúng tôi nh́n nhau không nói, lặng lẽ cởi bỏ quân phục, tháo bỏ cấp hiệu trên cổ hay trên nắp túi áo trận, đồng thời hủy bỏ chiến cụ. Nói hủy bỏ có nghĩa là chúng tôi đă cố t́nh làm cho chúng trở thành bất khiển dụng. Quân xa bị đổ cát vào b́nh chứa xăng, một số vũ khí bị tháo cơ bẩm hay bộ máy c̣ trước khi vứt xuống sông rạch. Đây là những báu vật đă theo chúng tôi suốt đoạn đường chinh chiến, gần gụi hơn cả vợ con, cha mẹ để cùng sống cùng chết nên khi phải xa rời, ai nấy đều bùi ngùi v́ vận nước đến hồi suy vong”.

      Tối ngày 30/4, Chuẩn tướng Trần Văn Hai (1929-1975), Tư lệnh sư đoàn 7 BB dùng thuốc độc quyên sinh tại căn cứ Đồng Tâm (27), (xem H́nh 13-14). Tuy nhiên, ThĐT thiết đoàn 6 xác định Chuẩn tướng Hai tự tử vào khoảng 2 giờ sáng ngày 1/5 (23).

      Tài liệu của CS xác nhận những ǵ xảy ra tại Định Tường, sau khi có lệnh buông súng đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh (28) :

“Đến 24 giờ ngày 30 tháng 4 trung đoàn 1 sư đoàn 8 và 2 tiểu đoàn tỉnh, tiểu đoàn 279 đặc công và lực lượng thị xă chiếm dinh tỉnh trưởng. Đến 5 giờ sáng ngày 1 tháng 5 thị xă Mỹ Tho được hoàn toàn giải phóng”.

      Những chi tiết về thời gian trên cho thấy sư đoàn 8, đơn vị chịu trách nhiệm ngăn chận QL-4 đă không thể đến gần quốc lộ vào những ngày cuối cùng của chiến tranh. Nếu quân chủ lực không về gần quốc lộ được th́ các lực lượng địa phương hay du kích của 7 khu vực dọc theo quốc lộ khó có thể thực hiện được mục tiêu chia cắt chiến lược mà quân khu 8 đă đề ra.

      Lịch sử của trung đoàn 320 thuộc sư đoàn 8 của CS viết (29) :

“Ngày 25 tháng 4, Trung đoàn nhận nhiệm vụ cắt lộ 4 từ cầu Bến Chùa, Mỹ Tho đến phía nam Tân Hiệp huyện Châu Thành. Thực hiện nhiệm vụ trên, Trung đoàn giao cho Tiểu đoàn 2 làm nhiệm vụ cắt lộ 4 từ ngày 27 tháng 4. Tiểu đoàn 3 ngăn chận địch ở Chợ Bưng. Tiểu đoàn 1 ở Đạo Thạnh làm nhiệm vụ cơ động. Từ ngày 27 đến ngày 28 tháng 4, Tiểu đoàn 2 đánh địch quyết liệt trên quốc lộ 4, nhưng tiểu đoàn đă bị xuống sức[13]. Trung đoàn điều lực lượng Tiểu đoàn 1 tăng cường cùng Tiểu đoàn 2 cắt lộ 4 đến chiều ngày 29 tháng 4. Như vậy, trong bốn ngày từ 27 đến 30 tháng 4, Trung đoàn đă hoàn thành nhiệm vụ cắt đứt lộ số 4, không cho địch từ Mỹ Tho về Sài G̣n và ngược lại. Trưa 30 tháng 4, Sài G̣n đă được giải phóng. Cán bộ và chiến sĩ Trung đoàn vui mừng khôn xiết trước thắng lợi vĩ đại của dân tộc. Lúc này, Trung đoàn đang chiếm giữ ngă 3 Trung Lương và kêu gọi tiểu đoàn bảo an 402 Định Tường đầu hàng, giải giáp và thu 380 khẩu súng”.

      Lực lượng của tiểu khu Long An khi rút lui đến ngă ba Trung Lương không gặp sự kháng cự nào chứng tỏ việc cắt đứt QL-4 được mô tả ở trên là không có thật. Đoạn đường này của QL-4 cũng không hề bị gián đoạn vào những ngày cuối tháng 4 (23).

