Home

Trang Chính

Bản Tin

Sinh Hoạt

Tham Luận

Hoài Băo Quê Hương

Văn Học Nghệ Thuật

Thư Tín

Bài vở xin gửi về địa chỉ sau đây:
3108 E. Sawyer St.
Long Beach, CA 90805

                                                                  

 

MÓN NỢ ÂN T̀NH

        Đêm đă khuya mà Tân vẫn chưa chợp mắt. Mùa đông chợt đến trên miền Nam California, bắt đầu bằng những cơn gió Santa Ana lạnh buốt. Giá lạnh đă khiến người tỵ nạn đến từ một xứ sở xa xôi, nóng bức bên kia bờ đại dương, đêm nay bỗng cảm thấy cô đơn, u buồn và nhung nhớ cố hương. Trong đêm vắng bỗng có tiếng chuông điện thoại réo vang. Một hồi, hai hồi… Tân hết kiên nhẫn, ngồi dậy bắt máy. Có giọng quen thuộc của cậu em vợ gọi từ Việt Nam:

        - Alô! Em là Lương đây. Có chuyện cần báo cho anh chị, nên em mới gọi giờ này. Chắc bên đó đă khuya lắm?

        Tân vội trả lời:  

        - Mới hơn mười một giờ cậu ạ! Tôi chưa ngủ đâu! Nhưng có chuyện ǵ xảy ra bên nhà vậy? Cậu cho tôi biết ngay đi…

        - Dạ không! Gia đ́nh em và các anh chị bên này vẫn b́nh an. Nhưng em vừa được tin từ Thanh Hóa cho biết, chị Thảo bịnh nặng, mới đưa vào bệnh viện hôm nay… Nhà anh chị ấy nghèo lắm, không biết có đủ tiền trả bệnh viện phí, bác sĩ, thuốc men?… Tụi em đă gởi cho anh chị ấy một số tiền chi phí sơ khởi, nhưng chắc phải nhờ anh chị gởi về giúp đỡ thêm…

* * *

        Chị Thảo không phải là chị ruột của Tố Trinh, vợ Tân, mà là chị họ bên nội ở Thanh Hóa. Và nếu không có lần đi tiếp tế cho chồng ở trại “cải tạo” Thanh Cẩm th́ hai người chị em họ ấy không bao giờ gặp nhau. Cái ngày cô bé Trinh đi học lớp ba cấp 1 trường làng ở Thanh Hóa, th́ chị Thảo mới chập chững những bước đi đầu đời cho cuộc sống kham khổ sau này. Năm sau, cô bé Trinh theo bố mẹ “dinh tê” về Hà Nội, và từ đó di cư vào Nam, cũng như hàng trăm công chức chính quyền quốc gia, hàng triệu đồng bào Miền Bắc đă trốn chạy CS, vào Nam năm 1954. Và từ đó, đối với cô, Thanh Hóa của những ngày ấu thơ chỉ là những bóng mờ, ch́m vào dĩ văng lăng quên …  

        Thanh Hóa là một trong số ít tỉnh thuộc quyền kiểm soát toàn bộ của chế độ CS từ năm 1945 đến nay. Tỉnh này nằm ở cực bắc miền trung nước Việt, cách Hà Nội khoảng 140 km về phía Nam. Thời kháng chiến chống Pháp, Thanh Hóa là một trong 6 tỉnh - Thanh, Nghệ, Tĩnh, B́nh, Trị, Thiên - thuộc Liên khu IV của VM. Từ ngày mặt trận Hà Nội bị vỡ (vào đầu tháng 2 năm 1947), trung đoàn Thủ đô của VM rút khỏi thành phố, một số văn nghệ sĩ tại Hà Nội, trong đó có gia đ́nh Thăng Long (gồm Hoài Trung, Hoài Bắc, Thái Thanh và Thái Hằng ) đă tản cư về Thanh Hóa mở quán phở và lập ban hợp ca. Ngoài ra, nhà thơ Hữu Loan, tác giả bài thơ bất hủ “Màu Tím Hoa Sim” cũng là người quê hương xứ Thanh. Có thể nói không ngoa rằng Thanh Hóa là “cái nôi của kháng chiến chống Pháp” tại Liên khu IV, và cũng là nơi quy tụ những “văn nghệ sĩ kháng chiến” tại liên khu này, trước năm 1954.                                                      

