Quốc Gia Hành
Chánh    >> Home


Mặt Trận Quảng Trị 1972

        Cộng Sản Bắc Việt mở trận Tổng công kích Tết Mậu Thân 1968 nhằm gây ảnh hưởng chính trị tại Mỹ v́ đó là năm bầu cử Tổng Thống, hậu quả là Tổng Thống Johnson tuyên bố không ra tái tranh cử, dân Mỹ bầu cho Nixon để sớm chấm dứt chiến tranh, rút quân khỏi Việt Nam. Năm 1972 cũng sẽ là năm bầu cử Tổng Thống, CSBV lại hy vọng mở một trận tấn công lớn để gây ảnh hưởng chính trị và cũng là để chiếm ưu thế tại cuộc Hoà đàm Paris đă làm như trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. CSBV mở mặt trận đại qui mô vào giữa năm 1972 để gây ảnh hưởng cho cuộc bầu cử diễn ra vào tháng 11-1972. Khoảng cuối 1971 Thủ Tướng Nga Podgorny đến Hà Nội hứa hẹn gia tăng viện trợ quân sự, sau đó BV nhận được nhiều vũ khí tối tân.

        Quân đội Việt Nam Cộng Hoà từ năm 1969 được sự yểm trợ của Đồng Minh đă gia tăng hành quân tấn công vào các mật khu Việt Cộng. Từ tháng 8-1968 Người Mỹ thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh. Ta đă phá những cơ sở hậu cần biên giới Việt Miên thành công rồi tiếp tục hành quân lớn sang Hạ Lào, Mỹ yểm trợ không vận và oanh tạc. Tại Hạ Lào hai bên đều thiệt hại nặng.

        Trận Hạ Lào Bắc Việt bắt đầu xử dụng các vũ khí tối tân Pháo binh, xe tăng, pḥng không… từ trận này họ tin tưởng với các vũ khí tối tân họ sẽ thắng được quân đội miền Nam. Năm 1971 Nga Tầu đă cung cấp cho Bắc Việt nhiều vũ khí chiến cụ nặng như máy bay MIG-21, hoả tịễn pḥng không SAM-2, xe tăng T-54, đại bác 130 ly, hoả tiễn tầm nhiệt SA-7 Strella, pḥng không 57 ly, hoả tiễn chống chiến xa AT-3 Sagger….Khi Hoa Kỳ rút quân, sự đe doạ của BV rất nghiêm trọng. Gần cuối tháng 12-1971, Bộ TTM QĐVNCH đă khuyến cáo các Tư lệnh quân khu coi chừng VC tấn công lớn năm 1972 nhưng không biết ở thời điểm nào. Năm 1972 là cơ hội tốt cho CSBV khi Mỹ rút quân gần hết, cuối tháng 1-1972 Mỹ sẽ chỉ c̣n 140 ngàn người và cuối tháng 4 chỉ c̣n 70 ngàn.

        Vơ Nguyên Giáp người chỉ huy trận tấn công năm 1972 chia làm ba mặt trận chính: Quảng Trị, Kontum và B́nh Long. Mặt trận Quảng Trị gồm hai Sư đoàn 304, 308 và 4 Trung đoàn độc lập, Trung đoàn đặc công 126, 31, 246, 270, hai Trung đoàn xe tăng 203, 204 tổng cộng khoảng 200 chiếc, ba Trung đoàn pháo 38, 68 và 84. Các đơn vị này lănh nhiệm vụ vượt sông Bến Hải đánh thẳng vào Quảng Trị, đồng thời Sư đoàn 324B và hai Trung đoàn độc lập 5, 6 sẽ từ thung lũng A-Shau phía Tây tiến về Huế.

        Lực lượng địch đưa vào chiến dịch 1972 gồm 10 sư đoàn và các lực lượng phụ thuộc tổng cộng 130 ngàn người. VC nghi binh tại Vùng 4 rồi mở chiến dịch đại qui mô với ba mũi dùi tấn công Quảng Trị, sau đó vài ngày đánh B́nh Long và sau cùng nhắm vào tỉnh lỵ Kontum. Các tiền đồn VNCH phía Nam khu phi quân sự thuộc phạm vi sư đoàn 3 bị sụp đổ trước các đợt pháo kích, tấn công dữ dội của BV. Sau một tháng cầm cự, Sư đoàn 3 VNCH và các đơn vị tăng phái tan ră, Quảng Trị lọt vào tay Cộng quân, B́nh Long và Kontum cũng bị áp đảo nặng nề.

        Quân Khu 1 hầu hết là rừng rậm, núi non của dẫy Trường Sơn, tam sơn tứ hải nhất phần điền, v́ gần sát với Bắc Việt nên cũng gọi đây là vùng hoả tuyến, địa thế hiểm trở có lợi cho Cộng quân. Năm 1968 lực lượng tại đây có 3 Sư đoàn Mỹ, 2 Sư đoàn VNCH. Từ tháng 3-1972 Mỹ bắt đầu rút, quân đội VNCH đảm nhận trách nhiệm bảo vệ lănh thổ, lực lượng ṇng cốt của Vùng Một gồm 3 Sư đoàn bộ binh: Sư đoàn 1, Sư đoàn 2, Sư đoàn 3, Trung đoàn biệt lập 51, 1 Liên đoàn Biệt động quân và 6 Tiểu đoàn BĐQ biên pḥng, Lữ đoàn 1 Thiết kỵ, Liên đoàn Công binh chiến đấu, 6 Tiểu đoàn ĐPQ, Tư lệnh Vùng Trung Tướng Hoàng Xuân Lăm.