      4. NHẬN XÉT 

      4.1. Không só sự phối hợp tác chiến giữa các đơn vị v́ các sĩ quan có trách nhiệm tại Bộ TTM QLVNCH đă rời bỏ nhiệm sở quá sớm. Hậu quả là tuy tập trung được khá nhiều quân chung quanh Sài G̣n nhưng lại không tổ chức được một hệ thống pḥng thủ hữu hiệu. Thí dụ chi khu Đức Ḥa và liên đoàn 8 BĐQ pḥng thủ trên cùng một hướng nhưng không có liên lạc và phối hợp.

      4.2. Hai liên đoàn 8, 9 thuộc sư đoàn 106 BĐQ và liên đoàn 32 BĐQ tăng phái cho sư đoàn 25 BB nếu được tăng cường cho tiểu khu Hậu Nghĩa ngay từ lúc đầu để hành quân liên tục khu vực Lộc Giang, ngăn cản đầu cầu đổ bộ của chiến xa và pháo binh CS th́ cánh phía bắc của đoàn 232 sẽ không vào được ṿng đai pḥng thủ bên ngoài của thủ đô. Hai cánh phía nam gồm sư đoàn 5 tại Long An và sư đoàn 8 tại Cần Giuộc cũng không thành công khi đụng độ với ĐPQ tỉnh Long An và sư đoàn 22 BB/QLVNCH. Kết quả có thể đoàn 232 sẽ trở thành cánh quân yếu nhất, kém thành công nhất trong 5 cánh quân tấn công Sài G̣n. Cũng có thể BTL biệt khu thủ đô đă có ư định pḥng thủ chiều sâu khi bố trí các liên đoàn BĐQ phía sau lực lượng diện địa. Tuy nhiên chỉ bố trí rồi không ai chỉ huy và phối hợp nên cuối cùng tập trung được lực lượng nhưng không làm thay đổi được t́nh thế. Các đơn vị lần lượt bị thọc sâu, chia cắt và tan ră.

      4.3. QLVNCH không dự pḥng phương pháp đối phó với chiến xa địch trên hướng này v́ tin rằng cơ giới của CS không hoạt động được trong vùng sông rạch, đầm lầy. CS đă triệt để khai thác yếu điểm này khi tung chiến xa vào trận. Một khi cơ giới vượt qua được sông Vàm Cỏ Đông sẽ gây ra hốt hoăng dây chuyền cho binh sĩ của đối phương. CKT chi khu Thủ Thừa báo cáo với Tướng Toàn khi ông ra thanh sát mặt trận (30) : “Tôi e rằng nếu địch đem PT-76 hay chiến xa xuống th́ Thủ Thừa sẽ thất thủ ngay v́ sự kinh hoàng của lính”. Trung tướng Toàn là một sĩ quan thiết giáp, hơn ai hết, ông phải biết rơ vấn đề này.

      4.4. Quốc lộ 4 không bị cắt đứt đúng theo kế hoạch của CS v́ QLVNCH tại đây c̣n khá mạnh và hữu hiệu trong việc chận đứng các âm mưu của CS. Cánh quân hướng nam của CS phải vào Sài G̣n bằng LTL-5A thay v́ theo QL-4.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.         Trung tướng Lê Văn Tưởng (Lê Chân), Con Đường Tôi Đă Chọn, trang 287-297; nxb Quân Đội Nhân Dân, Hà Nội, 2006.

2.         Thiếu tướng Nguyễn Nam Hưng (Nguyễn Văn Trịnh), Một Đời Chinh Chiến; nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2006.

3.         Khuất Biên Ḥa, Đại Tướng Lê Đức Anh, trang 144; nxb QĐND, Hà Nội, 2005.

4.         N-V-N, Hậu Nghĩa Trước Giờ Bức Tử, trang 64-67; Đặc San Hậu Nghĩa, Xuân Kỷ Măo 1999, California.

5.         Quốc Thái Đinh Hùng Cường, Tôi Là Lính, trang 21-27; tác giả xuất bản, Virginia, 2004.

6.         Lực Lượng Đặc Nhiệm 99 Và Trận Hỏa Công Trên Sông Vàm Cỏ, trang 518-520; Hải Quân Việt Nam, Hải Sử Tuyển Tập, Tổng Hội Hải Quân & Hàng Hải ấn hành 2004, California.