        Từ ngày di cư vào Nam, ông bố của Tố Trinh vào làm việc ở bộ Tài chánh, và gia đ́nh cư ngụ trong cư xá công chức đường Cô Bắc, mà thời Pháp có tên là Cité Dumortier. Cũng trong cư xá này có gia đ́nh một công chức làm việc ở bộ Ngoại giao, sau đó chuyển sang phục vụ tại bộ Thông tin VNCH. Gia đ́nh này cũng từng trốn chạy CS từ B́nh Định thuộc Liên khu V về thành phố Huế năm 1954. Và rồi bốn năm sau, họ lại di chuyển vào Sài g̣n, cư ngụ tại cư xá Cô Bắc. Cậu Tân, con trưởng của gia đ́nh từ vùng đất “Tây sơn Nguyễn Huệ”, đă đem ḷng yêu mến Tố Trinh, cô gái của xứ “Lam Sơn Lê Lợi”. Bốn năm sau, khi Tân tốt nghiệp trường Hành chánh Sài g̣n, họ lấy nhau. Và sau tám năm “hương lửa đang nồng”, chàng trai xứ dừa B́nh Định đă bị “bên thắng cuộc” đưa đi nhốt tù tại trại “cải tạo” Thanh Cẩm, trên thượng nguồn sông Mă xứ Thanh.

* * * 

        Trại Thanh Cẩm là một trong nhiều trại “cải tạo” nằm dọc trên thượng nguồn sông Mă. Trại nằm trong thung lũng, bao quanh bởi những dăy núi cao. Vào cuối năm 1976, Tân cùng một số bạn đồng tù xuống tàu từ bến Tân Cảng Sài g̣n, và sau hai ngày một đêm, tàu đến bến tàu Hải Pḥng. Rồi từ đó, đoàn xe Isuzu - với “màn che trường phủ” kín mít, chất đầy những “cải tạo viên” miền Nam tay bị xích vào nhau từng cặp - chạy suốt đêm vào Thanh Hóa, rồi lên phía tây bắc đến trại Thanh Cẩm vào sáng hôm sau.

        Trong năm năm bị giam cầm nơi đây, phải làm những công việc lao động cực nhọc, bị thiếu ăn triền miên, cùng với tâm trạng nhớ thương gia đ́nh ở Miền Nam xa xôi, Tân trở nên gầy ốm như “bộ xương cách trí”. Hàng ngày, anh phải gánh nước từ sông Mă, từng bước men lên triền đồi cao để tưới vườn rau trước cổng trại. Những lúc nghỉ giải lao ngắn ngủi, anh thường ngồi bên bờ sông Mă, ngắm cảnh rừng núi bao quanh. Khi nắng chiều sắp tắt, hơi sương giăng giăng mờ mịt trên ḍng sông trông như giải lụa bạch uốn khúc, len lỏi giữa núi đồi trùng điệp. Anh liên tưởng đến bức tranh thủy mặc cổ xưa bên Tàu, có núi non ẩn hiện xa xa, có gịng sông lượn lờ uốn khúc, và trên bờ sông có ngư ông Lă Vọng ngồi câu cá chờ thời. Anh ngồi bên bờ sông Mă này, nh́n ḍng nước trôi, trôi đi măi, mà đă bao năm dài, vẫn c̣n bị giam giữ măi nơi đây! Anh  không ngồi đây không chờ thời như ngư ông Lă Vọng, mà chỉ mong có ngày thoát khỏi chốn “địa ngục trần gian” này.

        Anh chợt nhớ bài cổ thi Cảm Hoài của Đặng Dung, người tráng sĩ đời Hậu Tấn bên Tàu, chẳng may không gặp thời thế, thù nước trả chưa xong th́ tuổi đă già, đầu đă bạc:

Thế sự du du nại lăo hà?
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời lai đồ điếu
thành công dị,
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa

Trí chủ
hữu hoài phù địa trục,
Tẩy binh vô lộ văn thiên hà.
Quốc thù vị báo
 đầu tiên bạch,
Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.

