Viết về nông thôn,
quê hương Việt Nam, tôi thật xúc động, đây là chiếc nôi, tiếng khóc chào
đời của phần lớn người Việt, chiếm tới 90% dân số. Nông thôn qua lời mẹ
ru, câu ḥ điệu hát, tiếng nói ca dao t́nh tự đầu đời, làm sao quên được
những âm thanh tŕu mến và thiết tha của một thuở ban đầu ghi nhớ ấy. Bây
giờ người viết xin khởi đi từ nông thôn thuở b́nh minh thật thanh b́nh,
sao êm ái và dịu dàng. 1/ Nông thôn trong tiếng sáo diều vi vu
Nông thôn khởi đi trù phú từ ḍng sông Hồng với bao lũy
tre xanh, qua nếp sống làng xă đùm bọc yêu thương và kỷ cương của Nho
giáo. Cái thuở vàng son thời Nghiêu Thuấn, người người yêu thương và kính
trọng nhau, tôn trọng pháp luật tự nhiên. Nhà nhà đêm đêm chẳng cần cửa
đóng then cài, trong một trật tự xă thôn, phép vua phải thua lệ làng. Thế
cho nên, ta mới có em bé quê ngất ngưởng ḿnh trâu, vi vút thổi sáo ḥa
với sáo diều thinh không. Ôi! Một thuở thanh b́nh đẹp biết bao, khi quan
với dân khắng khít như một gia đ́nh: phụ mẫu chi dân, cùng chung nhau một
mái nhà ba gian, chỉ khác biệt nhà ngói với nhà tranh. Khi ấy, quan không
xây nhà Villa hay nhà lầu cao ốc, quan chẳng có tiền gửi ngân hàng Thụy
Sĩ, nên quan chẳng trờ thành hạm tham những như quan chức hiện đại. C̣n
đâu ông quan Nguyễn Công Trứ, khi làm quan không lấy làm vinh, nên lúc bị
giáng xuống làm lính lệ cũng không thấy là nhục. Chính v́ dù ở cương vị
nào, đối tượng vẫn chỉ là phục vụ cho quê hương và đồng bào thân yêu. 2/ Nông thôn biến đổi từ cuộc xâm lược của Tây
phương
Sau khi cuộc xâm chiếm và cai trị của thực dân Pháp đă
hoàn tất tại Việt Nam, với sự xuất hiện của các thành phố và đô thị, là
khởi đầu một chia tay giữa người dân nông thôn và thành thị. Từ đây quả là
hai thế giới cách biệt nhau, rất bất b́nh đẳng. Người nông thôn bị đẩy lùi
lại phía sau bằng danh từ lạc hậu, và câu nói như chê bai là quê mùa dốt
nát. Thực tế, nếu so sánh nếp sống giữa tỉnh thành và thôn quê, quả thật
thua kém, hơn nhau một trời một vực.
Người thành thị da vàng ửng hồng màu da trắng sáng sữa
ḅ, tối rượu sâm banh như thơ Tú Xương, rồi bơ sữa pho mát, bắt tay hôn
nhau nhảy đầm nhảy đ́a. Người nông thôn khởi đi hóa thân thành ngựa, qua
nghề kéo xe tay cho dân thành thị chễm chệ an tọa ở trên cao. Người đô thị
chế riễu nông dân bằng danh từ i tờ, tức là mù chữ dốt nát. Rồi nữa là dân
ngu cu đen. Tội nghiệp cho các thôn nữ nghèo, đói, ra đô thị để kiếm sống
th́ bị gọi là sến. Nghe nhạc b́nh dân, v́ tâm hồn họ đơn giản, đâu có phú
quư, được học hỏi để thưởng thức nhạc cổ điển Tây phương. Thế rồi ḍng
nhạc b́nh dân cũng bị chế nhạo là nhạc sến, tiếng hát dân tộc, th́ gọi là
cải lương nhà quê. Người thành thị đâu c̣n nhớ cội nguồn của họ với quê
cha đất tổ, cũng xuất phát từ thôn quê, không có quê sao có tỉnh. 3/ Nông thôn Việt Nam, khởi đầu một thảm kịch
Nông thôn Việt Nam bắt đầu bằng một thảm kịch, sau khi
thực dân Pháp chiếm và cai trị toàn cơi Đông Dương. Người dân lành thôn
quê là nạn nhân của văn minh cơ khí Tây phương. Qua vụ tắm máu thứ nhất,
khi thực dân Pháp dùng phi cơ thả bom và triệt hạ làng Cổ Am, một căn cứ
trọng yếu của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Một làng xă đầu tiên biến thành biển
lửa và tất cả dân lành, già trẻ trai gái, hóa ra tro bụi. Cuộc tắm máu
khủng khiếp thứ hai do Phát xít Nhật là vụ nạn đói năm 1945 với 2 triệu
dân nông thôn chết đói, tức 10% dân số Việt Nam, thời đó là 20 triệu người
nào có khác chi diệt chủng. 4/ Nông thôn máu lửa qua cuộc chiến 1945-1975
Cuộc chiến Quốc Cộng 30 năm với sự tham dự của các thế
lực Quốc Tế từ 1945-1975 đă khiến từ 6 đến ngót 9 triệu người VN, cả hai
phía tử nạn, trong số dân nông thôn chiếm đến hơn 80% dân số.