7.         Điện thoại viễn liên với cựu Đại úy Huỳnh Văn Tốt ngày 6/9/2007.

8.         Thượng tá TS Hồ Sơn Đài, Chủ biên, Những Trận Đánh Của Lực Lượng Vũ Trang Quân Khu 7, Tập Ba, 1969-1975, trang 494-505; nxb QĐND, Hà Nội, 2002.

9.         Trần Văn Lưu, Trận Đánh Cuối Cùng Của Quân Đoàn IV, trang 318-323; Nguyễn Mạnh Trí, Nguyễn Khoa Nam, tác giả xuất bản, California, 2007.

10.       Vơ Trần Nhă, Chủ biên, Gởi người đang sống - Lịch Sử Đồng Tháp Mười, trang 437; nxb Thành Phố HCM, 1993.

11.       Đại tướng Lê Đức Anh, Trên Chiến Trường Đánh Cho Mỹ Cút, Đánh Cho Ngụy Nhào, trang 274-275; Về Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ, Cứu Nước Hồi Ức, nxb CTQG, Hà Nội, 2005.

12.       Tiến sĩ Nguyễn Hữu Nguyên, Chủ biên, Tiểu Đoàn 1 Long An - Đơn vị Ba Lần Anh Hùng Lực Lượng Vũ Trang Nhân Dân .1954-2000., trang 167-170; nxb QĐND, Hà Nội, 2003.

13.       Đại tá TS. Hồ Sơn Đài, Chủ biên, 60 Năm Lực Lượng Vũ Trang Quân Khu 7 (1945-2005), trang 168; nxb QĐND, Hà Nội, 2005.

14.       Thượng tướng Trần Văn Trà, Kết Thúc Cuộc Chiến Tranh 30 Năm, trang 815; nxb QĐND, Hà Nội, 2005.

15.       Thượng tá TS. Hồ Sơn Đài, Chủ biên, Lịch Sử Lực Lượng Vũ Trang Huyện B́nh Chánh (1945-2000), trang 247-248; nxb Thành Phố Hồ Chí Minh, 2003.

16.       Trần Bạch Đằng, Chủ biên, Lịch Sử Mặt Trận Dân Tộc Thống Nhất Sài G̣n - Thành Phố Hồ Chí Minh (Tập I: 1930-1975), trang 385-386; nxb Tổng Hợp Thành Phố Hồ Chí Minh, 2006.

17.       Đại tá Hoàng Dũng, Mấy Nét Tiêu Biểu Của Nghệ Thuật Chiến Dịch Việt Nam Trong Chiến Dịch Hồ Chí Minh Lịch Sử, trang 24; Trận Quyết Chiến Lịch Sử Xuân 1975, nxb Viện lịch sử quân sự Việt Nam, Hà Nội, 1990.

18.       Phạm Văn Thắng & nhiều người khác, Lịch Sử Truyền Thống Đấu Tranh Cách Mạng Của Đảng Bộ Và Nhân Dân Quận 6 (1930-1975), trang 335-336; nxb Thành Phố HCM, 2000.

19.       Thiếu tướng PGS TS Hoàng Phương & Đại tá Nguyễn Văn Minh, Chủ biên, Lịch Sử Quân Sự Việt Nam - Tập 11: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975; nxb CTQG, Hà Nội, 2005.

20.       Điện thoại viễn liên với cựu Trung tá Nguyễn Hạnh Phúc, nguyên là LĐP liên đoàn 7 BĐQ, ngày 24/3/2013.

21.       Nguyễn Xuân An, Mặt Trận Đường 4 Mỹ Tho 1945-1975, trang 318-321; nxb QĐND, Hà Nội, 2001.

22.       Điện thư của cựu Trung tá Ngô Đức Lâm, nguyên là ThĐT thiết đoàn 6 KB, gửi cho tác giả ngày 14/12/2007.

23.       Điện thoại viễn liên với cựu Trung tá Ngô Đức Lâm ngày 23/10/2007.

