“Nếu có máy thời gian, bố
muốn đi đâu?” Con gái tôi hỏi bằng tiếng Việt pha với tiếng Anh.
Hai cha con mới rời siêu thị Stater Bros, mua vài món đồ mẹ
dặn. Một bó rau xà lách, vài trái cam, một bịch đường, ổ bánh ḿ lát, hai
bịch “gạo” bự cho con chó Kiwi đang “on sale”. Nhân tiện tôi mua thêm vài
xâu bia tích trữ, cũng “on sale”. đề pḥng trường hợp California bị động
đất, thiếu nước uống. Chiều hôm đó con gái không bận học bài, đồng ư đi
theo, giúp bố t́m những hiệu quen thuộc mà vợ tôi thường mua. Trên đường
Westminster trở về nhà, thấy cha ít nói trong lúc lái xe, con bé gạ chuyện
như mẹ nó thường làm.
Con tôi mới lên trung học, đang đọc cuốn “Máy Thời Gian”
của nhà văn Anh Herbert George Wells. Ông viết cuốn tiểu thuyết khoa học
giả tưởng bất hủ nầy từ cuối thế kỷ thứ 19. Truyện “The Time Machine” được
giảng dạy trong lớp văn chương, dựng thành phim mấy lần. Nhân vật chính
trong truyện đă chế máy vượt thời gian, phiêu lưu đến một thế giới của
loài người hơn 800.000 năm trong tương lai. Lúc đó nhân loại chỉ c̣n hai
loại: đám Eloi yếu đuối, ngây thơ như trẻ con, sống vô tư giữa những khu
vườn thiếu chăm sóc; và đám Morlock hung dữ, sống dưới mặt đất, chực chờ
nhai nuốt những con mồi. Sau những màn trốn rượt gay cấn, kẻ du hành vượt
thời gian trở về thời hiện tại, rồi lại bước vào máy, biến mất đâu đó giữa
thời gian vô định.
Nghe con hỏi lại muốn biến đi đâu với máy thời gian, tôi càng
trầm tư, không ngờ câu trả lời khó hơn tôi tưởng. Đi đâu bây giờ? đến
tương lai hay về quá khứ? xem khủng long nhai cây rừng thời tiền sử, vật
lộn đâm húc nhau long trời lở đất, hay ngó dị nhân bán nam bán nữ thời hậu
lai, ăn uống bằng ánh sáng thấm qua làn da? Đến khi đậu xe trước nhà, tôi
chỉ nói, “Câu hỏi tưởng dễ mà khó ghê nha. Con cho bố nghĩ thêm vài
phút được không?”
“Sure” con bé trả lời, mau chân chạy phóng vào nhà nựng
con Kiwi như mẹ nựng con, để lại tôi với những suy tư kéo dài mấy ngày.
Như ông Wells, tôi cũng muốn bay vèo đến tương lai mấy ngàn
năm sau, xem thử thế giới của con người có thoát nổi một trận đại chiến
đánh tan nát trái đất, bắn từng mảng lục địa rơi rớt trong không gian. Ông
sáng tác cuốn “Máy Thời Gian” trước khi có hai trận đại chiến thế giới,
không thể tưởng tượng chỉ mấy chục năm sau khi sách ra đời, đám Morlock đă
chạy cùng khắp địa cầu, hăm hở xâm lăng, giết người, trong khi đám Eloi
sống nhởn nhơ, vui chơi, không biết có người khác đang khổ đau. Không cần
phải đợi đến mấy trăm ngàn năm mới có con người sống ở hai thái cực như
vậy. Ông Wells mất một năm sau khi Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc. Chắc có lúc
ông đă thất vọng trước sự việc nhân loại dùng những phát minh, trí khôn,
để lăn xe tăng, thả bom tiêu diệt lẫn nhau.
Vượt quá xa trong tương lai kể cũng ngại. Nếu không may máy
thời gian hết xăng, bị kẹt luôn ở thế giới xa lạ, làm sao tôi kiếm được
một chai bia lạnh? t́m đâu ra một tô phở tái? Tôi có thể bấm nút, cho máy
chạy tới chừng một trăm năm thôi, xem thử chế độ Cộng Sản ở Việt Nam có
c̣n hay không? Chắc tôi sung sướng khi thấy một vườn hoa rực rỡ, đầy sức
sống tại một nơi trước kia là một cái lăng ảm đạm. Nơi ấy không c̣n một
xác người xám ngoét, lạnh ngắt, nằm ́ một chỗ mà ám ảnh dai dẳng cuộc đời
của mấy thế hệ bị dạy dỗ phải suy tôn xác ma như thần thánh. Liệu một trăm
năm sau quê hương tôi có được hưởng thái b́nh, thịnh vượng như lời cầu
nguyện mỗi đầu xuân, hay vẫn bon chen, lấp vá cuộc sống nghèo kém bằng
những mỹ từ bắt chước văn minh, tự măn theo định mệnh muôn đời của một
quốc gia nhược tiểu.