            (Bản dịch của Phan Kế Bính:

Việc đời bối rối tuổi già vay,
Trời đất vô cùng một cuộc say.
Bần tiện gặp thời lên cũng dễ,
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay.
Vai khiêng trái đất mong pḥ chúa,
Giáp gột sông trời khó vạch mây.
Thù trả chưa xong đầu đă bạc,
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.

        Đến năm 1977, sau một thời gian “giữ bí mật” địa điểm trại “cải tạo” Thanh Cẩm, cán bộ trại  cho phép “cảỉ tạo viên” viết lá thư đầu tiên về thăm gia đ́nh trong Nam. Tuy nhiên phải “học tập” trước khi viết, với những lời lẽ khuôn sáo, khác xa sự thật: “…Cuộc sống trong trại cải tạo rất tốt. Trại viên được ăn uống vừa đủ để lao động…mọi người đều thi đua học tập tốt, lao động tốt để sớm về với gia đ́nh, góp phần xây dựng xă hội chủ nghĩa phồn vinh…”! Điều nghịch lư và đau ḷng là tiếp theo những lời thư “hồ hởi, phấn khởi” ấy, thoáng hiện những lời thống thiết của những trại viên ốm đói sắp kiệt lực v́ lao động khổ sai: “Xin gởi gấp một ít ḿ gói, đường, cơm khô v.v…” Hoặc “Xin gởi gấp thuốc đau bụng tiêu chảy, thuốc trụ sinh càng tốt v́ bị bệnh kiết lỵ trầm trọng v.v…” Những lá thư như thế phần lớn mang lại kết quả bất ngờ. Trong thời gian ngắn, quà cáp, thuốc men được người nhà trong Nam gởi vào người thân trong trại. Sau đó là một đợt thăm nuôi đầu tiên, với quà cáp dồi dào hơn.   

        Vợ Tân cũng nhận được lá thư “giống như một thực đơn” của người chồng gởi từ trại Thanh Cẩm xa xôi gởi về. Một nách bốn con, không kiếm được việc làm v́ lư lịch “có chồng nguỵ”, nên nàng phải đi xin bố mẹ một ít tiền để mua ḿ gói, rồi gởi cho cô em họ ngoại ở Thanh Hóa, nhờ thay ḿnh vào thăm chồng… Tuy nhiên, khi nhận được quà, cô em họ đă mở ra “nếm thử” món ḿ ăn liền Vị Hương sản xuất trong Nam, lạ lẫm và ngon lành đối với cô ta! Lần sau, Tố Trinh gởi tiếp cho một người em họ khác, để nhờ mang gói quà tiếp tế vào cho Tân. Kết quả là hai lần nhận quà của Tố Trinh nhờ chuyển tiếp vào trại, hai cô em họ đều “nếm thử” sạch bóng, khiến Tân thêm khổ đau v́ hai lần bị “ăn bánh vẽ”! Tố Trinh vẫn nhận được thư “ṿi quà” của chồng, nhưng không thấy đá động ǵ đến những gói quà nàng đă gởi. Nàng sinh nghi, quyết định “thân chinh” ra thăm nuôi chồng một phen…   

        Sau mấy ngày chạy đôn chạy đáo xin giấy phép thăm nuôi chồng đi “cải tạo”, rồi  giấy phép “tạm vắng” để di chuyển đi xa, Tố Trinh được mẹ chồng cho một ít tiền và sau đó nàng theo mẹ chồng đến nhà bà con nhờ giúp đỡ thêm để mua đồ tiếp tế cho chồng. Nàng đến nhà ông chú, được biếu cho một kư đường đen… Khi nh́n theo người cháu dâu buồn bă ra về, bà thím động ḷng trắc ẩn, gọi lại rồi tháo ngay chiếc nhẫn vàng trong tay đưa cho cháu:

        - Cháu sắp ra Bắc thăm chồng. Chú thím không sẵn quà cáp ǵ gởi tặng, chỉ có một chỉ vàng này. Cháu cầm lấy, bán đi để làm lộ phí và mua thực phẩm tiếp tế cho nó. Chắc nó thiếu ăn, đang trông ngóng đồ tiếp tế lắm cháu à!

