TIỂU SỬ
Chúng tôi căn cứ vào tài liệu của các ông Nguyễn Vỹ,
Nhật Tịnh, Phạm Thế Ngũ . . và báo Thế Kỷ 21 số tháng 7 năm 2002 để có vài
nét sơ lược về tiểu sử Nhất Linh cùng quí vị độc giả. Các tài liệu chỉ là
tương đối v́ có khi không giống nhau.
Tên thật là Nguyễn Tường Tam, sinh năm 1906 (có tài
liệu ghi 1905) là người con thứ ba trong gia đ́nh bẩy anh em : 1-Nguyễn
Tường Thụy 2- Nguyễn Tường Cẩm 3- Nguyễn Tường Tam 4- Nguyễn Tường Long
(Hoàng Đạo) 5-Nguyễn Thị Thế 6- Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam) 7- Nguyễn
Tường Bách, nguyên quán tại Cẩm Phổ, Hội An, Quảng Nam. Ông nội là Nguyễn
Tường Tiếp, làm tri huyện Cẩm Giàng, Hải Dương, cụ về hưu tại đây, cha là
Nguyễn Tường Nhu mất 1918, thọ 37 tuổi, một nhà nho không thành đạt, mất
sớm. Bà mẹ tảo tần nuôi các con ăn học, ở trang đầu truyện Thương Chồng,
Nhất Linh đă viết mấy lời tặng mẹ ông, người đă thức khuya dậy sớm đi cân
gạo để nuôi các con ăn học. Hai em ông, Thạch Lam, Hoàng Đạo cũng là những
văn nhân nổi tiếng đă đóng góp rất nhiều cho Tự Lực Văn Đoàn, Nguyễn Tường
Bách cũng đă viết phụ giúp cho Tự Lực Văn Đoàn. Các anh em ông: Nhất Linh,
Hoàng Đạo, Nguyễn Tường Bách . . đều là những người yêu nước nhiệt thành ,
đă hoạt động tích cực cho cách mạng , cho Việt Nam Quốc dân Đảng.
Đậu bằng Cao Đẳng Tiểu Học năm1923, ông có học đại học
một năm rồi học trường mỹ thuật, song lại bỏ ngang. Năm 1927 ông xin đi du
học về ngành chụp ảnh, nhưng khi sang Pháp ông lại chọn ngành khoa học v́
nghĩ rằng đất nước c̣n lạc hậu, học khoa học về để giúp nước, ông đậu cử
nhân khoa học.
Năm 1930 về nước, mua trường Nguyễn Văn Ṭng, sau đổi
tên là trường Thăng Long (École Thăng Long), năm 1932 ra báo Phong Hoá rất
hài hước, chế riễu hủ tục bán rất chạy, mấy năm sau bán lại trường cho một
nhóm giáo sư hùn hợp. Ông thành lập một văn đoàn lấy tên là Tự Lực gồm
Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Hoàng Đạo,Tú Mỡ, Thế Lữ, Nguyễn Gia Trí.
Tờ Phong Hóa ra từ 1932 đến 1936 th́ bị đóng cửa nhưng tờ Ngày Nay vẫn c̣n
hoạt động tiếp tục sự nghiệp văn hóa của văn đoàn. Văn đoàn đă thành lập
được nhà xuất bản những cuốn tiểu thuyết, truyện ngắn của họ, làm giầu cho
văn hóa nước nhà, dùng văn An Nam, tôn trọng tự do cá nhân, chỉ trích
những phong tục lỗi thời, nhằm cải tạo cách mạng xă hội.
Năm 1939, Nguyễn TườngTam thành lập đảng Đại Việt Dân
Chính, tranh đấu giành độc lập, năm 1942 ông sang Tầu hoạt động trong Việt
Nam Cách mạng Đồng Minh Hội với cụ Nguyễn Hải Thần, bị Chính Phủ Trung Hoa
bắt giam v́ họ nghi ông hoạt động cho Nhật, bốn tháng sau ông được thả
cùng Nguyễn Ái Quốc. Sau ông về Côn Minh tranh đấu dưới ngọn cờ Việt Nam
Quốc Dân Đảng. Giữa năm 1945 ông về Hà Giang sau lại sang Côn Minh. Quân
Nhật đầu hàng, năm 1945 tại Hà Nội Việt Nam Quốc Dân Đảng và Việt Minh
tranh giành ảnh hưởng, Việt Quốc đă vây bắt giam Vơ Nguyên Giáp và Trần
Huy Liệu để hăm dọa Việt Minh xong lại thả ra. Khi Việt Minh cướp chính
quyền, Nguyễn Tường Tam vẫn c̣n ở bên Tầu.