Một trăm năm kể cũng c̣n xa. Thử chạy máy tới vài chục năm xem
sao. Mỗi lần vợ chồng tôi căi nhau, hay nói một cách lịch sự là chúng tôi
có “bất đồng ư kiến”, nàng thường cong môi, dí câu nầy cho tôi im miệng,
tin chắc đánh trúng tim đen của tôi, “Thôi em chết quách cho rồi, cho
anh muốn kiếm bà nào, con nào khác dễ chịu hay cà chớn th́…ráng mà chịu!”
Những lúc nóng, lên máu anh hùng xạ điêu…điên, tôi cũng đâu có
vừa, hàng tôm hàng cá đâu thua ai, trợn mắt, nói lại liền, “Anh sẽ chết
trước cho em biết. Xem thử có thằng cha nào khác chịu nỗi em hay không.
Đừng tưởng chết trước tui dễ đâu nha.”
Lẽ đương nhiên không đứa nào chết quách, để đứa kia được sung
sướng làm lại cuộc đời ở tuổi c̣ng lưng, sắp chống gậy. Nếu có máy thời
gian, tôi muốn chạy tới vài chục năm, xem vợ chồng tôi đứa nào được toại
nguyên, hả dạ. Biết đâu tôi hên, “bắt” được một “em” trẻ hơn tôi 20 tuổi.
Ở tuổi “tám bó”, tôi kiếm được một “em” khác, ngon lành ở tuổi 60. Em nầy
thích ngắm hoa mỗi khi đẩy xe lăn cho tôi trong viện dưỡng lăo. Biết đâu
vợ tôi cũng kiếm được một “gă” ngồi lái xe mui trần chạy 10 dặm một giờ,
gây kẹt xe trên xa lộ, tuổi thuộc hàng “thất thập cổ lai hi”.
Ở tuổi trung niên, thật t́nh tôi không c̣n mơ ước, hoài tưởng,
không ngóng quá trớn đến tương lai mà thường nh́n ngược về quá khứ, rờ rẫm
những kỷ niệm chất đầy trong nhà, được trân quí như những món đồ vô giá mà
bán "garage sale" chẳng ai thèm sờ tới. Nếu được lái máy thời gian, tôi
muốn quay về kiếp trước, xem thử ḿnh là …giống ǵ, người hay thú, dữ hay
hiền? Biết đâu kiếp trước tôi từng là một nàng công chúa xinh đẹp, làm vở
trái tim của nhiều chàng muốn làm pḥ mă, nên kiếp nầy bị xuống cấp, phải
làm đàn ông, bơi ngược ḍng sông, mệt đờ hơi rượt theo các nàng, trước khi
được vợ thương t́nh vớt về nuôi. Biết đâu tôi từng là một bạo chúa, bắt
dân phải đốt sách, nên kiếp nầy khổ sở v́ chữ nghĩa, mang nghiệp chướng
viết không ra tiền.
Nếu có máy vượt thời gian, tôi muốn biết nghiệp viết của tôi
bắt đầu từ thuở nào. Một nơi mà tôi có thể lướt máy về, lượn vài ṿng bên
trên những mái tôn xập xệ, trước khi đáp xuống như đáp dĩa bay không gian,
là chợ Xóm Mới ở Nha Trang. Ở xóm chợ đó, tôi không nhớ ḿnh viết một chữ
nào mà ḿnh có thể gọi là “sáng tác”. Tôi chỉ nhớ ḿnh được đọc những
quyển sách đầu đời. Trong khoảng thời gian máu lửa chiến tranh, từ đợt
tổng tấn công của Việt Cộng trong dịp Tết Mậu Thân năm 1968 đến mấy trận
đánh tại Hạ Lào năm 1971, tôi vùi đầu đọc truyện vẽ, sách thiếu nhi. Nhân
vật cao-bồi viễn tây Lucky Luke cũng bắn nhiều phát đạn, chu môi
thổi khói súng sau mỗi lần dẹp tan âm mưu du kích của bốn anh em tứ quái,
mà sao không thấy ai nằm chết la liệt như trong phim chiến sự. Gă phù thủy
trong loạt truyện h́nh Ś Trum (Les Aventures des
Schtroumpfs) cũng pha thuốc mê. Bày mưu tính kế ám hại đám “Tí nhân”
màu xanh dương sống trong một ngôi làng giữ rừng thời trung cổ, mà sao
không thấy làng bốc cháy, người dân phải bồng bế t́m đưởng tản cư.