        Và rồi sau đó, những người láng giềng tốt bụng cũng biếu quà thăm nuôi, với những món thực phẩm tự tay làm lấy... Thế rồi Tố Trinh gởi bốn con thơ cho bố mẹ trông nom, nhờ những người nhà chở nàng và hai bao hành lư lên đường đi thăm người chồng, người chồng mà đă đă lâu rồi nàng và các con không được gặp mặt.

        Sau gần hai ngày ngồi trên chuyến xe lửa Thống nhất, nàng mới đến Thanh Hóa. Tố Trinh quên đi một phần lo lắng, mệt nhọc và cô đơn của người thiếu phụ trẻ, một thời là cô nữ sinh Gia Long ở tuổi mộng mơ hoa bướm; là cô thư kư Tổng Nha Ngân Sách Ngoại Viện Sài G̣n trước năm 1975. Và ngày nay nàng chỉ là một thiếu phụ trẻ “thân gái dặm trường”, lần đầu tiên đi xa, giữa một đám hành khách xa lạ, hỗn tạp!  Vào chiều tối, xe lửa dừng lại ở nhà ga Thanh Hóa, nhưng Tố Trinh chưa dám xuống xe. Nàng ngồi nán lại, chờ bà con bên họ nội hay họ ngoại của nàng ra đón như đă gởi thư hẹn trước. Bỗng nàng thấy có bóng hai người tất tả đi dọc theo các toa tàu và gọi to: “Tố Trinh ơi! Cháu ngồi ở đâu?… Chị Trinh ơi! Em đến đón chị đây!”

        Tố Trinh nh́n ra ngoài toa tàu. Hai người bà con mà lần đầu tiên nàng mới gặp mặt, đang gọi tên nàng. Nàng vui mừng, tḥ đầu ra cửa sổ gọi to: “ Trinh đây. Trinh đây!”  Hai người ấy vội bước lên toa tàu đến gần nàng. Một người tự xưng là Bác Cả, dáng gầy gầy, vui mừng chào đón cô cháu họ đă xa cách quá lâu! Người kia là cô gái trẻ, người chị họ chưa bao giờ biết mặt cô em Tố Trinh…Cô chị họ có dáng người khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, vui tươi... Nàng mang theo đôi quang gánh để chuẩn bị gánh quà cho cô em sắp lên trại Thanh Cẩm thăm chồng “cải tạo”. Thế là Tố Trinh, người con gái xứ Thanh năm xưa bỗng thấy ḷng ấm áp khi trở về quê xưa, sau hơn ba mươi năm xa cách. Nàng bước theo Bác Cả, chị Thảo gánh hai gói quà theo sau… Họ đi bộ khoảng vài cây số để về nhà. Đường quê khúc khuỷu, gập ghềnh, tối tăm, nhưng nàng thật an ḷng khi đi giữa hai người bà con họ hàng mà đă lâu nàng mới gặp lại…

        Sáng hôm sau, một người bà con khác là Cậu Bốn, nghe tin có cháu từ Sài G̣n ra, vội đến thăm. Cậu Bốn là một người bà con họ ngoại của Tố Trinh. Dáng người to lớn, nhưng hơi lùn thấp, mặc chiếc áo bốn túi đă bạc màu, đội chiếc nón cối đă cũ, trầm ngâm im lặng… Người đàn ông cao niên này có tác phong của một cán bộ thời VM năm xưa... Nghe tin cháu sắp lên trại “cải tạo” thăm chồng, người cậu họ có thái độ lo ngại, e dè hỏi thăm xă giao về gia đ́nh bố mẹ nàng ở Sài G̣n. Tuy nhiên ông cũng sẵn sàng hướng dẫn Tố Trinh lên đường đi đến trại Thanh Cẩm.