Đầu năm 1946 ông về nước, Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh
Hội cũng về Việt Nam, họ thành lập Mặt Trận Quốc gia Thống Nhất để đương
đầu với Cộng Sản đang lộng hành, cụ Nguyễn Hải Thần làm chủ tịch, Nguyễn
Tường Tam làm phó chủ tịch. Quân Tầu của tướng Tiêu Văn sang giải giới
quân Nhật rồi đóng lỳ ra, Việt Minh lại cho quân Pháp vào. Trước áp lực
Tầu Tây đang đóng quân, Việt Nam Quốc Dân Đảng và Việt Minh phải thành lập
chính phủ liên hiệp do Hồ Chí Minh làm chủ tịch, Nguyễn Tường Tam làm bộ
trưởng ngoại giao, đầu tháng 3 năm 1946 ông từ chức v́ lư do riêng.
Năm 1946 tại các tỉnh Trung Du, Việt Quốc t́m cách
triệt hạ Việt Minh , ám sát thủ tiêu Việt Minh nhưng đă bị Vơ Nguyên Giáp
đàn áp thẳng tay, tháng 6 năm 1946 Việt Minh chiếm Phủ Lạng Thương. Tại Hà
Nội, Việt Nam Quốc dân Đảng định đảo chính Việt Minh để đưa Nguyễn Tường
Tam lên làm chủ tịch bị Vơ Nguyên Giáp đàn áp tàn bạo, đẫm máu, sau những
trận giao tranh ác liệt, Việt Minh đă kiểm soát được Việt Tŕ, Phú Thọ,
Tuyên Quang, Hà Giang, Cao bằng, Lạng Sơn, Lào Kay, Nguyễn Tường Tam và
các đồng chí phải rút sang Tầu.
Tại Hà Nội tháng 7 năm 1946, 120 đảng Việt Quốc bị Việt
Minh bắt, súng ống bị tịch thu, ngày 19 tháng 12 năm 1946 chiến tranh Việt
Pháp bùng nổ tại Hà Nội. Tại Trung Hoa, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Việt
Nam được thành lập năm 1947 gồm Nguyễn Tường Tam, Trần Văn Tuyên, Phan
Quang Đán, Nguyễn Văn Hợi, Nguyễn Hải Thần, Lưu Đức Trung. Mặt Trận có mục
đích ủng hộ ông Bảo Đại đương đầu với Việt Minh và Pháp, nhưng năm sau ông
Bảo Đại tự ư kư thỏa ước với Pháp tại Vịnh Hạ Long để được trở về làm quốc
trưởng. Mặt trận chia rẽ, hai ông Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Tường Tam bất
đồng ư kiến, đến năm 1950 th́ tan ră. Các đảng viên Việt Quốc lưu vong
không hợp tác với Pháp cũng như Việt Minh. Khoảng 1950 Nhất Linh về Hà Nội
tuyên bố từ giă chính trường rồi ít lâu sau vào Sài G̣n mở nhà xuất bản
Phượng Giang năm 1952, tái bản lại những sách của Tự Lực Văn Đoàn, năm
1953 ông lên Đà Lạt mấy năm rồi về Sài G̣n hoạt động báo chí ra tờ Văn Hóa
Ngày Nay, phát hành được mười một số th́ bị chính quyền đ́nh bản.
Dính líu đến cuộc đảo chính hụt 11 tháng 11 năm 1960
của Vương Văn Đông và Nguyễn Chánh Thi, Nhất Linh không bị bắt nhưng về
sau bị gọi ra ṭa xử, trước hôm ra ṭa, ngày 7 tháng 7 năm 1963 Nhất Linh
uống thuốc độc tự tử, trong thư tuyệt mạng ông cho biết đời ông để lịch sử
xét, không ai có quyền xét xử ông. VĂN NGHIỆP
Khái Hưng và Nhất Linh đă được dư luận các nhà phê b́nh
và dư luận độc giả coi như hai tác giả lớn nhất của nền văn chương Việt
Nam, Nhất Linh may mắn hơn Khái Hưng, ông c̣n sống sót sau những trận tấn
công của Việt minh nhằm tiêu diệt Việt Nam Quốc Dân đảng nên đường văn
nghiệp của ông dài hơn, những tác phẩm cuối cùng của Khái Hưng viết năm
1945, 1946 chỉ vỏn vẹn có 9 truyện ngắn: Bóng Giai Nhân, Lời Nguyền, Hổ,
Tây Sông Nhà, Quan Công Sứ, Nhung, Khói Hương, Người Anh Hùng, Tiếng Người
Xưa và 3 Vở kịch: Câu Chuyện Văn Chương, Khúc Tiêu Ai Oán, Dưới Ánh Trăng.
