LỄ HỘI ĐỀN HÙNG 10-3 ÂM LỊCH
GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG Hàng năm cứ vào ngày
mồng mười tháng ba âm lịch nhân dân cả nước nô nức kéo về đền Hùng để
dự lễ giỗ Tổ Hùng Vương, người khai mở nước Xích Qui, Văn Lang xa xưa
của Việt tộc. Truyền thống uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng
cây đă đi vào tâm thức Việt như một nguồn suối tâm linh làm phong phú
thêm đời sống tinh thần của người Việt. Ngay tự thuở xa xưa, người
Việt cổ đă có một đời sống tâm linh siêu vượt. Người Việt cổ đă sớm
nhận thức được cuộc sống thường nhật để t́m ra lẽ sống của cả một đời
người, một nhân sing quan hiện thực nên người Việt cổ không chỉ tin
vào thần thánh mà c̣n tin vào chính con người. Chính v́ vậy, từ xa xưa
người Việt ngoài việc thờ cúng thần linh che chở cho cuộc sống c̣n thờ
cả nhân thần là những người khi c̣n sống đă giúp dân giúp nước, giúp
ich cho địa phương. Đặc biệt người Việt có truyền thống thờ cúng Tổ
tiên, ông bà cha mẹ là những người trực tiếp sinh đẻ ra ḿnh, nuôi
dưỡng ḿnh thành người. Ngay cả ông Trời, đối với người Việt là cư dân
sống bằng nghề nông nên tôn thờ ông trời đă ban cho những giọt nước
mưa tưới xuống đất để hạt giống nảy mầm, cây cối đâm chồi nảy lộc. Ông
trời được dân gian Việt kêu cầu đến “Trời ơi” mỗi khi gặp sự đau
buồn, dân gian c̣n nhân cách hóa ông trời thân thương từ chân trời,
lưng trời đến mặt trời và nếu cần th́ sẵn sàng bắc thang lên hỏi ông
trời .. chứ không thần thánh hoá kiểu Hán tộc là có một ông Ngọc Hoàng
Thượng đế toàn quyền ban phát, toàn quyền sinh sát trên thượng giới và
cả ở dưới trần gian nữa.
Một nhà Việt Nam học người Pháp Léopold Cad́ere đă nhận định về
tín ngưỡng và thực hành tôn giáo của người Việt Nam như sau: “Với
người Việt, Trời không phải là một vị thần, ít nhất là trong quan niệm
dân gian. Đó là ông Trời, đấng h́nh như thuộc về thế giới siêu việt.
Hoàng đế tế trời một cách trọng thể c̣n dân gian th́ cầu trời, kêu
trời hàng ngày bằng ngôn ngữ thông thường. Ư niệm trời thấm sâu vào
tâm tư người Việt và được biểu lộ thường xuyên mỗi ngày qua ngôn ngữ
một cách minh nhiên đến nỗi ta không thể thấy rằng ư niệm trời chính
là một nguyên lư cơ bản và cao cả nhất đối với đời sống tín ngưỡng của
người Việt. Trong khi phương Tây với nền văn minh hết duy thần, duy
linh, duy tâm rồi duy vật để con người hết nô lệ cho thần thánh, rồi
lại lệ thuộc vào vật chất trở thành một động vật cao cấp vô hồn với lư
thuyết duy vật của Karl Marx. Nền văn minh vật chất thái quá khiến con
người t́nh cảm lạnh lùng chạy theo cuộc sống rồi đến một lúc nào đó,
thất vọng chán chường cảm thấy bất an nên thường đặt ra những vấn nạn
như chúng ta từ đâu đến rồi chết sẽ đi về đâu? Một khi tuổi đă xế
chiều, người phương Tây thường hoang mang trước những câu hỏi muôn đời
không giải đáp, hoảng hốt trước cái chết nên con người trở nên vô thần
hoặc phải t́m đến tôn giao chấp nhận một cách vô thường.
Với niềm tin đơn giản chân chất của người Việt cổ th́ Tổ Tiên,
ông bà cha mẹ đă sinh ra ḿnh chứ không phải do một thần linh nào từ
trên trời. Chính v́ thế phải biết ơn cha mẹ đă sinh thành dưỡng dục
ḿnh nên người. Bổn phận con người là phải hiếu thảo với cha mẹ, anh
chị em thương yêu đùm bọc lẫn nhau v́ cùng một mẹ mà ra. Huyền thoại
Rồng Tiên với Bố Lạc mẹ Aâu của Việt tộc, chúng ta cùng một bào thai
mẹ Aâu, trăm họ cũng cùng từ một gốc Bố Rồng mẹ Tiên mà ra cả. Trên
thế giới duy nhất chỉ có dân tộc ta mới có hai chữ “ Đồng bào” nên đối
với tha nhân chúng ta cũng dùng t́nh thân mà đối xử, mới gọi nhau là
bà con cô bác như trong một nhà vậy. Khi sống phải biết tri ân thờ
cúng ông bà cha mẹ để mai này khi ta có chết đi th́ cũng về với ông bà
cha mẹ mà thôi.
Người Việt có một đời sống tinh thần tâm linh sâu thẳm, thể hiện
t́nh cảm thiêng liêng cao cả mà không một dân tộc nào có được. Từ ư
thức tôn thờ Quốc tổ Hùng Vương và các anh hùng dân tộc, danh nhân văn
hoá đến ông bà tiên tổ đă tập đại thành ư thức cao độ về ḷng yêu nước
thương ṇi, tạo cho mỗi con dân đất Việt niềm tự hào về ḍng dơi con
Rồng cháu Tiên của Việt tộc. Hiện nay ở Việt Nam vẫn c̣n tôn thờ nhân
thần và đạo thờ cúng ông bà vẫn c̣n trân trọng bảo lưu, đó chính là
bản sắc văn hoá đặc trưng của dân tộc và cũng là đạo lư làm người của
Việt tộc. Truyền thống cao đẹp này trải qua hơn sáu ngàn năm lịch sử
vẫn thấm đậm trong ḷng dân tộc với bao thăng trầm biến đổi của ḍng
vận động lịch sử. Cho tới nay và măi măi về sau, hàng hàng lớp lớp thế
hệ trẻ Việt Nam vẫn tưởng nhớ về cội nguồn dân tộc với tất cả ḷng
hănh diện tự hào Việt Nam. Tự xa xưa, tiền nhân ta đă chọn ngay mồng
mười tháng ba là ngày giỗ Tổ Hùng Vương. Tháng ba là tháng Th́n, tháng
của bố Rồng và ngày mười là ngày của mẹ Tiên v́ giỗ quốc mẫu Aâu Cơ
vào ngày mồng 5 tháng 5 hàng năm.
Đền Hùng nằm trên núi Nghĩa Lĩnh c̣n có tên là núi cả, núi cao
nhất 175 mét trong quần thể 100 ngọn núi ở Vĩnh Phú. Theo Hùng triều
Ngọc phả, Thần phả xă Tiên Lát huyện Việt Tŕ tỉnh Hà Bắc th́ đến đời
Hùng Vương thứ 16 là Hùng Tạo Vương huư Đức Quân Lang mới dời đô xuống
Việt Tŕ, Phong Châu. Hùng Tạo Vương trị v́ từ năm Tân Dậu 660 TDL đến
năm Nhâm Th́n 569 TDL ngang với thời Chu Linh Vương đời Đông Chu. Sử
quan triều Thanh là Tiền Hi Tộ đă nhân sự kiện này sửa đổi kéo lùi
niên đại lập quốc của Văn Lang trong Đại Việt Sử Lược để xoá nhoà dấu
tích về nước Văn Lang Việt cổ xưa như sau: “ Đến đời Trang Vương nhà
Chu(696-682TCN), ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được
các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu là nước
Văn Lang, phong tục thuần hậu, chất phác, chính sự dùng lối thắt nút.
Truyền được 18 đời đều gọi là Hùng Vương”. (*)
Theo học giả Trần Quốc Vượng th́ Việt Tŕ và vùng xung quanh
Vĩnh Phú là đỉnh cao nhất của tam giác châu sông Hồng. Sông Hồng là
tên gọi muộn màng ở cuối thế kỷ thứ XIX do màu nước của sông này. Sách
Thuỷ Kinh chú ở thế kỷ thứ VI gọi nó là Tây Đạo, cái “tên chữ” Hán
Việt này là sự phiên âm từ một tên Tày cổ “Nậm Tao” mà tên Việt hiện
nay c̣n giữ được ở Việt Tŕ là sông Thao. Tam giác châu sông Hồng được
giới hạn bởi dải núi Tam Đảo ở ŕa Đông Bắc và dải núi Tản Viên ở ŕa
Tây Nam. Nói theo ngôn ngữ Phong thủy cận địa lư học th́ đất tổ với
trung tâm điểm Việt Tŕ ở ngă ba Bạch Hạc ngoảnh mặt hướng biển hậu
chấm xa là dải Hoàng Liên Sơn chất ngất trời Nam, tay“Long” là dải Tam
Đảo với dưới chân nó là sông Cà Lồ. Tay “ Hổ” là dăy Tản Viên với
dưới chân nó là sông Tích, sông Đáy. Trước mặt là sự “ Tụ thuỷ” rồi “
Tụ nhân” trên đôi bờ nhị thuỷ với các đầm lớn trũng lầy như đầm Vạc
Vĩnh Yên, ao Vua, suối Hai Sơ Tây … Thế đất đó bảo đảm một viễn cảnh
phát triển ngàn năm, hơn bốn ngàn năn nếu tính từ người Việt cổ Phùng
Nguyên đến ngày nay. Bao quanh điểm Việt Tŕ là những núi đồi lô nhô
như bát cơm mà tư duy vũ trụ luận dân gian h́nh dung thành bầy voi
trăm con mà tới 99 con chầu về đất tổ.
Đền Hùng gồm Đền Hạ, Đền Trung, Đền Thượng và Lăng vua Hùng.
Từ dưới đi lên qua cổng Đền cao 8m1, nóc cổng h́nh dáng tám mái, hai
bên là phù điêu h́nh 2 vơ sĩ cầm đao và chuỳ bảo vệ đền. Bước lên 225
bậc đá lên đến đền Hạ. Tương truyền nơi đây mẹ Aâu đă sinh ra bọc trăm
trứng sau nở thành trăm người con trai. Bước thêm 168 bậc thang đá là
đến Đền Trung toạ lạc ngang sườn núi Nghĩa Lĩnh, theo tương truyền th́
đây là nơi Lang Liêu đă gói bánh dày bánh chưng dâng vua cha để cúng
tiên tổ nhân ngày Tết. Chính tại nơi đây, vua Hùng thường hội các Lạc
Hầu Lạc Tướng để bàn việc nước.
Đền Trung thờ phượng các vua Hùng và ḍng dơi, có cả bệ thờ
công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa. Ngay ở gian giữa đền Trung treo bức
đại tự “ Hùng Vương Tổ miếu” nghĩa là miếu thờ Tổ Hùng Vương, gian bên
phải treo một bức đại tự “ Triệu Tổ Nam bang” nghĩa là Tổ muôn đời của
nước Nam, gian bên trái treo bức “ Hùng Vương Linh tích” nghĩa là
Huyền tích linh thiêng của vua Hùng. Bước thêm 132 bậc thang đá nữa là
tới đền Thượng. Đền Thượng có 4 nếp nhà : Nhà chuông trống, nhà Đại
Bái, nhà Tiền Tế, Cung thờ. Trên ṿm cung cửa chính ra vào được trang
trí phù điêu h́nh 2 vệ sĩ phương phi làm nổi bật bức hoành phi 4 chữ “
Nam Việt Triệu Tổ” nghĩa là Tổ muôn đời của nước Việt Nam. Trong nhà
Đại bái có câu đối bất hủ:
Thác thuỷ khai cơ, Tứ cố sơn
hà qui bản tịch ..
Đăng cao vọng viễn, quần phong la liệt tự nhi tôn ..!”
Mở lối đắp nền bốn hướng non sông về một mối
Lên cao nh́n rộng, ngh́n trùng đồi núi tựa đàn con ..”
Trong nhà Tiền tế đặt một
Hương án trên để tráp thờ bên trong đặt một triện gỗ h́nh vuông có
khắc 4 chữ “ Hùng Vương tứ phúc”. Đặc biệt có treo một bức hoành phi
trong đó có câu : “Quyết sơ dân sinh” nghĩa là cuộc sống của nhân dân
là điều quyết định đầu tiên của người lănh đạo. Ngay từ thời vua Hùng
đă lấy dân làm gốc “Tất cả v́ dân, do dân và của nhân dân” c̣n giá trị
măi đến muôn đời. Bên phải đền Thượng là cột đá thề của An Dương
Vương, bên trái đền Thượng là Lăng vua Hùng nh́n về hướng Đông Nam,
kiến trúc theo h́nh khối vuông, trên có cổ diêm 8 mái, đỉnh chóp đắp
h́nh rồng uốn lượn nổi lên 3 chữ khắc ch́m “Hùng Vương Lăng”. Trên mỗi
mặt tường đều đắp mặt hổ phù, thành bậc đắp kỳ lân, cửa chính của Lăng
nổi lên 2 câu đối tri ân Quốc Tổ Hùng Vương:
“ Lăng tẩm tự năm nào, núi Tản sông Đà, non nước vẫn quay về đất
Tổ …
Văn minh đương buổi mới, con Hồng cháu Lạc, giống ṇi c̣n biết
nhớ mồ ông ..!”
Hàng năm vào ngày mồng tám tháng ba là ngày lễ hội Hùng Vương
được xem như Quốc lễ của cả một dân tộc. Thời xưa đích thân nhà vua
đứng chủ tế với đủ nghi thức tế lễ long trọng. Lễ vật gọi là lễ “Tam
sinh” gồm nguyên một con heo, một con ḅ và một con dê. Bánh chưng và
bánh dày là lễ vật không thể thiếu được cũng như khi cử hành tế lễ
phải có đầy đủ bộ nhạc cụ đặc biệt là chiếc trống đồng độc đáo của
Việt tộc.
Sau phần tế lễ là phần lễ hội với “cuộc rước bánh dày bánh chưng
và rước cỗ chay”, “ Rước voi” và cuối cùng là lễ “ Rước kiệu bay”
truyền thống của dân gian các làng xung quanh vùng đất Tổ. Mỗi làng
đều đem theo kiệu riêng của làng ḿnh từ các làng do vị bô lăo dẫn đầu
rồi đến thanh niên trai trẻ mặc vơ phục thuở xưa tay cầm đủ loại cờ
quạt sắc màu rực rỡ. Tất cả tề tựu dưới chân đền chờ cử hành tế lễ tạo
nên một rừng người, rừng cờ hoa với đủ sắc màu. Mọi người nô nức dự lễ
hội, già trẻ rộn ră tiếng cười nhưng khi tiếng chiêng tiếng trống khai
lễ th́ không khí trang nghiêm u mặc bao trùm cả một vùng đất Tổ.
Sau phần tế lễ rước kiệu là phần hội hè với đủ mọi tṛ vui chơi
cho nam thanh nữ tú tham dự thưởng ngoạn. Mở đầu là cuộc thi đua
thuyền truyền thống của các đội thuyền Rồng của các làng trong hồ Đá
Vao ngay cạnh chân núi. Dọc bờ hồ ṿng quanh ven chân núi đủ các tṛ
vui chơi nào là những rạp tuồng chèo, những cây đu tiên, những tṛ
chơi dân gian như đánh cờ người, tṛ “tung c̣n” giữa thanh niên thiếu
nữ ngày xuân, những phường “hát Xoan” của các nơi về tụ hội tổ chức
hát Xoan với những làn điệu dân ca truyền thống mỗi độ xuân về.
Việt tộc là cư dân nông nghiệp nên thường tổ chức lễ tết hội
hè quanh năm suốt tháng nhưng lễ hội đền Hùng mang một ư nghĩa hết sức
cao đẹp. Dự lễ hội đền Hùng chính là cuộc hành hương trở về nguồn cội
dân tộc trong tâm thức mỗi con dân đất Việt. Lễ hội đền Hùng không đơn
thuần là cuộc chơi xuân với những hội hè đ́nh đám mà để chúng ta hướng
vọng về Quốc tổ Hùng Vương, người truyền thừa sự sống và khai mở đất
nước Văn Lang cho tất cả chúng ta. Trên thế giới ngày nay, có lẽ chỉ
có dân tộc Việt Nam có Quốc tổ để tôn thờ và có một huyền thoại Rồng
Tiên đẹp như áng sử thi để chúng ta có quyền tự hào gọi nhau là đồng
bào, là anh em ruột thịt cùng một mẹ sinh ra:
“ Nhớ xưa Quốc Tổ dựng nền,
Truyền thống văn hiến sử thiên Việt hùng ..
Bọc điều trăm họ thai chung,
Đồng bào tiếng gọi vô cùng Việt Nam”
Chúng ta hăy lắng nghe lời của Hoàng Đế Quang Trung, vị anh hùng
tài ba lỗi lạc, một vị vua anh minh tài đức nhất trong lịch sử Việt
nói với thế hệ hệ cháu con chúng ta về “Nguồn gốc tộc Việt” của chúng
ta như sau:
Chúng ta đều do Tổ Tiên sinh ra, không cớ là trai gái, già trẻ,
không cứ là chi tộc nào, ḍng họ nào .. Mọi người đều là “ CON RỒNG
CHÁU TIÊN”, đều từ một bào thai của Mẹ Aâu nên tất cả từ một họ sinh
ra các ngành các chi mà thôi .
Cành cây lớn muôn lá, gốc vốn ở rễ. Nước có ngh́n ḍng sông,
muôn ngọn suối, vốn có gốc từ một ngọn nguồn. Cảnh vật c̣n như vậy,
huống chi là con người chúng ta. Con người sinh ra đời, đời đời nối
tiếp về sau, đều do các người đời trước nuôi nấng d́u dắt vậy.
Ngưỡng mộ và tưởng nhớ tổ tiên, Chúng ta hăy lấy việc siêng
năng mà bồi đắp cho gốc rễ. Lấy sự cần kiệm làm răn .. Rồi tu nhân
tích đức, giàu ḷng thương người hơn là chê bai ghen ghét người.
Là con cháu th́ chúng ta phải nối tiếp
truyền thống của Tổ tiên, chứ lẽ nào con cháu mà lại không suy nghĩ về
ư nghĩa thâm trầm cao đẹp nói trên hay sao ?
HOÀNG ĐẾ QUANG TRUNG
Nói chuyện với các bô lăo làng Vân Nội
(BÁCH VIỆT TỪ ĐƯỜNG TỘC PHẢ)
Thuyết minh của La Sơn Phu Tử
CHÚ THÍCH:
(Theo Lê Xuân Diệm trong LSVN tập 2 trích dẫn Lê
Tư Lành “ Văn học đề vịnh Đền Hùng”, Khảo cổ học Hà Nội 1969 số 34
tr177).
* Nguyên bộ sử có tên là Đại Việt sử lược của một tác giả vô danh đời
Trần. Bộ sử đă bị quân Minh tịch thu và tiêu hủy. Bản duy nhất c̣n lưu
giữ trong Tứ Khố Toàn Thư của Triều Thanh sau khi đă bị Tiền Hy Tộ sữa
chữa lại và đổi tên là Việt sử lược. Đặc biệt nói về sự thành lập quốc
gia Văn Lang, ngoài việc kéo lùi thời gian thành lập để xoá nhoà nguồn
cội gốc tích Việt. Tiền Hy Tộ c̣n xuyên tạc ư nghĩa của sự hợp nhất 15
bộ để chống Hán tộc xâm lăng là do một người lạ dùng ảo thuật áp phục
được các bộ lạc rồi tự xưng là Hùng Vương? Tiền Hi Tộ c̣n chép Hai Bà
Trưng là nổi loạn, xuyên tạc ư nghĩa của cuộc khởi nghĩa của Hai Bà …
Thế mà một số người lại nhân danh khoa học lịch sử hiện đại đă bác bỏ
niên đại 2879 TDL mở đầu và nhất loạt cho rằng “niên đại mở đầu của
thời sơ sử ở Việt Nam được xác định là cách ngày nay khoảng từ 2.600
năm đến 2.500 năm” để phù hợp với sự sửa đổi Việt sử lược của Tiền Hy
Tộ. Sử quan đóng khung trên đă phủ nhận cội nguồn và đi ngược lại
quyền lợi của dân tộc, phản bội dân tộc.
* Tính từ năm 2879TDL( Trước Dương lịch) là năm Kinh Dương Vương lên
ngôi cho đến ngày nay 2.007 th́ lịch sử lập quốc của Việt tộc là 4.886
năm. Chính v́ vậy chúng ta có quyền tự hào là có gần năm ngàn năm văn
hiến.
* Các nhà Khảo Tiền sử đă đo chỉ số sọ của người Việt cổ rồi xác định
niên đại bằng phương pháp phóng xạ Carbon C14 ít nhất là 6 ngàn năm.
Chính v́ vậy có thể nói dân tộc Việt Nam có hơn 6 ngàn năm lịch sử.
HUYỀN
THOẠI RỒNG TIÊN
TỪ TRUYỀN THUYẾT TỚI HIỆN THỰC LỊCH SỬ
Mỗi dân tộc đều có những truyền kỳ
lịch sử được thần thoại hoá thể hiện ḷng tự hào dân tộc mang tính sử
thi của dân tộc đó. Nữ sĩ Blaga Dimitrova cũng như nhiều học giả ngoại
quốc khác đă hết sức ngạc nhiên xen lẫn thán phục khi nghiên cứu về
lịch sử Việt Nam, một dân tộc mà huyền thoại và hiện thực đan quyện
hoà lẫn với nhau đến độ khó có thể phân biệt đâu là huyền thoại đâu là
hiện thực nữa. Thật vậy, huyền thoại Rồng Tiên về cội nguồn huyết
thống Việt tuy đượm vẻ huyền hoặc nhưng lại tràn đầy tính hiện thực,
thấm đậm nét nhân văn của truyền thống nhân đạo Việt Nam.