24.       Tiến sĩ Phạm Huy Dương & Thạc sĩ Phạm Bá Toàn, Chủ biên, Chiến Dịch Hồ Chí Minh Trang Sử Vàng Qua Các Trận Đánh, trang 852; nxb QĐND, Hà Nội, 2005.

25.       Trung tướng Nguyễn Văn Thạnh, Cuộc Đời và Kỷ Niệm, trang 136; nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2001.

26.       Vĩnh Đường, Chiến Trường Long An Trong Giờ Cuối Cùng, trang 76-80; KBC số 25.

27.       Trịnh Văn Ngạn & Huỳnh Văn Hoa, Những Giờ Phút Cuối Cùng Của Tướng Trần Văn Hai, trang 459-462; sách đă dẫn trước (9).

28.       Đại tá Nguyễn Khắc Phục, Chủ biên, Quân Khu 8 Ba Mươi Năm Kháng Chiến (1945-1975), trang 825; nxb QĐND, Hà Nội, 1998.

29.       Thiếu tướng, Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo nhân dân Huỳnh Nghĩ, Chủ biên, Trung Đoàn 320 Chặng Đường 30 Năm .1964-1994., trang 208; nxb QĐND, Hà Nội, 2001.

30.       Quốc Thái, Trận Đánh Cuối Cùng, trang 81-85, tài liệu đă dẫn trước (26).


[1] Khác với sư đoàn 3 Sao Vàng (TL/SĐ là Trần Bá Khuê) trực thuộc quân đoàn 2 tại mặt trận hướng đông Sài G̣n.

[2] Theo kế hoạch tấn công Sài G̣n lúc ban đầu th́ đoàn 232 được lệnh đánh chiếm Mộc Hóa để mở đường cho sư đoàn 5 và các đơn vị binh khí kỹ thuật xuống QL-4, phối hợp với sư đoàn 8 đánh hai sư đoàn 7 và 9 của QL- VNCH. Về sau v́ t́nh h́nh biến chuyển quá nhanh chóng, BTL Miền e ngại trận đánh Mộc Hóa sẽ kéo dài nên thay đổi kế hoạch (Thượng tướng Trần Văn Trà, Kết Thúc Cuộc Chiến Tranh 30 Năm, trang 757 & 783; nxb Quân Đội Nhân Dân, Hà Nội, 2005). Chiến trận tại Tuyên B́nh, Mộc Hóa đă kéo dài từ tháng giêng đến đầu tháng 3 năm 1975, sư đoàn 5 VC bị trung đoàn 14 thuộc sư đoàn 9 BB đánh thiệt hại nặng (Phạm Huấn, Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975, trang 273; tác giả xuất bản, San José, 1988).

[3] Tài liệu của CS cho rằng Thiếu tá Lê Quang Ninh, TĐT tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn 50, sư đoàn 25 BB đă theo VC từ năm 1963 (Hà B́nh Nhưỡng, Ngọn Cờ Binh Biến; http:// www.qdnd.vn /qdnd /baongay.psks.nhan vat.33399.qdnd; 5/5/2008).

[4] Sau chiến tranh, CĐT chi đoàn 3/10 cho rằng ông đă theo lệnh của thiết đoàn để về tăng cường lực lượng giải vây BTL sư đoàn 25 BB tại Củ Chi (Trung úy Đoàn Kim Bảng, Những Ngày Cuối Cùng của Chi Đoàn 3/10 TK, trang 353-363; Hà Mai Việt, Thép và Máu - Thiết Giáp Trong Chiến Tranh Việt Nam; tác giả xuất bản, Texas, 2005).

[5] Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh bị Tổng thống Thiệu cho về hưu ngày 15/5/1974 dù chỉ mới 47 tuổi với lư do đă thâm niên 26 năm quân vụ. Trên thực tế ông đă bị nghi ngờ là nằm vùng của VC. Ngày 28/4/1975, ông được Tổng thống Minh gọi trở lại quân đội để trao chức Phụ tá Tổng TMT/QLVNCH rồi quyền Tổng TMT/QLVNCH ngày 30/4 sau khi Trung tướng Vĩnh Lộc bỏ chạy. CS cho rằng đă móc nối được Nguyễn Hữu Hạnh từ năm 1963 khi ông đang là đại tá TMT cho Tướng Dương Văn Minh phụ trách khu vực Sài G̣n - Chợ Lớn (Phạm Cường, Kỳ 1: Viên tướng Sài G̣n cũ không biết ... bắn súng, Sự kiện & nhân chứng - Trên mặt trận thầm lặng, Quân Đội Nhân Dân ngày 23/5/2007). Một tài liệu khác của CS cũng đă xác nhận NHH là cơ sở của Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam (Trần Bạch Đằng, Chủ biên, Lịch Sử Mặt Trận Thống Nhất Sài G̣n - Thành Phố Hồ Chí Minh (Tập I: 1930-1975), trang 387; nxb Tổng Hợp Thành Phố HCM, 2006).