Ngược lại những tác phẩm cuối cùng của Nhất Linh thật dài, dài hơn cả
những truyện dài nhất của Tự Lực Văn Đoàn: Xóm Cầu Mới, Gịng Sông Thanh
Thủy.
Nhất Linh viết văn từ lúc mới hai mươi tuổi nhưng không
thành công, các tác phẩm đầu tay của ông như Nho Phong 1924, Người Quay Tơ
1927 chịu ảnh hưởng của Nho giáo, câu văn nhiều sáo ngữ, nói chung hầu như
không được ai biết tới. Đường văn nghiệp của ông thực sự được thành h́nh
và được coi là có nghệ thuật cao từ khi ông ở Pháp về, làm báo và viết
truyện ngắn. Những năm đầu thập niên 30 Nhất Linh đă viết được nhiều
truyện ngắn, có một số rất đặc sắc như Tháng Ngày Qua, Bóng Người Trên
Sương Mù, Nước Chảy Đôi Gịng, Đầu Đường Xó Chợ . . sau này in chung với
Khái Hưng trong Anh Phải Sống . Tháng Ngày Qua, Nước Chảy Đôi Gịng là
những đoản thiên lăng mạn tuyệt vời của Nhất Linh cũng như của nền văn
chương Việt Nam.
Tự Lực Văn Đoàn được thành lập vào năm 1933 gồm có bẩy
người viết như đă nói trong phần tiểu sử, nhưng trên thực tế chỉ có Khái
Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam là sáng tác nhiều và được biết tới nhiều nhất.
Nhất Linh là người thành lập và đứng đầu văn đoàn, tôn chỉ của văn đoàn
gồm mười điểm nguyên văn như sau (Theo Ông Phạm Thế Ngũ, Việt Nam Văn Học
Sử Giản Ước Tân Biên, cuốn 3):
1- Tự sức ḿnh làm ra những sách có giá trị về văn
chương chứ không phiên dịch sách nước ngoài nếu những sách này chỉ có giá
trị văn chương thôi: mục đích là để làm giầu thêm văn sản trong nước.
2- Soạn hay dịch những cuốn sách có tư tưởng xă hội.
Chú ư làm cho người và cho xă hội ngày một hay hơn lên.
3- Theo chủ nghĩa b́nh dân, soạn những cuốn sách có
tính cách b́nh dân và cổ động cho người khác yêu chủ nghĩa b́nh dân.
4- Dùng một lối văn giản dị dễ hiểu, ít chữ nho, một
lối văn thật có tính cách An Nam.
5- Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời, có giá trị phấn đấu
và tin ở sự tiến bộ.
6- Ca tụng những nét hay vẻ đẹp của nước nhà mà có tính
cách b́nh dân, khiến cho người khác đem ḷng yêu nước một cách b́nh dân .
Không có tính cách trưởng giả quí phái.
7- Trọng tự do cá nhân.
8- Làm cho người ta biết rằng đạo Khổng không hợp thời
nữa.
9- Đem phương pháp khoa học thái tây ứng dụng vào văn
chương Việt Nam.
10- Theo một trong 9 điều này cũng được miễn là đừng
trái ngược với những điều khác.
Ngoài hai tờ Phong Hoá và Ngày Nay văn đoàn đă thành
lập được một nhà xuất bản lấy tên là Đời Nay để ấn hành tiểu thuyết,
truyện ngắn của họ. Tác phẩm đầu tay của Khái Hưng Hồn Bướm Mơ Tiên, viết
năm 1933 cũng là truyện đầu tiên của Tự Lực Văn Đoàn thành công rực rỡ
ngay, theo dư luận chung nay vẫn được coi là tác phẩm tuyệt vời nhất. Năm
sau, 1934 Nhất Linh viết Nắng Thu, tác phẩm đầu tiên của ông viết cho Tự
Lực Văn Đoàn, không thành công, ông Phạm Thế Ngũ chỉ trích là “nghệ thuật
kém cỏi”. Truyện một cậu học sinh về quê nghỉ hè, yêu một cô gái câm xinh
đẹp, con nuôi của bà mợ ruột, cô bị gia đ́nh bà mợ ruột đối xử tệ rồi đuổi
đi. Mấy nămsau cậu học sinh gặp lại cô gái ấy và đưa nàng về Hà Nội. Một
truyện t́nh cảm xă hội giả tạo và nhạt nhẽo, nó cũng chẳng nói lên được ǵ
cả, có lẽ đây là một truyện non kém nhất của tác giả.