        Trưa ngày 30-3-1972 CSBV bắt đầu pháo dữ dội các tiền đồn căn cứ hoả lực thuộc Sư đoàn 3 như Carolle, Mai Lộc, Sarge, A4, A2, C1, C2, căn cứ hành quân Đông Hà và đưa bộ binh, xe tăng ngang nhiên vượt sông Bến Hải tràn qua, địch tấn công bằng 4 mũi dùi: 2 mũi vào trung đoàn 56 tại căn cứ Fuller, A4 , hai mũi khác vào trung đoàn 57 tại căn cứ A2, A1, từ phía Tây BV đánh thẳng vào lữ đoàn TQLC 147 tại Sarge, Holcomb. Lực lượng địch gồm Sư đoàn 304, 308, 3 Trung đoàn độc lập, 2 Trung đoàn thiết giáp và 1 Tiểu đoàn Đặc công. Sư đoàn 3 bị tấn công bất ngờ nên rất bối rối, hoả lực địch rất mạnh, những ngày kế tiếp VC tăng cường tấn công dữ dội, các căn cứ thuộc Sư đoàn 3 phải rút dần về phía Nam, riêng 2 căn cứ A2, C1 không có xe kéo pháo nên phải huỷ bỏ 12 khẩu pháo 105 ly và 155ly. Bộ Tư lệnh sư đoàn rời về cổ thành Đinh Công Tráng trong thị xă Quảng Trị.

        Tướng Giai ra lệnh tái phối trí các căn cứ pḥng thủ từ ngày 1-4-1972. Thị xă Quảng Trị do Lữ đoàn 1 thiết giáp kiểm soát, Đại tá Nguyễn Trọng Luật Lữ đoàn trưởng. Kế hoạch pḥng thủ Sư đoàn 3 sau ngày 2-4-1972 được tổ chức chu đáo hoàn hảo, bố trí các lưc lượng tốt đẹp, BTL kiểm soát tương đối các đơn vị, các lực lượng án ngữ Cửa Việt, Trung đoàn 57, Lữ đoàn thiết giáp, ĐPQ đă chứng tỏ khả năng chiến đấu hoàn thành nhiệm vụ. Ngày 2-4 Cộng quân tấn công Đông Hà và căn cứ Carroll. Tại Đông Hà địch bị trung đoàn 57, Thiết giáp, TQLC và hải pháo của Hoa Kỳ đẩy lui thảm bại. Làn sóng người tỵ nạn khiến nhiều binh sĩ trung đoàn 57 mất tinh thần bỏ hàng ngũ đi t́m thân nhân, Tướng Giai vội bay tới các vị trí để phục hồi trật tự.

        Căn cứ Carroll về hướng Tây do Trung tá Phạm văn Đính, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 56 trấn giữ đă anh dũng đẩy lui các cuộc tấn công của địch nhưng không được phi pháo yểm trợ đầy đủ trước áp lực rất nặng của Cộng quân. Trung tá Đính đă họp các sĩ quan thuộc cấp rồi quyết định đầu hàng, 1500 quân nhân bị bắt, 22 khẩu đại bác gồm 105 ly, 155 ly, 175 ly bị tịch thu cùng với nhiều súng pḥng không, căn cứ hoả lực lớn nhất trong vùng đă bị mất. Mai Lộc di tản, lữ đoàn 147 TQLC phải di tản về Quảng trị, trên đường di tản bị thiệt hại nặng phải về Huế tái trang bị, Lữ đoàn 369 TQLC được đưa ra thay thế , vùng hoạt động của Sư đoàn 3 thu hẹp lại.

        Sau 4 ngày chiến đấu, mặt trận Quảng trị vẫn c̣n trong t́nh trạng nguy ngập trước áp lực nặng nề của Cộng quân. ĐPQ và chủ lực quân VNCH vẫn giữ vững vị trí, thời tiết xấu khiến không quân không hoạt động yểm trợ hữu hiệu, Hải quân Mỹ và B-52 vẫn yểm trợ rất hữu ích ngăn chận địch. Ba liên đoàn BĐQ 1, 4, 5 được tăng cường cho mặt trận, tổng cộng có 4 Liên đoàn BĐQ tăng cường cho Tướng Giai, chỉ thị của Sư đoàn 3 cho các lực lượng tăng phái thường không được thi hành ngay.

        Tướng Hoàng Xuân Lăm quá lạc quan tưởng rằng với các đơn vị tăng cường có thể giữ vững 2 tỉnh mà c̣n phản công chiếm lại các căn cứ lănh thổ đă mất. Ngày 9-4 Một trung đoàn CSBV với khoảng 20 chiến xa yểm trợ tấn công căn cứ Pedro nhưng bị pháo binh VNCH bắn phá dữ dội, Cộng quân chạy tán loạn vào rừng, nhiều xe tăng T-54 bị trúng ḿn và bị máy bay phá hủy. Cuộc tấn tấn công từ hướng Bắc và hướng Tây của địch đă bị các lực lượng pḥng thủ Lữ đoàn 1 Thiết kỵ, 258 TQLC, lữ đoàn 5 BĐQ đẩy lui, VC thảm bại trong âm mưu chọc thủng các tuyến pḥng thủ của Sư đoàn 3, chúng để lại hơn 400 xác chết, 13 xe tăng bị bắn cháy.