Tôi say mê đọc truyện h́nh, t́m nguồn vui bên trên xóm chợ,
bên ngoài một cuộc chiến tàn bạo mà quen thuộc đang bao quanh một đứa bé
chín mười tuổi. Cha tôi đi lính, tử trận mấy năm trước đó. Mẹ tôi bị đẩy
ra ngoài gia đ́nh của chính bà, phấn đấu nuôi hai con trong một quán chợ.
Em tôi c̣n nhỏ, không biết đọc truyện. Riêng tôi, cơn mê đọc sách đưa tôi
ra khơi trên một chiếc thuyền mong manh chữ nghĩa, khao khát t́m đến những
chân trời xa lạ trên những trang giấy. Cứ vài ngày tôi đi bộ đến một ngơ
hẻm bên ngoài chợ, bước vào một căn pḥng rất nhỏ, chỉ đủ cho hai hoặc ba
người đứng giữa những chồng sách chất từ sàn gỗ đến trần nhà. Tôi lục lọi
trong núi sách, t́m một cuốn thuê về đọc. Xem hết những truyện vẽ dành cho
trẻ em, tôi ngần ngại cầm những cuốn tiểu thuyết. Sách của người lớn hoặc
của người…sắp lớn sao mà dày cộm, nhiều chữ quá, không thấy h́nh. Làm sao
tôi có đủ khả năng để đọc hết một cuốn tiểu thuyết? Sau mấy lần phân vân,
tôi chọn một cuốn khá dày. Lúc nhận tiền đặt cọc, ông chủ cho thuê sách
nh́n tôi vài giây như muốn hỏi, "Liệu chú mày có đọc nổi hay không mà
lấy cuốn sách dày quá vậy? Sao không chọn cuốn mỏng hơn?"
Cầm sách về chợ, tôi cũng tự hỏi trong ḷng như vậy, sợ không
hiểu nổi cốt truyện mà lại tốn tiền gấp mấy lần so với xem truyện h́nh.
Sau những buổi trưa hè và đêm thức đọc sách, say mê lật từng trang giấy,
tôi vui mừng lúc đọc đến những ḍng chữ cuối cùng của cuốn tiểu thuyết đầu
tiên trong đời. Tôi sung sướng, hănh diện, biết ḿnh không ngu dốt như
“dân ở chợ”. Cuốn sách dày gần 600 trang ấy là cuốn “Vô Gia Đ́nh” của nhà
văn Hector Henri Malot. Lúc ông Malot viết cuốn “Sans Famille” vào năm
1878 ở bên Pháp, ông H.G.Wells của tác phẩm “Máy Thời Gian” chỉ mới có 12
tuổi, có lẽ đang học nghề với một người thợ ở bên Anh. Lúc đó cha của ông
Wells bị thương ở chân trong một tai nạn, phải cho các con đi học nghề để
nuôi thân. Giữa những lần học nghề thất bại, cậu bé Wells cảm thấy thích,
vui sướng hơn mỗi khi bước vào thư viện của thành phố, thả hồn theo những
tiểu thuyết đương thời mà có lẽ trong đó cũng có cuốn “Sanc Famille” của
nhà văn Pháp Malot.
Cuốn tôi đọc do ông Hà Mai Anh chuyển sang tiếng Việt, được
giải thưởng vào năm 1970 của chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa. Mẹ tôi cũng đă
đọc “Vô Gia Đ́nh”, khen tôi c̣n nhỏ mà biết đọc sách. Bà cũng khuyên tôi
hăy đọc những tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn. Sau nầy tôi mới biết mẹ chỉ
thích sách của Khái Hưng, Nhất Linh, mặc dầu bà có đọc những tác giả khác.