Măi đến năm 1935, hai năm sau sự thành công của Khái
Hưng, Nhất Linh mới có được địa vị vững chắc khi ông hoàn thành Đoạn
Tuyệt, một truyện dài gần ba trăm trang đă được nhắc tới nhiều nhất. Tên
tuổi của Nhất Linh như gắn liền với tác phẩm, nó đă làm sống lại cả một xă
hội hủ lậu, hà khắc của một thới phong kiến đă qua, đó là tấn thảm kịch
đầy nước mắt của một người phụ nữ tân thời vùng lên chống lại sự áp bức
của nền luân lư cổ. Đoạn Tuyệt đă đánh dấu một bước tiến dài của nền văn
chương Việt Nam, nó cũng đánh dấu một khúc quành trong công cuộc cải cách
xă hội và đấu tranh cho tự do, nhân phẩm cũng như quyền sống của con người
chống lại một chế độ hủ lậu hà khắc, tàn dư của phong kiến đă một thời tác
yêu tác quái tại xă hội Việt Nam chúng ta.
Truyện cũng đă bị búa ŕu dư luận chỉ trích một thời,
Ông Phạm Thế Ngũ cho rằng các nhân vật của tác phẩm như bà Án, cậu ấm
Thân, cô Loan . . .chỉ là những nhân vật nộm, có người cho ông là quá
khích chống lại tất cả nền tảng xă hội cũ, nhiều nhà văn ở thập niên 60,
70 . .chỉ trích lối tiểu thuyết luận đề giả tạo của Đoạn Tuyệt. Mặc dầu
nhân vật do ông nặn ra nhưng nó cũng đă phản ảnh được khá đầy đủ thực
trạng xă hội thời ấy, một xă hội quá hủ lậu, phản văn minh, phản tiến bộ
đă ḱm kẹp đất nước ta trong ṿng lạc hậu. Hồi thập niên 30, 40 . . . nó
đă là sách gối đầu giường của giới phụ nữ thời ấy, sự kiện chứng tỏ người
ta đă muốn cởi bỏ cái ách nô lệ của nền tảng gia đ́nh cũ kỹ tự mấy ngàn
năm, mặc nhiên chúng ta phải công nhận nó có giá trị hiện thực xă hội.
Trên thực tế, những nhà văn đă chỉ trích tác phẩm là giả tạo nhưng lại ít
thấy ai viết được hơn thế.
Đoạn Tuyệt đă đóng góp lớn lao cả về hai phương diện
văn chương và cải cách xă hội, được sáng tác từ hơn nửa thế kỷ qua, Đoạn
Tuyệt vẫn sống và sẽ c̣n sống măi trong ḷng dân tộc.
Năm 1936, Nhất Linh viết Lạnh Lùng, đây cũng là một tác
phẩm thành công, truyện một goá phụ trẻ đẹp, có con nhỏ, yêu một anh thầy
giáo, họ lén lút sống với nhau. Chàng và nàng đă định trốn đi xây tổ uyên
ương v́ sợ gia đ́nh không cho phép lấy nhau. Nàng về nhà thú thực với mẹ
và xin cụ tác hợp cho đôi trẻ nhưng bà không thuận, bắt nàng phải thủ tiết
thờ chồng để giữ tiếng thơm cho hai ho. Nàng định cùng người yêu trốn đi
nhưng lại thôi v́ thương mẹ quá, nàng vẫn lén lút gặp người yêu và vẫn
phải ở giá thủ tiết thờ chồng.
Lạnh Lùng, một truyện t́nh bi thảm của Nhất Linh, nó
cũng là một tiểu thuyết luận đề như Đoạn Tuyệt và đă đóng góp cả về phương
diện văn chương cũng như cải cách xă hội nước nhà, bố cục gọn gàng, sáng
sủa, t́nh tiết lăng mạn, cảm động đầy nước mắt, tác giả đă vô cùng khéo
léo phơi bầy cho chúng ta thấy một cách thấm thía bộ mặt trái tàn nhẫn của
nền luân lư cổ, nó lạnh lùng như gió heo may trước hạnh phúc của con
người. Sắc đẹp, hạnh phúc của người góa phụ chỉ là sự vô nghĩa trước danh
giá thủ tiết thờ chồng, một hư danh hăo huyền mà nền luân lư hủ lậu đă bắt
nàng phải chấp nhận.