Là người Việt Nam, từ em bé thơ ngây đến cụ già trăm tuổi, từ
bậc thức giả đến bác nông dân chân lấm tay bùn, không ai không một lần
nghe truyện cổ tích họ Hồng Bàng. Chúng ta tự hào là con Rồng cháu
Tiên của Bố Lạc Mẹ Aâu với thiên t́nh sử đẹp như một áng sử thi mở đầu
thời kỳ dựng nước của ḍng giống Việt. Truyện họ Hồng Bàng về khởi
nguyên dân tộc, lần đầu tiên được Hồ Tông Thốc chép trong tác phẩm “
Việt Nam thế chí” vào thế kỷ XIV đời Trần nhưng sách đă bị quân Minh
tịch thu tiêu huỷ nên không c̣n nữa. Đầu thế kỷ XIV, Trần Thế Pháp và
Lư Tế Xuyên đời Trần đă chép lại những truyền thuyết dân gian vào bộ
sách “LĨNH NAM TRÍCH QUÁI” và “VIỆT ĐIỆN U LINH”(1) để truyền lưu
nguồn gốc giống ḍng Việt cho đời sau. Trần Thế Pháp tác giả Lĩnh Nam
Trích Quái viết :“Từ thời Xuân Thu Chiến Quốc chưa có quốc sử để ghi
chép cho nên nhiều truyện bị mất đi, may c̣n truyện nào không bị thất
lạc được dân gian truyền miệng th́ đó là SỬ ở trong truyện chăng? Than
ôi, Lĩnh Nam Liệt truyện sao không khắc vào đá, viết vào tre mà chỉ
truyền tụng ở ngoài bia miệng !? Từ đứa trẻ đầu xanh đến cụ già tóc
bạc đều truyền tụng và yêu dấu, lấy đó làm răn, rất quan hệ đến cương
thường, phong hoá. Oâi ! Há đâu phải là điều lợi nhỏ ???”.
Năm 1329, Lư Tế Xuyên viết Việt Điện U Linh cũng ấp ủ hoài băo
bảo lưu truyền thuyết về nguồn cội dân tộc nên ông cho rằng:“Xem
truyện họ HỒNG BÀNG th́ hiểu lai do việc khai sáng nước HOÀNG VIỆT.
Trời đă sai chim huyền điểu giáng thế sinh ra vua Thương th́ hẳn có
việc trăm trứng nở thành trăm con trai chia trị Nam quốc. Truyện họ
Hồng Bàng không thể mất được …”. Học giả Lê Quí Đôn trong “ Kiến văn
Tiểu lục” viết năm 1777 đă nhận định : “ Hồi đầu niên hiệu Khai Hựu (
1329-1341) nhà Trần, Lư Tế Xuyên phụng mệnh chép Việt Điện U Linh tập,
ghi đền miếu thờ các vị thần, có tŕnh bày hạo khí linh tích 8 vị Đế
vương Lịch đại và 12 vị nhân thần. Sách này lời văn trang nghiêm, sự
việc xác thực, cũng tỏ ra tài nhà sử học lành nghề. Trong sách có dẫn
Giao Châu kư của Tăng Cổn, Sử kư của Đỗ Thiện và truyện Báo cực. Những
sách này đều không c̣n thấy lưu truyền ..!”.
Măi đến đời Lê, sử gia Ngô Sĩ Liên mới chính thức đưa thời đại
Hùng Vương vào bộ ĐẠI VIỆT SỬ KƯ TOÀN THƯ. Quan niệm của ông khi viết
sử là để “Xét rơ nguồn gốc xưa nay của trị loạn để bạo biếm khen chê
răn đời…”. Ngô Sĩ Liên mới ghi thời đại HùngVương trong phần ngoại kỷ,
mà chưa chính thức ghi vào chính sử cốt ư để cho thế hệ đời sau soi
sáng cội nguồn qua các công tŕnh nghiên cứu để minh nhiên lư giải
nguồn gốc dân tộc. Đại Việt Sử kư Toàn thư chép: “Nước ĐẠI VIỆT ta ở
về phía Nam Ngũ Lĩnh, thế là Trời đă chia bờ cơi Nam Bắc hẳn ḥi. Thủy
tổ của ta là con cháu Thần Nông. Trời đă sinh ra vị chân chúa v́ thế
mới cùng Bắc triều đều làm chúa Tể một phương ….”.
Đại Việt Sử kư Toàn thư chép về họ Hồng Bàng như sau : “: Xưa
cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, Rồi
sau Đế Minh đi tuần phương Nam, đến dăy Ngũ Lĩnh gặp Vụ Tiên nữ sinh
ra Vương (Lộc Tục). Vương là bậc Thánh trí thông minh. Đế Minh yêu quí
lạ, muốn cho nối ngôi. Vương cố nhường cho anh ḿnh, không dám vâng
mệnh. Đế Minh v́ thế lập Đế Nghi là con trưởng nối ḍng trị phương
Bắc. Lại phong cho vua là Kinh Dương Vương, trị phương Nam, đặt tên
nước là Xích Quỉ. Vương lấy con gái Chúa Động Đ́nh tên là Thần Long,
sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân huư là Sùng Lăm, nhà vua lấy con
gái của Đế Lai là nàng Aâu Cơ, sinh ra trăm trai. Tục truyền là sinh
ra trăm trứng), ấy là Tổ của Bách Việt (Trăm giống Việt). Một hôm vua
bảo Aâu Cơ rằng : “ Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, thuỷ hoả
khắc nhau, sum hợp thật khó”. Bèn cùng nàng từ biệt nhau, chia năm
chục con theo mẹ về núi, năm chục con theo cha về miền Nam. Có sách
chép là về biển Nam. Phong người con cả là Hùng Vương nối ngôi
vua”.(2) Lê Tung viết trong “ Việt sử Thông giám Tổng luận” năm 1514
có lời bàn như sau : “ Hùng Vương nối nghiệp Lạc Long Quân .. con cháu
nối ḍng đều được gọi là Hùng Vương, phúc gồm 18 đời, năm trải hơn hai
ngàn ..”.
Tác giả Lĩnh Nam Trích Quái liệt truyện căn cứ vào những
truyện truyền khẩu trong dân gian và một số truyện chép theo những
sách cổ của thư tịch Trung Quốc như “ Tài Quỉ kư” của Trương Quân
Pḥng đời Tống, “Nam Hải Cổ tích kư” của Ngô Lai đời Nguyên. “Lĩnh Nam
Trích Quái Liệt truyện chép về khởi nguyên của dân tộc ta với huyền
thoại RỒNG TIÊN như sau :
“… Cháu ba đời của VIÊM ĐẾ THẦN NÔNG là ĐẾ MINH, Đế Minh sinh ra
Đế Nghi rồi đi tuần du phương Nam tới miền Ngũ Lĩnh gặp con gái bà VỤ
TIÊN đem ḷng yêu thích lấy về sinh ra LỘC TỤC. Lộc Tục dung mạo đoan
chính, sớm tỏ ra thông minh lanh lợi hơn người. Đế Minh thấy thế làm
lạ cho nối ngôi vua nhưng Lộc Tục từ chối nhường ngôi cho anh là Đế
Nghi, không dám vâng mệnh. Đế Minh thấy vậy bèn lập Đế Nghi thay ḿnh
cai trị đất Bắc và phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam. Lộc Tục lên
ngôi lấy hiệu là KINH DƯƠNG VƯƠNG, đặt tên nước XÍCH QUỈ”. Bờ cơi nước
Nam ta lúc bấy giờ, Bắc giáp hồ Động Đ́nh tỉnh Hồ Nam Trung Quốc bây
giờ, phía Nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành) phía Đông giáp bể Nam
Hải, phía Tây tới Ba Thục Tứ Xuyên. Kinh Dương Vương có tài bơi lặn
xuống thủy phủ lấy con gái Vua hồ Động Đ́nh là LONG NỮ sinh ra SÙNG
LĂM chính là LẠC LONG QUÂN sau thay vua cha trị nước, c̣n Kinh Dương
Vương không biết đi đâu.
Đế Nghi ở Phương Bắc truyền ngôi cho con là Đế Lai. Nhân khi
trong nước vô sự, nhớ tới chuyện ông ḿnh là Đế Minh đi tuần thú
phương Nam gặp được tiên nữ. Đế Lai bèn bảo bề tôi thay ḿnh giữ nước
rồi đi tuần du nước Xích Qủi ở phương Nam. Đến nới Đế Lai thấy Lạc
Long Quân đă về Thủy phủ, trong nước vô chủ bèn để cho ái nữ ÂU CƠ và
những kẻ hầu hạ ở lại nơi hành tại c̣n ḿnh đi dạo chơi trong thiên
hạ, xem các nơi h́nh thắng, thấy những kỳ hoa dị thảo, trân cầm dị thú
như tê tượng, đồi mồi, vàng bạc châu báu, tiêu quế nhũ hương, trầm đàn
các vị cùng sơn hào hải vật không thiếu thứ nào. Phương Nam bốn mùa
khí hậu không lạnh không nóng. Đế Lai đem ḷng yêu thích quên cả
chuyện về. Nhân dân nước Nam khổ v́ cảnh phiều nhiễu, không được sống
yên lành như trước nên ngày đêm mong Lạc Long Quân trở về, bèn cùng
nhau cất tiếng gọi: “Bố ơi, bố ở nơi nào hăy mau về cứu chúng con …”
Long Quân thoắt nhiên trở về thấy Âu Cơ dung mạo tuyệt mỹ đang ở một
ḿnh, Long Quân lấy làm yêu thích bèn hoá thành một chàng trai h́nh
dáng xinh đẹp, tả hữu trước sau có kẻ hầu người hạ, tiếng ca tiếng
nhạc vang lừng đến tận nơi hành tại. Âu Cơ trông thấy Long Quân ḷng
cũng xiêu xiêu. Long Quân đón về ở động Long Trang. Khi Đế Lai trở về
không thấy Âu Cơ bèn sai quầân thần đi t́m khắp thiên hạ. Long Quân có
phép thần thông, biến hoá ra trăm h́nh ngàn vẻ, nào yêu tinh quỉ ma,
nào rồng rắn hổ voi làm cho kẻ đi t́m sợ hăi không dám lục lạo. Đế Lai
đành trở về phương Bắc. Đế Lai truyền ngôi cho Đế Du Vơng. Du Vơng
đánh nhau với Hoàng đế ở Phản Tuyền không thắng được mà chết. Họ Thần
nông phương Bắc đến đây là hết.
Lạc Long Quân và Âu Cơ sống với nhau chừng 1 năm th́ sinh
được một cái bọc cho là điềm không lành nên đem bỏ ở ngoài đồng. Qua 7
ngày, cái bọc nở ra một trăm trứng, mỗi trứng là một người con trai,
Long Quân liền đón về nuôi không cần bú mớm. Các con to lớn, người nào
cũng trí dũng song toàn. Ai trông thấy cũng đều kính phục cho là đám
anh em phi thường. Long Quân ở măi nơi thủy phủ, làm cho mẹ con Âu Cơ
phải sống lẻ loi muốn đi về đất Bắc, khi tới biên giới Hoàng đế nghe
tin lấy làm lo sợ chia quan ngăn giữ cửa ải. Mẹ con Âu Cơ không về đất
Bắc được nên đêm ngày kêu gọi Long Quân rằng: “Bố ơi, bố ơi ở nơi nào
làm cho mẹ con tôi phải buồn đau”. Long Quân nghe thấy trở về gặp Âu
Cơ ở Tương Dă. Âu Cơ vừa khóc vừa nói rằng:“Thiếp nguyên là người đất
Bắc cùng chàng ăn ở với nhau, sinh được trăm đứa con trai, không biết
dựa vào đâu mà nuôi nấng. Vậy xin theo chàng, xin chàng đừng ruồng bỏ
làm cho mẹ con thiếp là kẻ không chồng, không cha, chỉ riêng ḿnh đau
khổ mà thôi. Long Quân buồn rầu nói: “Ta là giống RỒNG đứng đầu thủy
phủ, nàng là giống TIÊN người ở trên đất vốn không đoàn tụ được với
nhau. Tuy khí ÂM DƯƠNG hợp lại mà sinh con nhưng giống ḍng tương khắc
như nước với lửa, khó bề ở với nhau dài lâu được. Nay phải chia ly, ta
mang 50 con trai về thủy phủ chia trị các nơi, c̣n 50 con theo nàng ở
trên đất, có việc cùng gắn bó đừng bỏ rơi nhau… Trăm người con trai
cúi đầu lặng lẽ nghe lời Bố rồi cùng nhau từ biệt mà đi…”.
Thoạt nghe có vẻ hoang đường huyền hoặc thế nhưng vấn đề là chúng
ta phải đặt ḿnh vào thuở ban sơ cách đây mấy ngàn năm mới thấy rơ Tổ
tiên ta đă sống ra sao và suy nghĩ thế nào ở thời cổ đại? Từ đó mới có
thể hiểu được những ǵ mà Tổ tiên ta đă gửi gấm cho chúng ta qua bức
thông điệp lịch sử đó. Làm sao có chuyện trứng nở ra người? Chi Âu
Việt của người Việt cổ chọn vật linh biểu trưng là chim nên mẹ Aâu đẻ
ra trăm trứng là như thế. Chim Phượng Hoàng của người Việt tung cánh
bay theo hướng mặt trời, vừa diễn tả ư niệm người Việt thiên cư dần về
hướng Đông xuống miền bể, mặt khác chim bay lên trời gắn liền với h́nh
tượng Tiên của mẹ Âu Cơ.
Mỗi dân tộc đều có những truyền thuyết độc đáo mang sắc thái
đặc thù biểu trưng riêng của dân tộc đó. V́ thế ngay cả những dân tộc
mà ngày nay được xem là văn minh cũng đều có một con vật biểu trưng
cho ḍng giống như Ấn Độ là voi, Tàu là con cọp, Pháp là con gà trống
Gaulois, Anh là con sư tử, Mỹ là con chim Ưng (đại bàng) nên Hiệp
chủng quốc Hoa Kỳ lấy chim đại bàng và Pháp lấy con gà làm quốc huy
cho cả nước.
Theo cơ cấu luận th́ Sử kư là sử hàng ngang ghi chép các
biến cố, các sự kiện cụ thể với những con người cụ thể theo năm tháng,
c̣n Huyền sử được gọi là Sử hàng dọc mang tính tâm linh, xoay quanh
những tác động lư tưởng biểu thị bằng những sơ nguyên tượng giàu phổ
biến tính. Thật vậy, cái biểu tượng uyên nguyên đó có thật như một lư
tưởng nhưng chưa hiện thực được. Đó là những nguyên lư được kết tinh
và tiềm ẩn trong đời sống tâm linh của một dân tộc như trong huyền sử
Rồng Tiên th́ Âu Cơ chỉ là h́nh tượng nguyên sơ.(3) Mẹ Âu Cơ là chi
tộc thờ chim của Việt tộc nên việc mẹ đẻ ra một cái bọc trăm trứng là
chuyện b́nh thường cũng như cái bọc không chỉ nói về cái bọc mà nó
biểu tượng cho ư niệm công thể, ư nghĩa của 2 chữ đồng bào cùng chung
một bào thai của mẹ Âu Cơ. Cũng thế trăm con không nhất thiết phải là
một trăm mà hàm ư số nhiều và quan trọng nhất là thư tịch cổ Trung Hoa
chép về cộng đồng Bách Việt, đă chứng minh sự thật lịch sử của huyền
thoại mà ta cứ tưởng là huyền hoặc hoang đường.
Theo triết gia Kim Định th́ huyền sử nói mà không nói, thật mà
không hiện thực là thế đó. Ngày nay không ai phủ nhận được giá trị của
huyền thoại và truyền thuyết được coi như lịch sử dân gian mà đôi khi
nó có giá trị trung thực hơn cái gọi là “chính sử” của các chế độ độc
tài xưa và nay. Beaudelaire một thi sĩ nổi tiếng đă nh́n nhận sức mạnh
của truyền thuyết huyền thoại v́ đó là “Sử cô đọng của các dân tộc”.
Đại văn hào Pháp Victor Hugo khi viết “ Truyện kỳ các thời đại” ông đă
t́m về nguồn cội, khai thác các truyền thuyết thần thoại xa xưa v́
theo ông, đó là “Lịch sử được lắng nghe ở ngưỡng cửa của truyền
thuyết. Truyền kỳ có phần nào hư cấu nhưng tuyệt đối không có ngụy
tạo”.
Thật vậy, truyền thuyết tự thân nó không phải là lịch sử
biên niên nhưng truyền thuyết là có thật, nó phản ảnh những ư nghĩa có
thật của một thời lịch sử ban sơ mà người xưa kư thác vào đó dưới lớp
vỏ hư cấu huyền hoặc để truyền lưu gửi gấm cho những thế hệ sau. Một
triết gia nói: “Tất cả nền minh triết cũng như trí khôn loài người
đều ẩn tàng trong các huyền thoại, truyền kỳ lịch sử dân gian”. Vấn
đề là phải làm sao hiểu được những lư tưởng uyên nguyên, những tâm
linh sâu thẳm hàm tàng ẩn chứa qua những h́nh tượng nguyên sơ trong
đó. “ Tất cả đă được nói rồi trong các thần thoại, vấn đề chúng ta là
chỉ c̣n phải t́m hiểu” như P.Ricoeur đă viết. Nói theo Jung, một triết
gia thời đại th́: “Truyền thuyết huyền thoại hàm chứa những ư nghĩa
lịch sử trung thực nhất, v́ nhân vật thần thoại là sản phẩm đúc kết
biết bao suy tư của một thời đại tạo dựng độc sáng nhưng nó phải chờ
thế hệ sau diễn đạt bằng ngôn từ minh nhiên lư giải…”(4)
Ngày nay không ai phủ nhận được giá trị của huyền thoại và
truyền thuyết được coi là lịch sử dân gian có giá trị trung thực hơn
cái gọi là “chính sử” tại một số nước độc tài hiện nay. Nói cách khác
như Jung, một triết gia thời đại th́ “Huyền thoại là đạo sống của một
dân tộc” mà theo Wallace Cliff th́ “ Nếu dân tộc nào để mất đi huyền
thoại là đánh mất mạch nối vào nguồn cội quá khứ của tổ tiên và cũng
sẽ mất luôn căn bản cho việc xây dựng tiền đồ của dân tộc đó”. Thật
vậy Laurens va de Post đă xem huyền thoại là di sản thiêng liêng nhất
v́ nó diễn tả tinh thần dân tộc ở mức độ cao nhất. Micia Eliado cũng
cho rằng “Huyền thoại là gia sản quí báu nhất v́ tính chất thiêng
liêng điển h́nh và mang lại ư nghĩa sống cho cả một dân tộc”.
Lịch sử đă chứng minh lời của Karl Jung là “Dân tộc nào
quên đi huyền thoại th́ dân tộc đó dù là những dân tộc văn minh nhất
sớm muộn cũng sẽ tiêu vong…”. Trong lịch sử loài người, nhiều cộng
đồng người đă không tồn tại được với thời gian v́ không có truyền
thuyết khởi nguyên của dân tộc. Huyền thoại là di sản thiêng liêng
nhất, quí báu nhất mà tiền nhân đă để lại cho hậu thế. Huyền thoại là
mạch sống nối cội nguồn quá khứ với thế hệ hiện tại và mai sau, là gia
sản cao quí vô giá ghi nhận những cảm nghiệm nội tâm của người xưa đă
thực chứng suốt ḍng vận động của lịch sử. Thật vậy, huyền thoại Rồng
Tiên đă thấm đậm trong ḷng mỗi người chúng ta để trở thành đạo sống
của dân tộc Việt.
Với phương pháp nghiên cứu huyền thoại, chúng ta nghiên cứu
huyền sử, t́m về nguồn cội ḍng giống qua những gửi gấm của người xưa
là một việc làm hết sức đúng đắn và cần thiết. Vấn đề đặt ra là với
một thái độ nghiêm túc, một phương pháp khoa học, nhưng không có quyền
áp đặt những suy nghĩ của nhân loại thế kỷ 20 lên những tư duy, trí
tưởng tượng của người xưa mà chúng ta phải đặt ḿnh hoàn cảnh lịch sử
thời đó để có thể hiểu được cái gọi là “ lịch sử sống động của dân
gian”. Một mặt, phải gạt bỏ những yếu tố thần thoại, loại ra những chi
tiết hư cấu. Mặt khác, đặt ḿnh vào hoàn cảnh xă hội đời sống tâm linh
của người xưa, mới thấy được cái tinh tuư cốt lơi tiềm tàng trong
truyền thuyết, sau khi phân tích, đối chiếu và xác minh bởi lịch sử
minh thị với những chứng cứ Khảo cổ, Ngôn ngữ, Dân tộc học và Chủng
tộc học.
HUYỀN
THOẠI RỒNG TIÊN
BỨC THÔNG ĐIỆP SÁU NGÀN NĂM LỊCH SỬ
Cũng như nhiều học giả
ngoại quốc khi nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, nữ sĩ Blaga Dimitrova
đă hết sức ngạc nhiên xen lẫn thán phục dân tộc Việt Nam, một dân tộc
mà huyền thoại và hiện thực đan quyện hoà lẫn với nhau đến nỗi khó có
thể phân biệt đâu là huyền thoại đâu là hiện thực nữa. Mỗi dân tộc đều
có những truyền kỳ lịch sử được thần thoại hoá thể hiện ḷng tự hào
dân tộc mang tính sử thi của ḿnh. Thật vậy, huyền thoại Rồng Tiên về
ngọn nguồn huyết thống Việt tuy đượm vẻ huyền hoặc nhưng lại tràn đầy
tính hiện thực, thấm đậm nét nhân văn của truyền thống nhân đạo Việt
Nam. Huyền sử con Rồng cháu Tiên là niềm tự hào của ṇi giống Việt. Đă
là người Việt Nam th́ từ em bé thơ ngây đến cụ già trăm tuổi, từ bậc
thức giả uyên bác đến bác nông dân suốt đời chân lấm tay bùn, không ai
không một lần nghe truyện cổ tích Họ Hồng Bàng. Thật vậy, ai trong
chúng ta mà không biết về nguồn cội Rồng Tiên với thiên t́nh sử của
“Bố Lạc Mẹ Âu” mở đầu thời kỳ dựng nước của ḍng giống Việt.