Chiến tranh 1945-1954 đă cướp đi khá nhiều sinh mạng
người Việt, mà nông dân kể như đi hàng đầu. Đau thương nhất là cảnh người
Việt giết nhau. Qua tội ác Việt Cộng với vụ đấu tố địa chủ tại nông thôn,
gần trăm ngàn nông dân đă bỏ mạng, khiến Hồ Chí Minh phải dùng giọt nước
mắt cá sấu để tạ tội cùng dân chúng.
Tai biến từ chiến cuộc Quốc cộng 30 năm, đă khiến nông
thôn Việt Nam quả thực là một địa ngục, ch́m trong biển máu lửa và chết
chóc oan khiên. Mặc dầu đây là cuộc chiến thần thánh của người Quốc gia
cho lư tưởng tự do nhân quyền và dân chủ của nhân loại.
Thảm kịch nông thôn Việt Nam ghi dấu lại những sự kiện
sau đây: Người dân quê hiện hữu không c̣n chọn lựa nào khác hơn là có một
thời sinh ra để lại tật nguyền, để chết và để bị lăng nhục.
Nông thôn Việt Nam qua 30 năm chinh chiến, là mảnh đất
đẫm máu để các siêu cường thử nghiệm vũ khí hiện đại. Một ḷ sát sinh
khổng lồ cho các phát minh mới mẻ và tân kỳ nhất của khoa học chiến tranh.
Oan khiên và nghiệp chướng đă phủ lên đầu người dân
thôn quê trong thảm cảnh trên đe dưới búa, thác oan giữa hai lằn đạn. Cả
đêm lẫn ngày đều là một cổ hai tṛng. Đó là t́nh trạng những làng xă xôi
đậu da beo, ban ngày Quốc gia, ban đêm Công sản.
Trong 48 giờ của một ngày, người dân bắt buộc phải tuân
theo hai thứ luật pháp. Luật dương gian ban ngày Quốc gia và luật âm phủ
đêm tối của Cộng sản. Để được sống, dân lành đă phải đóng song hành hai
thứ thuế: thuế cho Chính phủ và thuế cho Phiến cộng.
Chiến tranh ngày càng khốc liệt, ruộng đất bỏ hoang
nhiều, đói kém thất nghiệp, người thôn quê chỉ c̣n một sinh lộ t́m vào đô
thị để mưu sinh. Tại đây cuộc sống khốn khó và tủi nhục đang chờ họ trong
những ngày tháng tới tăm tối. Kiếm được công việc nơi thành thị không phải
dễ dàng, các hăng xưởng công tư sở đă đầy đủ chỗ cho dân thành phố. Vậy
đàn ông đành chỉ c̣n nước đi đạp xích lô, phu phen bốc vác nặng nhọc, hoặc
sa vào những nghề bất chánh. Đến các thôn nữ lại tội nghiệp hơn, v́ một
chỗ luôn cần đă dành sẵn cho các cô. Đó là nghề đi làm người giúp việc,
đầy tớ, tức các cô sen và được trả lương bằng bữa cơm nuôi miệng. Thế rồi
họ được gọi bằng danh từ khinh rẻ là mari sến, bị la mắng, chửi, đánh đập,
có khi bị cưỡng hiếp nữa. Có tố cáo với ai, khi họ thấp cổ bé miệng. Ra
tới pháp luật, họ c̣n bị chủ tố ngược lại là vu cáo, sau khi đă ăn trộm
tiền bạc của chủ. Thế rồi thân gái bơ vơ giữa phố chợ, từ thanh y đến
thanh lâu, con đường chẳng bao xa. Già lăo nữa th́ ăn mày.
Cuộc chiến kéo dài bao nhiêu năm đă xô đẩy người nông
thôn ra thành thị gây ra nạn nhân măn tại các thành phố lớn. Nạn nhà ở ổ
chuột đă cướp đi quyền làm người của đám dân quê. Cùng sống dưới một ṿm
trời thị tứ nhưng đă có 2 nếp sống khác biệt một trời một vực giữa giàu và
nghèo. Dân quê ra thành phố đă biến thành công dân hạng 2 tủi hổ nhục
nhằn, như h́nh ảnh người dân da đen so với da trắng thuở xưa tại Mỹ. 5/ Nông thôn VN từ sau 1975 đến ngày nay
Bức họa đồng quê VN từ đẫm máu khi xưa nay thành đẫm lệ
của tủi nhục ê chề. Được phong tặng là nước xuất cảng lúa gạo đứng thứ nh́
trên thế giới hiện nay, thế mà nông dân Việt Nam vẫn bị đói khổ, chỉ v́
Cộng Đảng bóc lột tận xương tủy. Hành tŕnh tủi nhục khởi đi từ phong trào
phụ nữ quê cũng t́nh nguyện đi lấy chồng ngoại quốc tại các nước Á Châu
như Đại Hàn, Đài Loan, Mă Lai, Singapore... Nước Việt Nam không phải là
rừng rậm Phi Châu với nô lệ da đen thuở xưa, thế mà hôm nay, một mai thức
dậy, người thôn nữ VN bỗng biến thành nô lệ da vàng. Ôi! C̣n đâu là những
con Rồng cháu Tiên nữa, với hơn bốn ngàn năm văn hiến ! Phụ nữ nông thôn
xếp hàng cả trăm mạng với không một mảnh áo trên người diễn hành quanh mấy
ông khách Đài Loan chọn lựa mua bán. Một cô gái đôi mươi phải nhắm mắt làm
vợ ông Ba Tàu tuổi đáng ông Nội ḿnh, đă thế chồng c̣n tật nguyền, què,
cụt, chột mù, câm điếc nữa!