        Hai cậu cháu theo chị Thảo, với đôi quang gánh kĩu kịt trên vai, đi bộ ra bến xe đ̣ mua vé lên huyện Cẩm Thủy. Đó là một huyện trung du, về phía Tây Bắc tỉnh Thanh Hóa. Huyện lỵ cách thành phố Thanh Hóa 70 cây số đường chim bay. Họ lên chiếc xe đ̣ cũ kỹ, chậm chạp ḅ trên con đường đá lồi lơm, cao dần lên dốc núi. Đến bến xe huyện, họ đă thấy những chiếc xe trâu đậu sẵn để đưa họ vào trại “cải tạo”. Mỗi xe trâu được điều khiển bởi một người tù h́nh sự địa phương, đang ở trong t́nh trạng tự giác. Người này đă ở tù quá lâu, được trại tin tưởng, cho đi lao động tự giác bên ngoài theo chỉ định của cán bộ trại.

        Sau khi người lái xe trâu cho biết tên trại “cải tạo” của ḿnh, thân nhân đi thăm nuôi chất các gói quà lên xe. Người lái lên xe, điều khiển con trâu đi trước, thân nhân trại viên theo sau. Suốt quăng đường núi dài 5 cây số, khi lên dốc cao, đoàn người lê bước nặng nhọc theo xe trâu. Khi xe xuống dốc, trâu chạy nhanh, đoàn người ấy cũng phải cố gắng chạy theo! Măi đến chiều, khi mặt trời đă ngă hoàng hôn trên dăy núi bao quanh trại, đoàn người thăm nuôi mới đến nơi. Họ được “bố trí” nghỉ qua đêm trong dăy “nhà khách” cạnh ban chỉ huy của trại.

* * *

        Cũng vào buổi chiều hôm ấy, Tân đang mệt nhọc, uể oải tưới những luống rau cuối cùng trong ngày. Bỗng anh em đồng tù ngưng tay cào cào xới xới những luống rau muống chen đầy cỏ dại, nh́n về phía ngọn đồi thấp kêu lên :

        - Thăm nuôi! Thăm nuôi… Anh em ơi!

        Tiếp theo là những tiếng kêu vui mừng như “đám trẻ ṿi quà khi mẹ về chợ”:

        - Mẹ ơi! Con đây nè! Em ơi! Anh đây nè! Có nhiều quà cho anh không?  

        Tân cũng ngừng tay tưới nước, ngẩng lên nh́n về phía đồi núi. Bóng chiều đang trải dài trên ngọn đồi thấp phía trước trại. Trên con đường đèo từ ngọn đồi dẫn vào trại, một đoàn người toàn nữ giới, y phục có dáng dấp thành thị, đang lê từng bước nặng nhọc theo chiếc xe trâu chất đầy những bao quà cáp thăm nuôi. Tân nh́n đoàn người. Họ là những “nàng tiên kỳ diệu” từ Miền Nam xa xôi, mang hạnh phúc đến các trại viên “cải tạo” đang mong ngóng thân nhân. Bóng dáng họ thấp thoáng xa xa, mờ nhạt trong sương chiều, không rơ trong số đó có Tố Trinh yêu thương của anh không? Phân vân trong ḷng, Tân im lặng theo anh em xuống bến sông tắm rửa, trước khi trở về trại, vào buồng giam như thường lệ…

        Buổi tối hôm ấy, cán bộ trại vào mở cửa buồng giam, đọc tên những người có thân nhân thăm nuôi, trong đó có tên của Tân…Suốt đêm anh không ngủ được. Anh vừa mừng, vừa lo. Liệu trong ba mươi phút gặp gỡ Tố Trinh, anh biết nói những ǵ để vơi đi bao nhung nhớ, thương yêu anh đă ấp ủ trong ḷng năm năm qua?

        Ngày hôm sau, Tân và các bạn đồng cảnh may mắn xếp hàng ra gặp thân nhân tại “nhà khách”, ngoài ṿng rào trại. Mọi người đă được lệnh cấm: không được “hủ hóa” như ôm nhau, hôn nhau; không được nói tiếng “nước ngoài”, không được lợi dụng nắm tay nhau để trao đổi thư từ, tài liệu phản động…Trại viên và thân nhân nghiêm chỉnh ngồi hai bên chiếc bàn dài, trao đổi lời thăm  hỏi, an ủi nhau. Người cán bộ trại ngồi đầu bàn, cầm tờ báo vờ đọc, theo dơi những trại viên vi phạm lệnh cấm ...