Kể từ khi Ngô Sĩ Liên dẫn truyện họ Hồng Bàng trong “Lĩnh
Nam Trích Quái” để chép kỷ Hồng Bàng trong bộ Đại Việt sử kư Toàn Thư,
th́ lần đầu tiên huyền thoại Rồng Tiên, nguồn gốc của dân tộc Việt
được ghi trong chính sử nước ta. Gần đây, công tŕnh nghiên cứu về
“Lục Độ Tập Kinh” của học giả Lê Mạnh Thát cho chúng ta biết thêm là
chính Khương Tăng Hội thông qua Lục Độ Tập Kinh là người đầu tiên bảo
lưu truyền thuyết “trăm trứng” của dân tộc ta. Năm 251 Khương Tăng Hội
dịch Lục Độ tập Kinh sang chữ Hán có truyện trăm trứng mà nguyên bản
chữ Phạn là “trăm cục thịt” của truyền thống Phạn Văn mà bản dịch
tiếng Trung Quốc đă lưu hành khắp Trung Nguyên. Lục Độ Tập kinh đă bảo
lưu cho thế hệ Việt Nam chúng ta, về nguồn gốc dân tộc qua câu chuyện
trăm trứng trong kinh Phật măi tới ngày nay.
Truyền thuyết Việt Nam không mang tính huyền thoại hoang đường
của chủ nghĩa duy thần cuồng tín hoặc duy nhân thái quá, đề cao con
người thái quá khiến con người bị nhấc bổng lên trên không, để từ đó
sinh ra tự măn cho rằng chỉ có con người làm nên tất cả, chỉ có cái ta
duy lư đó dẫn tới quan niệm độc tôn, độc đoán, độc tài … của phương
Tây. Truyền thuyết Việt Nam không mang tính huyền thoại ly kỳ như
truyền thuyết về t́nh yêu của những anh hùng không thực và giai nhân
tuyệt sắc của Ấn Độ.
Truyền thuyết Việt Nam cũng không thiên về sức mạnh của vật
chất, của bắp thịt siêu nhiên kiểu Samson, Hercule ... Truyền thuyết
Việt Nam cũng không tôn thờ những thần thánh “thế tục hơn cả thế tục”
kiểu thần Ouranos loạn luân vô đạo, thần tửu sắc Baccus, nữ thần sắc
đẹp Vénus dâm dục, thần quan thầy thương mại Mercure tay cầm túi tiền,
tay cầm dùi đục như thần thoại La Hy phương Tây và những nước cận Đông
khác.
Truyền thuyết Việt Nam nói đúng hơn đó là truyền kỳ lịch sử
Việt Nam được hư cấu dưới lớp vỏ huyền thoại nhưng thực chất lại đề
cao con người với ư nghĩa nhân bản truyền thống. Truyền thuyết Việt
Nam biểu trưng một triết lư văn hoá cao đẹp không những thấm đậm tính
nhân đạo, chan chứa vẻ nhân văn, tràn đầy t́nh đồng bào, nghĩa ruột
thịt qua h́nh tượng “ Bọc điều trăm trứng nở trăm con”. Từ ư niệm đồng
bào dẫn đến ḷng yêu nước, thương ṇi, yêu quê cha đất tổ, tất cả đă
trở thành giá trị đạo lư truyền thống của nền văn minh đạo đức Việt
Nam.
Gạt sang một bên những hư cấu hoang đường quen thuộc của
huyền thoại để cố gắng t́m hiểu những ẩn ư sâu xa hàm tàng trong
truyền thuyết, đă gợi cho chúng ta ch́a khoá để giải mă bức thông điệp
Rồng Tiên từ ngàn xưa gửi cho cháu con đời sau. Tự thân huyền thoại
Rồng Tiên đă chiếu giải trung thực ư nghĩa của những sự kiện lịch sử
sau:
A. VIỆT TỘC LÀ HẬU
DUỆ CHÍNH THỐNG CỦA ĐẾ THẦN NÔNG:
Truyền thuyết đă được xác nhận bởi nguồn tịch cổ là ḍng
Thần Nông phương Bắc định cư ở Bắc lưu vực Hoàng Hà, truyền đến đời Du
Vơng tràn xuống phương Nam giao chiến với Li Vưu (Xuy Vưu) cuối cùng
bị Hoàng Đế đánh đuổi và chết ở Lạc Ấp. Ḍng Thần Nông phương Nam do
Kinh Dương Vương, thủ lĩnh của liên minh bộ lạc ở Châu Kinh và Châu
Dương ở vùng lưu vực sông Dương Tử h́nh thành nhà nước Xích Qui(5) ban
sơ của Việt tộc.
Truyền thuyết cho ta biết là các chi tộc Việt vẫn chung sống
hài hoà, điều này được thể hiện qua việc Lạc Long Quân con của Kinh
Dương Vương, ḍng Thần Nông phương Nam lấy công chúa Âu Cơ con của Đế
Lai ḍng Thần Nông phương Bắc. Lịch sử lại hợp nhất 2 ḍng Thần Nông
Bắc và Nam lưu vực Hoàng Hà để truyền lưu măi tới ngày nay. Đây chính
là cốt lơi của vấn đề chứ không như một số người hẹp ḥi đặt vấn đề
theo cách nh́n thiển cận của họ là Lạc Long Quân lấy cháu họ Âu Cơ.
Xin lưu ư một điều là thời đó là chế độ mẫu hệ nên v́ thế không đặt
thành vấn đề “loạn luân” theo quan điểm chúng ta ngày nay. Mặt khác, ư
nghĩa cao cả của việc Lạc Long Quân lấy Âu Cơ chính là để nói lên sự
hợp nhất của 2 ḍng Thần Nông Bắc và Nam mà người xưa muốn nhắn gửi
cho đời sau mà thôi.
Truyện cổ tích họ Hồng Bàng kể lại rằng:“Lạc Long Quân thay cha
trị nước, dạy dân cày cấy, ăn mặc. Trong nước từ đấy mới có thứ tự
quần thần, tôn ti trật tự, xă hội mới có luân thường đạo lư giữa cha
con, vợ chồng”. Thư tịch cổ cũng ghi rơ: “ Lạc Long Quân giáo dân canh
giá y thực, thủy hữu quần thần, tôn ti chi tự, phụ tử, phu phụ chi
luân. Việt nhân hô phụ viết bố, hô quân viết vương” có nghĩa là Bố Lạc
dạy dân cách cày cấy ăn mặc, vua tôi vợ chồng có luân thường đạo lư.
Người Việt gọi phụ (cha) là Bố, gọi vương (vua) là Quân. Thực tế này
chứng tỏ Việt tộc ngay từ thời đó đó có một nền văn minh đạo đức góp
phần h́nh thành truyền thống văn hiến Việt.
Truyền thuyết cũng cho biết rằng Việt tộc là hậu duệ của Viêm
đế Thần Nông mà h́nh tượng là Totem phức thể “Đầu người, thân trâu” là
ông Tổ của nghề nông. Truyền thuyết kể lại rằng Thần Nông uốn gỗ làm
“lỗi” đẽo gỗ làm “trĩ”, những dụng cụ này dùng sức kéo để vạch thành
luống đất, dạy dân cày cấy. Theo“Bách Việt Ngọc phả Truyền thư” th́
chỉ có nhị hoàng chứ không có tam hoàng như sách sử Trung Quốc chép
thêm Nữ Oa từ trước đến giờ. Phục Hi c̣n gọi là Đế Thiên (2698-2599
TDL), họ Hiên Viên có tên thụy là Thái Hạo thờ rồng. Truyền thuyết dân
gian kể rằng bà Hoa Lư đạp nhân khi đi qua đầm Lôi Trạch, dẫm lên vết
chân khổng lồ của Lôi Thần, vị thần Rồng cảm ứng mà sinh ra Phục Hi.
Đây chính là thụ thai theo lối “dă hợp”, bản sắc riêng biệt của người
Việt cổ.
Là con của Thần Rồng nên Phục Hi mang h́nh tượng đầu và ḿnh là
người, phần dưới là thân Rồng. Em gái song sinh của Phục Hi là Nữ Oa
cũng nửa người nửa Rồng. Giới khảo cổ đă t́m được một bức phù điêu
chạm nổi h́nh hai anh em, đuôi quấn lấy nhau, tay Phục Hi cầm tượng
mặt trời, tay Nữ Oa cầm tượng mặt trăng. Phục Hi truyền ngôi cho con
là Thần Nông tức Đế Thần, họ Khương tên thuỵ là Thiếu Hạo thờ chim.
Sách “Đế vương Thế kỷ” chép về Thần Nông như sau:“ Đế Viêm Thần Nông
họ Khương, mẹ là Nhiệm Tợ con gái của họ Hữu Kiều tên là Nữ Đang, làm
chánh phi cho Thiếu Diễm. Nhân dịp đi chơi phía Nam Hoa Sơn gặp Thần
Long, cảm Nữ Đang ở Thương Dương mà sinh Đế Viêm. Đế Viêm “đầu người
thân trâu”, lớn lên ở sông Khương nên lấy họ Khương. Đế Viêm đóng đô ở
Trần thuộc tỉnh Hà Nam, Đế Viêm chế ra đàn cầm 5 dây, bắt đầu dạy
thiên hạ trồng lúa nên dân gian gọi là Thần Nông. Thần Nông vốn nổi
lên từ Liệt Sơn nên c̣n gọi họ là Liệt Sơn, c̣n một họ nữa là Đẩu Khôi
ấy là Nông Hoàng. Dân gian truyền tụng rằng vào thời Đế Viêm, chư hầu
họ Túc Sa làm phản, không chịu vâng lời. Cơ Văn can gián bị Túc Sa
giết chết. Đế Viêm rút về Tu Đức. Dân Túc Sa nổi giận giết vua rồi về
theo Đế Viêm. Đế Viêm từ nước Trần ḍi đô về Khúc Phụ ở Lỗ, lập lại số
8 quẻ tức 8 lần 8 là 64 quẻ, ở ngôi 120 năm mới băng hà, mộ táng ở
Trường Sa. Đế Viêm lấy con gái họ Bôn Thuỷ tên là Thính Yểu, sinh ra
Đế Lâm, Đế Lâm sinh Đế Khôi, Đế Khôi sinh Đế Thừa .. Đế Minh, Đế Trực,
Đế Ly, Đế Du Vơng phàm 8 đời trị v́ 530 năm”.(6)
Lưu An trong tác phẩm “Hoài Nam tử” chép lại thời thái b́nh
thịnh trị của Thần Nông như sau:“Xưa khi Thần Nông trị thiên hạ, tinh
thần không xuôi ngược trong ḷng, trí óc không rong ruổi ngoài 4 cơi.
Người ta mang ḷng nhân, mưa ngọt tuôn rơi, ngũ cốc tốt tươi. Xuân
sinh, Hạ lớn, Thu gặt, Đông cất. Tháng rảnh ngày thơi, cuối năm dâng
cúng, đúng thời thường khoản, cùng ở “Minh Đường”. Chế độ “Minh Đường”
tuy có mà không. Bốn phương mưa gió thuận hoà, thời tiết ấm áp ôn hoà.
Thần Nông nuôi dân lấy công bằng là chính, dân t́nh chất phác ngay
thẳng, không tranh đua giành giật mà dư của ăn của để, không nhọc nhằn
thân xác mà vẫn xong việc, cùng sống hoà đồng nên được trời đất giúp
đỡ. Do thế, có uy mà không giết, ra h́nh mà không dùng, pháp luật bớt
đi không phiền ai cả. V́ vậy sự cải hoá của “ Người” giống như thần.
Đất của Người, Nam tới Giao Chỉ không ai là không nghe vậy. Vào thời
ấy, luật ít h́nh nhẹ, lao tù trống trơn mà thiên hạ một tục, chẳng ai
mang ḷng gian trá …”.(7)
Truyền thuyết cho chúng ta biết rằng Việt tộc là hậu duệ của
Đế Viêm Thần Nông mà từ xưa đến nay chúng ta cứ cho là của Hán tộc.
Truyền thuyết cũng nói tới ḍng Thần Nông phương Bắc, ḍng Thần Nông
phương Nam nên một số người nghĩ rằng Tàu là ḍng Thần Nông phương
Bắc, ta là ḍng Thần Nông phương Nam nên cho rằng ta với Tàu là cùng
một gốc. Thậm chí một tiến sĩ sử học c̣n ngộ nhận cho ta là từ người
Tàu mà ra. Đó là điều đáng buồn đáng hổ thẹn cho ḍng giống con Rồng
cháu tiên của chúng ta.Thế nên việc t́m hiểu về cội nguồn dân tộc từ
truyền thuyết, từ những mảnh vụn của lịch sử để phục hồi sự thật, t́m
về cội nguồn dân tộc. Chân lư khách quan của lịch sử sẽ sáng tỏ, trả
lại những ǵ sự thật lịch sử cho lịch sử chính là ước vọng ngàn đời
của tất cả chúng ta, những con dân đất Việt hôm nay. Vấn đề đặt ra là
tại sao truyền thuyết lại bắt đầu từ Đế Minh, cháu 3 đời của Đế Viêm
Thần Nông chứ không phải từ Thần Nông? Làm sáng tỏ vấn nan này chính
là để khẳng định Đế Viêm chính là ông Tổ của Việt tộc, đồng thời minh
xác Việt tộc là hậu duệ chính thống của Phục Hi, Thần Nông kế thừa Aâm
dương Dịch biến luận, tinh hoa của triết thuyết phương Đông. Tư Mă
Thiên, tác giả bộ Sử kư nổi tiếng được xem là đại biểu cho sử quan
chính thống của Hán tộc đă viết Hoàng Đế, thủ lĩnh của liên minh bộ
lạc trung nguyên là người mở đầu lịch sử Trung Quốc mà không hề nhắc
ǵ tới Phục Hi, Thần Nông.
Ngày nay, các nhà Trung Hoa học đều thống nhất quan điểm là
trước khi Hán tộc tràn xuống chiếm lĩnh trung nguyên th́ tộc người mà
cổ sử Trung Quốc gọi là“Di Việt” đă làm chủ trung nguyên từ xa xưa.
Lịch sử Trung Quốc chỉ thực sự bắt đầu từ triều Thương, Chu mà thôi.
Ngay các học giả uyên bác của Trung Quốc như V.K.Tinh, Wang Kwo Vu đều
xác định là tất cả huyền thoại về các vị vua cổ xưa đều không thấy ghi
chép ǵ trong “ Giáp cốt” đời Thương. Nếu Hoàng Đế là người khai mở
lịch sử TQ th́ chắc chắn phải ghi rơ trong giáp cốt nên không cần phải
bàn căi nhiều về nhân vật này. Sự tích tên tuổi của các nhân vật huyền
sử Phục Hi, Thần Nông mới được nhắc tới trong sách vở vào thời Xuân
thu Chiến quốc là thời kỳ nở rộ của Bách Việt. Nhóm Tân học“Nghi cổ
phái” do nhà văn Quách Mạt Nhược chủ xướng đă chính thức băi bỏ thời
Tam Hoàng, Ngũ Đế là của Trung Quốc. Chính Lương Khải Siêu, nhà chính
trị nổi tiếng một thời của Hán tộc cũng phải thừa nhận là lịch sử
Trung Quốc mới chỉ có khoảng 4 ngàn năm nay mà thôi.
Thời Xuân Thu là thời kỳ phục hưng của Việt tộc với sự trổi dậy
của các quốc gia Bách Việt, hết Ngô đến Việt xưng “Bá” rồi tới Sở lănh
đạo liên minh 6 nước trung nguyên chống Tần giành quyền thống lĩnh
trung nguyên. Chính v́ vậy, thời kỳ này mới xuất hiện các nhân vật
huyền sử Việt từ Phục Hi, Nữ Oa, Thần Nông, Đế Hoàng (Hoàng Đế) tới
Nghiêu Thuấn, Vũ nhà Hạ của Việt tộc. Chính Khổng Tử, người được xem
là“Vạn thế Sư biểu” của Trung quốc cũng biết rơ điều này nên chưa hề
nhắc tới nhân vật Hoàng Đế mặc dù Khổng Tử đă xác nhận rơ là theo
triều Chu “ Ngô ṭng Chu ..!”.
Trong tác phẩm “Cổ sử Khảo” của Tiều Chu (199-270),“Tam ngũ
lịch” của Từ Chỉnh (200-260),“Đông kỷ” của Vỹ Chiếu (204-273),“Đế
vương Thế kỷ” của Hoàng Phủ Mật (215-282) th́ tất cả các sử gia Trung
Quốc này đều khẳng định rằng Thần Nông có liên quan huyết thống với
Việt tộc. Nói cách khác, Việt tộc là hậu duệ của Thần Nông. Cổ thư
Trung quốc chép lại sự kiện là đời Nghiêu Thuấn đánh dẹp họ Cộng Công
(của Hán tộc) v́ đă tranh ngôi với Chúc Dung (2690TDL) là hậu duệ của
Đế Viêm Thần Nông. Vua các nước Trịnh và hoàng tộc một số nước ở bán
đảo Sơn Đông như Tề, Lỗ, Trần đều nhận họ là con cháu Thần Thái Sơn và
lấy họ Khương là họ của Thần Nông. Gần đây, học giả Eberhard một nhà
Trung Hoa học nổi tiếng đă công bố một sự thật là vào khoảng năm 450
TDL, một người viết sử đă đưa Hoàng Đế nguyên là một vị thần nhỏ trong
địa phận Sơn Đông lên làm vị vua đầu tiên của Hán tộc. Sơn Đông là địa
bàn cư trú của Lạc bộ Trĩ của Việt tộc mà cổ sử TQ gọi là rợ Đông Di
nên vị thần Đế Hoàng chính là người Việt cổ nhưng Hán tộc nhận là thuỷ
tổ nên viết lại là Hoàng Đế theo cú pháp Hán tự của họ. Nếu Hoàng Đế
là một nhân vật có thật th́ Đế Hoàng phải là người Việt cổ, hậu duệ
của Thần Nông nhưng thuộc ḍng Thần Nông phương Bắc. Cổ sử ghi lại là
năm thứ sáu đời Chu Thành Vương 1100 TDL, Việt Thường cử sứ giả đến
triều Chu biếu một con chim Bạch Trĩ, quan Trủng Tể Chu Công Đán nhớ
lời Hoàng Đế có lời thề rằng “ Giao Chỉ ở ngoài phương xa, không được
xâm phạm ..”. Nguồn sử liệu trên cũng hé mở cho chúng ta thấy là Hoàng
Đế có liên hệ huyết thống với Việt tộc.
Theo Từ Hải th́ Hoàng Đế, Li Vưu đều là những thị tộc trưởng nên
sở dĩ có chiến tranh là để giành ngôi vị thủ lĩnh mà thôi. Truyền
thuyết xưa cũng kể rằng Thần Nông và Hoàng Đế có cùng một ông Tổ là
Thiếu Điển. (8) Tất cả các chứng cứ trên đă góp phần làm sáng tỏ sự
thật lịch sử, phục hồi chân lư khách quan của lịch sử đó là nhân vật
Đế Hoàng là người Việt cổ chứ không phải thuỷ tổ của Hán tộc như Tư Mă
Thiên đă viết. Như vậy, thời đại “Tam Hoàng, Ngũ Đế” của họ chính là
của Việt tộc. Tam Hoàng gồm Toại Nhân được xem là thuỷ tổ của loài
người, kế đến là Phục Hy họ Thái Hạo thờ Rồng và Thần Nông họ Thiếu
Hạo thờ chim.
Một vấn đề khác cũng phải đặt ra là sau thời đại Tam Hoàng là
tới Ngũ Đế gồm Đế Hoàng, Đế Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế Nghiêu và Đế Thuấn
đều là người Việt cổ. Công tŕnh nghiên cứu của Nguyễn Nguyên về Hán
ngữ và các phương ngữ Bách Việt ở Trung nguyên đă nhận xét chỉ có
người Hakka (Hẹ) là Lạc bộ Trĩ ở vùng sông Bộc và bán đảo Sơn Đông có
phát âm tương tự với Hán Việt và tiếng nôm của Việt tộc [Ngieu] c̣n
Quan thoại và các phương ngữ khác đọc khác. Sự kiện này chứng tỏ thêm
rơ là Đế Nghiêu là người Việt cổ.(9) Cổ sử Trung quốc cũng cho biết họ
Đào Đường tức Đế Nghiêu đóng đô ở B́nh Dương thuộc Sơn Tây. Đế Nghiêu
truyền ngôi cho Đế Thuấn đóng đô ở Bồ Bản cũng thuộc Sơn Tây. Thuấn
truyền ngôi cho Vũ lập ra nhà Hạ. Mạnh Tử xác nhận vua Thuấn là người
Đông Di và từ điển Từ Hải cũng xác định là tổ tiên và con cháu Thuấn
đều được phong ở đất Đông Di. Thế mà Tư Mă Thiên, sử quan chính thống
Đại Hán lại bao biện cho rằng Thuấn bị xem là người Đông Di v́ thói
quen hồi đó gọi là như thế. Luận điệu này không có tính cách thuyết
phục nếu không muốn nói là khôi hài. Tại sao lại có thói quen gọi một
người đồng chủng nhất là một vị vua là rợ Đông Di? Chính bản thân Tư
Mă Thiên chỉ v́ là bạn Lư Lăng mà đă bị tội phải “cung h́nh”, cắt bỏ
bộ phận sinh dục huống chi gọi vua là man di mọi rợ, chắc chắn phải bị
tru di cửu tộc chứ không phải là tam tộc nữa!
Trong khi chính cổ thư Trung quốc chép là vua Thuấn lấy vợ
Việt và về ở ở rể tại nhà vợ. Sách Lễ Kư viết rơ hơn:“ Đế Thuấn là một
nông dân Việt ở Lôi Trạch đă phát minh ra đàn huyền 5 dây để ca bài
Nam Phong và ông Qui chế ra nhạc để thưởng chư hầu”. Theo Mă Đoan Lâm
trong sách “Văn hiến Thông khảo” th́ lúc đầu Tam Miêu không chịu phục
nên vua Thuấn đă sai Vũ đi đánh cũng không được nên Thuấn chế ra đàn
huyền 5 dây để hát bài Nam Phong. Cổ thư chép là cả Vua Thuấn và ông
Vũ đều mặc áo “lông chim” rồi cầm khiên múa điệu vũ Li Vưu. Sau 3 năm
là con số linh của Việt tộc th́ Tam Miêu mới chịu phục v́ nhận ra
Thuấn, Vũ có cùng một nền văn hoá, cùng một chủng tộc. Theo Đổng Trọng
Thư th́ Li Vưu là cổ thiên tử, là vua phương Nam trước là viên quan
xem thiên văn có cánh mà không bay được hàm ư chỉ người thuộc chi Aâu
Việt thờ chim. Tương truyền Li Vưu được thần thoại hoá là rồng vàng
cao cả, là người có 4 mắt, 6 tay với 2 phụ tá là thần gió và thần mưa.