        Lực lượng của Tướng Giai nay gồm 2 Trung đoàn cơ hữu, 2 Lữ đoàn TQLC, 4 Liên đoàn BĐQ, Lữ đoàn thiết kỵ, ĐPQ Quảng Trị, tương đương với 9 Trung đoàn hay 27 tiểu đoàn. V́ thành công ngày 9 và 10-4 nên Tướng Giai càng lạc quan hơn . Tướng Lăm lập kế hoạch tái chiếm các căn cứ miền Tây như Cam Lộ, Carroll, Mai Lộc …Các cuộc tấn công không đạt được kết quả mong muốn, binh sĩ đă quá mệt mỏi, hoả pháo của địch dữ dội, tinh thần quân đội xuống thấp, các đơn vị tăng phái quá nhiều nên Tướng Giai khó điều khiển. Mưa liên tục, mây mù kéo dài hai tuần lễ đă gây trở ngại cho các hoạt động của không quân. Thời tiết lại bắt đầu khả quan, các phi cơ Việt Mỹ yểm trợ dữ dội khiến cho bộ binh lên tinh thần.

        Ngày 18-4 BV gia tăng pháo kích, tấn công bằng xe tăng , Sư đoàn 3 và các lực lượng tăng phái đă mệt mỏi không thể mở cuộc phản công được, tinh thần binh sĩ xuống thấp, sinh lực hao ṃn, tinh thần căng thẳng. Quân đội Mỹ bắt đầu tăng cường yểm trợ cho VN tại Quảng Trị, hai hàng không mẫu hạm Constellation và Kitty Hawk được tăng cường tại Nam Hải cùng với hai hàng không đă có sẵn từ trước Corral Sea và Hancock. Ngày 5-4 chỉ có 5 tuần dương hạm Mỹ tại Cửa Việt nhưng đến ngày 17-4 đă lên tới 20 khu truc và tuần dương hạm yểm trợ hải pháo tại đây, tổng số phi cơ B-52 tại Guam và Thái lan được gia tăng lên tới 138 chiếc.

        Cuối tháng 4-1972 trước những trận pháo dữ dội của CSBV các đơn vị pḥng thủ Quảng trị chiến đấu trong tuyệt vọng, vùng trách nhiệm của Sư đoàn thu hẹp lại. Cộng quân tấn công Tây và Nam Quảng trị, cô lập các lực lượng pḥng thủ tại thị xă, ngày 28-4 chiến xa T-54 đă đến gần cầu Quảng Trị, các binh sĩ thuộc lực lượng pḥng thủ ngày càng suy sụp tinh thần trước hoả lực địch và v́ thiếu thốn tiếp liệu. Ngày 29-4 t́nh h́nh Quảng Trị thêm nguy khốn, BV thay đổi mũi tấn công, mở nỗ lực mới tấn công dữ dội.

        Ngày 30-4 trước hoàn cảnh khó khăn thiếu thốn tiếp liệu và áp lực địch, Tướng Giai hội họp các sỹ quan trực thuộc tại Bộ tư lệnh bàn kế hoạch triệt thoái về phía Nam sông Thạch Hăn. Theo kế hoạch Lữ đoàn TQLC sẽ cố thủ Quảng Trị, kế đó thành lập tuyến pḥng thủ mới tại phía Nam sông Thạch Hăn. Tướng Lăm mới đầu đồng ư kế hoạch nhưng sáng hôm sau 1-5 ông lại không chấp nhận triệt thoái v́ Tổng Thống Thiệu tại Sài G̣n buộc Sư đoàn 3 phải cố thủ tại chỗ để lấy ưu thế tại cuộc hoà đàm nay tái nhóm sau một thời gian ngưng trệ.

        Tướng Giai thu hồi lệnh nhưng đă quá trễ, các đơn vị tiếp tục di tản, những đơn vị pḥng thủ quanh Ái Tử ồ ạt vượt sông Thạch Hăn di tản về phía Nam, các đơn vị khác cũng tiến về nam, nhiều đại bác chiến xa bị bỏ lại. Lữ đoàn TQLC 147 tuy c̣n đầy đủ nhưng cũng rút lui. Quốc lộ 1 tràn ngập người chạy loạn, các binh sĩ lạc đơn vị, xe cộ đủ các loại nào chiến xa, xe đ̣, quân xa… bị trúng pháo kích VC bốc cháy dữ dội. Cộng quân thừa cơ bắn trọng pháo vào ḍng người tỵ nạn rất dă man, đến trưa hôm sau cuộc tàn sát mới chấm dứt. Quăng đường dài 10 cây số này được đặt tên là Đại Lộ Kinh Hoàng, tại nơi đây hằng mấy ngh́n người chạy loạn đă bị chết oan.