Năm 1937 Nhất Linh viết Đôi Bạn, tiểu thuyết xă hội,
lăng mạn, dài bằng Đoạn Tuyệt, nhẹ nhàng, tế nhị, đă được dư luận chung
coi như hay nhất trong văn nghiệp của ông. Bố cục có phần lỏng lẻo, rời
rạc song ư nghĩa sâu sắc hơn Đoạn Tuyệt, Lạnh Lùng. Đôi Bạn diễn lại những
tấn bi kịch xă hội Việt Nam dưới thời Pháp thuộc với những thanh niên
thoát ly gia đ́nh, vượt biên giới sang Tầu dấn thân vào cuộc đời gió bụi
làm cách mạng, những cảnh đời bi thảm lồng trong những mối t́nh lăng mạn,
éo le, ngang trái, vấn đề giai cấp, bất công xă hội . . . Hành văn chau
chuốt, nhẹ nhàng, bi thảm đă tả chân hiện thực một giai đoạn lịch sử cận
đại nước nhà với những thành kiến hủ lậu, độc đoán đă trói buộc cả một lớp
thế hệ thanh niên. Dũng một thanh niên con quan, nhưng khác với anh em
trong nhà, chàng có tư tưởng cấp tiến, xấu hổ v́ giai cấp quan lại của
ḿnh, bạn bè chàng toàn là những người nghèo khó, nhiều người dấn thân làm
cách mạng. Dũng yêu Loan, cô gái nghèo hàng xóm, biết là gia đ́nh sẽ không
cho lấy nhưng vẫn cứ yêu, gia đ́nh ép Dũng lấy một tiểu thư xinh đẹp con
một ông quan to, Dũng không chấp nhận sự g̣ ép, chàng phản đối tiêu cực,
lẳng lặng cùng một người bạn thân trốn sang Tầu dấn thân vào cuộc đời cách
mệnh.
Đôi Bạn cũng có thể coi là cuốn tiểu thuyết luận đề,
một tác phẩm cách mạng dấn thân với h́nh ảnh hiên ngang hào hùng của những
chàng thanh niên yêu nước như Thái, Tạo . . . thoát ly gia đ́nh để bước
vào cuộc đời gió bụi làm cách mạng, và h́nh ảnh của một chàng yêu nước
lăng mạn như Dũng. Đôi Bạn là một trong những truyện t́nh lăng mạn tuyệt
diệu nhất trong văn chương Việt nam, những kẻ chỉ yêu nhau bằng ánh mắt và
những lời bóng gió đẹp như thơ.
Hai Buổi Chiều Vàng, viết 1937 là một truyện t́nh tuyệt vọng ngắn ngủi
chừng 50 trang. Một chàng sinh viên yêu một cô gái hàng xóm nhà nghèo,
giúp đỡ cô em rất nhiều nhưng cô lại không lấy chàng, đi lấy một anh giáo
nghèo, anh này sau bị bắt v́ tội chính trị. Chàng sinh viên mở văn pḥng
dịch vụ lo cho chồng nàng được tha về, khi hai vợ chồng nàng xum họp chàng
ta đau khổ v́ không được gần cô ta nữa. Tên truyện rất hay nhưng nội dung
cao thượng quá đến độ giả tạo, một anh sinh viên có tŕnh độ mê mệt một cô
hàng xóm, mê như điên dại, cô đă ván đóng thuyền rồi nhưng chàng vẫn mê
mệt, chồng bị bắt, chàng bỏ cả học lo cho vợ chồng cô xum họp . . hy sinh
quá nhiều mà chẳng được tư ǵ cả! ! nội dung vẫn lư tưởng xa vời như các
truyện trước.
Thế Rồi Một Buổi Chiều viết 1937, một truyện t́nh ngắn
hơn Hai Buổi Chiều Vàng, nhưng lần đầu tiên Nhất Linh lại viết kết thúc
happy-end khác hẳn những truyện trước. Dũng tham gia cách mạng bị mật thám
rượt chạy vào một chùa sư nữ, sư bà và sư cô che chở chàng, ni cô là người
trước đây đă thất vọng v́ t́nh yêu, nương nhờ cửa Phật đă mấy năm, nay cô
lại hồi xuân! ni cô có cảm t́nh với Dũng, giữ chàng ở lại ít ngày và thế
rồi một buổi chiều chàng và nàng bỏ chùa trốn đi, đi xa chốn hư không tịch
mịch theo tiếng gọi của đời tục lụy, đời ái ân. Đề tài giống hệt như Hồn
Bướm Mơ Tiên nhưng kết thúc lại khác hẳn, nghệ thuật của nó quá thua kém
so với Hồn Bướm Mơ Tiên. Thế Rồi Một Buổi Chiều, tên truyện thật hay nhưng
nội dung chỉ là một truyện t́nh giả tạo, tâm lư nhân vật hời hợt, truyện
có thể khiến độc giả tưởng rằng những người đi tu chỉ là thất t́nh, chán
đời!