Công tŕnh nghiên cứu của Kim Định cho biết Li Vưu cũng là tên một bài
múa gồm nhiều vũ nhân nhất 9.9=81. Li Vưu cũng chỉ lá cờ hay xuất hiện
trên bầu trời như h́nh sao chổi đuôi cong, nền cờ màu đỏ ở giữa có
h́nh tṛn màu vàng mà sau này Hoàng Đế Quang Trung cũng chọn lá cờ của
thánh tổ Li Vưu thời cổ đại.(10)
Theo nhà nghiên cứu Vũ B́nh người Trung quốc th́ khi giải mă
chữ “Vũ” cổ đă cho rằng đó là dáng múa của cư dân nông nghiệp khi cầu
mưa. Vũ nhạc có quan hệ mật thiết với lễ dâng hương của truyền thống
thờ cúng thần mặt trời, thờ cúng tổ tiên của cư dân nông nghiệp. Vấn
đề gốc tích vua Vũ lại sáng tỏ khi cổ sử Trung quốc c̣n ghi rơ là năm
Quí Tỵ (2.198 TDL), vua Đại Vũ nhà Hạ hội chư hầu ở Cối Kê thuộc U
Việt. Năm Quí Măo 2.085 TDL, vua Thiếu Khang nhà Hạ phong cho con thứ
là Vô Dư ở đất Việt. Cổ thư chép vua Vũ được ban cho “Cửu Trù” cũng
là “ Cửu Đỉnh” nên chia nước ra 9 châu. Kim Định trích dẫn Danses kể
lại truyền thuyết về vua Vũ khi đi trị thuỷ, đào sâu xuống ḷng sông
th́ gặp mả của Phục Hi, khi mở ra thấy Phục Hy đang quấn đuôi Nữ Oa.
Vua Đại Vũ được ban cho sách “Lạc thư” cũng trên ḍng sông Lạc. Miền
Trung và Hạ lưu sông Hoàng Hà có 2 con sông cùng có tên là sông Lạc.
Một ở ngă ba Tam Giang Bắc của người Việt cổ chi Lạc bộ Chuy ở vùng
Thiểm Tây, Sơn Tây và một ở Bắc tỉnh Hà Nam cũng gọi là sông Lạc nhưng
viết với bộ Thuỷ. Hai thuỷ danh gắn liền với tộc danh đă chứng tỏ vua
Đại Vũ là người Việt v́ chỉ có ông Vũ mới được thiên duyên là rùa thần
nổi lên trên sông Lạc, đội quyển sách “Lạc thư” có ghi 9 điều khoản để
trị nước.
Nói cách khác, huyền sử cho chúng ta thấy rằng quyển sách đó là
tinh hoa Việt bao gồm “Hồng phạm Cửu trù” với Lạc thư để vua Vũ lập ra
nhà Hạ của Việt tộc. Sử sách c̣n ghi lại là vua Thuấn tuần du phương
Nam rồi chết ở núi Thương Ngô. Núi Thương Ngô trước tên là núi Cửu
Nghi ở miền Bắc tỉnh Hồ Nam là địa bàn cư trú của Bách Việt. Hai bà vợ
đi theo buồn đau than khóc rồi chết bên bờ sông Tương nên dân gian lập
đền thờ hai bà gọi là “Tương phi”. Sông Tương bắt nguồn từ Long Uyên
chảy vào hồ Động Đ́nh và ăn lên tới vùng Ba Thục là đất Bách Việt
(Bai-Yue). Dân gian c̣n lập đền thờ Sương Quân là con gái vua Nghiêu
ngay bên hồ Động Đ́nh.
Cổ thư Trung Hoa chép lại rằng vua các nước Ngô Việt đều tự
hào là con cháu Hoàng Đế và vua Đại Vũ nhà Hạ. Chính Tư Mă Thiên trong
“Sử kư” cũng tự mâu thuẫn khi chép rằng tổ tiên của Câu Tiễn, vua nước
Việt thời Xuân Thu là ḍng dơi vua Vũ. Hiện ở núi Cối Kê tỉnh Triết
Giang Trung quốc bây giờ vẫn c̣n đền thờ vua Vũ, nơi mà ngày xưa vua
Vũ đă đến hội chư hầu tại đây. “Sử Kư” cũng chép rằng vua nước Sở nhận
rằng là hậu duệ của Hoàng đế Hiên Viên. Hùng Dịch người được triều Chu
phong cho ở đất Sở là cháu vua Kinh Man là Chuyên Húc (c̣n gọi là
Xuyên Húc) ông tổ của nhà Hạ. Cổ thư ghi rơ Chuyên Húc thuộc ḍng họ
Cao Tân Cao Dương của Việt tộc c̣n lưu lại dấu ấn trong sự tích trầu
cau. Đế Cốc kế tiếp Đế Chuyên Húc lại là cháu của vua Thiếu Hạo, ḍng
Thần Nông thờ chim là vật biểu chính là chi Aâu Việt (Bái điểu tộc)
của Việt tộc. Đế Nghiêu họ Đào Đường là con thứ của Đế Cốc, em Đế Chí
nhưng v́ Đế Chí nhu nhược nên chư hầu tôn Nghiêu lên làm vua lấy hiệu
là Đường Nghiêu. Sự thật lịch sử này sẽ làm đảo lộn tất cả những sử
sách kinh điển của Hán tộc viết theo lư của kẻ mạnh để “Lộng giả thành
chân” khiến mọi người tin theo bao đời nay.
B. VIỆT TỘC, NGƯỜI KẾ THỪA SỞ ĐẮC -
TRIẾT LƯ ÂM DƯƠNG
Tư Mă Thiên đại biểu cho sử quan chính thống của Hán tộc xem
Hoàng Đế là thủ lĩnh cộng chủ của liên minh các bộ lạc là ông Tổ của
Hán tộc. Tư Mă Thiên đă để Hoàng Đế đứng đầu ngũ đế gồm Hoàng Đế, Đế
Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế Nghiêu và Đế Thuấn. Theo “Sử kư” th́ Hoàng Đế
(2700-2600 TDL) là tổ tiên lỗi lạc của Hán tộc ở lưu vực Hoàng Hà. Sau
khi đánh thắng bộ lạc Viêm Đế ở phía Tây và Xi Vưu ở phía Nam trở
thành thủ lĩnh của liên minh bộ lạc ở Trung Nguyên. Từ đó, các sử gia
Hán cho rằng Hoàng Đế là Hiên Viên Hoàng Đế, để từ cơ sở này mặc nhiên
tự cho là hậu duệ của Viêm Đế Thần Nông và Hán tộc là người kế thừa
triết lư Âm Dương. Thật ra đây là một sự cố ư mạo nhận theo lư của kẻ
mạnh mà thôi.
Gần đây, các công tŕnh nghiên cứu của các nhà Trung Hoa học đă
phục hồi sự thật lịch sử bị chôn vùi suốt mấy ngàn năm. Sự thật lịch
sử được chứng minh rằng Hoàng Đế không phải là người khai mở lịch sử
Trung quốc và lịch sử Trung Quốc chỉ mới bắt đầu từ triều Thương Chu
mà thôi. Như vậy, từ lâu Hán tộc vẫn cho rằng họ là chủ nhân của triết
lư âm dương nhưng đó chỉ là sự cố ư mạo nhận của kẻ mạnh không có tính
thuyết phục. Trái lại tự thân triết thuyết Rồng Tiên Bàng qua lời trần
t́nh của Bố Lạc với Mẹ Âu Cơ, 50 con theo Mẹ (Aâm) lên núi, 50 con
theo Cha (Dương) xuống miền biển đă thể hiện lư tương sinh-tương khắc,
tinh tuư cốt lơi của triết lư Đông Phương, minh nhiên khẳng định Việt
tộc là người thừa kế triết thuyết âm dương Dịch biến luận khởi từ Phục
Hy tới Thần Nông.
Như vậy ngay từ thiên niên kỷ thứ 3 TDL, lời nói của bố Lạc
một lần nữa đă chứng minh Việt tộc là người kế thừa sở đắc triết lư
Aâm Dương. Sự kiện bố Lạc phân chia bọc trăm trứng ra 2 bộ Sơn Tinh và
Thuỷ Tinh, 2 bộ Aâm Dương vừa tương sinh vừa tương khắc, tuy 2 mà lại
là một. Lạc Long Quân (Dương) là Rồng ở dưới nước nên dẫn 50 con về về
miền sông nước (bộ Thuỷ tinh: Aâm) c̣n Aâu Cơ là Tiên (Aâm) lại dẫn 50
con lên miền cao rừng núi (bộ Sơn Tinh : Dương) theo đúng nguyên lư
Dịch là trong âm có dương, trong dương có âm, thể hiện “lư tương sinh
tương khắc” tinh tuư cốt lơi của triết lư Đông phương. Con số 100
trứng chính là tổng độ số của Lạc Thư 45 và Hà Đồ 55 của Việt tộc. Mặt
khác, việc vua Hùng phân chia nước Văn Lang ra thành 15 bộ không phải
là sự t́nh cờ. Đây chính là “ Lạc Thư Cửu cung” của Việt tộc. Lạc thư
có 9 ô, độ số là 45 mà tổng số các ô dọc ngang, chéo đều là 15. Đối
với chúng ta ngày nay th́ đây là một dạng toán học cao cấp mà người
xưa gọi là “Ma phương Lạc thư”. Không những truyền thuyết Rồng Tiên mà
Thần thoại Việt với truyện thần đực thần cái, về sau từ Hán Việt gọi
là Nữ Oa Tử Tượng v́ chữ “Nữ” tượng h́nh âm vật và chữ “Tử” tượng h́nh
dương vật. Theo nhà nghiên cứu Bùi văn Nguyên dẫn Bách Việt Ngọc phả
Truyền thư th́ Hoàng Đế họ Phục Hy, c̣n gọi là Đế Thiên có công khai
sáng nước ta từ buổi đầu cách nay 7 ngàn năm. Tương truyền thuở xa
xưa, Phục Hi quan sát nào bầu trời, nào mặt đất để qui ra tám quẻ đơn
của Dịch. Phục Hi dùng thanh tre, thanh nứa để ghép các quẻ đơn từ
Khôn quay ṿng đến Kiền theo 2 hướng đến quẻ Kiền (càn), đúng một ṿng
gọi là tám quẻ đơn. Mỗi quẻ có 3 hào, theo hào âm một vạch đứt [ - -]
tượng h́nh âm vật hoặc một vạch liền [-] tượng h́nh dương vật. Đồ h́nh
tám quẻ đó về sau kư hiệu bằng chữ Hán gọi là đồ h́nh “Bát quải”, quải
là quẻ rất đơn giản là như vậy. Theo tự điển Khang Hy đời Thanh th́
chữ quải là quẻ, thuộc bộ “bốc” là bói chỉ có 2 âm theo lối phiên
thiết (nói lái) là “Cổ mại” đọc là quải, hoặc là “ Cổ hoạch” đọc là
quạch, không có âm quái (dấu sắc). Chắc hẳn chữ bốc là bói mu rùa,
cũng chỉ phiên âm theo tiếng Việt từ chữ bói cũng như chữ quải” phiên
âm từ chữ “quẻ” của chữ Việt mà ra. Aáy thế mà sách“Từ Nguyên” đời Dân
Quốc lợi dụng ư sửa chữ cổ nói lái thành cố, do đó quải nói lái thành
quái có nghĩa là lạ lùng quái quỉ để tiện cho Chu văn Vương sửa chữa
Kinh dịch của Phục Hi. Thật ra là tiện cho việc bênh vực triều Chu sủa
chữa đảo điên Kinh Dịch cái kiểu lấy “râu ông nọ cắm cầm bà kia” một
cách lạ lùng: Từ tám quẻ b́nh thường trở thành tám quẻ “ quái quỉ”.
(11)
Sự thực trên đă minh nhiên khẳng định Việt tộc là người thừa kế
triết thuyết Aâm Dương Dịch biến luận khởi từ Phục Hi tới Thần Nông
tức Đế Thần của Việt tộc. Sự thật lịch sử này được thừa nhận bởi chính
lịch sử Trung Hoa cổ đại. “Kinh Thư” trong phần mở đầu chỉ đề cập đến
Nhị Hoàng là Phục Hi, Thần Nông và Ngũ Đế là Đế Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế
Chí, Đế Nghiêu, Đế Thuấn. Hiện nay thư tịch Trung Quốc chỉ lưu giữ
quyển Kinh Thư chép 2 chương là Đế Nghiêu và Đế Thuấn mà phần c̣n lại
họ nói là đă thất lạc??? (12)
Theo các nhà nghiên cứu Kinh Dịch th́ xét tất cả 64 quẻ dịch
th́ chỉ có 2 quẻ được dành riêng cho 2 con vật quí là quẻ Kiền (Càn)
và quẻ Tiệm. Kiền là quẻ con Rồng và Tiệm là quẻ con chim Hồng. Cả 2
con vật này được xem như vật tổ biểu trưng có tính linh thiêng của
Việt tộc. Nghiên cứu cả 6 hào của quẻ Tiệm là một tiến tŕnh đi lên
không ngừng nghỉ, ngày càng lên cao của con chim Hồng là vật tổ biểu
trưng của chi Aâu Việt. Theo Kinh Dịch th́ hào 1 chỉ chim Hồng tiến
tới bờ nước, hào 2 chỉ chim Hồng tiến lên phiến đá cao, hào 3 chỉ chim
Hồng tiến tới vùng đất bằng, hào 4 chỉ chim Hồng nhảy lên cây mong t́m
cành thẳng để đậu, hào 5 chỉ chim Hồng lên g̣ cao, hào 6 chỉ chim Hồng
bay bổng đường mây. Theo Nguyễn Hiến Lê th́ trong 64 quẻ không có quẻ
nào cho ta cảm tưởng nhẹ nhàng phơi phới cùng cánh chim Hồng bay bổng
tuyệt vời khoan khoái như quẻ này. Bao trùm lên tất cả phần Đại tượng
truyện của Kinh Dịch cho ta thấy rằng quẻ Tiệm này nói về con người.
Người quân tử nên theo tượng quẻ này mà tu thân, tiến dần thành người
hiền rồi thành bậc thánh để cải thiện phong hoá cho dân.
Việc Kinh Dịch chọn 2 quẻ dành cho 2 con vật Rồng chim (Tiên)
linh thiêng, vật tổ biểu trưng của Việt tộc đă minh nhiên xác định
nguồn gốc xuất xứ của Kinh Dịch. Đến đời Chu, Chu văn Vương tiếp thu
ảnh hưởng của văn hoá Việt rồi biến cải thành Chu Dịch thiên về bói
toán chứ không phải là tinh hoa triết lư Aâm Dương Dịch biến luận thể
hiện nhân sinh vũ trụ quan của Việt tộc.
CỘNG ĐỒNG
BÁCH VIỆT
HIỆN THỰC LỊCH SỬ CỦA TRUYỀN THUYẾT
“TRĂM TRỨNG NỞ TRĂM CON”.
Chúng ta đang sống
trước thềm của thiên niên kỷ thứ ba nên mỗi khi nghĩ về huyền thoại
Rồng Tiên th́ thoạt đầu, ai trong chúng ta cũng nghĩ rằng là truyện
huyền hoặc, hoang đường. Dù có tự hào là con Rồng cháu Tiên nhưng với
ư nghĩ đơn giản của đời thường, chúng ta vẫn hoài nghi v́ trên đời làm
ǵ có truyện người đẻ ra trứng, rồi trứng nở ra người?
Với tất cả tấm ḷng và thái độ trân trọng nghiêm túc và với
phương pháp nghiên cứu huyền thoại để tự đặt ḿnh vào hoàn cảnh lịch
sử thời cổ đại th́ những ẩn ư hàm tàng trong huyền thoại sẽ gợi mở
sáng tỏ, minh nhiên lư giải những vấn nan khúc mắc tự ngàn xưa. Có một
thực tế mà chúng ta phải hiểu rơ đó là tất cả các dân tộc thời cổ đại
đều tin tưởng thần linh chở che trong mọi sinh hoạt cuộc sống. Thật
vậy, khi con người vừa bước ra khỏi thời kỳ ăn lông ở lỗ của thuở hồng
hoang để bước vào h́nh thái xă hội ban sơ, con người cảm thấy nhỏ nhoi
trước sức mạnh kỳ bí của thiên nhiên nên yếu tố thần linh ngự trị
trong mọi sinh hoạt của họ. Ngay cuối thiên niên kỷ thứ hai, một số
dân tộc tuy có một nền văn minh cao nhưng vẫn c̣n tôn thờ những vật tổ
linh thiêng của họ như dân Ấn vẫn c̣n thờ ḅ… chúng ta không thể cứ
dựa trên những tập tục cổ của một dân tộc mà đánh giá một cách sai lầm
là xă hội đó kém văn minh, mê tín, hoang đường… Đó là cách nh́n theo
giáo sư viện sĩ Jean Poirier là tiến hoá luận đơn tuyến hay c̣n gọi là
quan điểm giả tiến hoá. Trái lại sự hiện hữu tục thờ vật tổ Totem của
một số dân tộc chứng tỏ tính phong phú đa dạng của nền văn hoá truyền
thống của mỗi dân tộc. Thế nên, việc Mẹ Tiên (Âu Cơ) sinh ra trăm
trứng nở ra trăm người con trai trên b́nh diện tâm linh là b́nh thường
không có ǵ đáng ngạc nhiên cả. Vấn đề là phải t́m hiểu phần tinh tuư,
cốt lơi của nhân vật h́nh tượng Mẹ Tiên như Jung nói: “ sự đúc kết
biết bao suy tư của thời đại tạo dựng độc sáng… phải chờ thế hệ sau
diễn đạt bằng ngôn từ minh nhiên lư luận”.
Thật vậy, đă là Tiên th́ Mẹ Âu Cơ có thể làm bất cứ điều ǵ
mà người phàm không làm được … đó là đẻ ra “trứng” thuộc phạm trù tín
ngưỡng nguyên thủy cũng như phạm trù tôn giáo đ̣i hỏi phải có niềm
tin một cách mặc khải ..v. v… Gạt sang một bên vấn đề tự t́nh dân tộc
để t́m hiểu xem tại sao Mẹ Âu lại đẻ ra “trứng”, chúng ta thấy rơ hàm
ư sâu xa của tổ tiên ta. Thật vậy, ư niệm trứng trong huyền thoại biểu
trưng Totem vật linh biểu trưng của Việt tộc là tộc người thờ chim
(bái điểu tộc) là một con vật đứng đầu trong tứ linh: nhất điểu, nh́
ngư, tam xà, tứ tượng. Nguồn thư tịch cổ cũng cho ta biết “Lạc bộ
Chuy” là chi tộc Việt đầu tiên từ vùng Cao Nguyên Côn Sơn Hi Malaya
tiến xuống Trung Nguyên qua vùng núi Dân, Ba Thục. Lạc bộ Chuy là chi
Việt cổ của họ Hồng Bàng có vật biểu là chim (Việt điểu, Lạc điểu),
ông cha ta đă theo dấu chim Hồng, chim Lạc thiên cư xuống vùng đất
miền núi Dân, Ba Thục cũng được gọi là Châu Phong. Địa danh Phong Châu
ở Bắc Việt Nam cũng chỉ là nhắc lại địa danh cư trú ban đầu của Việt
tộc nơi mà mẹ Âu dẫn 50 con lên núi rồi suy cử người con trưởng làm
vua nước Văn Lang… như truyền thuyết kể lại. “ Âu Cơ và 50 con lên đất
Phong Châu, suy phục lẫn nhau cùng tôn người con cả lên làm vua, hiệu
là Hùng Vương, lấy tên nước là VĂN LANG, Đông giáp Nam Hải, Tây tới
Ba Thục, Bắc tới Động Đ́nh Hồ, Nam tới Hồ Tôn (Chiêm Thành)”.
Sách “Lĩnh Nam Trích Quái” truyện Thánh Tản Viên chép rằng thời
Chu Noăn Vương, vua Hùng thứ 18 đến ở đất Việt Tŕ, châu Phong, lấy
quốc hiệu là Văn Lang. “Hùng triều Ngọc phả” cũng ghi là đời Hùng
Vương thứ 16 là Hùng Tạo Vương huư là Đức quân Lang (660-569 TDL) mới
dời đô về Việt Tŕ trong phạm vi lănh thổ Việt Nam bây giờ. Sự kiện
này phù hợp với cương giới Văn Lang ghi trong thư tịch cổ và những
công tŕnh nghiên cứu địa danh là những từ ngữ của một tộc người đă
ghi tạc vào sông núi nơi địa bàn cư trú của họ ở một thời điểm nhất
định nào đó, cho phép chúng ta kết luận là sự tương đồng của những địa
danh khẳng định địa bàn cư trú của cùng một tộc người trên vùng đó.
Trong số những địa danh th́ thủy danh là tên sông, nhất là những con
sông lớn có tên sớm nhất trước cả tên đất nữa. Công tŕnh nghiên cứu
cho ta thấy 2 con sông lớn ở Đông Á và Đông Nam Á là Dương Tử Giang và
Cửu Long Giang (Mékong) có tên gọi giống nhau và cùng bắt nguồn từ một
danh từ cổ là “Kang”. Cách phát âm này hiện được giữ lại trong các
tiếng địa phương Quảng Đông và Thượng Hải. Xét theo tự dạng th́ từ
“Giang” lại dùng chữ “Công” để phiên âm. Tên sông Mékong được gọi bằng
nhiều tên theo tiếng nói của các dân tộc mà sông này chảy qua. Trung
Quốc gọi là Khung Giang, Lào gọi là Nậm Khỏng, Cambodia gọi là Mê Kong
và xuống đến lănh thổ Việt Nam, con sông này được gọi một cách thân
thương là Cửu Long giang. Bản thân những từ Cửu Long giang, Nậm
Khoỏng, Mékong, Khung Giang, là những dạng tương tự về mặt ngữ âm do
từ một tên gốc là Kông(13).