        Tướng Giai theo máy bay Mỹ rời Cổ thành lúc 5 giờ chiều. Quảng Trị là thị xă đầu tiên bị Cộng quân chiếm trong cuộc chiến tranh VN lần thứ hai. Lữ đoàn TQLC và vài đơn vị khác cố gắng giữ kỷ luật để tiến về gần quận Hải Lăng, các Liên đoàn BĐQ tiến về Nam chiếm giữ các vị trí cách Tây Nam Hải Lăng 4 cây số. Ngày 2-5 Lữ đoàn Thiết kỵ cố gắng tiến về Nam quốc lộ 1. Toàn tỉnh Quảng Trị lọt vào tay Cộng quân. Sư đoàn 1 trong khi ấy đă đẩy lui các cuộc tấn công của CSBV, căn cứ Bastogne bị pháo dữ dội ngày 28-4 th́ bị tràn ngập. Ngày 2-5 dân Huế chạy ào ào về Đà Nẵng, tại Huế lính thất trận đói khát, nhiều kẻ phá phách làm tăng không khí hốt hoảng của thành phố.

        Ngày 3-5 Tướng Ngô Quang Trưởng từ Cần Thơ được Tổng Thống Thiệu đưa ra làm Tư lệnh Vùng 1 thay Tướng Hoàng xuân Lăm. Ngày 4-5 Tướng Trưởng tổ chức lại cơ cấu chỉ huy, điều động thành lập Bộ Tư lệnh tiền phương tại Huế, thành lập Uỷ ban ấn định mục tiêu: Sư đoàn 1, Tư lệnh là Tướng Phú chịu trách nhiệm phía Nam và Tây nam Huế; Sư đoàn TQLC chịu trách nhiệm Bắc và Tây Bắc Thừa Thiên. Ông tân Tư lệnh phải đối phó với nhiều khó khăn, trước hết là sự rối loạn do tàn quân của Sư đoàn 3 cùng với làn sóng người tỵ nạn đổ về. Kế đó cường độ pháo của Cộng quân vào Huế ngày càng tăng và sau cùng việc tái huấn luyện các đơn vị thuộc Sư đoàn 3.

        Để ổn định t́nh h́nh ngày 3-5 Tướng Trưởng cho lệnh bắn bỏ tại chỗ những quân nhân gây rối loạn, phá phách, giao cho lực lượng quân cảnh cùng với các thiết xa V-100 đi tuần tiểu. Tướng Trưởng mở chiến dịch Lôi phong, tập trung hoả lực Hải Lục Không quân cao độ đủ để tiêu diệt hoàn toàn khi khám phá ra mục tiêu, tổ chức lại những đơn vị bị thiệt hại trong trong tháng 4 vừa qua. Ngày 7-5 sự sắp xếp những đơn vị pḥng thủ chiều sâu tốt đẹp, kỷ luật trật tự đă được văn hồi, bọn lưu manh gây rối loạn đă bị trừng trị, dân Huế an tâm ở lại. BV tấn công thăm ḍ trên các tuyến pḥng thủ, địch di chuyển pháo binh và pḥng không vào gần Huế.

        BTTM tăng phái các đơn vị nhẩy dù cho Vùng 1, ngày 8-5 Lữ đoàn Dù được tăng cường cho pḥng tuyến Mỹ Chánh trong vùng trách nhiệm của Sư đoàn TQLC. Liên đoàn 1 BĐQ tại Đà Nẵng được tăng cường cho Sư đoàn TQLC, quân số của VNCH quanh Huế đă lên tới 35 ngàn người, Tướng Trưởng lập kế hoạch phản công cho mở những cuộc tấn công giới hạn. Ngày 13-5 hai tiểu đoàn TQLC thuộc Lữ đoàn 369 được trực thăng vận xuống Hải Lăng càn quét các mục tiêu, BV bị thiệt hại nặng, sau đó TQLC trở về tuyến Mỹ Chánh. Ngày 15-5 hai trung đội Hắc báo cảm tử của Sư đoàn 1 được trực thăng vận vào Bastogne chiếm lại căn cứ, hai trung đoàn BB càn quét những cao điểm phía nam. Tinh thần quân dân đều lên cao nhờ những thắng lợi lúc ban đầu.

        Chiến trường lắng dịu một tuần rồi lại sôi động hôm 21-5 khi Cộng quân nỗ lực tấn công pḥng tuyến TQLC, với sự yểm trợ của xe tăng pháo binh. Địch chọc thủng tuyến Đông Bắc, trận chiến rất dữ dội cuối cùng 2 Tiểu đoàn 3 và 6 TQLC đă đánh bật Cộng quân ra khỏi pḥng tuyến. Sư đoàn TQLC được yểm trợ Hải pháo từ các chiến hạm Mỹ cũng như B-52, pháo binh cơ hữu… ngày 24-5 Lữ đoàn 147 TQLC đổ bộ tại Mỹ Thủy, mười cây số phía bắc Mỹ chánh phối hợp với cuộc tấn công trực thăng vận vào vùng Cơ Lũy, 6 cây số về hướng Tây bờ biển tức Dẫy phố buồn thiu, hai cánh quân càn quét các vị trí địch. Sư đoàn Dù pḥng thủ Tây Bắc Huế, cuối tháng 5 lại được Lữ đoàn 1 Dù ở An Lộc ra tăng cường, chưa đầy một tháng thế pḥng thủ của Quân đoàn 1 trong Vùng 1 được cân bằng rồi trở thành mạnh thêm.

