Tôi là người sinh trưởng ở
vùng Mỹ Tho – Bến Tre, lớn lên đi làm việc ở Sài G̣n. Nhưng tôi cũng có cơ
hội đến Vĩnh Long hai lần: lần thứ nhất vào khoảng năm 1959 khi tôi được
trường (Petrus Kư) cử đi học khóa Nhân Vị ở một nhà thờ ở Vĩnh Long, và lần
thứ nh́ vào khoảng năm 1973 khi tôi đi thăm viếng các sở học chánh và trường
Trung Tiểu Học thuộc các tỉnh Miền Tây Nam Phần. Bây giờ, sau hơn ba mươi
năm xa cách, khi nhắc lại Vĩnh Long tôi vẫn c̣n một số h́nh ảnh đẹp đẽ của
tỉnh này. Đẹp nhất là con người Vĩnh Long, những người bạn rất thân, những
bạn đồng nghiệp, những học sinh cũ, v v . . .Cái đẹp kế đó là Bắc Mỹ Thuận
và con đường Vĩnh Long – Cần Thơ với con sông nho nhỏ chảy dọc theo đường.
Cùng với những h́nh ảnh đẹp đó c̣n có những cái rất đáng ghi nhớ mà tôi đă
có dịp đọc trong sách báo về đất Vĩnh Long, vùng địa linh nhân kiệt, Thủ Đô
đầu tiên của Miền Tây Nam Phần này. C̣n nhớ. . .
Trong khi Sài G̣n Gia Định và các tỉnh Miền Đông Nam Phần đă thuộc về Việt
Nam từ giữa thế kỷ XVII th́ Vĩnh Long vẫn c̣n là vùng đất hoang vu của một
ít người Khmer sinh sống rải rác, thưa thớt. Phải vào gần cuối thế kỷ này
mới có một số người Việt và người Hoa (Minh Hương) vào đây khai phá, trồng
trọt, sinh sống. Làng xă thành h́nh và phát triển nhanh theo nhịp độ bành
trướng về Phương Nam của người Đàng Trong và chính quyền của triều đ́nh Nhà
Nguyễn hồi đầu thế kỷ XVIII. Năm 1732 lưu dân người Việt bị quân Miên tấn
công. Chúa Nguyễn là Ninh Vương Nguyễn Phúc Chu cử Trương Phúc Vĩnh đem quân
vào dẹp yên. Vua Chân Lạp là Nặc Tha nhường Me Sa (Mỹ Tho) và Long Hồ cho
Chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn lấy đất Long Hồ lập thành châu Định Viễn (Vĩnh
Long) và đặt dinh Long Hồ. Lỵ sở lúc này đặt tại Cái Bè, Mỹ Tho. Đất Long Hồ
(Vĩnh Long) chánh thức có mặt trong lănh thổ Việt Nam kể từ đó.
Năm 1753 lại có binh biến do người Chân Lạp hậu thuẫn bởi quân Xiêm sang
đánh phá, chúa Nguyễn Phúc Khoát sai Nguyễn Cư Trinh làm tham mưu đem quân
năm dinh (3 dinh trong Nam là Trấn Biên, Phiên Trấn và Long Hồ, và 2 dinh
ngoài Trung là B́nh Khương và B́nh Thuận) sang đánh Chân Lạp. Vua Chân Lạp
là Nặc Nguyên thua trận bèn dâng hai phủ Tầm Bôn và Lôi Lạp (G̣ Công và Tân
An) để cầu ḥa. Sau khi b́nh định xong, Nguyễn Cư Trinh dời dinh Long Hồ qua
xứ Tầm Bào tức là tỉnh lỵ Vĩnh Long bây giờ. Vào thời đó, Long Hồ dinh giử
vai tṛ vô cùng quan trọng đối với việc bảo vệ và phát triển Miền Tây Nam
Phần. Về quân sự, Long Hồ dinh bao gồm ba đạo (xem như ba khu chiến thuật)
được thiết lập để bảo vệ Tiền và Hậu Giang. Ba đạo này là Tân Châu Đạo (ở Cù
Lao Giêng, Tiền Giang), Châu Đốc Đạo, và Đông Khẩu Đạo ở Sa Đéc. Cùng với ba
đạo của dinh Long Hồ c̣n có hai đạo của Hà Tiên Trấn do Mạc Thiên Tứ cai
quản để phối hợp chống giử cả Miền Tây nước Việt. Hai đạo (khu chiến thuật)
của Hà Tiên Trấn là Kiên Giang Đạo (vùng Rạch Giá) và Long Xuyên Đạo (vùng
Cà Mau, An Xuyên ngày nay). Về hành chánh th́ tất cả năm đạo kể trên đều
thuộc Long Hồ dinh và Vĩnh Long từ thuở đó được xem như là đầu năo của cả
Miền Tây Nam Phần cũng như Cần Thơ sau này vậy. Tây Đô hồi đó là Vĩnh Long
mà những di tích lịch sử, cũng như những anh hùng liệt sĩ, những tài năng
của vùng địa linh nhân kiệt này c̣n sống măi trong ḷng người dân Nam Việt.