Về địa danh, nếu chúng ta ngược ḍng thời gian đi sâu xuống lớp
địa danh Hán Việt đang trùm kín vùng cư trú của người Việt th́ có thể
thấy c̣n có một lớp địa danh cổ hơn nữa, đó là lớp tên nôm với yếu tố
cấu thành là từ Kẻ. Những tên nôm với yếu tố Kẻ như thế rất nhiều, có
thể nói rằng hầu hết xă thôn Việt Nam ở vùng đồng bằng và trung du Bắc
Bộ, Bắc Trung Bộ đều có. Tên nôm hiện nay đang bị quên dần đi và ít
được dùng đến, nhưng nó từng tồn tại rất lâu. Trước đây, trong một
thời gian dài nó tồn tại song song với Hán Việt, với sự phân công rơ
ràng là tên nôm dùng để gọi, c̣n tên Hán Việt là “tên chữ”. Như chúng
ta biết, tên đặt ra trước tiên dùng để gọi, đến khi xă hội phát triển
ở mức độ khá cao mới nảy sinh nhu cầu ghi chép. Hơn nữa xét tương quan
ngữ âm giữa các cặp tên nôm và tên chữ th́ chúng ta thấy rơ là tên chữ
được đặt ra bằng cách phiên âm tên Nôm và trong một số trường hợp bằng
cách dịch nghĩa nữa. Điều này một lần nữa khẳng định nhu cầu ghi chép
là điều kiện xuất hiện tên Hán Việt(14). Đặc biệt trong nhiều tên làng
Việt Nam, từ Kẻ trong những tên nôm được phiên âm ra tên Hán Việt bằng
từ Cổ những địa danh có chữ “cổ” đứng đầu rất phổ biến, rất tập trung.
Nh́n rộng ra toàn Trung Quốc th́ địa danh có từ Cổ c̣n thấy rải rác ở
Cam Túc(15), Tứ Xuyên, Quư Châu, Vân Nam, nhưng tập trung nhất vẫn là
vùng Lưỡng Quảng … Như vậy tên nơi cư trú có thành tố “Kẻ” đứng đầu
trong địa danh học cần đặc biệt lưu ư khi xét vùng đất cổ của cư dân
Văn Lang, nó được t́m thấy ở một mức độ tập trung khá cao tại miền đất
bao gồm miền Bắc Việt Nam và vùng Lưỡng Quảng hiện nay. Địa bàn phổ
biến địa danh có từ “Kẻ”, “Cổ” hiện nay có thể trải rộng ra nhiều tỉnh
thuộc Hoa Nam, nhưng chúng ta đều biết địa bàn phân bổ của địa danh,
càng rộng bao nhiêu th́ khởi điểm của loại địa danh đó càng cổ bấy
nhiêu. Rất có thể vùng đất tập trung địa danh thuộc nước Văn Lang như
truyền thuyết cho biết (16).
Tầm nguyên ngữ nghĩa của từ LANG cho chúng ta những nhận
định chính xác hơn về địa bàn cư trú của người Việt cổ cũng như uyên
nguyên ngữ nghĩa của tên nước Văn Lang. Cũng như các dân tộc khác thời
cổ đại khi c̣n là một tộc người th́ lấy chữ “người” để chỉ tên của dân
tộc đó theo ngôn ngữ của họ. Chữ Lang trong tiếng Hán có nghĩa là đàn
ông. Từ này nguyên gốc của Việt cổ c̣n ghi rơ trong truyền thuyết… Con
trai vua gọi là Quan Lang và con gái là Mị nương, hiện từ Lang vẫn c̣n
truyền lưu trong đồng bào Mường, Quan Lang là người đứng đầu một
Mường(17). Ngôn ngữ phương Nam c̣n có những từ như Dranglô của Barnar
có nghĩa là đàn ông, Arăng tiếng Êđê và Urang của Chàm đều có nghĩa là
người. Trong tiếng Indonesia, Mă Lai, chữ Orang cũng nghĩa là người.
Phương pháp so sánh của ngôn ngữ lịch sử xem những từ Văn Lang, Việt
Lang, với Urang, Oârang, cũng xem như Dạ Lang với Drang trong từ
Dranglo là giống nhau trên căn bản. Sự khác biệt là do biến đổi từ
trạng thái nọ sang trạng thái kia theo điều kiện không gian và thời
gian mà thôi.
Căn cứ trên bản đồ nhân chủng cho thấy tộc danh có thành tố
“Lang” trải rộng khắp Trung Nguyên từ lưu vực sông Dương Tử xuống tới
Bắc Trung Việt (Việt Nam) như Dạ Lang (Quí Châu) Bạch Lang (Tứ Xuyên),
Việt Lang (Quảng Đông) và Văn Lang (Bắc Việt Nam) và những danh từ
chung chỉ người như Lang, Dranglo, Orang, trải rộng trên một địa bàn
lớn ở vùng đồng bằng ven biển, các vùng ven biển bao quanh Nam Hải tới
Indonesia, Mă Lai, v. v… Khu vực phân bố các dân tộc này xét về mặt
địa lư phù hợp với cương vực của nước Văn Lang cũ như truyền thuyết kể
lại. Điều này được xác nhận bởi các nguồn thư tịch như sách “Thiên hạ
Quận quốc Lợi bệnh thư” đă bị triều Thanh tịch thu th́ ở tỉnh Quảng
Tây có nhiều người Lang (Lang nhân). Do đó người ta gọi thổ binh ở
vùng này là Lang binh và người Choang cách đây 4, 5 thế kỷ vẫn c̣n
được gọi là Lang và Choang là đọc chữ Lang trại âm mà ra.(17)
Thực tế lịch sử cho chúng ta thấy tính hiện thực của truyền
thuyết trăm trứng nở trăm con với sự hiện diện của các nước mà cổ sử
Trung Quốc gọi là Bách Việt (Bai-Yue). Cái tên Bách Việt theo Đào Duy
Anh xuất hiện lần đầu tiên là trong sách sử là bộ sử kư của Tư Mă
Thiên. Sử Kư chép rằng đời Chu An Vương, Sở Điệu Vương sai Bạch Khởi
đánh dẹp Bách Việt ở miền Nam(18) bấy giờ là đầu thế kỷ thứ IV TDL…
Sách “Tả truyện c̣n gọi là Tả thị Xuân Thu” của Tả Khâu Minh, thiên Tự
quan viết rằng:“ Phía Nam Dương, Hán (Hán thuỷ) là Bách Việt”. Cao Dụ
giải thích tiếp như sau:“Bách Việt là nơi tộc Việt có cả trăm chủng”.
Sách Hậu Hán Thư, Địa lư chí dẫn lời Thần Tán về Bách Việt như sau:“Từ
Giao Chỉ đến Cối Kê trên 7,8 ngàn dặm, người Bách Việt ở xen kẽ nhau
gồm nhiều chủng tính (tên họ) khác nhau …”.
Ngay từ đầu triều Thương, cổ sử Trung Quốc đă đề cập tới tên
một số chi tộc Việt như Aâu Thâm, Việt Aâu, Quế Quốc, Quyên Tử, Sản
Ly, Cửu Khuẩn, Đông Việt, Aâu Nhân, U Việt, Cô Muội, Thả Aâu và Cung
Nhân … Theo “Dật Chu thư” th́ các chi tộc Việt ở Lĩnh Nam như Quế
Quốc, Sản Ly, Quyên Tử, Cửu Khuẩn phải cống nạp đồi mồi, hạt châu,
chim quí, ngà voi, sừng tê, chim Hạc, chó lùn … Lạc Việt cống tre ngà
(đại trúc) măng trúc … Thương Ngô ở phía Nam Hồ Nam cống chim công.
Tuy nhiên, sách “Trúc thư kỷ niên” chép là măi đến đời Chu Thành
vương, năm 1040 TDL “Vu Việt lai tân” nghĩa là đến làm khách thăm xă
giao mà thôi. Đến đời Tống, La Tất viết “Lộ sử” (19) tức là sử của Lạc
Việt đă liệt kê một số nhóm trong Bách Việt như sau : “Việt Thường,
Lạc Việt, Âu Việt, Âu Khải, Âu Nhân, Thả Âu, Cung Nhân, Hải Dương, Mục
Thâm, Phù Xác, Cầm Nhân, Thương Ngô, Man Dương, Dương Việt, Quế Quốc,
Tây Âu, Quyên Tử, Sản Kư, Hải Quỳ, Tây Khuẩn, Kê Từ, Bộc Cần, Bắc Đái,
Khu Ngô gọi là Bách Việt”. Trong những nhóm Bách Việt ấy chúng ta thấy
có những nhóm như Dương Việt ở hạ lưu sông Dương Tử, nhóm Thương Ngô ở
miền Nam tỉnh Quảng Tây, nhóm Sản Lư tức Xà Lư ở tận miền Tây Nam tỉnh
Vân Nam, c̣n Kê Từ, Bắc Đái là những tên huyện thời Hán thuộc quận
Giao Chỉ. Có thể căn cứ vào những địa điểm ấy mà nói rằng sử sách
Trung Quốc xưa gọi là Bách Việt là những nhóm người Việt ở rải rác
trên khắp miền Hoa Nam, phía Tây gồm cả đất Vân Nam, phía Nam gồm cả
đất miền Bắc Việt Nam ta mà sử gọi chung là miền Giang Nam (miền Nam
sông Dương Tử) và miền Lĩnh Nam (miền Nam rặng Ngũ Lĩnh). Trong những
nhóm Bách Việt được chính sử Trung Quốc như Sử Kư và Tiền Hán Thư chép
tương đối kỹ càng là: Đông Việt, Mân Việt, Nam Việt, Tây Âu. Theo Sử
kư mục “Đông Việt truyện” th́ chúng ta biết rằng Đông Việt hay Đông Âu
trong thời Tần Hán đóng đô ở Vĩnh Ninh tức Vĩnh Gia là miền Triết
Giang. Mân Việt th́ ở đất Mân Trung tức là miền Phúc Kiến. Nam Việt đô
ở Quảng Châu gọi là thành Phiên Ngung thuộc miền Quảng Đông, Tây Âu ở
phía Nam sông Ly miền Quảng Tây. C̣n nhóm Lạc Việt, theo Hậu Hán thư
cho chúng ta biết rằng các quận Giao Chỉ và Cửu Chân là người Lạc
Việt, như thế Lạc Việt là nhóm Việt tộc ở miền Bắc Việt Nam…(20)
Như vậy, theo sử sách xưa của chính Hán tộc đă gọi Bách Việt
là những nhóm người sống rải rác khắp miền Hoa Nam, phía Tây gồm cả
đất Vân Nam Tứ Xuyên và phía Nam gồm cả Bắc và Trung Việt Nam bây giờ
mà sử sách thường gọi chung là miền Giang Nam tức miền Nam Dương Tử
Giang hoặc miền Lĩnh Nam, phía Nam rặng núi Ngũ Lĩnh. Tuy nhiên chính
sử Trung Quốc chi ghi một cách sơ xài như Sử kư của Tư Mă Thiên chỉ
ghi kỹ về Đông Việt, Mân Việt, Nam Việt và Lạc Việt mà thôi. Thư tịch
cổ Trung Quốc phải thừa nhận một thực tế lịch sử đó là sự thành lập
của các quốc gia thời Xuân Thu Chiến quốc mà họ gọi là Bách Việt ở
vùng Giang Nam. Sử kư của Tư Mă Thiên chép tương đối kỹ về Đông Việt
tức U Việt của Việt Vương Câu Tiễn không chỉ ở Triết Giang mà lên tới
miền Giang Tô tức châu Từ, quê hương của gốm sứ Việt cổ nổi tiếng của
chi Dương Việt. Nước Việt đóng đô ở Cối Kê với bao thăng trầm nên Lư
Tế Xuyên mới viết “Việt điện U linh” về nước Việt thuở xa xưa. Mân
Việt ở Phúc Kiến, Dương Việt ở Giang Tây, Liêu Việt ở Quí Châu, Điền
Việt, Kiềm Việt ở Vân Nam, Qú Việt ở Tứ Xuyên, Nam Việt ở Quảng Đông,
Aâu Việt c̣n gọi là Tây Aâu ở Quảng Tây và Lạc Việt ở xen kẽ với Aâu
Việt rải rác khắp Hoa Nam nhưng tập trung nhiều nhất ở Quảng Tây và
Bắc Việt Nam bây giờ.
Đối chiếu với cương giới Văn Lang trong truyền thuyết chúng ta
thấy thực tế địa bàn cư trú của cộng đồng Bách Việt rất phù hợp, trải
dài từ Hồ Động Đ́nh xuống tận phương Nam giáp Chiêm Thành và từ biển
Đông sang tới tận Ba Thục ở phía Tây. Thế nhưng Đại Việt sử lược bị sử
quan triều Thanh là Tiền hi Tộ sửa đổi nên chép tên các bộ chỉ nằm
trong phạm vi Bắc Việt Nam bây giờ. Theo nhà bác học Lê Quí Đôn trong
Vân Đài loại ngữ th́ “Tên 15 bộ do triều Hán - Ngô mơí đặt ra, tên
gọi lẫn lộn ngờ rằng những tên đó là do bọn hậu Nho góp nhặt vay mượn
chép ra nên khó mà tin được … Xét về phận dă thiên văn th́ Giao Chỉ
thuộc Sao Tĩnh. Dực Chẩn và Đẩu Ngưu…”. Như vậy, nhà bác học Lê Quí
Đôn đă xác nhận rơ là cương giới nước ta thời cổ nằm măi ở Trung
nguyên TQ bây giờ. Thật vậy, cương giới Hồng Bàng Văn Lang xưa được
ghi trong “Thiên thư” là Việt Tĩnh Cương lấy cḥm sao Tĩnh làm chuẩn
để phân bố các vùng, các bộ trong nước Văn Lang. Nh́n chung, cḥm sao
Tĩnh tượng h́nh bằng 2 đường thẳng và 2 đường ngang cắt nhau tại 4
điểm chỉ vùng đất từ Tam giang Bắc gồm sông Vị, sông Hoàng và sông Lạc
xuống tới Tam giang Nam gồm sông Nguyên, sông Tương và sông Dương
Tử.(21)
Sự mâu thuẫn cũng không có ǵ khó hiểu, v́ việc bóp méo, xuyên
tạc và sự kiện lịch sử được hư cấu để vấn đề gốc tích dân tộc ta trở
nên mịt mờ huyền hoặc là bản chất cố hữu, chủ trương trước sau như một
của Hán tộc xuyên suốt ḍng lịch sử. Trong khi đó sách Lĩnh Nam Trích
Quái dựa theo truyền thuyết dân gian Việt cổ lại chép các bộ Chân Định
ở Trường Sa Hồ Nam, bộ Quế Dương, Quế Lâm ở Quảng Tây và Tượng quận ở
Quí Châu,Vân Nam hiện thuộc lănh thổ Trung Quốc mới phù hợp với thực
tế lịch sử. Ngay sử gia Tư Mă Thiên người được coi là ngay thẳng trung
thực nhưng với tư cách là sử gia đại biểu chính thống cho Hán tộc, Tư
Mă Thiên là người hiểu rơ hơn ai hết Hoàng Đế là người Việt v́ cũng
chính ông ta đă viết là những vị vua Đế Cốc, Đế Chuyên Húc .. đều là
ông tổ của những vị vua Việt sau này. Cũng vậy, Tư Mă Thiên cũng hiểu
rơ về Lạc bộ Chuy, Lạc bộ Thủy, Lạc bộ Trĩ nhưng ông ta lại viết Lạc
bộ Mă cũng chính v́ không muốn người Việt nhớ đến cội nguồn dân tộc và
lănh thổ Việt xưa. Học giả Eicks Kedt nhận định rằng : “Tư Mă Thiên
sinh ở Long Môn thuộc Sơn Tây nên nhất quyết từ chối không để lại bất
kỳ một tài liệu ǵ về dân Mạn Nam. Điều đó người Tàu mạn Bắc đều đồng
ư… Eicks Kedt tiếc rằng những học giả Âu Tây chỉ biết ngốn nghiến sử
liệu của Tư Mă Thiên hay những sử gia khác mà không chú ư đến việc bẻ
quặt do sự bỏ sót nhiều sự kiện, nhất là khi nói đến các dân Man Di
ngoài Hán tộc. Lư do của sự bỏ sót đó là họ đă xem Nho giáo xuyên qua
lăng kính nhuộm đẫm màu Hán tộc nên chỉ nh́n nhận để có những ǵ thuộc
miền Bắc nước Tàu”. Chính v́ vậy, cũng chẳng ngạc nhiên ǵ khi Việt
tộc là chủng tộc đóng góp phần lớn vào việc h́nh thành nền văn minh
Trung Hoa, một số lớn người Hán gốc Việt bị đồng hoá hàng ngh́n năm
được xem như thành tố quan trọng trong dân số Trung Quốc. Thế nhưng
các sử gia Trung Quốc cố t́nh quên đi yếu tố Việt trong thành phần dân
số, nên họ chỉ nhắc đến các dân tộc cấu thành Trung Quốc gồm Mông,
Măn, Tạng, Hồi và Hán trong đó Hán là chủ thể.
Tóm lại, chính thực tế lịch sử đă minh nhiên lư giải ư nghĩa
của sự việc “lạ thường” là mẹ Tiên đẻ trăm trứng nở trăm con, để rồi
trở thành trăm chi tộc Việt mà sử cổ Trung Hoa gọi là Bách Việt. Mỗi
chi tộc do một người con trai đứng đầu nên từ đó mới có ư niệm bách
tính là trăm họ. Đây mới chính là vấn đề mà cốt lơi của nó là sự gửi
gấm của ông cha ta thời dựng nước cho con cháu ngàn sau, về nguồn gốc
giống ḍng của trăm chi tộc Việt máu mủ ruột rà, cùng chung huyết
thống để lúc hoạn nạn nhớ cưu mang giúp đỡ lẫn nhau như lời Bố Lạc dặn
ḍ trước lúc chia tay. Không những cưu mang giúp đỡ lẫn nhau mà c̣n
phải đoàn kết, thống nhất sức mạnh Việt tộc để phục hưng dân tộc Việt.
Truyền thuyết dân gian Hoa Nam và Đài Loan về chim Phượng Hoàng, chúa
tể loài chim Totem Vật tổ Việt tộc mà dân gian gọi là “Bái điểu tộc”,
chống lại thiên ma tộc “Đại Hán”. Đó chính là bức “Thông điệp của
tiền nhân từ huyền thoại gửi cho cháu con hậu thế chúng ta xuyên suốt
mấy ngàn năm của ḍng vận động Lịch sử Dân tộc Việt ”.
Thế là Truyền thuyết huyền thoại từ chỗ u u đă trở nên minh
minh, chứ không c̣n u u minh minh như trước nữa. Ngày nay chúng ta
không c̣n ngạc nhiên khi thấy ông cha ta đă chọn loại Chim là vật
biểu, tự thân hai chữ Hồng Bàng có nghĩa là rộng lớn. Hồng là Ngỗng
trời, c̣n Hộc là Ngan trời, nên cả hai c̣n có tên là Thiên Nga(Swan),
hàm ư có chí lớn bay cao tận trời xanh. H́nh ảnh chim được khắc hoạ
trên mặt trống đồng với mỏ dài của loại chim nước. Các nhà nghiên cứu
kết luận chim nước là của Đông Nam Á, nó gắn liền với cư dân nông
nghiệp sống ở vùng sông lạch, ao hồ.
Theo triết gia Kim Định th́ Hồng Hộc, chim nước của Việt tộc thể
hiện nguyên lư Âm Dương Giao Chỉ v́ nó vừa bay lên trời vừa xuống dưới
nước. Chi tộc Việt tôn thờ chim Hồng biểu trưng của văn minh nông
nghiệp cùng với chi Lạc thờ Rồng trong cộng đồng Bách Việt nên chúng
ta vẫn tự hào là ḍng giống Lạc Hồng (Lạc Âu). Trên b́nh diện tâm
linh, hư cấu thêm ư nghĩa thần thoại th́ chim bay lên tận trời xanh
thường gắn liền với các vị Tiên nữ trên trời. Tục ngữ Việt Nam có câu:
“Phượng minh triều dương”, tức là con chim Phượng Hoàng huyền thoại
hót chào ánh sáng mặt trời ban mai. Sách Quảng Đông Tân ngữ ghi
là:“Tuỳ dương Việt Trĩ”, Trĩ là con Công của Việt tộc luôn luôn bay
theo hướng mặt trời, mà con Công chính là chim Phượng Hoàng huyền
thoại được coi như tổ các loài chim. Ư niệm Chim-Tiên-Mặt trời gắn
liền với tín ngưỡng nguyên thủy của cư dân nông nghiệp với nền văn
minh lúa nước của Việt tộc. Bên cạnh ư nghĩa tâm linh đó, chim Hồng
biểu tượng một ư chí cao, luôn bay vươn lên, vượt tới trời xanh, thể
hiện ư chí tầm cao của tộc Việt, một dân tộc có bản lĩnh anh hùng coi
cái chết “nhẹ như lông hồng”. Người Việt sẳn sàng hy sinh cho dân tộc
nên dân gian thuờng nói “chim én, chim sẻ làm sao hiểu được chí lớn
của chim Hồng, chim Hộc”.