        Nh́n người vợ mặc chiếc áo nâu lam lũ, thân h́nh gầy ốm, nét mặt mệt mỏi nhưng cố mỉm cười làm vui, Tân thật đau ḷng. Anh với tay ra, muốn nắm lấy bàn tay nhỏ bé của nàng bên kia chiếc bàn phân cách, muốn nói những lời âu yếm cho bỏ nhớ thương…Nhưng nàng liếc nh́n người cán bộ ngồi đầu bàn, đưa mắt nhắc nhở chồng đừng “vi phạm nội quy”! Thế ra những người đi thăm nuôi cũng phải “học tập nội quy của trại”, trước khi gặp thân nhân “cải tạo”?

        Người cậu họ của nàng ngồi thu ḿnh trong chiếc áo bốn túi, im lặng, cảnh giác… Trông ông như con rùa sẵn sàng rụt cổ trong cái mu của nó để tránh tai họa! Chị Thảo, trái lại đă mỉm cười chào Tân, người chồng “cải tạo” của cô em họ mới lần đầu tiên gặp mặt. Chị ngồi bên cô em họ Tố Trinh, im lặng nh́n quang cảnh thăm nuôi mà có lẽ mới thấy lần đầu trong đời! Sau chừng ba mươi phút gặp gỡ, buổi thăm nuôi chấm dứt. Tân nhận quà tiếp tế xong, cảm ơn những người đă giúp đỡ vợ anh vào đây thăm anh. Anh nh́n vợ thật lâu, cố ḱm xúc động.  Anh thấy từ mắt Tố Trinh, đôi ḍng lệ chảy dài xuống má, nhưng nàng cố nở nụ cười khi chào từ biệt anh… Nàng bước theo ông cậu họ đi ra cổng trại. Bên cạnh nàng, chị Thảo nắm tay người em họ như để an ủi, xoa dịu nỗi xúc động của người vợ thăm chồng “cải tạo”, mà không biết đến bao giờ họ mới gặp lại nhau? Và từ đó đến ngày được “tha về” với gia đ́nh, rồi sau mười năm sau đi tỵ nạn nơi xứ sở tự do này, Tân không có dịp gặp lại người chị vợ từ tâm và can trường ấy nữa…

* * *

        Đêm nay, tiếng chuông điện thoại đă đánh thức kỷ niệm về buổi thăm nuôi tại trại tù Thanh Cẩm năm xưa. Anh nhớ lại câu nói của người em vợ qua điện thoại từ Việt Nam về việc chị Thảo lâm bệnh nặng! Lâu lắm rồi, từ ngày ra khỏi trại “cải tạo”, rồi sau đó đi tỵ nạn ở xứ sở xa xôi bên kia biển Thái B́nh, anh hầu như quên món nợ ân t́nh đối với người chị vợ năm xưa. Trong khi đó, h́nh ảnh những con người độc ác, tàn nhẫn trong những năm anh ở trong trong trại tù ngày trước, vẫn theo anh canh cánh bên ḷng !

        Đêm nay, những h́nh ảnh thiện, ác năm xưa lại hiện lên… Nó như những chiếc bong bóng đen trắng bay lượn chập chờn, đưa anh vào giấc ngủ đầy mộng mị… Trong mơ, anh thấy ḿnh hóa thành cánh chim khổng lồ, bay qua Thái B́nh Dương mênh mông, trở về quê cũ Sài g̣n. Rồi từ đó bay ra xứ Thanh, thăm người bệnh đang “thập tử nhất sinh”, cận kề với cái chết. Anh muốn gặp lại người con gái cam đảm và nhân ái năm xưa, để trả món nợ ân t́nh mà bấy lâu nay anh hầu như đă vô t́nh quên lăng…   

       Hồi ức
     Tam Bách

 

 

 

Copyright @ 2005 quocgiahanhchanh.com
Webmaster@tranbachthu