Năm 1939 Nhất Linh viết Bướm Trắng, dài bằng Đôi Bạn,
Đoạn Tuyệt. Năm 1960 Hội Bút Việt ở Sài G̣n đă cho dịch ra tiếng Anh Và
Tiếng Pháp để phổ biến trên thế giới. Trương một sinh viên Luật mắc bệnh
lao sắp chết, chàng về quê bán hết ruộng đất thừa hưởng của cha mẹ để tận
hưởng mọi thú vui cho chán chường, để khi chết không c̣n ǵ tiếc nhớ cuộc
đời nữa, chàng mê mệt cô Thu, em người bạn nhưng cuộc t́nh không đi đến
đâu. Trương ăn chơi hoang đàng đến nỗi hết tiền, xin làm cho một hăng tư ở
Hải Pḥng, đi làm được ít ngày chàng thụt két, vào tù, khi ra tù bạn bè xa
lánh. Tự nhiên lại hết bệnh không chết, Trương về quê lấy vợ.
Bướm Trắng là cuốn tiểu thuyết tâm lư cho thấy Nhất
Linh đă chuyển hướng sang đề tài và lối viết hoàn toàn mới lạ. Truyện đă
được một số dư luận phê b́nh khen có giá trị về tâm lư song không được độc
giả chú ư mấy. Đoạn Tuyệt, Lạnh Lùng là hai tác phẩm luận đề được dư luận
chung ca ngợi, t́nh tiết cảm động, nội dung hiện thực mang nhiều ư nghĩa
cải cách xă hội, mấy năm sau, 1939 Nhất Linh chuyển hướng từ tiểu thuyết
luận đề (roman à thèse) sang lănh vực tâm lư, nhưng không thành công ǵ
cho lắm nhất là ở đây, Bướm Trắng. Nó chỉ được vài nhà phê b́nh khen hay
song rất ít người đọc. Nếu so sánh với Cái Chết Của Ivan Ilyitch (La Mort
d’Ivan Ilyitch), một truyện ngắn của Tolstoi về tâm lư một người sắp chết,
ta sẽ thấy tâm lư Ivan sâu sắc chừng nào, tâm lư Trương hời hợt chừng nấy.
Cốt truyện Bướm Trắng giả tạo, mối t́nh Trương -Thu
nhạt nhẽo, nội dung phản khoa học ở chỗ một người bị ho lao đến thời kỳ
cuối cùng, sắp chết th́ bỗng dưng hết bệnh! Kỹ thuật mô tả tâm lư nhân vật
bắt chiếc Dostoievsky một cách vụng về. Tác giả cũng dựng lên một nhân vật
Trương điên điên, khùng khùng theo kiểu các nhân vật chính trong các
truyện của Dostoievsky như Người Chồng Vĩnh Cửu, Thằng Ngốc, Tội Ác H́nh
Phạt . . Một nhân vật Trương trí thức, mất hết tư cách, trụy lạc, thụt két
vào tù, bệ rạc đến độ hết tiền phải đi ăn xin một cô gái làng chơi mấy
đồng mấy hào đă cho thấy h́nh ảnh một con người căn bă xă hội làm mất hết
cảm t́nh của người đọc. Nh́n chung Bướm Trắng là một tác phẩm đua đ̣i bắt
chước Tây Phương một cách vụng về, giả tạo, đây là tác phẩm thất bại của
Nhất Linh .
Truyện kéo lại được phần nào nhờ kết luận xây dựng, có
hậu khi Trương về quê t́m thấy hạnh phúc ở Nhan, y như Pierre cuối cùng
t́m thấy hạnh phúc ở Natacha trong tác phẩm vĩ đại Chiến Tranh Và Ḥa B́nh
(War and Peace) của Leon Tolstoi vậy.
Trong thời kỳ sáng tác cho Tự Lực Văn Đoàn, Nhất Linh
đă viết chung với Khái Hưng một số truyện như: Gánh hàng Hoa, tiểu thuyết,
1934, Đời Mưa Gió, tiểu thuyết, 1934, Dưới Bóng Hoa Đào, truyện ngắn in
trong Anh Phải Sống 1937. Sáng tác văn nghệ chung là một lối viết kỳ lạ
trong nước cũng như trên thế giới không thấy ai viết văn theo kiểu hợp tác
như vậy. Theo ông Nguyễn Vỹ, người đă gặp Nhất linh ở Sài G̣n năm 1952,
Nhất Linh thường đưa bản thảo cho Khái Hưng sửa chữa, cuốn nào sửa ít vẫn
để tên Nhất Linh, cuốn nào sửa nhiều đề tên chung Khái Hưng –Nhất Linh,
cũng có cuốn sửa nhiều mà vẫn đề tên Nhất Linh (Nguyễn Vỹ- bài Khái Hưng
và Nhất Linh trong cuốn Khái Hưng, Kỷ Vật Cuối Cùng, nhà xuất bản Phượng
Hoàng 1997. California). Ở đây chúng tôi không đề cập đến những tác phẩm
viết chung này v́ không biết ai là tác giả chính, ai là phụ? không biết là
của ai cả?