HUYỀN
THOẠI RỒNG TIÊN
CỘI NGUỒN TRĂM HỌ CỦA VIỆT TỘC
Thực tế đă minh nhiên lư
giải ư nghĩa của sự việc lạ thường là mẹ Tiên sinh ra trăm trứng nở
trăm con để rồi mỗi người con đi khắp nơi phát cỏ lập ấp trở thành một
trăm chi tộc Việt mà cổ sử Trung Quốc gọi là Bách Việt. Mỗi chi tộc do
một người con trai đứng đầu vâng lời bố Lạc đến một vùng đất mới khai
phá đất đai, phát cỏ mở đất lập ấp lập ra một ḍng họ. Chính từ đó mới
có ư niệm bách tính nghĩa là trăm họ của Việt tộc mà trước đây, do ảnh
hưởng của văn hoá Hán ta cứ nghĩ là của Hán tộc.Đây chính là vấn đề
cốt lơi ẩn chứa trong huyền thoại mà tiến nhân ta thuở dựng nước đă
gửi gấm cho thế hệ con cháu Việt Nam ngàn sau. “ Bách Việt Ngọc phả
Truyền thư” c̣n ghi rơ là sau chiến thắng lẫy lừng Đống Đa đẩy lùi 20
vạn quân Thanh xâm lược, Hoàng Đế Quang Trung cử La Sơn Phu Tử Nguyễn
Thiếp làm Quốc Sử quán, khâm mệnh nhà vua về làng Vân Lôi để nghiên
cứu bản “ Bách Việt Từ đường Tộc phả”. Sau đó, vị Hoàng Đế anh minh
lỗi lạc của dân tộc đă thân hành đến nói chuyện thân mật với các vị
bô lăo, hương chức và dân làng Vân Lôi như sau :
“Tất cả chúng ta đều cùng một tổ tiên
sinh ra, không cứ là trẻ già trai gái, không cứ là thuộc ḍng họ nào
ngành nào, chi tộc nào, mọi người đều là con Rồng cháu Tiên. Ban đầu
đều từ một bào thai mẹ sinh ra, tức từ một họ sinh ra các ngành tức
các chi mà thôi. Cành cây lớn muôn lá, gốc vốn ở rễ. Nước có ngh́n
ḍng sông muôn ngọn suối, vốn từ một ngọn nguồn mà ra. Cảnh vật c̣n
như thế huống chi là con người chúng ta. Con người sinh ra tiếp nối về
sau, đều do người các đời trước nuôi nấng d́u dắt vậy … Ngưỡng mộ và
tưởng nhớ Tổ tiên, chúng ta hăy lấy việc siêng năng mà bồi đắp cho gốc
rễ. Lấy sự thiếu sót làm răn rồi tu nhân tích đức yêu thương người hơn
là chê bai ghen ghét người khác. Là con cháu, chúng ta phải tiếp nối
truyền thống của tổ tiên, lẽ nào con cháu há lại không biết suy nghĩ
về những điều hay lẽ phải cao đẹp trên hay sao ..?”
Theo nhà nghiên cứu Bùi văn Nguyên th́ “
Bách Việt Ngọc phả Truyền thư” do trưởng họ Nguyễn Đức ghi vào năm thứ
tư đời Đinh Tiên Hoàng tức năm Tân Mùi 971 hiện c̣n lưu giữ ở làng Vân
Lôi Hà Tây mà xưa kia là làng Vân Nội thuộc phủ Thanh Oai tỉnh Hà Nội.
Bách Việt Ngọc phả Truyền thư viết :
“ Nhà th́ có gia phả cũng như nước th́ có
Quốc sử. Phải ghi lại cho tinh tường để tổ quốc ghi công. Non sông gấm
vóc, đời này qua đời khác đến. Bên văn th́ hiền lương, bên vơ th́ lăo
luyện. Vị thế nước nhà thật rực rỡ. Đầu đuôi các thế hệ được ghi chép,
biên khảo để truyền về sau. Đầu tiên chỉ chép vị tổ tối cao. Tổ quốc
ta được tính từ tổ xa xưa đó, vị tổ gốc rễ, vị tổ từ đất mẹ truyền đến
chúng ta đă hàng muôn ngh́n đời giống như “Cây th́ phải có gốc, nước
th́ phải có nguồn”. Trước mắt chúng ta hăy tính từ “ Ba vua mở nước”.
Vậy từ xa xưa, nước ta đă có các vua Hùng làm chủ nước non với bản đồ
hoa sen nở rộ, tính từ khi Kinh Dương Vương đứng đầu “ Ba vua mở nước”
đă là 2.800 năm có thừa …”.
“ Sơ khai Nam Việt hữu Kinh Dương,
Nhất thống sơn hà thập bát
vương ..
Dư bách hệ truyền thiên cổ tại,
Ức niên hương hoả ức niên
phương”.
Mở đầu Nam Việt có Kinh
Dương
Mười tám ngành vua, mười
tám chương ..
Bách Việt sơn hà muôn
thuở đó,
Đời đời đèn nến nức thơm
hương ..!
(Bản dịch
của Vân Tŕnh)
Từ đường họ Nguyễn gốc ở làng Vân Nội thờ
từ Tổ Phục Hy gọi là Đế Thiên và Thần Nông gọi là Đế Thần trở xuống
cho đến các vua Hùng.(22)Theo đương kim Tộc trưởng ông Nguyễn văn Tằng
th́ đền thờ từ Kinh Dương Vương xuống tới các vị vua triều Nguyễn.
Trong từ đường có bức hoành phi và đôi câu đối do triều Nguyễn tặng:
“Quốc Ân Gia Khánh” nghĩa là Lộc nước phúc nhà. Đôi câu đối là “Vạn
đại Hiếu từ Gia khánh hậu, Cửu trùng ba cổn Quốc ân vinh” nghĩa
là:“Muôn thuở phúc nhà ḷng kính Tổ, Chín trùng lộc nước áo vua ban”.
Theo bản Ngọc phả này th́ khởi từ Phục Hi
tức Đế Viêm đứng đầu vua xứ nóng (Viêm bang) c̣n gọi là Đế Thiên qua
Đế Khôi tức Thần Nông c̣n gọi là Đế Thần, truyền đến Đế Tiết rồi Đế
Thừa là đời thứ tư. Đế Thừa xưng là Sở Minh Công có 2 vợ sinh ra 3
người con. Nguyễn Minh Khiết gọi tắt là Đế Minh và người em là Nguyễn
Nghi Nhân tức Đế Nghi là con bà chính thất. Nguyễn Long Cảnh là em thứ
ba con bà thứ thất sau đổi họ là Lư Cảnh c̣n gọi là Lư Nỏ. Theo sự
giải thích của La Sơn Phu Tử th́ Nguyễn Minh Khiết (Đế Minh) và
Nguyễn Nghi Nhân ( Đế Nghi) là anh em song sinh chứ không phải cha con
như Lĩnh Nam Trích Quái chép. Đế Nghi quen nàng Vụ Tiên, con gái vua
Động Đ́nh trước nhưng khi Đế Minh t́nh cờ gặp Vụ Tiên đem ḷng yêu
thích. Vụ Tiên cứ tưởng là Đế Nghi nên thuận lời cầu hôn về làm vợ Đế
Minh. Từ đó hai anh em tránh mặt nhau, ít lâu sau Vụ Tiên mang thai
sinh ra Lộc Tục.
Thái Khương Công tức Nguyễn Minh Khiết c̣n
gọi là Đế Minh sắp đặt như sau: Lộc Tục làm vua trung ương gọi là Xích
Tam Vương, lấy hiệu là Kinh Dương Vương, đặt tên nước là Xích Qui.
Nguyễn Nghi Nhân làm vua nươcù Sở ở phía Bắc Phong Đô. Nguyễn Long
Cảnh làm vua phương Nam từ Thanh Hoá vào tới mũi Cà Mâu. Theo nhà
nghiên cứu Bùi văn Nguyên th́ sở dĩ có họ Nguyễn gốc là v́ tổ tiên ta
lấy địa danh cái g̣ núi đất ở Vân Lôi xưa kia là Phong Châu nơi họ
Nguyễn sinh tụ. Chữ Nguyễn bên trái chữ phụ là cái g̣ đất, bên phải là
chữ nguyên nghĩa là đầu tiên.(23) Trong khi đó, một nguồn thư tịch
khác cho biết là ngay từ thời cổ đại ở Cam Túc một tỉnh tiếp giáp với
vùng Tam Giang Bắc, trên đường thiên di của Việt tộc đă sinh tụ tại
đây nên cổ thư đă nói tới họ Nguyễn, một nước Nguyễn (Rhuan). Về sau
họ Nguyễn thiên cư dần xuống trung nguyên rồi Hoa Nam và Việt Nam bây
giờ.
Ngày nay, các nhà nghiên cứu đều ghi nhận
rằng Việt Nam có 3 ḍng họ lớn là họ Nguyễn, họ Trần và họ Lê. Trong 3
họ này, họ Nguyễn là đông nhất v́ theo các nhà nghiên cứu th́ họ
Nguyễn đă thiên cư dần từ Cam Túc, Thiểm Tây xuống Hoa Nam rồi Việt
Nam. Mặt khác, đời Trần vào thế kỷ 12 sau khi dàn xếp để Lư Chiêu
Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh, Thái sư Trần Thủ Độ lấy cớ ông tổ họ
Trần tên Lư nên bắt tất cả những ai mang họ Lư phải đổi ra họ Nguyễn.
Chính v́ vậy họ Nguyễn ngày càng đông hơn. Nghiên cứu các ḍng họ ở
Việt Nam, chúng ta phải theo ḍng lịch sử thiên cư của Việt tộc xuống
Trung nguyên thành lập các quốc gia gọi là Bách Việt, các ḍng họ đă
dựng nên các triều đại trong lịch sử, các chiến công lẫy lừng của các
danh tướng, các anh hùng danh nhân văn hoá, các cư dân gốc Việt cổ c̣n
ở Hoa Nam TQ. Tựu chung có thể liệt kê một số ḍng họ chính nổi bật
nhất như sau :
1. NHỮNG D̉NG HỌ DỰNG NÊN CÁC TRIỀU ĐẠI TRONG
LỊCH SỬ VIỆT :
A. Họ Hồng : Họ Hồng Bàng.
B. Họ Hùng : Hữu Hùng thị, được xem như họ
các vua Hùng. Thời Hai bà Trưng cũng nhận là kế lại nghiệp Hùng nên
lấy tên nước là Hùng Lạc.
C. Họ Trưng: Trong lịch sử Việt có Hai Bà Trưng
là Trưng Trắc và Trưng Nhị dấy lên khởi nghĩa đánh đuổi tên Thái Thú
Tô Định năm 39 TDL. Trên thực tế có thể gia đ́nh hai bà, mẹ là bà Man
Thiện làm nghề trồng dâu nuôi tằm truyền thống của Việt tộc nên tên
gọi dân gian trong gia đ́nh là trứng chắc, trứng nh́ … ai Ba 2Hai Bà
họ họ Trưng là phat xuất từ âm dân gian truyền thông trông dâu nuôi
tăm nên gọ Theo nhà văn Lê văn Siêu trong tác phẩm “ Việt Nam Văn
minh Sử cương” th́ khi Mă Viện thắng Hai Bà Trưng đă tàn sát dân ta,
chúng c̣n bắt hàng trăm“Cừ Soái” đem sang Tàu, số những người c̣n lại
mang họ này phải t́m cách đổi họ thay tên nên ḍng họ Trưng, họ Thi,
họ Chử, họ Hùng, họ Thục hầu như không c̣n nữa.
D. Họ Triệu : Triệu Đà lên ngôi vua lấy hiệu là
Triệu vũ Vương thành lập quốc gia Nam Việt. Về sau có vua Bà Triệu thị
Trinh khởi nghĩa năm 248 chống quân Ngô … Triệu Quang Phục lên ngôi
lấy hiệu là Triệu Việt Vương (549-571).
E. Họ Lư : Nhà Tiền Lư từ năm 544 đến năm
602, Lư Bí lên ngôi lấy hiệu là Lư Nam Đế, thành lập quốc gia Vạn
Xuân. Lư Phật Tử (571-673). Năm 1010, Lư Công Uẩn lên ngôi lấy hiệu là
Lư Thái Tổ mở ra triều đại nhà Lư dài 215 năm (1010-1215).
F . Họ Mai : Mai Thúc Loan lên ngôi được
suy tôn là Mai Hắc Đế (722-725).
G. Họ Phùng : Phùng Hưng được nhân dân suy
tôn là Bố Cái Đại Vương sau khi khởi nghĩa đánh bại quân Đường giành
quyền tự chủ cho nước nhà ( 783-791).
H. Họ Khúc : Khúc Thừa Dụ giành quyền tự
chủ năm 906.
I. Họ Dương : Dương Đ́nh Nghệ chống quân
Nam Hán 930-938.
J. Họ Ngô : Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán
(937-965).
K . Họ Đinh : Đinh Bộ Lĩnh thống nhất nước
nhà 967.
L. Họ Lê : Lê Hoàn, Lê Lợi.
M. Họ Trần : Trần Cảnh.
N. Họ Hồ : Hồ Quí Ly, Hồ Thơm Nguyễn Huệ.
O. Họ Mạc : Mạc Đăng Dung.
P . Họ Trịnh : Trịnh Kiểm.
Q. Họ Nguyễn : Nguyễn Hoàng.
2. NHỮNG D̉NG HỌ LẬP NÊN CHIẾN CÔNG HIỂN HÁCH
TRONG LỊCH SỬ :
A. Họ Khu: Năm 139, nhân dân Nhật Nam dưới
sự lănh đạo của Khu Liên đánh chiếm huyện Tượng Lâm thành lập nước Lâm
Ấp. Sử Tàu chép là Lâm Aáp chính thức thành lập vào niên hiệu Sơ B́nh
190-192.
B. Họ Chu: Năm 158, Chu Đạt lănh đạo nhân
dân Cửu Chân nổi lên đánh chiếm Nhật Nam. Năm 163, Chu Cái cùng với Hồ
Lan lănh đạo nhân dân nổi lên đánh chiếm huyện Quế Dương, Thương Ngô.
C. Họ Bốc, họ Hồ, họ Phan: Từ 160-180,
nhân dân Thương Ngô dưới sự lănh đạo của Bốc Dương, Phan Hồng, Lư
Nghiêu, Hồ Lan, Chu Cái nổi lên đánh chiếm Thương Ngô.
D. Họ Lương: Tháng giêng năm 178, anh hùng
dân tộc Lương Long lănh đạo cuộc tổng khởi nghĩa của nhân dân các quận
Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam nổi lên đánh chiếm quận huyện,
làm chủ đất nước được 4 năm.
E. Họ Ninh: Ninh Trường Châu nổi lên chiếm
Uất Lâm và Thuỷ An Quảng Tây bây giờ.
F. Họ Lư: Lư Trường Xuân và Lư Tự Tiên
khởi nghĩa chống giặc Đường.
G. Họ Dương:Năm 806, Dương Thanh nổi dậy
giết Lư Tượng Cổ và hơn 1 ngàn quân Đường.
3. NHỮNG D̉NG HỌ VIỆT C̉N Ở HOA NAM:
Ngoài những ḍng họ Việt ở Việt Nam bây
giờ, chúng ta c̣n phải kể tới những ḍng họ Việt cổ ở Hoa Nam mà sử
sách Trung Quốc gọi là Bách Việt. Từ trước đến nay, các sử gia nước ta
do quan điểm bị đóng khung nên viết rằng nước ta chỉ nằm trong phạm vi
Bắc và Trung VN hiện nay. Sử gia Trần Trọng Kim trong tác phẩm “ Việt
Nam Sử lược” viết về ḍng dơi Lư Nam Đế như sau:“Lư Bôn có người gọi
là Lư Bí, vốn ḍng dơi người Tàu, tổ tiên đời Tây Hán phải tránh loạn
chạy sang Giao Châu, đến lúc bấy giờ đă là 7 đời, thành ra người bản
xứ ..”. Cũng vậy, về thân thế Hồ Quí Ly, Trần Trọng Kim viết : “Nguyên
họ Hồ là ḍng ḍng dơi nhà Ngu bên Tàu nên đặt quốc hiệu là Đại Ngu”.
Sách “ Đại cương Lịch sử Việt Nam”, nhà xuất bản giáo dục 1999 cũng
chép rập khuôn “ Lê Quí Ly, cháu 4 đ̣i của Hồ Liêm, ḍng dơi Hồ Hưng
Dật người Triết Giang bên Tàu ..”. Gần đây, nhà nghiên cứu Lê Trung
Hoa trong tác phẩm “ Họ và tên người Việt Nam” vẫn c̣n đặt bút viết
“Phần lớn các họ của người Kinh có nguồn gốc từ Trung Quốc như Trần,
Lê, Lư, Đỗ … Trong hàng ngh́n năm Bắc thuộc và tiếp tục sau đó, nhiều
quan lại và thường dân Trung Quốc đă sang định cư ở nước ta, rồi sinh
con đẻ cháu, dần dần trở thành người Việt. Xin nêu ra một vài dẫn
chứng như Trần Lăm, cha nuôi của Đinh Bộ Lĩnh, vốn là con ông Trần
Công Đức, quán ở Trấn Quảng Đông, từ Trung Hoa sang hùng cứ ở Bố Hải
Khẩu, nay là xă Kỳ Bố, huyện Vũ Tiên, phũ Kiến Xương tỉnh Nam Định, mà
tự xưng là Trần Minh Công… Ngay cả họ Nguyễn, một họ lớn nhất của
người Việt chiếm 38% cũng có nguồn gốc Trung Hoa: Đời Tấn, bên Trung
Quốc có Nguyễn Tịch nổi danh với điển tích Mắt xanh. Đồng thời với
Nguyễn Tịch có Nguyễn Hàm, một nhà thơ nổi tiếng ..”. Tất cả đă nói
lên cái năo trạng n6 dịch văn hoá “Đại Hán” hậu quả của sự thống trị
nô dịch cả ngàn năm của Hán tộc xâm lược. Thực ra, tất cả đều là họ
của người Việt cổ ở Hoa Nam bây giờ thuộc lănh thổ Trung Quốc nên họ
mới tưởng là họ Tàu, thực ra là họ của người Tàu gốc Việt cổ.
Ngày nay sự thật lịch sử đă được phục hồi
sau mấy ngàn năm bị che phủ. Thật ra lănh thổ của nước Xích Qui rồi
Văn Lang của Việt tộc thời xưa c̣n ở trung nguyên. Suốt ḍng lịch sử
Việt, người Việt cổ đă phải thiên cư rời bỏ địa bàn tổ trước kẻ thù
Hán tộc xâm lăng phương Bắc chạy xuống phương Nam. Số c̣n lại trải qua
hàng ngàn năm thống trị của Hán tộc với chủ trương đồng hoá, buộc họ
phải “đồng” nghĩa là phải giống với người Hán nhưng họ vẫn giữ bản sắc
Việt nên không bao giờ “hoá”thành người Hán được. Chính v́ vậy, tuy
cùng gọi là người Trung Quốc nhưng người Hoa Nam và người Hoa Bắc khác
nhau hoàn toàn từ con người đến đời sống văn hoá, phong tục tập quán …
Người Hoa Nam vẫn gọi nhau bằng họ như ông Trần, ông Lư … chứ không
gọi bằng tên chính để nhận biết, trân trọng cội nguồn Việt cổ của tổ
tiên họ. Chính v́ vậy, người dân TQ ở Hoa Nam hiện nay là người Trung
Quốc gốc Việt cổ nên họ của dân Hoa Nam chính là họ Việt chứ không
phải ta lấy họ Trung Quốc. Ngay từ thời Chu khi Hồ Công lấy công chúa
Chu, vua Chu cắt đất Trần phong cho Hồ Công. Hồ Công lấy đất phong lập
ra triều Trần của ḍng họ Trần ở lưu vực phía Đông sông Dương Tử.
Sử sách Việt ghi tổ tiên của Lê Quí Ly và
Nguyễn Huệ tên thật là Hồ Thơm vốn họ Hồ ở đất Trần là người Việt cổ.
Hồ Quí Ly đặt tên nước là Đại Ngu hàm nghĩa là ḍng dơi vua Thuấn họ
Ngu. Đồng thời họ Hồ nuôi tham vọng mở ra triều đại thanh b́nh thịnh
trị như thời Đường Ngu tức Nghiêu Thuấn thuở xưa. Theo các nhà nghiên
cứu th́ Ngu về sau trại âm ra là Aâu, “Ngu Cơ”=> (Ou Cơ) => Aâu Cơ. Cơ
ban đầu chỉ có nghĩa là người con gái xinh đẹp nên truyền thuyết Rồng
Tiên với mẹ Aâu Cơ lại rất hiện thực. Thời Hán Sở tranh hùng, Hạng Vơ
người anh hùng khí đoản của Sở Việt cũng tự sát với người yêu là nàng
Ngu Cơ cũng để lại bao thương tiếc cho người dân Sở Việt ở Hoa Nam.
Trong suốt trường kỳ lịch sử, Bách Việt ở
Hoa Nam luôn vùng lên giành lại đất tổ Trung nguyên mỗi khi Hán tộc
suy yếu. Thời Xuân Thu Chiến Quốc, các quốc gia Bách Việt của con Rồng
cháu Tiên như Việt, Ngô rồi Sở nhiều lần đánh thắng các nước lên ngôi
Bá chủ Trung nguyên nhưng do ở rải rác khắp trung nguyên, lại phân hoá
tiêu diệt lẫn nhau để rồi bị Tần tiêu diệt. Khi triều Tần xụp đổ, Hạng
Vơ người Sở Việt cùng Lưu Bang người Hán quyết chiến một mất một c̣n
giành quyền làm chủ Trung nguyên. Hạng Vơ ỷ tài “ Lực bạt sơn hề khí
cái thế” kiêu căng không nghe lời của quân sư Phạm Tăng nên bị Lưu
Bang vây khốn phải tự sát, chấm dứt cục diện Hán Sở tranh hùng” để rồi
Trung nguyên lại về tay Hán tộc. Khi triều Tấn xup đổ, Trung Quốc lại
phân liệt ra nhiều nước nhỏ, ở miền Bắc gồm 3 nước là Hậu Nguỵ, Bắc Tề
và Bắc Chu mà sử sách gọi là Bắc Triều (386-531). Trong khi đó ở miền
Nam, 4 triều đại liên tiếp là Tống (420-479), Tề (479-502), Lương
(502-557) và Trần (557-589). Cuối đời Đường, t́nh h́nh Trung Quốc lại
tam phân ngũ liệt nên sử sách gọi thời kỳ này là thời “ Ngũ đại Thập
quốc”. Ở miền Bắc gồm 5 triều đại nối tiếp là: Hậu Lương, Hậu Đường,
Hậu Tấn, Hậu Hán và Hậu Chu được xem là chính thống của TQ. Trong khi
đó ở miền Nam, cư dân Hoa Nam gốc Việt nổi lên giành độc lập và thành
lập 10 nước Bách Việt gồm :
1. Nước Ngô do Dương Hành Mật lập ra ở An
Huy.