Khi nghe tôi viết sách, mẹ từng nói, “Hăy viết như Tự Lực Văn Đoàn ấy.
Thế mới hay”. Có lẽ bà được đọc Tự Lực Văn Đoàn trong thời gian êm đẹp
nhất của thời thanh xuân, trước ngày chôn xác cha tôi, trước khi lăn xả
vào cuộc sống ở chợ, phải đỏ mặt, trừng mắt trong những lần căi nhau mà có
lúc cần phải giải quyết bằng bàn tay giật đánh, ném những trái cân vào kẻ
đang xông tới quán, bảo vệ miếng cơm cho con. Cũng với bàn tay thô mạnh,
gân guốc ấy, mẹ tôi lần giở những trang sách, t́m thiên đường bên trên một
cuộc đời có quá ít niềm vui. Không cần lời mẹ khuyên, tôi cũng đọc Tự Lực
Văn Đoàn, cảm thấy gần gũi hơn với nhà văn Thạch Lam. Ông viết với t́nh
cảm chân thật, nh́n ra những nét đẹp hiếm hoi, tấm ḷng con người trong
những cuộc đời khốn khổ.
Có lẽ nhà văn Malot cũng vậy. Ông đă lôi cuốn tôi qua mấy trăm
trang sách bằng lối viết rất cảm động. Tôi ráng đọc hết sách cho dù không
giỏi chữ, có khi không hiểu hết ư nghĩa của truyện. “Vô Gia Đ́nh” mở đầu
với một đứa trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, được một cặp vợ chồng nuôi nấng. Năm
Minh được tám tuổi, người chồng bị tai nạn, bà vợ quyết định bán em cho
một ông lăo diển tṛ rong. Cùng với ông lăo, một con chó và một con khỉ,
Minh “hay Remi trong nguyên tác tiếng Pháp” lang thang khắp nước Pháp và
xứ Anh. Nhiều biến cố, tai họa liên tục xảy ra cho nhóm diễn rong. Minh
dùng trí khôn, ḷng can đảm để vượt qua những thử thách trước khi t́m được
gia đ́nh.
Đoạn đầu của cuốn sách đă khiến tôi rơi lệ, muốn đọc tiếp đến
hết cuốn truyện. Có lẽ giống mẹ, tôi ít khóc trong thời thơ ấu. Tôi không
khóc khi biết cha mất, không khóc ngày gia đ́nh bên ngoại bỏ rơi mấy mẹ
con khi đạn pháo kích rớt vào một thành phố hổn loạn, mở đường cho quân
Cộng Sản chiếm Sài G̣n. Vậy mà tôi rơi lệ ở đoạn Minh phải xa mẹ nuôi, đi
theo một ông lăo xa lạ và gánh hát nhỏ của ông. Nếu có máy thời gian, tôi
sẽ thấy lại quán của mẹ tôi trong góc chợ Xóm Mới, gần nhà vệ sinh công
cộng. Mỗi đêm ba mẹ con ăn cơm, đọc sách trong ánh đèn dầu, cùng lúc có xe
ba gác chở thùng đến hốt phân tại nhà vệ sinh. Trong một đêm hôi hám như
thế, tôi khóc khi đọc đến đoạn đứa bé phải rời một miền quê yêu dấu. Đoạn
ấy đượcviết như sau:
“Tôi thấy bàn tay ông già cầm cổ tay tôi kéo đi. Phải đi.
Than ôi! Ngôi nhà yêu dấu, khi bước chân khỏi cửa, tưởng chừng
như tôi đă để lại một miếng da miếng thịt của tôi.
Tôi cất tiếng gọi:
-Mẹ
ơi! Mẹ Liên ơi!
Nhưng không
ai trả lời. Tiếng kêu của tôi nghsẹn dần. (…)
Đi được vài
bước, tôi quay đầu lại. Chúng tôi đă đi qua đỉnh núi. Tôi không nh́n thấy
thung lũng và nhà tôi nữa. Xa xa, chỉ thấy những ngọn đồi xanh lô nhô trên
nền trời cao rộng. mắt tôi nḥa trong khoảng vô tận.”