Thế rồi sang đất Tàu, họ c̣n bị đánh đập làm nô lệ t́nh
dục cho cả gia đ́nh nhà chồng già trẻ, lớn, nhỡ, bé. Họ bị đem bán đấu giá
trên Internet hoặc đứng bán ở chợ trời như đàn gà nhốt trong chuồng. Thảm
thương nhất là các em bé thiếu nhi nông thôn, mới ở tuổi lớp mẫu giáo đă
bị bán sang Cao Miên làm nô lệ t́nh dục.
Mới nhất đây, phụ nữ làng quê VN c̣n phải đi làm đầy tớ
cho dân các nước Á Châu lân bang. Họ bị hăm hiếp nhiều lần và đánh đập đến
tàn phế qua các môi giới, trước khi được đi làm. Sau khi được cứu thoát,
họ vẫn cam chịu xin ở lại Đài Loan để kiếm tiền, v́ sợ về VN sẽ đói khổ,
không thể cứu sống được cả gia đ́nh.
Bối cảnh nông thôn Việt Nam, kể từ khi đất nước rơi vào
tay thực dân Pháp cho đến ngày nay, vẫn là một bầu trời thê lương ảm đạm.
Từ đẫm máu xưa đến đẫm lệ ngày hôm nay. Quả thật nông
thôn đúng là một địa ngục ngay ở trần gian này. Người dân quê thoát khỏi
chiến tranh chết chóc, th́ nay bị lăng nhục như thú vật, mà từ lâu họ đă
mất quyền làm người, không được biết thế nào là ấm no hạnh phúc. Nguyên do
tội ác này ở đâu ra? Rơ ràng thủ phạm chính là con người cộng sản Quốc tế,
mang quốc tịch và tên gọi là người Việt.
Người Cộng sản phản tỉnh hôm nay cũng phải công nhận
dân tộc Việt Nam hiện tại c̣n khổ cực hơn cả thời Trung Quốc và thực dân
Pháp đô hộ. Lương tâm người Cộng sản mang tên Việt ở đâu? Họ có c̣n chút
xíu nào nhân đạo với t́nh đồng bào nữa hay không? Thưa rằng họ là những
người không tim, từ một hành tinh nào xa lạ có máu lạnh, một quái vật hay
chính là những con quỷ mang mặt nạ người. 6/ Nông thôn Việt Nam tương lai:một hoài băo quê
hương
Sau cơn mưa trời lại đẹp huy hoàng bảy sắc cầu vồng, ta
lại có một ước mơ, tựa ước mơ của mục sư King. Việt Nam tương lai, sau một
giấc ngủ dài, khi thức dậy như thần tiên. Nàng công chúa được đánh thức
bằng nụ yêu chàng Hoàng tử. Nông thôn Việt Nam ngày mai sẽ tương tự như
nông thôn Hoa Kỳ hôm nay. Một nông thôn điện khí hoá. Làng, xă, quận,
thành cũng như tỉnh đô thị, mức sống dân quê và dân tỉnh tương đương như
nhau, với nhà cửa khang trang và tiện nghi đầy đủ, đường xá thênh thang.
Viễn tưởng cho một Việt Nam dân chủ phú cường, phải là một sự kiện có
thật, chứ không là một viễn mơ, mà người ta có quyền tin tưởng. Bởi v́ qua
quốc nạn Cộng sản chỉ là một cơn băo, rồi sẽ phải tan đi mà thôi.
Việt Nam tương lai gần, với kho lúa gạo miền Nam bát
ngát, mỏ kim loại miền Bắc, mỏ dầu hỏa khắp ven biển, lại thêm một trí tuệ
thông minh cần cù trong nước, cộng với khoa học kỹ thuật hải ngoại từ các
siêu cường, con cháu Rồng Tiên VN sẽ trở về xây dựng, phục hưng xứ sở.
Bằng từng ấy dữ kiện, một Việt Nam tự do dân chủ, một con rồng Á Châu, một
cường quốc sẽ không phải là một điều ngạc nhiên.