Từ năm 1939 đến 1949 Nhất Linh dấn thân làm cách mạng,
sự nghiệp không thành, năm 1949 vợ ông khuyên ông từ bỏ chính trị quay trở
về nghề viết văn, ông bắt đầu viết trở lại năm 1949 tại Hồng Kông. Năm
1949, 1950 ông viết Thương Chồng, một tuyển tẩp truyện ngắn đặc sắc gồm 6
truyện:
1- Thương Chồng .
2- Hờn Dỗi.
3- Bắn Vịt Trời .
4- Búng Ruồi.
5- Những Ngày Diễm Ảo.
6- Bác Ḥa Hàng Cơm.
Chỉ riêng truyện Những Ngày Diễm Ảo là được giữ nguyên
vẹn, c̣n năm truyện kia sau này lại được đưa vào Xóm cầu Mới. Truyện Bắn
Vịt Trời, Búng Ruồi, Bác Ḥa Hàng Cơm rất hay đă được đưa vào nguyên vẹn.
Bắn Vịt Trời và Búng Ruồi được đổi tên thành Cậu Ấm Đi Bắn Vịt Trời, Ông
Giáo Đông Bắt Ruồi, Bác Ḥa Hàng Cơm không đổi tên. Truyện Thương Chồng
được đưa vào một nửa trên sau khi đă đổi tên nhân vật thành Mùi Đi Cân Gạo
(Chương 16), truyện Hờn Dỗi, đổi tên nhân vật rồi đưa vào lấy tên Khói Bếp
(Chương 24), thật là một lối sáng tác vá víu, truyện ở sách này lại đưa
vào sách khác! rồi đổi tên nhân vật, tân trang đi một tí! không thấy ai
làm như vậy cả! tác giả lại tự đạo văn của ḿnh!
Truyện Xóm Cầu Mới được viết đi viết lại nhiều lần
1949, 1951, 1957. . .dài vào khoảng 600 trang, gồm 25 chương, mỗi chương
là một truyện ngắn, các truyện ngắn có thể tự đứng riêng được, và khi hợp
lại sẽ thành một truyện lớn. Lối viết này trong nước cũng như trên thế
giới h́nh như không thấy ai viết, có lẽ Nhất Linh tự nghĩ ra ta tạm gọi là
đa đoạn sách. Một trường thiên tiểu thuyết xă hội mô tả sinh hoạt những
gia đ́nh ở đầu một cái cầu gỗ cho đến khi cầu gẫy tại Xóm cầu Mới, một
vùng có thật tại huyện Cẩm Giàng thuộc tỉnh Hải Dương, quê hương của tác
giả. Nhất Linh đă làm sống lại cái xóm nghèo bên chiếc cầu cũ của những
mảnh đời bèo giạt và những sinh hoạt tự nhiên của nó. Đề tài của tác phẩm
cũng giống như trong các truyện ngắn của Thạch Lam như Gió Đầu Mùa (1937),
Nắng Trong Vườn (1938), Sợi Tóc (1942), cũng một người trong gia đ́nh
Nguyễn Tường đă diễn tả quê hương ḿnh với tinh thần nhân bản, t́nh
thương. Xóm Cầu Mới có một số đặc tính như sau:
- Ít được biết tới.
- Lần đầu tiên trong văn nghiệp, Nhất linh viềt theo
lối hài kịch, rất duyên dáng, dí dỏm.
- Ông chú trọng rất nhiều về tả tâm lư nhân vật.
- Có những đoạn tả t́nh táo bạo, lần đầu tiên “hỏa nó
bốc ” trong văn nghiệp của ông !
Toàn bộ gồm 25 chương tức 25 truyện, nhưng thực ra chỉ
có vào khoảng một phần ba là có nghệ thuật cao, c̣n lại phần nhiều giá trị
trung b́nh hoặc nhạt nhẽo, ư tưởng nghèo nàn nguyên do truyện đă kéo dài
quá đến chỗ cạn khô nguồn cảm hứng, đó là t́nh trạng thừa, loăng mà những
truyện trường giang đại hải như Chiến Tranh Và Ḥa B́nh, Anna Karenine . .
. . thường mắc phải, mặc dù Nhất Linh có tham vọng viết dài hằng mấy ngh́n
trang, truyện vẫn c̣n dang dở, chưa hết (Le roman inachevé !), nhưng thực
ra tác phẩm đă coi như kết thúc, chúng tôi không nghĩ ông có thể kéo dài
thêm được v́ đề tài, ư tưởng đă nghèo nàn khô cạn. Nói chung Xóm Cầu Mới
cũng là một tác phẩm giá trị của nền văn chương Việt Nam, có chiều sâu tâm
lư, hành văn chau chuốt hơn Gịng Sông Thanh Thủy, một truyện sau.