Tôi xúc động, thương cho đứa bé bất hạnh phải rời xa quê
hương, mà cũng buồn lo cho thân phận chúng tôi có ngày phải rời bỏ quán
chợ, lang thang đến một nơi xa xăm vô định. Quán cũng là nhà che chở ba mẹ
con, cho dù quán phảng phất mùi xú uế mỗi đêm. Con không cha như nhà không
nóc, người ta thường nói vậy. Tôi thiếu cha nhưng không bao giờ thiếu một
mái nhà, nhờ t́nh thương của mẹ và nhờ những cuốn truyện mà tôi hằng t́m
nơi nương tựa.
Nếu có máy thời gian, tôi sẽ nương theo, t́m về một chốn nào
đó trên miền núi Ban Mê Thuột. Miền đất đỏ cao nguyên ngày ấy là nơi duy
nhất tôi c̣n vài kỷ niệm với cha. Đúng hơn là chỉ có hai kỷ niệm trong trí
nhớ, mà đều không vui. Cha tôi đi lính Bộ Binh, mẹ tôi bồng bế hai con
theo chồng. Một ngày mưa tầm tả, tôi chừng bốn tuổi, nghịch ngợm t́m những
nơi dột trong nhà. Thấy nước mưa từ trên mái tôn rơi xuống, tôi tḥ đầu,
cố ư để những giọt nước rớt trúng đỉnh đầu, càng gần xoáy tóc càng vui,
nghe tiếng nuớc rơi đều trên óc. Cha tôi la con vài lần, thấy tôi không
ngưng hứng nuớc mưa trên đầu, liền bế thằng con lên đùi và đánh mấy phát
vào mông. Nghe tôi khóc lớn quá, mẹ can cho yên chuyện. Trong mấy năm tôi
mới lớn, cứng đầu, không nghe lời, mẹ thường mắng, “Phải chi ba mầy c̣n
sống, đánh cho mầy một trận như hồi mưa dột, tao mệt quá, nói không nổi.”
Nhờ mẹ la hoài mà tôi không quên kỷ niệm “mưa cao nguyên” của tôi với cha.
Kỷ niệm thứ nh́ xảy ra ở ngoài đường. Chắc hôm ấy cha tôi thấy
trời nắng đẹp, vui vui sao đó, nên đạp xe chở tôi theo ngồi ở đằng sau.
Cha con dạo một ṿng trên những con đường đất của Ban Mê Thuột. Tôi c̣n
bé, cẳng ngắn, đong đưa đôi chân ở hai bên xe. Trong một lúc đổ dốc, có lẽ
ông cao hứng, đạp ào ào như một thể tháo gia tham dự Tour de France, phóng
đến Khải Hoàn Môn, quên cậu con đang ngồi ôm chặt ghế đằng sau, sợ xanh
mặt. Xe nghiêng môt bên, khiến tôi tḥ một bàn chân vào trong bánh đang
quay nhanh. Xe bị vướng chân, ngă ào xuống đất. Máu từ mắt cá chân tôi
chảy ướt bàn tay xoa của cha. Ông vội vàng nhờ người đưa tôi vào bệnh viện
cấp cứu. Mấy tháng sau khi xảy ra biến cố xe đạp, ba tôi tử trận trong một
cuộc phục kích của Việt Cộng tại Tuy Ḥa. Ông mất lúc chưa được ba mươi
tuổi. Tôi lành vết thương từ lâu, thỉnh thoảng sờ lại vết sẹo trơn láng
trên mắt cá bên chân phải mỗi khi chạnh nhớ đến cha.
Thỉnh thoảng tôi vẫn nghĩ đến cha, như một lần Tết về thăm gia
đ́nh ông ngoại ở Sài G̣n. Ông ngoại tôi khó tính, không thương mẹ tôi như
thương mấy người con với bà vợ thứ nh́. Bà ngoại ruột của tôi mất sớm, để
lại hai đứa con gái cho một người chồng luôn ao ước có con trai. Ngày tản
cư ở miền Bắc, rời vùng Việt Minh kiểm soát, ông tôi không muốn người
trong làng biết gia đ́nh trốn về thành phố, sai mẹ tôi ở lại coi nhà, đun
rơm như vẫn sinh hoạt b́nh thường. Lúc đó mẹ tôi mới gần mười tuổi, ở nhà
một ḿnh giữa một miền quê đang bao trùm trong không khí hận thù, chém
giết có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Đến khi hiểu ḿnh bị bỏ rơi, mẹ tôi hốt
hoảng chạy theo người quen về thành phố. T́m được gia đ́nh, mẹ tôi bám
chặt theo ông cho đến ngày di cư vào Nam. Càng bị ruồng bỏ, hắt hủi, mẹ
tôi càng quí ông ngoại hơn, bám víu vào hy vọng một ngày kia cha sẽ hồi
tâm. Mỗi mùa xuân ông có ban phát một chút t́nh thương cho ba mẹ con, cho
phép chúng tôi từ Nha Trang về thăm gia đ́nh ở Sài G̣n. Mẹ tôi nghèo, góa
bụa, không có ǵ cho ông ngoại hănh diện. C̣n tôi dưới mắt ông, chỉ là một
thằng cháu xấu đen như dân Thượng miền Trung, chậm chạp, kém lanh lợi,
không thông minh. Ông chẳng bao giờ xoa đầu, cho tôi một lời khen. Ông
cũng không cho tôi đến gần và cấm ngồi trên giường nệm của ông.