2. Tiền Thục do Vương Kiến thành lập ở Tứ
Xuyên.
3. Ngô Việt do Tiền Cù thành lập ở Triết
Giang.
4. Sở do Mă Aân lập ra ở Hồ Nam.
5. Mân do Vương Thẩm thành lập ở Phúc Kiến
của chi Mân Việt.
6. Nam Hán do Lưu Aån thành lập ở Quảng
Đông. Thực ra tên nươcù ban đầu là Đại Việt rồi về sau đổi là Nam Hán
v́ ở phía Nam sông Hán.
7. Nam B́nh do Cao Bảo Dung thành lập ở Hồ
Bắc.
8. Hậu Thục do Mạnh Trí thành lập ở Tứ
Xuyên.
9. Nam Đường do Lư Thắng thành lập ở Giang
Tô.
10 . Bắc Hán do Lưu Sùng thành lập ở vùng
Sơn Tây phía Bắc sông Hán.
Trước một kẻ thù Hán tộc phương Bắc vốn
là một tộc người du mục đời sống vật chất, thiên về lư trí nên t́nh
cảm lạnh lùng đến mức khô cằn. Cuộc sống du mục buộc phải có tổ chức,
đoàn kết, sức mạnh vơ biền, rất thạo việc chiến tranh. Trong khi các
nước Bách Việt ở phương Nam định cư rải rác khắp Trung nguyên là cư
dân nông nghiệp đời sống thiên về t́nh cảm, thịnh về văn hoá nhưng
kém về vơ lực nên Hán tộc thắng một cách dễ dàng. Mặt khác, theo nhận
xét của các nhà nghiên cứu th́ các quốc gia Bách Việt không biết đoàn
kết để thống nhất sức mạnh mà thường đánh lẫn nhau để giành ngôi vị
thủ lĩnh nên chia rẽ, phân hoá nên chỉ một thời gian ngắn lại bị Hán
tộc thống trị như cũ. Thực tế đau thương này được nhà Trung Hoa học,
giáo sư Wiens nhận xét : “ Bao nhiêu cuộc trổi dậy của Bách Việt đều
thất bại v́ người Lĩnh Nam tự phá lẫn nhau …”. Thực tế lịch sử đă
chứng minh khi các chi Việt thuộc các nước Ngô, Việt, Sở bỏ Hoa Nam
chạy xuống Bắc và Trung Việt Nam hợp nhất với Lạc Việt và các chi Việt
khác định cư tại đây từ trước tạo nên một sức mạnh tổng lực nên đă
đánh thắng tất cả các cuộc xâm lược của Hán tộc để tồn tại măi tới
ngày nay.
Từ huyền thoại đến hiện thực lịch sử đă
minh nhiên xác định Việt tộc bao gồm cả trăm chi tộc như Lạc Việt, Aâu
Việt, Mân Việt, Dương Việt, Đông Việt, Liêu Việt, Qú Việt, Điền Việt
… Chính sử gia chính thống TQ Tư Mă Thiên trong bộ Sử Kư đă viết : “
Nước Sở, nước Việt đều là dân Việt. Dân nước Sở họ Mị, dân nước Việt
họ Tự (Từ)”. Nhà nghiên cứu Tscheppe ghi nhận Phù Sai, Hạp Lư, Câu
Tiễn đều là họ Việt. Chính v́ vậy, quan niệm cho rằng dân tộc Việt là
một cộng đồng dân bao gồm 54 dân tộc là một quan niệm sai lầm, phản
dân tộc v́ đă phủ nhận cội nguồn gốc tích của Việt tộc. Không thể có
một dân tộc Kinh v́ dân tộc Kinh là dân tộc nào? Cũng như không thể có
một dân tộc Tày, dân tộc Mnong, dân tộc Thái, dân tộc Hmong, dân tộc
Mường …
Theo nhà nghiên cứu Chéon th́ người Mường là
người Việt cổ sơ c̣n giữ được một vài họ cổ là họ Ai, họ Kem, họ Khói,
họ Sa, họ Xạ … hiện nay đồng bào Mường c̣n giữ một số họ như Bạch,
Bùi, Cao, Đinh, Hà, Hoàng, Lê, Phạm, Quách, Trịnh Xa trong đó Đinh,
Quách, Bạch, Hoàng là nhiều nhất. Cổ sử Trung Quốc cho biết Li Vưu, là
cổ thiên tử, thủ lĩnh của Tam Miêu bây giờ gọi là đồng bào Hmong Mien
gồm đồng bào Dao và Miêu (Mèo) trước đây một thời làm chủ Trung
nguyên. Nhà nghiên cứu Nguyễn Nguyên dẫn tác phẩm Người Hmong của Chu
Thái Sơn cho biết họ Lư là ḍng họ chính của đồng bào Dao nên năm
1060, vua Lư Anh Tông mới cho dựng đền thờ Xuy Vưu ở phường Bố Cái.
Ḍng họ Lư là ḍng họ lớn ở bán đảo Triều Tiên chính là hậu duệ của
Hmong Dao trong cộng đồng Bách Việt.
Thực tế này được thư tịch cổ Trung Quốc xác
nhận là khi Lạc bộ Trĩ gồm Bách Bộc mà cổ sử Trung Quốc gọi là rợ Đông
Di bị đánh bật khỏi lưu vực sông Bộc và bán đảo Sơn Đông đă thiên cư
lên Đông Bắc thành lập nước Cao Câu Ly mà sử TQ gọi miệt thị là rợ Tam
Hàn. Lịch sử cổ đại Hàn Quốc cũng có 18 đời vua gọi là Bai-Dal và
trong lịch sử có một Tổng Thống họ Lư là Lư Thừa Văn và cũng không
phải t́nh cờ mà sau khi nhà Trần diệt nhà Lư mà Hoàng tử Lư Long Tường
phải chạy ngược lên Triều Tiên để tỵ nạn v́ đó là nơi đồng chủng định
cư từ lâu đời. Sự thực lịch sử này đă được chính Tổng Thống Lư Thừa
Văn xác nhận khi sang thăm Việt Nam theo lời mời của TT Ngô Đ́nh Diệm
năm 1958. Tổng thống Lư Thừa Văn tuyên bố tổ tiên ông là người Việt.
Theo gia phả th́ Oâng là cháu đời thứ 25 của Kiến B́nh Vương Lư Long
Tường. Kiến B́nh Vương là con thứ 6 cuả vua Lư Anh Tông. Người cùng
tông tộc sang Cao Ly vào đầu thế kỷ XIII v́ quốc nạn”. Tập san Sử địa
của Nhật Bản ghi rơ về sự kiện lịch sử này như sau : “ Năm Bính Tuất
1226, bấy giờ là niên hiệu Kiến Trung năm thứ hai đời vua Thái Tôn nhà
Trần. Biết ḿnh là con thứ sáu của vua Lư Anh Tông, lại đang giữ chức
Đô đốc Tư lệnh Hải quân trước sau ǵ cũng bị Thái sư Trần Thủ Độ hăm
hại nên ông đă đem tướng sĩ dưới quyền, tông tộc cùng hạm đội ra đi,
sau đó trôi dạt vào Cao Ly”.
Chính v́ vậy, chúng ta có quyền khẳng định
tất cả là những chi tộc Việt, là anh em cùng chung một bào thai của mẹ
Aâu nên chúng ta vẫn gọi nhau một cách thân thương là đồng bào máu mủ
ruột rà:
“ Nhớ xưa Quốc Tổ mở nền,
Truyền thống văn hiến sử thiên
Việt hùng ..
Bọc điều trăm họ thai chung,
ĐỒNG BÀO tiếng gọi vô cùng VIỆT
NAM !”
Theo thống kê của nhà nước Cộng Hoà Xă
Hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày 1-4-1989 th́ trên đất nước Việt Nam có tất
cả là 54 dân tộc gồm:
1. Kinh ( Việt): 55.244.000 người.
2. Tày : 1.190.342 người.
3. Thái :1.040.549 người.
4. Mường : 914.596 người.
5. Hoa ( Hán): 900.185 người.
6. Khmer :895.299 người.
7. Nùng : 705.709 người.
8. Hmong : 558.053 người.
9. Dao : 473.945 người.
10. GiaRai : 242.291 người.
11. Eâđê : 194.710 người.
12. Bana : 136.859 người.
13. Sán, Chay : 114.012 người.
14. Chăm : 98.971 người.
15. XơĐăng :96.766 người.
16. Sán D́u : 94.630 người.
17. Hrê : 94.259 người.
18. Kơho : 92.190 người.
19. Raglai :71.696 người.
20. Mnong : 67.340 người.
21. Thổ : 51.274 người.
22. Stiêng : 50.194 người.
23. Khơmú : 42.853người.
24. BruVânKiều : 40.132người.
25. Giáy : 37.96người.
26. Kơtu : 36.967 người.
27. Gié-Triêng : 26.924 người.
28. Tà Oâi : 26.044 người.
29. Mạ : 25.436 người.
30. Co : 22.649 người.
31. Chơro : 15.022 người.
32. Hà Nh́ : 12.489 người.
33. Xinh Mun : 10.890 người.
34. Churu : 10.746 người.
35. Lào : 9.614 người.
36. La Chí : 7.863 người.
37. Phù Lá : 6.424 người.
38. LaHủ : 5.312 người.
39. Kháng : 3.921 người.
40. Lư : 3.684 người.
41. Páthẻn : 3.680 người.
42. LôLô : 3.134 người.
43. Chứt : 2.427 người.
44. Mảng : 2.247 người.
45. Cơ Lao : 1.473 người.
46. Bố Y : 1.420 người.
47. LaHa : 1.396người.
48. Cống : 1.264 người.
49. Ngái : 1.151 người.
50. Si La : 594 người).
51. Pu Péo : 382 người.
52. Brâu : 231 người.
53. RiMăm : 227 người.
54. Ơđu : 32 người.
Trên thực tế chúng ta không thể kể số
900.185 người Hoa vào trong các chi tộc Việt v́ người Hoa thuộc tộc
Hán dù trong đó có những người Hoa gốc Việt. Như vậy, cho đến nay chỉ
c̣n 53 chi tộc Việt trong cộng đồng Bách Việt sống trên đất nước Việt
Nam. Trong đó chi Lạc Việt ở châu Kinh là đông nhất 55.900.244 người
và chi c̣n lại ít nhất là chi Ơđu chỉ có 32 người.
ĐỒNG BÀO,
Ư NGHĨA NHÂN VĂN CAO ĐẸP CỦA VIỆT NAM
Bức thông điệp lịch sử năm ngàn năm văn
hiến c̣n cho chúng ta một ư nghĩa cao đẹp tràn đầy vẻ nhân văn của
huyền thoại Việt Nam mà không một dân tộc nào có được. Thật vậy, từ
h́nh tượng Mẹ Tiên đẻ ra một bọc trăm trứng rồi đem ra để ở ngoài đồng
để mẹ đất ấp ủ, bảy ngày sau trăm trứng nở ra trăm người con trai,
người nào cũng khôi ngô tuấn tú cả… đă cho chúng ta niềm tự hào con
Rồng cháu Tiên. Chúng ta có cùng một huyết thống thiêng liêng, cùng
máu mủ ruột rà mà tiền nhân đă truyền lưu cho chúng ta nên chúng ta
đều “b́nh đẳng” như nhau. Chúng ta cùng chung một bào thai của Mẹ Aâu
Cơ, người Mẹ Tổ quốc Việt Nam sinh thành dưỡng dục .. nên chúng ta có
quyền gọi những anh em là đồng bào ruột thịt, các dân tộc khác không
thể gọi được như thế. Hai chữ đồng bào mà chúng ta vẫn gọi một cách
thân thương tŕu mến, phát ra từ đáy ḷng mỗi con dân Việt :
“Bọc điều trăm họ thai chung,
Đồng bào tiếng gọi vô cùng Việt
Nam”.
Cũng từ ư niệm này, văn chương dân gian
Việt thường gắn liền “ yêu nước với thương ṇi”, “t́nh đồng bào với
nghĩa ruột thịt” chính là đặc trưng của ṇi giống Việt. Chính từ ư
nghĩa đồng bào nên trong cuộc sống thường nhật, việc ứng xử thể hiện
qua cách xưng hô với người không phải trong gia tộc rất là thân t́nh
chẳng khác ǵ bà con họ hàng cả. Đối với tha nhân, người Việt chúng ta
cũng gọi là bà con cô bác, cũng xưng hô là ông bà, cô bác, chú thím,
cậu mợ, anh chị em, con, cháu … là điều mà không thấy ở bất cứ một dân
tộc khác ngoài Việt Nam.
Đồng bào c̣n biểu trưng một ư niệm “b́nh
đẳng” như nhau, giữa những con dân Việt không có ǵ khác biệt về đẳng
cấp, quyền lợi… sự khác biệt nếu có là do sự phân công của xă hội phù
hợp với khả năng mỗi người. Huyền thoại Rồng Tiên thể hiện một ư chí
độc lập tự cường lấy sức ḿnh là chính, không dựa vào thần linh cũng
như tha nhân. Truyền thuyết “Mẹ Âu đem bỏ cái bọc ra ngoài đồng…” biểu
trưng cho nền văn hoá nông nghiệp nên đẻ xong lót lá chuối cho nằm
dưới đất hàm nghĩa trong ṿng tay của mẹ đất. Mặt khác nó cũng thể
hiện ư niệm nhân chủ, lấy con người làm chính, dựa trên ư chí tự chủ,
tự lực tự cường. Huyền thoại Rồng Tiên kể rằng “sau 7 ngày trăm trứng
nở ra trăm con trai, không cần bú mớm…” thể hiện cao độ tâm linh Việt,
để chúng ta phải biết lấy sức ḿnh là chính để đứng vững trên đôi chân
của ḿnh không dựa vào Thần linh, vào bất cứ một sức mạnh nào bên
ngoài như các dân tộc khác.
Từ ư niệm đồng bào cùng chung một Mẹ,
một nguồn cội huyết thống đă h́nh thành một ư thức dân tộc cao độ với
ḷng yêu nước gắn liền với thương ṇi. Hai ư niệm yêu nước và thương
ṇi hoà quyện làm một, xuất phát từ ḷng tự hào “Con Rồng cháu Tiên ”
đă tạo nên những kỳ tích oai hùng, đẹp như áng sử thi của thiên trường
ca bất hủ Việt Nam. Hai chữ “Đồng bào” của Việt tộc c̣n biểu trưng một
cộng đồng Bách Việt luôn đặt quyền lợi chung lên trên quyền lợi cá
nhân, việc nước trước việc nhà, danh dự gia đ́nh ḍng họ trên lợi ích
cá nhân hẹp ḥi vị kỷ. Truyền thống Việt cổ lấy con người làm gốc
“Nhân bản” tôn trọng cá nhân cũng như sự b́nh quyền nam nữ, không phân
biệt giàu nghèo sang hèn, khác với Tây phương coi trọng tự do cá nhân
thái quá không đếm xỉa ǵ tới tha nhân, tới lợi ích cộng đồng của nhân
quần xă hội. Đó chính là ư nghĩa của đạo đức Việt cổ mà giới học giả
Tây phương đều phải hết lời ca ngợi cái gọi là “Giá trị Phương Đông”,
tinh hoa của nền văn minh đạo đức Việt.
HUYỀN THOẠI RỒNG TIÊN
BƯỚC NGOẶT TIẾN HOÁ CỦA NHÂN LOẠI
Truyền thuyết về họ Hồng Bàng, tự thân
chữ họ đă gói ghém tinh thần gia tộc trong ḍng họ của một thị tộc.
Nhiều thị tộc tiến tới một bộ tộc, rồi ư niệm dân tộc h́nh thành theo
quy luật sinh thành, tiến hoá chung của nhân loại. Xă hội loài người
thuở ban sơ với đời sống hoang dă, bản tánh hồn nhiên sống theo tục
quần hôn của chế độ mẫu hệ kéo dài hàng ngàn năm. Theo thời gian với
sự tiến hóa của nhân loại, ư niệm độc hữu đă h́nh thành gia đ́nh, đáp
ứng yêu cầu sinh hoạt của đời sống xă hội ở một thời điểm nhất định
nào đó. Thế nhưng, khởi nguyên từ h́nh tượng nguyên sơ của Mẹ Tiên “đẻ
trăm trứng nở trăm con”, nguyên lư Mẹ tiềm ẩn trong ḍng máu Việt cái
Gène “Tiên” ngay cả khi đă chuyển sang h́nh thái phụ hệ.
Thật vậy, nguyên lư Mẹ thể hiện rơ nét
trong sinh hoạt văn hoá, xă hội mang tính truyền thống của dân tộc từ
thuở xa xưa. Thời đó, trong các cuộc tế lễ hội hè đ́nh đám, vai tṛ
chủ tế thuộc phụ nữ chứ không do các thầy tư tế như hầu hết các dân
tộc khác chịu ảnh hưởng của thần quyền. Thời kỳ này h́nh thành một nền
văn minh vu thuật nên dân gian vẫn thường gọi là bàVu Ông Hích. Về sau
nam giới mới được tham dự đồng tế th́ ta gọi là ông đồng bà bóng hay
bà cốt.Thời xưa, trống đồng không chỉ là một nhạc cụ mà nó c̣n biểu
hiện uy lực của nà vua ban cho các thủ lĩnh như một hiệu lệnh mà người
đánh trống bao giờ cũng là nữ giới. Tuỳ thư chép: “Người đánh khai mạc
chiếc trống mới đúc bao giờ cũng là người con gái”. Ngay tên con sông
nơi mà những chi Việt tộc đă theo triền sông xuôi Nam đă gọi tên một
cách thân thương là ḍng sông Mẹ, là sông cái… Trong đời sống, nguyên
lư Mẹ vẫn ngự trị như một nguồn suối tâm linh làm dịu mát tâm hồn, xoa
dịu những nỗi đau trần thế. Thật vậy, không một dân tộc nào mà có
nhiều Thần nữ “tâm linh” như Việt tộc từ h́nh tượng Mẹ Tiên đến Cửu
Thiên Huyền Nữ, Thái Dương Thần Nữ, Mẫu thượng ngàn (Mẹ Long Nữ ở trên
miền núi) Bà Chúa Xứ, Mẫu Thoải ( mẹ nước) … Ở một số địa phương như
Hà Bắc, nhiều làng ghi trong Thần phả hoặc có truyền thuyết về một
Thần nữ là con gái Mẹ Âu Cơ. Đây là cả một hệ thống Nữ thần như các bà
chúa Dâu dạy dân trồng dâu nuôi tằm, bà Chăm Chỉ của làng Đại Trạch
dạy dân se tơ chỉ, Đền thờ bà chị ruột của 3 vị thần Bách Noăn ở thôn
Đồng Miếu đă hy sinh cùng ba anh em trong cuộc chiến đấu chống giặc
Tàu. Xă Vạn Linh cũng có bà Hồng thị, cùng chị em với các thần Bách
Noăn, bà lại có 2 con gọi Âu Cơ là bà ngoại, gọi Hùng Vương bằng cậu,
cùng với mẹ có công tát sông. Dân gian vùng này vẫn tổ chức lễ hội
hàng năm trong đó có lễ rước nước, đưa kiệu xuống thuyền ra giữa ḍng
quay ba ṿng để múc nước vào choé đem về Đ́nh làng như để nhớ công lao
tát sông của vị thần nữ này. Rơ ràng là các ư nghĩa đạo lư gia đ́nh
hay đúng hơn là ư nghĩa đồng bào, ư nghĩa trăm trứng trong tâm thức
người Việt thật là sâu đậm. Trong trí tưởng tượng đơn sơ của người
b́nh dân mộc mạc, câu chuyện trăm trứng là có thật, vua Hùng Vương
trong quá khứ hay trong hiện tại chỉ là một, là gia đ́nh đầu tiên dựng
nước và giữ nước (24).
Theo truyền thuyết th́ Mẹ Âu Cơ sinh ra
trăm trứng nở ra một trăm con trai để rồi Bố Lạc dẫn 50 con xuống miền
biển, Mẹ Âu dẫn 50 con lên núi chia nhau mà trị… Một trăm người con
trai mỗi người định cư một nơi “Xâm ḿnh, cắt tóc, phát cỏ, lập ấp” mở
mang đất nước phát triển giống ṇi thành những chi tộc Việt như U
Việt , Mân Việt Dương Việt và Lạc Việt v. v… thành lập các quốc gia
Bạch Lang, Dạ Lang, Việt Lang, Văn Lang… Đây là thời kỳ chuyển tiếp từ
chế độ mẫu hệ sang phụ hệ mà truyền thuyết kể lại là Mẹ Âu đẻ trăm con
trai, kế đến là 50 con lên núi, 50 con xuống biển chia nhau mà trị…
Mỗi người xâm ḿnh, cắt tóc, phát cỏ, lập ấp ở mỗi vùng, thoạt kỳ thủy
là một gia đ́nh rồi tiến lên thị tộc, coi như một chi tộc Việt trong
Bách Việt. Ư nghĩa của mẩu truyền thuyết này xem như một mốc tiến hoá
quan trọng trong lịch sử nhân loại ở thời điểm khá sớm. Trong khi đó ở
Trung Quốc thời Thương c̣n duy tŕ mẫu hệ măi đến thời Tần Thủy Hoàng
vẫn c̣n. Tần Thủy Hoàng đă áp dụng những luật lệ khắt khe để chấm dứt
chế độ mẫu hệ c̣n rơi rớt ở Trung Quốc. Việc chuyển sang chế độ phụ hệ
đă chấm dứt tục quần hôn và loạn luân được coi như bước ngoặt từ bản
tính động vật đến bản tính người như Lévis Strauss, nhà nhân chủng học
nổi tiếng đă viết trong “tác phẩm nhân loại cấu trúc”.