[6] Để đáp ứng với t́nh h́nh quân sự, tỉnh Hậu Nghĩa được thành lập năm 1963 từ các phần đất tách ra của 3 tỉnh Long An, Tây Ninh và B́nh Dương. Cùng một lư do, khu vực Rừng Sát được tách khỏi tỉnh Long An và trở thành một biệt khu rồi đặc khu thuộc tỉnh Gia Định (J Race, War Comes to Long An, Phụ chú 1, trang 1-2; University of California Press Ltd., London, 1973), trực thuộc quân khu 3 về lănh thổ nhưng đặt dưới sự chỉ huy của BTL hải quân về hành quân và tác chiến. Ngày 15/4/1966, VC cũng cho thành lập đặc khu Rừng Sác với nhiệm vụ chủ yếu là ngăn chận sông Ḷng Tàu (Hồ Sĩ Thành, Đặc Khu Rừng Sác, trang 63-64; nxb Trẻ, Thành Phố HCM, 2002). Từ cuối năm 1956, CS đă thành lập tỉnh Long An gồm các quận Đức Ḥa, Đức Huệ, Bến Lức, Thủ Thừa, Tân Trụ, Cần Đước, Cần Giuộc và thị xă Tân An (Tiến sĩ Nguyễn Hữu Nguyên, Chủ biên, Tiểu Đoàn 1 Long An - Đơn vị Ba Lần Anh Hùng Lực Lượng Vũ Trang Nhân Dân .1954-2000., trang 27; nxb Quân Đội Nhân Dân, Hà Nội, 2003). Như vậy địa giới hành chánh tỉnh Long An của CS bao gồm hai quận Đức Ḥa, Đức Huệ của tỉnh Hậu Nghĩa và tỉnh Long An của VNCH.

[7] Tài liệu của CS sau chiến tranh mô tả chi khu Rạch Kiến như sau (Di tích lịch sử ngă tư Rạch Kiến; http:// www.skydoor.net /place, 23/3/2013) :

"Ngă Tư Rạch Kiến là giao lộ 18 và 19 [sic] tại trung tâm xă Long Ḥa, huyện Cần Đước. Nơi đây, trong không gian khoảng 1km2, đây đó những sân bay dă chiến,băi pháo, câu lạc bộ sĩ quan, khu trại quân sự ... của căn cứ Mỹ gợi lại một thời gian khổ và hào hùng trên vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến - một thế trận chiến tranh nhân dân độc đáo thể hiện ư chí và sáng tạo của Đảng bộ và quân dân địa phương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Năm 1965 chiến lược ''chiến tranh đặc biệt'' của địch bị phá sản hoàn toàn. Để ngăn chặn sự sụp đổ của chính quyền Sài G̣n, Mỹ dấn sâu một bước can thiệp, trực tiếp đỗ quân vào miền Nam thực hiện ''chiến tranh cục bộ''. Ngày 23-12-1966 lữ đoàn 3 sư đoàn 9 bộ binh Mỹ ồ ạt đổ quân lập căn cứ tại Rạch Kiến gồm: 1 tiểu đoàn bộ binh; 1 tiểu đoàn pháo binh có 4 khẩu cối 106, 107mm, 4 khẩu pháo 105mm, 6 khẩu pháo 57mm; một đại đội công binh cùng nhiều phương tiện kỹ thuật hiện đại như xe ủi đất, máy ḍ ḿn; một đại đội trinh sát, 4 đại đội máy bay trực thăng; 1 chi đoàn xe bọc thép gồm 20 chiếc M113 và M118.