        Hồi tháng 4 t́nh h́nh Huế rất đen tối v́ hốt hoảng, khiếp sợ và hỗn loạn bây giờ mọi người đă lên tinh thần lấy lại niềm tin, Cộng quân bị thiệt hại nhiều, riêng trong tháng 5 khoảng 3000 cán binh bị tử thương. Đại Tá Bùi Thế Lân được vinh thăng Chuẩn Tướng. Từ đầu tháng 5 Quân đoàn 1 tái trang bị và huấn luyện lại các đơn vị, thiệt hại trong cuộc lui binh tháng 4 rất lớn lao, nhiều đơn vị phải gây dựng lại từ đầu: Lữ đoàn Thiết kỵ mất 1,170 binh sĩ, khoảng 200 thiết giáp, xe tăng gồm M-48, M-41 và M-113, 140 khẩu đại bác, Sư đoàn 3 tổng cộng có 2,700 người chết, thiệt hại tới 75%, các Liên đoàn BĐQ thiệt hại nặng trên phân nửa khả năng chiến đấu. Các nỗ lực tái trang bị được tiến hành liên tục, các chiến cụ được bổ xung cấp thời như đại bác 105 ly, quân xa, thiết vận xa, đạn pháo binh, ng̣i nổ ḿn định hướng … Những quân dụng này được các máy bay vận tải khổng lồ của Mỹ và quân vận hạm chở tới nên sau đó các đơn vị đều có đủ đạn dược nhất là đạn pháo binh. Chương tŕnh huấn luyện được thu ngắn lại: Tính toạ độ, xử dụng vũ khí nhất là chống chiến xa như M-72, TOW. Tướng Vũ Văn Giai bị bắt giam ngày 5-5-1972 v́ làm tan ră Sư đoàn 3, ông bị kết án tù 5 năm và bị giam tại Chí Hoà, theo Tướng Hoàng Lạc sau 30-4 ông lại bị VC bắt đi cải tạo lâu dài ngoài Bắc . Sư đoàn 3 được tái vũ trang, tái lập tại Phú Bài rồi được giao pḥng thủ Đà Nẵng.

        Cộng quân mặc dù chiếm được Quảng Trị nhưng v́ tiến quá xa nên đă gặp nhiều trở ngại về tiếp liệu, họ cần thời gian để tiếp tế cho các lực lượng tiền phương, những trận không tập vào các vị trí tiếp liệu của BV và những trục lộ giao thông đă làm cho các nỗ lực địch chậm trễ. Bước đầu Quân khu 1 chận đứng cuộc tiến quân của địch, trong tháng 5 và tháng 6, QĐVNCH bắt đầu đổ bộ bằng trực thăng vận và thuỷ vận cùng với các trận oanh tạc của Không quân Hải quân Hoa Kỳ khiến cho VC kinh hoàng. Kế hoạch phản công của Quân đoàn 1 mang danh hiệu Lam Sơn 72 để lấy lại Quảng Trị không phải là kế hoạch tấn công chớp nhoáng mà là một chiến dịch phối hợp và từng giai đoạn. Pḥng thủ Huế và tấn công tại các vị trí tiền phương tiêu diệt CS và tái chiếm Quảng Trị, thiết lập chính quyền địa phương, trước hết ta chiếm các địa thế chế ngự chung quanh thiết đặt hỏa lực tiêu diệt VC trong vùng.

        Kế hoạch tái chiếm Quảng Trị gồm 3 giai đoạn.

        Từ 1 tới 10 tháng 6 Tướng Trưởng cho thay đổi các lực lượng trên những vị trí tiền phương.

        Từ 11 tới 18-6 Sư đoàn 1 tấn công vào căn cứ Veghel trong khi TQLC và Nhẩy Dù tấn công ḍ hướng bắc Mỹ Chánh để thăm ḍ lực lượng địch.

        Từ 19 đến 27-6 Ta nghi binh để đánh lừa các lực lượng CS về thời điểm và hướng tiến quân, giả vờ sẽ tấn công Cam lộ và đổ bộ Cửa Việt.

        Hai ngày trước cuộc tấn công, pháo đài bay B-52, Hải pháo, Không quân chiến thuật và pháo binh oanh kích dữ dội các vùng tập trung quân của CS. Lam Sơn 72 được khởi sự từ 28-6 gồm 2 gọng ḱm Bắc tiến và một nỗ lực phụ Tây Nam Huế , Sư đoàn Dù tấn công từ Tây Nam Quốc lộ 1 về La Vang , TQLC tiến quân bên phải hướng Bắc Quốc lộ 1 trong khi đó Sư đoàn 1 ḱm chặt VC tại Tây Nam Huế, Sư đoàn 3 bảo đảm an ninh Đà Nẵng, Sư đoàn 2 lùng diệt địch tại Quảng Ngăi.

        Tướng Trưởng bay vào Sài G̣n giải thích chi tiết kế hoạch tấn công tái chiếm Quảng trị lên Tổng thống và Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, ông Thiệu không chấp thuận kế hoạch mà chỉ đồng ư cho tấn công quấy phá, Tướng Trưởng chán nản bay về Huế, hôm sau ông Thiệu lệnh cho Tướng Trưởng về tŕnh bầy lại kế hoạch và cuối cùng chấp thuận. Chiến dịch Lam Sơn 72 bắt đầu ngày 28-6, các đơn vị Dù và TQLC tiến hành chậm hơn dự định. Tại Thạch Hăn VC phản ứng dữ dội, ngày 7-7 các đơn vị Dù đă tiến gần Quảng Trị. BV cố thủ, được pháo binh yểm trợ mạnh, một tiểu đoàn TQLC được trực thăng vận về Đông Bắc thành phố để cắt đường tiếp vận của địch. BV định tử thủ Quảng Trị đến người cuối cùng, các mũi tấn công của ta bị khựng lại. Tướng Trưởng quyết tâm tái chiếm Quảng Trị và giao cho TQLC v́ Dù đă bị thiệt hại nặng.