Từ thời Pháp thuộc sang đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Ḥa, Bến Tre, Trà Vinh, Sa
Đéc, Cần Thơ lần lượt tách ra làm thành tỉnh mới, Vĩnh Long chỉ c̣n lại phần
đất nằm giữa Tiền Giang và Hậu Giang, tiếp giáp với các tỉnh Tiền Giang
(Định Tường) ở phía Bắc, Đồng Tháp (Kiến Tường) ở phía Tây, Cần Thơ (Phong
Dinh) ở phía Nam, và Trà Vinh (Vĩnh B́nh) ở phía Đông, với diện tích 1, 478
cây số vuông và khoảng 1, 023, 400 dân số (theo thống kê năm 2002). Vĩnh
Long nằm giữa hai bến đ̣ nổi tiếng hồi xưa quen gọi là Bắc Mỹ Thuận và Bắc
Cần Thơ. Đây là vùng đất phù sa màu mở rất thích hợp với lúa nước và các
loại cây ăn trái, nhất là loại cây trái vùng nhiệt đới nổi tiếng như sầu
riêng, măng cụt, chơm chơm, ḅn bon, ổi, xoài, mận, dâu, sa bô chê, vú sửa,
v v . . .Cái Mơn là nơi nổi tiếng về ươn cây mà các tỉnh lân cận thường đến
đây mua về trồng. Đây cũng là đất của nhiều nhân vật lịch sử nổi tiếng của
Miền Nam từ Nguyễn Cư Trinh, Tống Phước Hiệp, Châu Văn Tiếp, Phan Thanh
Giản, Petrus Trương Vĩnh Kư, Nguyễn Thông đến các chính trị gia gần đây như
Trần Văn Hương, Nguyễn Văn Lộc, v v . . .Nhiều di tích lịch sử như thành xưa
(Thành Long Hồ), đồn xưa Đồn Cổ Chiên), lăng mộ (Lăng Hà Tiên, Mộ ba vị công
thần triều Nguyễn), những nơi có liên hệ đến Gia Long, những chùa đền, miếu
cổ như Chùa Di Đà, Miếu Quốc Công, Văn Thánh Miếu, làm cho Vĩnh Long có
nhiều nét văn hóa lịch sử đáng kể. Các hoạt động nghệ thuật, tôn giáo, giáo
dục có nhiều nét độc đáo nói lên địa vị của một tỉnh thủ đô một thời nào.