Gịng Sông Thanh Thủy, viết năm 1960, 1961, môït truyện
trường thiên nổi tiếng của Nhất Linh dài bằng Xóm Cầu Mới nhưng hay hơn và
thực hơn. Với Gịng Sông Thanh Thuỷ, Nhất linh là một nhân chứng lịch sử,
người đă chứng kiến giai đoạn khởi đầu của cuộc chiến tranh Quốc Cộng, một
cuộc chiến tranh dài nhất thế kỷ. Có một số dư luận cho rằng nó thua kém
các truyện xưa của cùng tác giả, nhưng cũng có nhiều người lại rất thích
truyện này hơn, họ cho là thực hơn, đề tài hấp dẫn, lôi cuốn hơn.Thực ra
cũng khó mà so sánh cuốn trường giang này với Đôi Bạn, Đoạn Tuyệt v́ đề
tài khác nhau, một bên xă hội, một đằng chính trị.
Truyện dài khoảng 600 trang, được viết theo lối
trilogy, Pháp gọi là trilogie, người Tầu gọi là tam đoạn sách, lối viết
này ít thấy xuất hiện trên văn đàn thế giới thí dụ như Khói Lửa Kinh Thành
của Lâm Ngữ Đường, Con Đường Đau Khổ của Alexis Tolstoi. Tam đoạn sách gồm
có ba phần bi kịch, có thể tự đứng riêng ra làm một truyện và họp lại
thành một truyện lớn.
Tam đoạn sách Gịng Sông Thanh Thủy gồm có ba đoạn hay
truyện:
1- Ba Người Bộ Hành, viết 1960, khoảng 250 trang,
truyện một chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng được lệnh của hải Ngoại Bộ đi
thủ tiêu hai cán bộ Việt Minh nằm vùng trong hàng ngũ quốc gia, lôi cuốn,
rùng rợn, nhưng tác giả ở cương vị nhà lănh tụ quốc gia đă phạm khuyết
điểm phản tuyên truyền, chỉ cho thấy h́nh ảnh tàn bạo của Việt Quốc mà
không cho thấy hành động tàn ác của việt Minh.
2- Chi bộ Hai Người, viết 1960, 1961. Một đôi bạn,
chàng Ngọc Việt quốc, nàng Thanh Việt Minh trá h́nh Việt Quốc để quyến rũ
Ngọc. Đối thoại nhiều, không hay bằng hai truyện đầu và cuối, nhiều đoạn
loăng, giả tạo, lập trường chính trị lừng khừng, phản tuyên truyền nhất là
ở cương vị một nhà lănh tụ .
3- Vọng Quốc, viết 1961 là truyện hay nhất của toàn bộ
Gịng Sông Thanh Thủy, ở đây Nhất Linh như đă đạt tới đỉnh cao nghệ thuật,
nội dung cảm động, lăng mạn tuyệt vời nhất trong văn nghiệp của ông lại
pha không khí rùng rợn y như Godfather của Mario Puzo, người đọc thích thú
truyện hơn cái không khí luận đề cũ v́ thấy nó thực quá, y như đi theo tác
giả, theo Ngọc, Thanh về Hà Giang vậy. Ngọc và Thanh liều thân vào chỗ
chết để cứu mạng mấy chục đồng chí Việt Quốc khỏi cuộc tàn sát đẫm máu của
Việt Minh, một kết thúc nhân bản tuyệt diệu tràn đầy t́nh yêu nhân loại đă
khiến Gịng Sông Thanh Thủy thành một cuốn tiểu thuyết bất hủ của nền văn
chương Việt Nam, sự thực tác phẩm là một tự truyện của chính Nhất Linh
trong những ngày ông c̣n bôn ba hải ngoại tham dự vào cuộc chiến tranh
gián điệïp tàn bạo ấy.
Gịng Sông Thanh Thủy, một đề tài hoàn toàn mới lạ của
Nhất Linh, sống thực, tàn bạo, xen lẫn t́nh yêu, hận thù . . .Giai đoạn
khởi đầu của cuộc chiến tranh Quốc Cộng kéo dài mấy chục năm đằng đẵng đă
được làm sống lại, một tác phẩm lớn và quan trọng của nền văn chương Việt
Nam, cũng là một tài liệu lịch sử có giá trị.
TRỌNG ĐẠT
Trích trong cuốn "Những Tác Phẩm Cuối Cùng Của Nhất
Linh", do Đại Nam xuất bản năm 2003 (điện thoại 818.244.0135)