        Sư đoàn TQLC được giao trách nhiệm tiêu diệt VC trong thành phố, v́ địch tử thủ nên tác chiến gặp nhiều khó khăn cho tới tháng 9. BV tăng cường một đại đơn vị rất to lớn: 6 sư đoàn 304, 308, 324B, 325, 320B, 312 để áp đảo hai Sư đoàn tổng trừ bị của VNCH, hai bên đụng độ dữ dội, địch pháo dữ dội hằng ngh́n quả mỗi ngày, trong khi ấy Quân đoàn 1 vẫn tấn công đều đặn, các đơn vị tiền phương được hoán chuyển để có cơ hội nghỉ ngơi. Tướng Trưởng dự định xin tăng viện một sư đoàn từ Vùng 4 nhưng hoàn cảnh không cho phép, trong khi ấy sự tập trung nhiều Sư đoàn CS tại Quảng trị đă trở thành miếng mồi ngon cho máy bay B-52 trải thảm, không quân chiến thuật và pháo binh VNCH oanh kích bắn phá, đó là lỗi lầm tai hại của BV.

        Chiến dịch phản công đến tuần thứ 10 vào tháng 9 không được kết quả cụ thể nào. Ngày 8-9 QĐ-1 đưa ra 3 cuộc hành quân riêng rẽ hỗ trợ cho mục đích chính, Dù chiếm 3 căn cứ La Vang phía Nam cổ thành. Ngày 9-9 Sư đoàn TQLC khởi sự tấn công vào Cổ thành. VNCH và Hoa kỳ tấn công nghi binh vào băi Bắc sông Cửa Việt. Lữ đoàn 147-TQLC từ Đông Bắc đánh xuống, Lữ đoàn 258 từ Đông Nam đánh lên. Khuya 14-9 Tiểu đoàn 6 TQLC đột nhập một vách tường Đông Nam Cổ thành rồi tràn vào bên trong, ngày 15-9 hai Tiểu đoàn TQLC dàn quân càn quét về hướng Tây thanh toán các ổ kháng cự. Sáng 16-9 Tiểu đoàn 6 TQLC đă dựng cờ chiến thắng trên Cổ thành và nới rộng quyền kiểm soát thành phố nay chỉ c̣n là đống gạch vụn. Trong 10 ngày cuối cùng có gần 3000 CSBV tử thương, TQLC thiệt hại khoảng một nửa so với Cộng quân

        Các lực lượng Dù mũ đỏ mở hành quân tái chiếm căn cứ Barbara và Anne cuối tháng 10-1972, trong khi ấy Sư đoàn 1 BB hành quân nới rộng về phía Tây và Tây Nam Huế. Tháng 8-1972 nhờ yểm trợ của pháo đài bay B-52 và phi cơ chiến thuật Sư đoàn 1 đă lấy lại Bastogne, Checkmate và mở rộng vùng kiểm soát về hướng Tây chiếm lại căn cứ Veghel trong khi CS mất thế chủ động. Sư đoàn 2 và Sư đoàn 3 cũng đă chiến đấu hoàn thành nhiệm vụ. Cuối tháng 10-1972 t́nh h́nh an ninh chung trên Quân khu 1 đă được ổn định, cuộc đàm phán tại Paris đang tiến hành, dân quân Thừa Thiên Quảng Trị đang trông chờ Hoà b́nh, ngưng bắn mà ta đă phải trả giá quá đắt.

        Khi giao tranh ở cường độ rộng lớn, ta phải trông vào yểm trợ của B-52 vàHải quân Mỹ. Trước tháng 4-1972 yểm trợ Mỹ xuống thấp độ 10 phi xuất mỗi ngày, khi cuộc tấn công bắt đầu th́ một ngày khoảng 300 phi xuất để làm chậm cuộc tiến quân của địch, B-52 yểm trợ vào khoảng 30 phi vụ trong ngày gây thiệt hại và phá huỷ các nỗ lực yểm trợ tiếp vận của CS. Liên đoàn 11 Không kỵ mă yểm trợ vận chuyển, không kích trong khi pḥng không VC tăng cường dầy đặc. Tháng 5 thủ tục phối hợp để xử dụng yểm trợ không quân được cải tổ sâu rộng , kết hợp với Trung tâm phối hợp hoả lực đưa tới 6,000 phi xuất yểm trợ trong một tháng khiến cho các dàn pháo tầm xa 130 ly của CS bị thiệt hại nặng nề.

        Trong ngày đầu yểm trợ của Đệ Thất hạm đội chỉ có 2 khu trục hạm, khi cuộc tấn công bắt đầu, các chiến hạm được điều động vào yểm trợ cho Sư đoàn 3. Cùng một lúc trong tháng 6 các dàn hải pháo được tăng cường, số chiến hạm đă lên tới 38 Khu trục hạm và 3 Tuần dương hạm tuy nhiên Hải pháo không thể bắn xa về hướng Tây. Khi Quân đoàn bắt đầu phản công, số chiến hạm ứng chiến từ 8 lên tới 41 chiếc mỗi ngày, bắn từ 1,000 đến 7,000 quả mỗi ngày. Hoả lực VNCH và Hoa kỳ rất đầy đủ suốt thời gian VC tấn công. Nhờ thành lập Trung tâm phối hợp hoả lực Quân đoàn đă sử dụng hữu hiệu khả năng yểm trợ của các nguồn hoả lực VNCH và Mỹ.