Một trong những công thần triều Nguyễn từng làm Lưu Thủ tại Long Hồ dinh
thuở mới thành lập là Tống Phước Hiệp. Ông là cháu Quận Công Tống Phúc Trị,
người huyện Tổng Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Đời Vơ Vương Nguyễn Phúc Khoát, Tống
Phước Hiệp được cử làm Lưu Thủ dinh Long Hồ. Ông vô cùng tận tụy với chức
vụ, hết sức lo lắng mưu cầu hạnh phúc cho dân chúng, làm cho công cuộc trị
an được vạn phần tốt đẹp. Ông đă từng đem quân cứu viện giúp Mạc Thiên Tứ
đánh đuổi quân Xiêm trong nhiều trận chiến, gây tổn thất nặng nề cho quân
Xiêm, đem lại b́nh yên cho nhân dân. Ông bị bệnh, và từ trần năm 1776, để
lại bao nhiêu thương tiếc trong ḷng người dân Long Hồ. Ông được triều đ́nh
truy tặng Hữu Phủ Quốc Công, sắc chỉ lập miếu thờ tại dinh Long Hồ. Ngài đă
qui thần nhưng oai linh hiển hách, dân chúng đất Vĩnh Long rất tin tưởng nơi
Ngài. Sống làm tướng, thác làm thần , từ trước tới nay người dân luôn thờ
phụng Ngài, nơi đền thờ Ngài lúc nào cũng khói hương nghi ngút.. Ngày vía
Tổng Quốc Công được tổ chức long trọng hằng năm vào mùng 2 và mùng 3 tháng 6
âm lịch, có rước hát bộ xây chầu. Tên Ngài đă được dùng làm tên trường Trung
Học tỉnh lỵ Vĩnh Long, một trường trung học to lớn, rất nổi tiếng ở Miền Tây
cũng như trường Phan Thanh Giản ở Cần Thơ hay trường Thoại Ngọc Hầu ở Long
Xuyên. Ở Mỹ (Nam Cali fornia) hội Ái Hữu Tống Phước Hiệp đă được thành lập
từ mấy năm nay, dưới sự hướng dẫn của giáo sư Đào Khánh Thọ và giáo sư Vơ
Thị Ngọc Dung (hai vị đều là cựu giáo sư và cựu hiệu trưởng của trường), qui
tụ được nhiều người cựu học sinh, có tài đức, có thiện chí, và có sự nghiệp
đáng kể.
Một danh nhân đáng thương, đáng kính nhất của đất Vĩnh Long là cụ Phan Thanh
Giản. Tên chữ là Tinh Bá và Đạm, hiệu là Lương Khê, biệt hiệu là Mai Xuyên,
cụ là vị Tiến Sĩ đầu tiên của Miền Nam. Tổ tiên cụ là người Trung Hoa, cuối
đời nhà Minh mới sang Việt Nam, trước ở B́nh Định, sau này thân sinh của cụ
vào Định Tường rồi qua làng Bảo Thạnh, huyện Bảo An, tỉnh Bến Tre sinh sống.
Cụ Phan sinh năm 1796. Thân sinh là người giỏi chữ nho, đến Vĩnh Long làm
thư lại cho Nam triều, thường tải lương thực về Huế. Mẹ mất sớm, cha bị vu
cáo phải ở tù, Phan Thanh Giản phải sống bần hàn, nhưng rất chăm chỉ học
tập, được hàng xóm sẵn sàng giúp đở. Năm 1825 Phan Thanh Giản đậu kỳ thi
Hương ở Gia Định và năm sau , 1826, đi thi Hội đậu luôn Tiến Sĩ ở Huế. Đậu
xong cụ được bổ nhiệm Hàn Lâm viện biên tu, làm việc tại Huế. Sau đó đổi ra
Quảng B́nh, rồi về Quảng Nam dẹp loạn. Lại về Kinh làm ở Bộ H́nh, rồi làm
Phó Sứ sang Trung Hoa. Cụ được triều đ́nh ngợi khen về tài ngoại giao, được
cử giử chức Kinh Lược Sứ ở Trấn Tây (Cao Miên) rồi Bố Chánh Quảng Nam. Được
vua tin cậy bổ Đô Sát Viện Ngự Sử, sung chức Cơ Mật Viện Đại Thần. Năm 1861
sau khi Gia Định và ba tỉnh Miền Đông mất vào tay Pháp, triều đ́nh sai Phan
Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp vào Nam thương thuyết. Năm 1863 cụ Phan lại được
triều đ́nh Huế cử hướng dẫn phái đoàn hơn 50 người, với Petrus Kư làm thông
ngôn, lên đường sang Pháp thương thuyết để chuộc lại ba tỉnh Miền Đông. Sau
hơn hai tháng lênh đênh trên mặt bể, phái đoàn đă đến Pháp và được vua
Napoléon III của Pháp đón tiếp trọng thể. Cuộc thương nghị bất thành nhưng
phái đoàn Việt Nam cũng có cơ hội được chứng kiến cảnh tiến bộ, phồn thịnh
của xă hội Tây phương lúc bấy giờ. Trở về Việt Nam cụ Phan được cử vào trấn
nhậm Miền Tây để giữ ba tỉnh c̣n lại. Nhưng không bao lâu các tỉnh này cũng
bị người Pháp chiếm nốt trước sự bất lực của triều đ́nh Việt Nam, và nhất là
trước cái đau vô cùng của Kinh Lược Phan Thanh Giản. Không giữ thành được
cho triều đ́nh và đất nước quê hương cụ Phan uống thuốc độc (á phiện với
giấm thanh) tự tử. Cụ mất ngày mùng 5 tháng 7, năm 1867. Linh cửu được đưa
về làng Bảo Thạnh, Bến Tre. Các quan Nam và Pháp tới thăm ai cũng ngậm ngùi
mến tiếc. Tên tuổi của cụ c̣n sống măi với non sông nhất là trong ḷng người
dân Nam Việt . Tên cụ được dùng làm tên trường Trung Học lớn ở Tây Đô :
trường Trung Học Phan Thanh Giản. Hiện nay hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Phan
Thanh Giản-Đoàn Thị Điểm đă được thành lập ở các nơi trên khắp thế giới, qui
tụ nhiều cựu học sinh, nhân tài của đất nước.
Một nhà bác học lừng danh của Việt Nam hồi hạ bán thế kỷ XIX cũng là người
con của đất Vĩnh Long. Đó là Petrus Trương Vĩnh Kư mà tên người đă được dùng
làm tên cho trường Trung Học lớn vào bậc nhất và cũng nổi tiếng vào bậc nhất
ở Miền Nam : trường Petrus Trương Vĩnh Kư. Trường nằm ngay tại Thủ Đô Sài
G̣n. Nhà bác học Petrus Kư sinh năm 1837 tại Cái Mơn, làng Vĩnh Thạnh, tổng
Minh Lệ, huyện Tân Minh, tỉnh Vĩnh Long (bây giờ thuộc tỉnh Bến Tre). Ông là
người Việt đầu tiên biết rất nhiều tiếng ngoại quốc, nhất là các thứ tiếng
Âu Tây phương, và cũng là người Việt Nam đầu tiên có kiến thức sâu rộng về
văn minh học thuật Tây phương. Ông là người khai đường mở lối cho câu văn
xuôi, cho nền văn chương chữ Quốc Ngữ và nền học thuật mới ở Việt Nam. Ông
cũng là người đầu tiên làm báo ở nước ḿnh. Ông được chọn làm nhà bác học
hạng thứ XVII trên thề giới. Ông mất năm 1898, thọ 61 tuổi, để lại cho đời
một công tŕnh văn hóa lớn lao bằng chữ Quốc Ngữ, và một nền học thuật mới
dung ḥa trí thức với đạo đức, tổng hợp khoa học kỷ thuật Tây phương với
luân lư đạo đức Á Đông. (xem bài Petrus Kư: Người Con Của Đất Vĩnh Long
trong đặc san này). Trên thế giới hiện giờ có nhiều hội Ái Hữu Cựu Học Sinh
Petrus Kư như Hội Petrus Kư Bắc Cali, Hội Petrus Kư Nam Cali, Hội Petrus Kư
Âu Châu, Hội Petrus Kư Úc Châu, v v . . .qui tụ rất nhiều giáo sư, nhân
viên, cựu học sinh và thân hữu. . .