Căn cứ được bố trí dọc 2 bên lộ 18 (nay là tỉnh lộ 826) từ ngă ba đài chiến sĩ (Long Ḥa) đến Cầu Đồn (Tân Trạch). Khu vực chính nằm ở hướng Đông Ngă Tư Rạch Kiến gồm hơn 20 doanh trại, phía Tây là trận địa pháo với những bệ bằng bê tông đúc sẳn, phía Bắc là sân bay dă chiến. Khu căn cứ được pḥng thủ bằng 6 lớp rào đủ loại xen kẻ với 3 tuyến băi ḿn loại vướng nổ, đạp nổ, điều khiển bằng điện. Toàn bộ khu căn cứ chiếm diện tích khoảng 160.000 m2. Về mặt qui mô, căn cứ Rạch Kiến được xem như một mục tiêu quân sự lớn của Mỹ ở Nam Sài G̣n - nó không thua kém ǵ căn cứ Đồng Dù của sư đoàn 25 Mỹ ở Bắc Sài G̣n.

Về vị trí chiếc lược đây là mắc xích quan trọng , vị trí trung gian giữa Cát Lái - Nhà Bè với B́nh Đức - Mỹ Tho h́nh thành tuyến pḥng thủ từ xa về mặt Nam Sài G̣n. Căn cứ Rạch Kiến c̣n nhằm triệt phá các căn cứ lơm và khu giải phóng ở Nam lộ 4 (Cần Giuộc-Cần Đước ) địa bàn có vị trí bàn đạp đe dọa trung tâm đầu năo Sài G̣n".

Căn cứ Mỹ mô tả trên là BCH của các tiểu đoàn thuộc trung đoàn 3, sư đoàn 9 BB Mỹ. Ṿng đai pḥng thủ căn cứ đặc biệt bao gồm luôn chi khu và một số nhà cửa của dân chúng trong quận.

[8] Thiếu tướng Lâm Văn Phát nguyên là sĩ quan trong quân đội liên hiệp Pháp. Ông mang cấp bậc đại úy khi chuyển sang quân đội quốc gia, phục vụ tại vơ pḥng của Quốc trưởng Bảo Đại. Ông tham gia các cuộc đảo chánh trong cả hai thời đệ nhất và đệ nhị Cộng ḥa. Ông được thăng cấp thiếu tướng sau cuộc đảo chánh đầu tiên (1/11/1963). Ông bị bắt buộc phải rời khỏi quân đội sau cuộc biểu dương lực lượng của Trung tướng Dương Văn Đức ngày 13/9/1964. Ngày 28/4/1975, ông xuất hiện trong chức vụ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô của chính phú Dương Văn Minh.

[9] Một chỗ khác của cùng một tài liệu lại cho rằng cánh nam gồm 3 trung đoàn và 5 tiểu đoàn (Thượng tướng Trần Văn Trà, Kết Thúc Cuộc Chiến Tranh 30 Năm, trang 805; nxb QĐND, Hà Nội, 2005). Tư lệnh đoàn 232 lại cho rằng 3 trung đoàn chủ lực của hướng nam là 16, 24 và 88 (Đại tướng Lê Đức Anh, Trên Chiến Trường Đánh Cho Mỹ Cút, Đánh Cho Ngụy Nhào, trang 274-275; Về Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước Hồi Ức, nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2005).

[10] Trước năm 1964, tiểu đoàn mang phiên hiệu 506 với quân số 150 người (Tiến sĩ Nguyễn Hữu Nguyên, Chủ biên, Tiểu Đoàn 1 Long An - Đơn vị Ba Lần Anh Hùng Lực Lượng Vũ Trang Nhân Dân .1954-2000., trang 28; nxb QĐND, Hà Nội, 2003).