        Kế hoạch triệt thoái về phía Nam ngày 30-4 của Sư đoàn 3 là một bài học đắt giá của cuộc hành quân phá sản, thế mà mấy năm sau, ông Thiệu lại đi vào vết xe đổ của cuộc di tản đầy máu và nước mắt này để rồi cả một Quân đoàn bị thiệt hại tới 75% lực lượng và đă kéo theo sự sụp đổ cả một Quân khu.

        Tháng 9 năm 1972, khi đại quân ta tiến chiếm lại Cổ thành Quảng Trị, BV đă đưa ra tới 6 sư đoàn ḥng bao vây tiêu diệt hai sư đoàn tổng trừ bị thiện chiến nhất của VNCH. Những đạo quân tập trung đông đảo của CSBV lại trở thành miếng mồi ngon cho hoả lực pháo binh, không quânVNCH và nhất là pháo đài bay B-52. Ở đây chúng ta thấy CSBV đă hoàn toàn sai lầm khi cho rằng cứ lấy số đông là đè bẹp được đối phương, ta cũng thấy rằng nếu không có B-52 trải thảm, các đại đơn vị của ta có thể đă bị các lực lượng đông đảo của Cộng quân bao vây tràn ngập.

        Tài thao lược của Tướng Trưởng cùng với sự hy sinh, tinh thần chiến đấu của các binh sĩ miền Nam cùng với sự yểm trợ tối đa của không lực Mỹ, đại quân ta đă đẩy lui và gây thiệt hại nặng nề cho các Sư đoàn CSBVđể chiếm lại những phần đất đă lọt vào tay quân thù.

        Tính đến cuối tháng 9-1972, thiệt hại của CSBV trong Mùa hè đỏ lửa tại cả ba mặt trận Quảng Trị, B́nh Long và Kontum được ước lượng vào khoảng 100 ngàn người, số thiệt hại của VNCH vào khoảng một nủa số tổn thất của CS. Tướng Mỹ D.Kinnard lại cho biết có vào khoảng từ 50 tới 70 ngàn cán binh CS bị thương vong và khoảng 700 xe tăng bị bắn cháy, VNCH có khoảng 30 ngàn binh sĩ tử trận. Theo ông Palmer, Giáo sư trường Vơ bị Wespoint th́ CSBV đưa vào chiến dịch 1972 khoảng 500 chiến xa. Trận chiến Mùa hè đỏ lửa không những mang lại cho CSBV sự thảm bại về quân sự mà cả về mặt chính trị nữa. Cộng quân đă tàn nhẫn nă trọng pháo vào đám đông trên đường chạy loạn chỉ v́ cơn tức giận, những ngưới di dân này đă không chịu ở lại với chúng. Cuộc tàn sát những người dân vô tội không một tấc sắt trong tay đă cho cả thế giới thấy Cộng quân đă tới mức cùng của sự tàn ác.

        Yểm trợ của không quân đă khiến CSBV tại QK-1 đă bị thảm bại. Trong ba tháng 4, 5, 6 đă có tất cả 18 ngàn phi vụ chưa kể 2,700 phi vụ B-52 tại đây. Tại QK-2 mức độ yểm trợ không quân yếu kém hơn QK-1 nhưng yểm trợ của pháo đài bay B-52 lại nhiều hơn tại QK-1. Kể từ 31-3 đến 30-4-1972 có 36 máy bay của không quân VNCH và 15 chiếc của không quân Mỹ bị bắn hạ.

        Sau chiến tranh, cựu Trung Tướng Trần Văn Minh, Tư Lệnh Không quân VNCH cho biết năm 1975 CSBV mạnh hơn hồi 1972 nhiều, yểm trợ không lực của VNCH lại yếu kém hơn, ông cho biết tại An Lộc 1972 chiến thắng thực hiện được là do pháo đài bay B-52 và các vận tải cơ C-130. Năm 1975 tại Phước Long và Ban Mê Thuột, không quân VNCH đă yểm trợ hoả lực tối đa cũng như thám thính nhưng lại không có yểm trợ B-52 như năm 72.

        Tháng 3-1972 có tất cả 4237 phi xuất của không quân tại Nam VN, trong tháng 5 đă tăng lên 18444 phi xuất do khoảng 700 chiến đấu cơ và 160 pháo đài bay B-52, Tổng Thống Nixon nói.

        “Có thể chúng ta không bao giờ biết được miền Nam VN có thể thắng nếu không được sự yểm trợ của không lực Hoa Kỳ. Tuy nhiên một điều mà chúng ta có thể biết được một cách chắc chắn là chúng ta sẽ không thắng được nếu chỉ dùng đến không lực mà thôi

        Ông cho rằng Việt nam hoá chiến tranh đă thành công.