Vĩnh Long c̣n nhiều danh nhân nữa nhưng khuông khổ của bài này không cho
phép ghi ra hết, xin hẹn vào những dịp khác. Bên cạnh các danh nhân, Vĩnh
Long có nhiều di tích lịch sử đáng nói. Một trong những di tích đó là Văn
Thánh Miếu, xem như một trong những di tích lịch sử xưa nhất của đất Vĩnh
Long. Miếu được thành h́nh do công của Đề Học Nguyễn Thông, người đă đứng ra
xây cất để thờ Đức Khổng Tử và các bậc hiền triết. Khởi công từ năm 1864,
Văn Miếu được hoàn tất vào năm 1866, bao gồm: (1) một chánh điện thờ Đức
Khổng Tử, với hai bên Tả Ban và Hữu Ban thờ Tứ Phối và Thập Triết, (2) hai
miếu nhỏ hai bên gọi là Tả Vu và Hữu Vu, thờ thất thập nhị hiền, và (3) Văn
Xương Các trước Văn Thánh Miếu, trên lầu thờ Văn Xương Đế Quân, dưới lầu thờ
Vơ Trường Toản và cụ Phan Thanh Giản. Phía ngoài có đôi liễn:
“Hoàng phong xử sĩ thanh cao lăo,
Tự hiệu thư sinh tiết liệt thần”
Câu trên nói về Vơ Trường Toản là một cụ già thanh cao, không chịu ra làm
quan, ở ẩn dạy học, được vua Gia Long cho là “Sùng Đức Xử Sĩ.” Câu dưới nói
về cụ Phan Thanh Giản, một bề tôi tiết liệt, nhưng khi gần chết dặn người
sau chỉ ghi câu “lăo thư sinh” (học tṛ già) mà thôi. Lús sinh tiền, khi làm
Kinh Lược Vĩnh Long, cụ Phan thường cùng Đề Học Nguyễn Thông nhóm họp các
văn nhân thi sĩ tại Văn Thánh Miếu, đọc sách, làm văn. Thượng Thư Bộ Học Bộ
Trưởng Bộ Giáo Dục) đời vua Duy Tân, có viếng Văn Thánh Miếu, và nhân đó có
đề đôi liễn:
“Xuân Thu hà đẳng càn khôn, đạo tại ngũ kinh song nhật nguyệt,
Thù Tứ biệt thành vơ trụ, đồ qua lục tỉnh nhất cung tường.”
(Đời Xuân Thu trời đất bậc nào, đạo ở năm kinh đôi nhật nguyệt,
Sông Thù, Tứ cơi bờ riêng đó đường qua sáu tỉnh một cung tường)
Có những giai thoại gắn liền với những địa danh đặc biệt nổi tiếng ở Vĩnh
Long xưa như sông Cổ Chiên chẳng hạn. Sông Cổ Chiên ở Vĩnh Long là nơi từng
xăy ra nhiều trận hải chiến lịch sử giữa quân ta và quân Xiêm, quân ta và
quân Chân Lạp, và giữa quân Tây Sơn và quân Nguyễn Ánh. Không biết bao nhiêu
binh sĩ đă phải bỏ ḿnh nơi đây, v́ vậy mà từ xưa thường hiển hiện nhiều
điều quái dị. Có những ma quỉ hiện về làm cho ghe thuyền qua lại vùng này
hết sức kinh dị. Có người bảo đó là oan hồn các chiến sĩ trận vong, uất hận
v́ bị thảm tử trong các trận ác chiến chưa được siêu sinh. Vậy phải lập đàn
cầu siêu cho các vong linh để cho vùng này được yên ổn. Dân chúng nghe theo,
lập đàn cầu siêu cho các oan hồn. Từ đó yên ổn, không c̣n bóng h́nh ma quái
nữa. Nhưng cũng từ đó lại sinh ra những tiếng động lạ lùng như vang lên từ
dưới đáy sông, nghe kỷ th́ như tiếng chuông, tiếng trống vang dội ầm ĩ.