Mỗi khi không bị sai vặt trong một căn nhà chuyên bán chiếu
nằm trên đường Tôn Đản, tôi thường leo lên gác trên, chơi bên cạnh những
kệ chiếu cao ngất. Một bữa Tết kia tôi được mẹ mua một con búp-bê Batman
dài bằng cánh tay. Tôi và chàng hiệp sĩ Người Dơi đă tung chạy bắt kẻ gian
giữa những tấm chiếu. Măi vui, tôi thảy Batman lên cao, khiến chàng hiệp
sĩ bay rớt qua khung cửa sổ, bị kẹt sâu giữa hai bức tường nhà. Đúng lúc
tôi ngóng cổ, cố gắng dùng cây khều Batman, ông ngoại lên gác xem xét động
tĩnh. Khi biết chuyện, ông mắng tôi ngu như Thượng, dốt như “dân ở chợ”.
Tôi không dám nh́n lên ông ngoại, chỉ biết len lén ngó theo chàng hiệp sĩ
đang nằm úp mặt chổng hai chân lên trời. Lúc ấy tôi có nghĩ đến cha tôi,
tưởng tượng cha không thật sự chết trận, bị lầm lẫn với người khác và vẫn
c̣n sống. Cha tôi sẽ t́m hai đứa con, che chở chúng trong những lúc nguy
nan. Nhưng cũng như chàng hiệp sĩ đồ chơi của tôi bị kẹt giữa hai bức
tường, cha đă nằm yên dưới huyệt mộ, muôn đời không xuất hiện trong cuộc
đời của chúng tôi. Về lại xóm chợ ở Nha Trang từ ngày Tết đó, tôi đọc
nhiều hơn, kể cả cuốn tiểu thuyết đầu tiên trong đời.
Nếu có máy thời gian, tôi mong trở về một mùa xuân c̣n có cha.
Cho dù bị cha bợp tai v́ tội đưa đầu hứng mưa, hay bị cha chở trên xe đạp,
hoảng sợ như sắp té, tôi vẫn mong có một mùa xuân với ông. Trong trí nhớ
tôi không có mùa xuân nào với cha, không có tiếng pháo, bánh chưng, hay
tiền ĺ x́ của ba.
“Bố muốn gặp lại cha của bố, ông nội của con” tôi trả
lời vắn tắt nhân dịp trở lại câu chuyện với con gái tại bàn ăn.
“Vậy hả bố?” con tôi mở tṛn hai con mắt.
“C̣n con th́ sao? Nếu có máy thời gian con muốn đi đâu?”
tôi hỏi lại
“Con không biết. Thật sự không biết” con tôi trả lời.
bằng tiếng Anh, sau vài giây nghiêng đầu im lặng.
Không nói ra nhưng tôi thầm mừng cho con. Không cần đi đâu
trong thời gian ở phía trước hay ở đằng sau có lẽ là điều tốt. Mong một
ngày kia con tôi không cần dùng máy thời gian, để t́m tôi trong kư ức của
nó. Máy chỉ cần thiết cho tôi, nguời muốn bay t́m trong quá khứ mông lung,
mong ḥa giải với chính ḿnh trước những nỗi niềm chưa nguôi cho dù thời
gian đă trôi quá nửa đời người. Thốt nhiên, tôi chợt thấy ra ḿnh đă có
máy vượt thời gian từ lâu mà ḿnh không biết đó thôi. Với những ḍng chữ
đang viết trên giấy, tôi có thể bay xa hàng triệu năm từ tương lai đến quá
khứ, bay cái vèo dễ như chơi, qua mấy đoạn đời trong muôn kiếp người.