[11] Năm 1910, khi bắt đầu có xe hơi và đường bộ th́ bến bắc (phà) Mỹ Thuận được thiết lập để giúp cho sự giao thông, vận chuyển hàng hóa giữa Sài G̣n và các tỉnh miền Tây. Mỹ Thuận là tên của ngôi làng ở phía bắc Tiền giang, thuộc huyện Kiến Đăng, tỉnh Định Tường. Ngày 21/5/2000, cầu Mỹ Thuận được khánh thành để thay thế phà. Cầu được xây cất tại một địa điểm cách bến bắc Mỹ Thuận khoảng 1 cây số về phía hạ lưu. Cầu được xây cất xong trong ba năm với sự giúp đở của Úc-Đại-Lợi. Cầu treo có 3 nhịp chánh với nhịp giữa để thông tàu. Cầu dài 1535 mét, tầm gió (khoảng cách từ mực thủy triều cao nhất đến sàn cầu) là 37.5 m, bề ngang là 24 mét, với 4 lằn xe, 2 lằn cho mỗi chiều lưu thông và 2 lề đường ở hai bên dành cho người đi bộ. Cầu do công ty Snowy Mountains Engineering Corporation nghiên cứu tính khả thi, công ty Maunsell Engineers thiết lập đồ án kỹ thuật và công ty Bauldersfone Homibrook Engineering xây cất với sự trợ giúp của công ty Freyssinet trong công tác kéo dây cáp. Chi phí cho việc xây cầu tốn khoảng 72 triệu mỹ kim. Úc đài thọ 2/3 chi phí qua ngân sách ngoại viện của chính phủ liên bang.

[12] Theo cách gọi của CS, E là trung đoàn và F là sư đoàn.

[13] Đơn vị này của CS bị thiệt hại nặng khi đụng độ với tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn 11, sư đoàn 7 BB/QLVN-CH gần trại túc mễ (điện thoại viễn liên với cựu Trung tá Ngô Đức Lâm ngày 14/12/2007).

 














H̀NH 1: CẦU BẾN LỨC NGÀY ẤY



H̀NH 2: CẦU BẾN LỨC


Cầu - Bến Lức - Bridge (1967-68)
H̀NH 3: CẦU BẾN LỨC[1]



H̀NH 4: CẦU AN HẠ



H̀NH 5: CHUẨN TƯỚNG NGUYỄN HỮU HẠNH



H̀NH 6: CỰU CHUẨN TƯỚNG
NGUYỄN HỮU HẠNH HƠN 30 NĂM SAU



H̀NH 7: CHI KHU RẠCH KIẾN



H̀NH 8: NGĂ TƯ BẢY HIỀN



H̀NH 9: LỄ CHÀO QUỐC KỲ TẠI BTL/BKTĐ



H̀NH 10: THIẾU TƯỚNG LÂM VĂN PHÁT



H̀NH 11: CĂN CỨ TRUYỀN TIN PHÚ LÂM[2]



H̀NH 12: VC VÀO TIẾP THU
CHI KHU CAI LẬY



H̀NH 13: CHUẨN TƯỚNG TRẦN VĂN HAI
(1929-1975)



H̀NH 14: CĂN CỨ ĐỒNG TÂM


[1] Ảnh chụp khoảng 1967-1968 của Ngày Xửa Ngày Xưa; http:// www.panoramio.com /photo /14396682, 6/2 /2009.

[2] Căn cứ Phú Lâm đă được gọi lầm là đài ra-đa do có những lưới sắt lớn có khả năng chuyển tiếp tín hiệu với tầm xa hơn 200 dặm Anh. Sử dụng nguyên tắc phân tán và phản hồi tín hiệu trên thượng tầng khí quyển (tropospheric scatter trunk), tín hiệu truyền đi sẽ không bị ảnh hưởng bởi địa thế như trong hệ thống vi-ba thông thường. Những lưới thép to được lầm tưởng tưởng là ra-đa chính là ăng-ten của hệ thống Back Porch được truyền tin Mỹ thiết lập tại Phú Lâm năm 1962 (Major General T M Rienzi, Vietnam Studies - Communications-Electronics 1962-1970, trang 7-8; U.S. Government Printing Office, Washington. D.C., 1972). Căn cứ được trang bị những phương tiện truyền tin tối tân nhất của quân đội Mỹ lúc bấy giờ như siêu tần số, vi ba, vệ tinh, v.v. Tuy nhiên hầu hết những phương tiện này đă được tháo gở đem về Mỹ khi căn cứ được bàn giao lại cho QLVNCH trong kế hoạch VNHCT năm 1972. Ảnh của R Dahlgren chụp năm 1968; http:// phulam.com /photo3a.htm; 23/1/2008.

 

Copyright @ 2005 quocgiahanhchanh.com
Webmaster@tranbachthu