Nhiều người lắng nghe và cùng có cảm giác như tiếng trống giục, tiếng chiêng
khua trong những trận thủy chiến hải hùng. Từ đó người ta gọi sông này là
sông Cổ Chiên là v́ vậy. Cổ là trống, Chiên có lẽ là Chiêng, tức là tiếng
chiêng, tiếng trống vang dầy. Một giai thoại khác cũng rất đặc biệt, có liên
hệ tới danh xưng Long Hồ. Ở Vĩnh Long có một nơi mà Tiền Giang và Hậu Giang
cùng mấy sông khác tiếp nối nhau làm cho nước xoáy ṿng và người địa phương
ở đây đặt tên chổ đó là Hồi Oa, tức là nơi Nước Xoáy. Người ta kể là hồi năm
1787 dân chúng ở Hồi Oa xôn xao về tin Thánh Giá (Nguyễn Ánh) sẽ ngự đến đây
và như vậy chắc chốn này không tránh được nạn đao binh (giữa Tây Sơn và
Nguyễn Ánh). Ít lâu sau Nguyễn Ánh đến thật, và nhà vua đă chiêu dụ được
nhiều người trong vùng, gây nhiều cảm t́nh trong dân chúng, được mọi người
hết ḷng pḥ giúp. Nguyễn Ánh cho xây đắp thành đất ở đây hai bên có lập đồn
pḥng thủ. Binh Tây Sơn nhiều lần tiến đánh nhưng không thắng nổi đành phải
rút quân. Nguyễn Ánh xem đây là đất hưng vượng bèn cho đổi tên Hồi Oa thành
ra Long Hưng. Các vùng gần đó đều đổi tên có chữ Long đứng đầu như Long Ẩn,
Long Thắng, Long Hậu, v v . . . Con sông Long Hồ trước kia mang tên Chân Lạp
là Tầm Vồ cũng theo xu hướng chung đó mà đổi là sông Long Hồ. Đêm đêm người
ta c̣n nghe các cô gái chèo ghe ngâm :
“Tầm Vồ rày đă đóng đô,
Xin quan đổi lại Long Hồ cho xinh”.
Vĩnh Long có cù lao (hay Cồn) Tân Phong, thuộc quận Chợ Lách, rất nổi tiếng
về sản xuất ốc gạo. Cồn Tân Phong nằm giữa ḍng sông, dài khoảng 3 km, ngang
chừng 1,5 km. Ở đây ốc gạo sản sinh nhiều và nhanh, chỉ 3 tháng là ăn được.
Mùa ốc gạo là từ tháng 3 đến tháng 6, đặc biệt trong tháng 5 là ốc ngon
nhất. Đồng bào Tân Phong thường bắt ốc gạo ban đêm để sáng hôm sau bán ở chợ
Cái Bè, Mỹ Tho. Muốn bắt ốc gạo người ta phải lặn xuống đáy sông (ở những
nơi sông không sâu), cào ốc vào rổ rồi chuyển cho tốp người khác đem lên bờ.
Phần đông là phụ nữ làm các công việc vận chuyển trên bờ. Ở những nơi sâu
người ta phải dùng vợt bằng giây gai lặn xuống xúc ốc lên đổ ngay lên ghe
đậu gần bên. Ngày xưa khi chưa có cầu, mỗi lần qua Bắc Mỹ Thuận người ta
thường thấy nhiều người bán ốc gạo. Đó là ốc gạo sản xuất ở Cù Lao Tân
Phong. Cũng ở Bắc Mỹ Thuận du khách có thể thưởng thức nhiều món ăn độc đáo
cũng như những thứ trái cây đặc biệt của vùng : các loại chim nướng thơm
ngon, ổi xá lị to tướng mát rượi. Ngày nay Bắc Mỹ Thuận không c̣n. Chổ này
bây giờ là một cây cầu rất hiện đại giúp việc lưu thông từ Miền Đông qua
Miền Tây (hay ngược lại) hết sức dễ dàng tiện lợi. Nhưng những người của các
thế hệ lớn tuổi hơn, có những hiểu biết về Bắc Mỹ Thuận, chắc không khỏi
ngậm ngùi luyến tiếc một số kỷ niệm vui buồn nào đó về bến đ̣ Mỹ Thuận của
năm xưa.
Một nhà tu người Vĩnh Long có bài thơ về tỉnh Vĩnh Long và 7 quận của tỉnh
này (quận Châu Thành, quận B́nh Minh, quận Tam B́nh, quận Chợ Lách, quận Trà
Ôn, quận Vũng Liêm, và quận Minh Đức) trong khi nhà sư đi vân du các nơi.