        Cựu Đại Tướng Văn Viên cũng đă xác nhận như sau:

        “Cuộc công kích của địch quân năm 1972 đă cho thấy nhược điểm của tiến tŕnh Việt Nam hoá chiến tranh. Nếu không được sự yểm trợ của Mỹ về không lực và di động tính, QLVNCH khó có thể giữ được An Lọc, bảo vệ được Kontum và chiếm lại được Quảng Trị. Các phần đất này sẽ bị mất vĩnh viễn bởi v́ chúng tôi không có đủ khả năng để chiếm lại. Tuy nhiên lúc nào c̣n không lực Mỹ th́ cán cân lực lượng vẫn có thể được duy tŕ và VNCH vẫn c̣n có một cơ hội tốt để sống c̣n

        Như chúng ta đă thấy tại cả ba mặt trận Quảng Trị,Kontum, An Lộc khi t́nh thế nguy ngập trước áp lực mạnh của Cộng quân, pháo đài bay B-52 trải thảm càn quét chủ lực quân CSBV và đă cứu văn được t́nh thế. Nói như thế cũng không có nghĩa chỉ một ḿnh B-52 đủ sức đẩy lui địch mà cũng phải cần có sự chiến đấu gan dạ của các binh sĩ VNCH, chính Tổng thống Nixon cũng đă công nhận như vậy.

        Năm 1972 người Mỹ yểm trợ tối đa cho các đơn vị VNCH trong suốt cuộc chiến đẫm máu mùa hè đỏ lửa tại cả ba chiến trường Quảng Trị, An Lộc và Kontum. Trước hết phải kể những cuộc không yểm của pháo đài B-52, kế đó yểm trợ về vận chuyển bằng Trực thăng vận và các máy bay vận tải khổng lồ C-130 và sau cùng yểm trợ Hải pháo của Hạm đội số Bẩy Hoa Kỳ. Ngày 21-2-1972 cái bắt tay lịch sử giữa Mao và Nixon đă thay đổi cả một kỷ nguyên, thuyết Domino không c̣n đứng vững, người Mỹ hối hả kư kết Hiệp Định Paris để rút quân trong danh dự để giữ thể diện của một siêu cường.

        Người Mỹ muốn chúng ta phải thắng trong trận chiến Mùa hè đỏ lửa, họ yểm trợ VNCH tối đa bằng Không quân, Hải quân … để giữ thế mạnh tại bàn Hội nghị rồi kư Hiệp Định Paris rút quân, sống chết mặc bay. Nói về việc kư kết Hiệp Định Paris, nhà chuyên viên du kích chiến Sir R.Thompso đă nêu ư kiến như sau:

        “Sự sống c̣n của miền Nam VN bị đe dọa chỉ v́ để tránh cho nước Mỹ khỏi phải cấu xé nhau tan nát. Một điều trái ngược ở đây là miền Bắc VN bị bắt buộc phải ngồi vào bàn Hội nghị không phải để tự cứu họ mà là để cứu nước Mỹ”

        Cuối cùng xương máu của các chiến sĩ, của nhân dân chỉ là để cứu nước Mỹ, để họ rút quân êm thắm và lấy về 587 tù binh. Họ có để lại cho miền Nam những lời hứa cuội.

        Trọng Đạt


Tài liệu tham khảo

Trần Phan Anh: Chiến Trận Mùa Hè 1972.

Nguyễn Đức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, 1963-1975, Làng Văn 2001.

Nguyễn Đức Phương: Những Trận Đánh Lịch Sử Trong Chiến tranh Việt Nam 1963-1975, Đại Nam 2001.

Nguyễn Kỳ Phong: Vũng Lầy Của Bạch Ốc (Người Mỹ Và Chiến Tranh Việt Nam- 1945-1975) Tiếng Quê Hương 2006.

Nguyễn Tiến Hưng: Khi Đồng Minh Tháo Chạy, Hứa Chấn Minh xuất bản 2005.

Văn Tiến Dũng: Đại Thắng Mùa Xuân, nhà xuất bản QĐND Hà Nội, tái bản lần thứ tư, 2003.

Hoàng Lạc, Hà Mai Việt: Việt Nam 1954-1975, Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới, Texas 1991.

Lâm Quang Thi: Autopsy The Death Of South Vietnam, Sphinx publishing 1986.

The World Almanac Of The Vietnam War, General Editor: John S. Bowman - A Bison Book 1985.

Stanley Karnov: Vietnam, A History - A Penguin Book 1991.

Marilyn B. young, John J. Fitzgerald, A.Tom Grunfeld: The Vietnam War, A History In Documents – Oxford University press 2002.

Trung Tướng Lữ Lan: Cuộc Chiến Ba Mươi Năm Nh́n Lại Từ Đầu, Sài G̣n Nhỏ Dallas 28-4-2006.

Mùa Hè Đỏ Lửa, Mặt Trận Quảng Trị: Đại Uư Vơ Trung Tín, Đại Uư Nguyễn Hữu Viên, Người Việt Dallas 21-9-2007.

Thiếu Tướng Lê Quang Lưỡng: Thiên Thần Mũ Đỏ, Ai C̣n, Ai Mất. Người Việt Dallas 7-10-2005.

Người Mỹ Và Chiến Tranh Việt Nam, Người Việt Dallas 21-6-2005 (Không tác giả).

Lewis Sorley: Lịch Sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, Trần Đỗ Cung dịch, Người Việt Dallas 22-11-2006.

Cao Văn Viên: Tuyến Đầu Vùng Một Thất Thủ, báo Thằng Mơ, Sacramento số 30-4-2006.

Tướng Lê Văn Hưng, Ngôi Sao Cô Đơn Ngày Cuối Thê Lương, Người Việt Dallas 12-9-2007