Người viết xin phép trích dẫn những đoạn diễn tả độc đáo về vùng địa lư này
để kết luận cho bài viết Nhớ Về Vĩnh Long này.
Vĩnh Long cảnh đẹp người xinh,
Quyện ḷng du khách gợi t́nh nước non! (quận Châu Thành)
Có ai về đến Vĩnh Long
Cho tôi nhắn gởi đôi ḍng nhớ thương!
Nhớ Long Hồ, nắng hai sương
Nhớ thuyền đủng đỉnh ngược đường Cổ Chiên.
Thương cụ Phan lấy bút nghiên,
Chống quân xăm lược , đoạt miền Đông Nam.
Thêm vào đấy những danh lam,
Tân kỳ, cổ kính, ḷng làm sao quên?
Miếu Tổng Quốc Công hương ngút tỏa,
Tám lăm (85) lá sắc miếu công thần
Ngàn năm “Văn Thánh” trơ sương tuyết
Di Lặc tươi cười rạng ư dân. . . . (quận B́nh Minh)
Ba Càn phát xuất nhiều tôm cá
Chim chuột, bắp dưa, bưởi, mận, cam
Du khách thương hồ hay ngoại quốc
Về rồi vẫn nhớ món chim ram.
Sông Hậu hai bờ cây trái thanh,
Nối liền chiếc Bắc đượm t́nh duyên
Phần đông tín ngưởng theo tôn giáo
Hoa Việt thêm vào Việt gốc Miên. . . . (quận Tam B́nh)
Tam B́nh giáp với Trà Vinh
Sống về ruộng rẫy, dân t́nh hiền lương. . . (quận Chợ Lách)
Quận Chợ Lách nhiều vườn cây ăn trái
Giáp Cái Mơn, Kinh Xáng một con đ̣. . .
Tân Phong ốc gạo nhiều như gạo
Tựa thế Ba Càn có ốc cao. (quận Trà Ôn)
Nước ngọt quanh năm, nhiều Cá Cháy
Sùng Nho, sùng Đạo, sống hiền lương
Có Lăng Thống Chế tên Điều Bác
Pḥ hộ dân cư được cát tường. . . (quận Vũng Liêm)
Đất có ph́ nhiêu cây trái ngọt
Nửa phần làm ruộng, nửa làm vườn. . . (quận Minh Đức)
Sinh hoạt đủ ngành người tấp nập
Chuyên về ruộng rẫy, sống quân b́nh
Những cô thôn nữ bên ḍng nước
Mơ bóng t́nh quân, hưởng thái b́nh.
Vĩnh Long tiền ruộng, bạc sông
Mái chèo khoan nhặt, bóng hồng thướt tha
Nụ cười chào khách gần xa
Hẹn ngày trỗi hát bài ca thanh b́nh.
(Lưu niệm ngày dừng chân nơi 7 quận Vĩnh Long -
Thượng Tọa Giác Huệ)
Nguyễn Thanh Liêm
(LTS: Giáo sư Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm
sinh trưởng tại quận B́nh Đại, Mỹ Tho – sau này là quận Hàm Long, tỉnh Kiến
Ḥa. Tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm, có bằng Cử Nhân Giáo Khoa Việt Hán, và
bằng Ph.D. về Nghiên Cứu và Lượng Giá Giáo Dục, Giáo sư từng làm hiệu trưởng
trường Trịnh Hoài Đức, B́nh Dương và trường Petrus Kư, Sài G̣n. Giáo sư cũng
là Thứ Trưởng Bô Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên, Việt Nam Cộng Ḥa trước năm
1975. Giáo sư hiện là Chủ Tịch của tổ chức Lê Văn Duyệt Foundation và Trưởng
Ban Biên Tập của hai tập san Đồng Nai Cửu Long và Tiền Giang Hậu Giang. Giáo
sư là cố vấn của Viện Việt Học, cố vấn đặc biệt của hội Ái Hữu Petrus Kư, cố
vấn của hội đồng hương Vĩnh Long, cố vấn của hội Nguyển Đ́nh Chiểu – Lê Ngọc
Hân, và của một số các hội đoàn khác.)