Tuy xă hội Việt Nam thời Hùng Vương
chuyển dần sang chế độ phụ hệ nhưng truyền thống dân tộc vẫn in đậm
h́nh tượng Mẹ Âu, người Mẹ Tổ Quốc nên ư nghĩa và vai tṛ của người Mẹ
vẫn được trân trọng bảo lưu măi cho tới ngày nay. Sách Nam Phương thảo
mộc trạng của Kế Hàm thời Tấn ở thế kỷ thứ 3 c̣n ghi về truyền thống
tôn trọng nữ giới của Việt tộc như sau:
“Người Việt có tục “Nữ tửu” tức là “Rượu
con gái”. Đúng vào ngày sinh con gái người nhà nấu rượu để vào hủ sành
gắn nắp lại rồi đem ra chôn ở bờ ao. Đến khi người con gái lớn lên, đi
lấy chồng th́ trong ngày cưới, người nhà đào rượu ấy lên uống trong
tiệc cưới”. Ngày nay tập tục đó không c̣n nữa nhưng cha mẹ yêu quí con
gái vẫn thường âu yếm gọi con ḿnh là con gái “rượu”, chính là phản
ánh tập tục truyền thống xa xưa của dân tộc. Cách đây không lâu, tuy
tập tục ở rể c̣n rơi rớt ở một vài địa phương nhưng phần lớn các
trường hợp do gia đ́nh bên nhà trai gặp khó khăn hoặc gia đ́nh bên gái
chỉ có một cô gái rượu nên bắt ở rể được sống gần con gái.
H́nh thái văn hoá mẫu hệ trong việc
tôn trọng nữ quyền của truyền thống Việt Nam khởi đoan từ h́nh tượng
thuở nguyên sơ của Mẹ Tiên Âu Cơ, người Mẹ sinh thành của Tổ Quốc Việt
Nam thể hiện nguyên lư MẸ đầy tính nhân văn cao đẹp xuyên suốt ḍng
vận động của lịch sử. Sự b́nh đẳng nam nữ đă thể hiện ngay từ thời
HùngVương, khác hẳn với Hán tộc vẫn tự cho là văn minh, lên mặt “giáo
hoá” dân tộc khác, nhưng vẫn duy tŕ hủ tục mang tính quan liêu gia
trưởng “trọng nam, khinh nữ”. Quan niệm coi thường giá trị của phụ nữ,
người phụ nữ không được ra khỏi nhà để chỉ lo phục vụ ông chồng … của
Hán tộc mới du nhập vào nước ta từ thời Hán thuộc, một thời được các
hủ nho rập khuôn nào là “Nữ nhi ngoại tộc” (con gái là con người ta),
nào là “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (chỉ một trai cũng là có,
mười gái cũng như không). Thế nhưng, dù bị ngàn năm đô hộ của Tàu, văn
hoá Việt với sức sống vô biên của một dân tộc đă đẩy lùi cái gọi là
văn hoá nô dịch kia. Thật vậy, tuy phụ nữ không c̣n giữ vai tṛ quyết
định như trong chế độ mẫu hệ nhưng họ vẫn được tôn trọng, thiên chức
làm mẹ, làm vợ, vẫn được xă hội đề cao. Tuy không c̣n là gia trưởng
nhưng giới phụ nữ vẫn được coi là nội tướng, người giữ tay ḥm ch́a
khoá của gia đ́nh. Quan hệ vợ chồng không bất b́nh đẳng như xă hội
Trung Quốc, đồng thời nó cũng không b́nh đẳng thái quá kiểu Tây phương
để đi đến chỗ dễ đổ vỡ, ly dị, hậu quả là con cái thiệt tḥi đau khổ,
ly tán.
Gia đ́nh là nền tảng của xă hội, nên
mối tương quan vợ chồng Việt Nam dựa trên sự đồng thuận của cả vợ lẫn
chồng. Sự đồng ḷng này không những mang lại hạnh phúc cho lứa đôi mà
c̣n là tổ ấm nuôi dưỡng giáo dục con cái. T́nh nghĩa vợ chồng Việt Nam
đầm ấm thân thương, xem người phối ngẫu của ḿnh là nơi trú ngụ che
chở cho họ nên vợ hay chồng vẫn dùng chung chữ “nhà tôi” để chỉ chồng
hay vợ. T́nh yêu thương chồng vợ c̣n thể hiện qua cách xưng hô thân
mật, xem người yêu chính bản thân ḿnh nên thường gọi nhau là Ḿnh,
Ḿnh ơi .. mà không một dân tộc nào có được.
Ngày xưa, vai tṛ của phái nữ được đề cao
nhưng về sau vai tṛ phái nam được coi trọng hơn v́ truyền thống thừa
tự, hương hoả để thờ cúng tổ tiên, ông bà cha mẹ. Thế nhưng t́nh chồng
nghĩa vợ vẫn dựa trên nền tảng “Thuận vợ thuận chồng, tát bể Đông
cũng cạn” nên chồng nói vợ nghe (phu xướng phụ tuỳ) nhưng nếu trong
các dịp lễ Tết, Giỗ chạp nếu không có mặt người vợ th́ xem như chưa đủ
lễ nghĩa của đạo vợ chồng. Tương lai của các con mới chính là hạnh
phúc của cha mẹ, nên người phụ nữ Việt Nam sẵn sàng hy sinh tất cả cho
chồng con, nhưng không v́ thế mà bị xem thường. Trái lại h́nh ảnh
người mẹ sống măi trong tâm tư của con cái, cho dù đứa con đă lập gia
đ́nh riêng. Từ lúc đó con cái phải sớm hôm phụng dưỡng cha mẹ già từ
miếng ăn, giấc ngủ, bát thuốc những khi đau ốm, chứ không lạnh lùng,
không một chút t́nh cảm đôi khi có vẻ tàn nhẫn kiểu phương Tây: con
cái lớn lên lập gia đ́nh riêng, cha mẹ già gửi vào viện dưỡng lăo,
sống cô đơn trong tuổi già buồn bă… thậm chí chết chóc con cái cũng
chẳng cần hay biết… Phụ nữ Việt thường nhịn nhục chiều chồng chiều
con, chịu thiệt tḥi về phần ḿnh để lo cho chồng cho con nhưng bù lại
cho đến cuối đời lúc nào cũng sống trong hạnh phúc với chồng bên đàn
con cháu thương yêu ruột thịt.
Khởi nguyên từ h́nh tượng Mẹ Tiên cao
cả đă lập đại thành “Nguyên lư Mẹ” trong tâm thức mỗi người Việt, h́nh
thái văn hoá mẫu hệ, tôn trọng nữ quyền truyền lưu măi tới ngày nay.
Chính truyền thống cao đẹp này của dân tộc đă sản sinh ra những bậc nữ
lưu vĩ đại như Hai Bà Trưng, Bà Triệu và bao nhiêu nữ anh hùng nữa…
những bậc anh thư của Việt tộc đă góp phần to lớn trong công cuộc bảo
vệ đất nước mà không một dân tộc nào có được.
SỬ THI BỐ LẠC- MẸ ÂU..
UYÊN NGUYÊN MINH TRIẾT VIỆT
Mỗi dân tộc đều có một vật tổ biểu
trưng, trong khi Việt tộc có hai vật tổ song trùng đó là Tiên Rồng.
Ngay từ thời đá mài Bắc Sơn cách nay khoảng 7000 năm người ta đă t́m
được những ḥn sỏi mài nhẵn có gạch 2 vạch song song mà theo sự suy
đoán là nét song trùng, hay là nét lưỡng hợp(25) được biểu hiện đầy
rẫy trong các huyền thoại. Đặc điểm của huyền thoại Việt Nam là luôn
luôn có hạn từ như sông núi, đất nước, nóng lạnh, sáng tối, trong
ngoài, âm dương, trai gái, nước nhà, nhà nước biểu trưng lưỡng thể
tính âm dương đối lập trong sự thống nhất hài hoà bởi nguyên lư MẸ.
Ngày nay mọi người đều nhận chân được
ư nghĩa và giá trị của truyền thuyết là những trang chiếu giải trung
thực nhất của người xưa. Vấn đề là chúng ta, thế hệ con cháu phải t́m
về nguồn cội xa xưa để lư giải ngữ nghĩa hàm ẩn trong chiều sâu ư niệm
tâm linh của ḍng sống sinh động Việt cổ thời Hùng Vương. Đó chính là
quan niệm sử theo chiều dọc mà chúng ta gọi là huyền sử.
Truyện xưa kể rằng rằng mối t́nh Rồng
Tiên của đôi vợ chồng nhân thần để rồi ba sinh hương lửa mặn nồng đă
sinh ra bọc điều trăm trứng nở ra trăm con trai khôi ngô tuấn tú lạ
thường. Bố Rồng trở về thủy phủ để Mẹ Tiên ở lại nuôi con. Mẹ con cùng
đường, tính trở về quê ngoại nhưng chiến tranh loạn lạc nên không về
được. Trong cảnh lẻ loi đơn chiếc, mẹ con ôm nhau khóc lóc: “Bố ơi! Bố
ở đâu mau về cứu chúng con …”. Rồi một hôm, Bố Rồng bỗng nhiên về gặp
Mẹ Tiên ở đất Tương để tạ từ ly biệt. Tự thân của mẩu truyền thuyết
này là uyên nguyên triết lư của sự tương sinh tương khắc, tan hợp hợp
tan, quy luật muôn đời thường hằng bất biến của vạn vật … và cánh đồng
bến nước sông Tương ngàn trùng xa cách từ buổi ấy, những giọt nước mắt
chia ly ấy đă là hồn thơ muôn thuở của thi nhân:
Bố về gặp Mẹ bến sông Tương
Giọt lệ sầu đong nghĩa vợ
chồng
Ngàn năm tự thuở chia ly ấy.
Huyền sử Rồng Tiên giống Lạc
Hồng.
Giọt lệ sầu đong của Mẹ đă không cầm
được ḷng tha thiết ngậm ngùi của bố. Bố Lạc nói: “Ta là giống Rồng,
đứng đầu thủy tộc, nàng là giống Tiên sống ở trên đất, vốn không ở
được với nhau lâu. Tuy nhiên âm dương hợp lại mà sinh con, nhưng ḍng
giống tương khắc như nước với lửa khó bề ở lâu với nhau được. Nay phải
chia ly. Ta mang 50 con về thủy phủ chia trị các nơi, c̣n nàng đem 50
con về ở trên “đất”chia “nước” mà trị. Những lúc lên non xuống biển có
việc cùng nhau gắn bó với nhau đừng bỏ rơi nhau … Âu Cơ dẫn 50 con lên
núi, suy tôn người con trưởng lên làm vua đặt tên nước là Văn Lang …”.
C̣n mối t́nh nào trên thế gian này cao
đẹp tuyệt vời như thiên t́nh sử Tiên Rồng, tuy huyền nhưng không ảo,
tuy mơ nhưng lại thực và sự hiện hữu của cộng đồng Bách Việt do Việt
tộc ly tán là hiện thực lịch sử của huyền sử Rồng Tiên:
Việt Nam thi sử truyền ghi,
Âu Cơ Tiên nữ kết ngh́ Lạc Long,
Công Chúa Viêm Đế vốn ḍng,
Theo cha du ngoạn non bồng Nam phương,
Động Đ́nh kết mối uyên ương,
Thuyền quyên ḷng đă mười thương anh
hùng!
Sắt cầm hoà hiệp nguyện chung,
Trăm năm kết nghĩa vô cùng nên thơ,
Ba sinh hương lửa đợi chờ,
Mặn nồng t́nh nghĩa ngây thơ thẹn
thùng,
“Bọc điều trăm họ thai chung,
Đồng bào tiếng gọi vô cùng Việt Nam”
Thân thương cao cả vô vàn,
Hồn thiêng sông núi mang mang ḷng
người,
Truyền kỳ lịch sử tuyệt vời
Cội nguồn dân tộc đời đời khắc sâu ..!
Quốc Việt
(Sử Thi Đại Việt Nam)
Truyền thuyết Rồng Tiên là một triết lư
văn hoá tuyệt vời. H́nh tượng Bố Rồng, Mẹ Tiên là h́nh tượng nguyên
sơ, uyên nguyên nguồn cội của triết lư Âm Dương, biểu tượng bởi đôi vợ
chồng nhân thần Bố Lạc-Mẹ Âu. Bố Rồng-Mẹ Tiên là những anh hùng khai
sáng văn hoá không những của dân tộc Việt mà c̣n là của cả nhân loại
nói chung. Mẹ Tiên, người Mẹ Âu Cơ của dân tộc dạy con cái làm rẫy,
trồng khoai, trồng lúa ven núi, trồng mía ven sông, đào giếng, dệt
vải, ép mật, thổi xôi, làm bánh. Đó là người Mẹ của giống ḍng Bách
Việt, người Mẹ của Tổ Quốc Việt Nam hôm nay và măi măi về sau. Bố Rồng
diệt quái vật, Ngư tinh, mộc tinh, hồ tinh để giúp dân yên ổn làm ăn
sinh sống. Bố Rồng c̣n dạy con dân cách thức xâm ḿnh, vẽ ḿnh để khỏi
bị thủy quái làm hại. Bố là h́nh ảnh tượng trưng cho ư chí sức mạnh
truyền thống của cộng đồng dân tộc, c̣n mẹ là h́nh ảnh biểu trưng của
t́nh cảm nhân ái hiền hoà của dân tộc như một biểu tượng giống ṇi:
“Sữa Mẹ Âu tuôn ḍng nhân nghĩa,
Máu Bố Lạc hừng chí hùng anh”.
Từ ư niệm Đất Nước, Núi sông đến Cha
Trời, Mẹ Đất thể hiện triết lư sống trên mặt trống đồng Ngọc Lũ là
biểu tượng của tín ngưỡng tự nhiên nguyên thủy của nền văn minh nông
nghiệp thời cổ đại. Mặt trời, ánh sáng cần thiết cho sự sống ban ngày.
Ngôi sao ban đêm, là giấc ngủ không thể thiếu được trong đời sống con
người. Đất là Mẹ ấp ủ dưỡng nuôi để hạt giống nảy mầm khai sinh sự
sống. Nước mưa của cha từ trên trời rơi xuống ḷng đất mẹ cùng với ánh
nắng mặt trời, ánh sáng của t́nh yêu thương, đă tạo ra muôn vật muôn
loài, sinh sôi nẩy nở, đơm bông kết trái. Từ những ư niệm khởi đoan,
cùng với sự chiêm nghiệm thực tế đă h́nh thành triết lư Aâm Dương dịch
biến, quy luật căn cơ muôn đời của vạn vật trong cuộc biến diễn cũa vũ
trụ nhân sinh thường hằng bất biến. Truyền thuyết Việt Nam biểu trưng
giá trị đích thực của con người, với ư nghĩa nhân chủ trong văn hoá
khởi đoan của một nền triết học do con người dẫn khởi mà vẫn hài hoà
với vũ trụ muôn loài. Đề cao con người, tôn trọng sự sống của con
người và muôn loài, muôn vật trong đó con người vẫn cao quư thiêng
liêng hơn hết (nhân linh ư vạn vật), con người là mục đích đầu tiên và
cũng là cùng đích để phục vụ. Sự hài hoà giữa tinh thần và vật chất,
giữa tâm linh và thể xác, ư chí và t́nh cảm được biểu tượng bởi đôi vợ
chồng Nhân Thần:
|
Bố
Rồng (ư chí) + Mẹ Tiên (t́nh cảm) con người
Bố
Lạc (sức mạnh) + Mẹ Âu (tâm linh) ViệtNam
(vật chất ) (tinh
thần) toàn diện
|

Con người cao quư hơn muôn loài, làm chủ
muôn loài muôn vật, nhưng vẫn ḥa tâm cùng không gian, ḥa tính cùng
thời gian, hoà thông cùng vũ trụ theo quan niệm vạn vật đồng nhất thể,
nhân thân tiểu thiên địa của lư “nhất trung” trong triết lư Đông
Phương. Nhân linh ư vạn vật v́ con người có một đời sống tâm linh cao
vời sâu thẳm cùng với ư chí, nội lực tự thân đă không ngừng sáng tạo
trong lao tác chinh phục khống chế thiên nhiên, để phục vụ cho nhu cầu
hạnh phúc an lạc của cuộc sống con người.
Bố Rồng, Mẹ Tiên của truyền kỳ lịch sử
cũng chính là Bố Lạc, Mẹ Âu của hiện thực lịch sử đă đạt thành truyền
thống Việt Nam với sức sống mănh liệt vô biên đă chinh phục thiên
nhiên, chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù dưới bất kỳ danh nghĩa nào,
để khẳng định trước nhân loại: Một dân tộc anh hùng đă có gần năm ngàn
năm văn hiến. Chính truyền thống yêu nước thương ṇi xuất phát từ ḷng
tự hào dân tộc con Rồng cháu Tiên, với ư chí kiên cường bất khuất,
tinh thần hy sinh quả cảm đă đánh bại biết bao kẻ thù xâm lược bạo
tàn, hung hăn, thâm độc, quỉ quyệt nhất nhằm thống trị đồng hoá, nô
dịch dân tộc ta, trói buộc dân tộc ta bởi sợi dây vô h́nh vô ảnh của
h́nh thức nô dịch văn hoá ư hệ ngoại lai. Điều này được Hán Hiến Đế,
người đứng đầu triều Hán, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc đă phải tuyên
dương “tên Man di chí thiện”, con châu chấu bên cạnh bánh xe Đại Hán
mà dân ta vẫn tự hào ví von “Nực cười châu chấu đá xe, tưởng rằng chấu
ngă ai dè xe nghiêng!”. Chính Hán Hiến đế đă phải thừa nhận :
“GIAO CHỈ LÀ ĐẤT VĂN HIẾN, NÚI SÔNG HUN ĐÚC,
TRÂN BẢO RẤT NHIỀU, VĂN VẬT KHẢ QUAN, NHÂN TÀI KIỆT XUẤT …”
Nền minh triết Việt khởi nguyên từ thần
tổ kép Tiên Rồng, uyên nguyên của triết lư Âm Dương Việt cổ, Âm Dương
biểu tượng cho 2 mặt đối lập tương sinh tương khắc nhưng không dẫn đến
triệt tiêu, huỷ diệt lẫn nhau mà cùng nhau tương hoà theo lư đối lập
thống nhất. Trong vũ trụ vạn vật muôn loài đều có 2 mặt đối lập với
nhau nhưng vẫn cần thiết có nhau, tương hoà để tồn tại. Nếu những yếu
tố cấu tạo thành vật chất đấu tranh tiêu diệt loại trừ lẫn nhau, nói
một cách khác là nếu thiếu một trong 2 yếu tố căn bản hoặc âm hoặc
dương th́ sẽ không có muôn loài muôn vật. Nếu như chỉ có nam mà không
có nữ hoặc ngược lại th́ cũng chẳng có loài người. Trái lại, tuy nam
đối lập với nữ về nhiều mặt từ vóc dáng thể chất đến t́nh cảm tâm hồn
nhưng cả hai lại có tương sinh nếu hợp nhất lại: Nữ (Aâm) + Nam
(Dương), t́nh cảm + lư trí, tinh thần + vật chất th́ sẽ sinh thành một
mầm sống, một yếu tố thứ ba đó là con cái th́ mới truyền chủng tạo ra
nhân quần xă hội loài người.
Thực tế cuộc sống được chiêm nghiệm suốt
chiều dài của lịch sử loài người, đó là tuy đối lập nhưng vẫn hài hoà,
thống nhất trong đa dạng th́ loài người mới tồn tại măi tới ngày nay.
Nền minh triết Việt chỉ ra rằng bất cứ muôn loài muôn vật muốn tồn tại
phải tương hoà. Hoà hợp ngay tự bản chất mỗi vật, hoà hợp ngay chính
bản thân mỗi người như thể xác với tâm hồn, t́nh cảm với lư trí, tâm
với tính, hài hoà với thiên nhiên, hài hoà trong ứng xử giao tiếp với
tha nhân, duy tŕ mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người, giữa dân
tộc này với dân tộc khác để cùng tồn tại chứ không mưu đồ t́m cách để
tiêu diệt lẫn nhau một cách cực đoan. Cuộc sống đ̣i hỏi chúng ta phải
cùng tôn trọng nhau, chấp nhận nhau dù có sự khác biệt. Phải chấp nhận
thống nhất trong đa dạng, lấy yếu tố con người làm đích điểm để cùng
chung sống trong hoà b́nh. Đó chính là triết thuyết Nhân bản cộng tồn,
lấy con người là chính để cùng chung sống trong ḥa b́nh an lạc của
nền minh triết Việt.
Trong khi các quốc gia khác trên thế giới
thường chọn một vật tổ biểu trưng, một ư thức hệ làm đích điểm nên đắm
ch́m trong duy lư cực đoan của nhị nguyên luận, không chấp nhận bất cứ
cái ǵ khác ngoài họ, A là A chứ không thể vừa A vừa B được. Chính đầu
óc duy lư cực đoan trên đă đưa nhân loại đến bế tắc, đến ngơ cụt và
chỉ có chiến tranh huỷ diệt, hậu quả của lư đối lập loại trừ. Tổ tiên
ta đă chọn Thần tổ kép Tiên Rồng trên nền tảng minh triết siêu Việt
mới giải quyết được vấn đề nhân sinh trước thềm thiên niên kỷ thứ ba
của nhân loại.
PHẠM TRẦN ANH
(Trích
VIỆT NAM THỜI LẬP QUỐC)
CHÚ THÍCH
(1). (1BIS).Theo một số tài liệu cũ th́ Lĩnh Nam
Trích Quái do Trần Thế Pháp hiệu Thức Chi, người làng Thạch Thất tỉnh
Sơn Tây viết vào thế kỷ 13. Theo Lê Quí Đôn th́ không rơ gốc tích ở
đâu và không được sử sách nhắc đến. Về sau Lĩnh Nam Trích Quái được Vũ
Quỳnh hiệu đính vào thế kỷ 15. Vũ Quỳnh đậu Hoàng Giáp năm 1478, giữ
chức Sử quán Đô Tổng Tài đă soạn bộ Đại Việt Thông giám và Thông khảo
viết từ đời Hồng Bàng đến đời Lê Thánh Tông. Chính Vũ Quỳnh cũng viết
là không biết bản Liệt truyện này do ai làm ra và viết vào thời kỳ
nào chẳng thấy chép tên họ. Ngờ rằng các bậc danh nho đời Lư Trần sáng
tác rồi về sau các bậc quân tử hiếu cổ bác nhă ngày nay nhuận sắc lại.
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đoàn Tuân th́ Lĩnh Nam Trích Quái và Hùng
Vương Sự tích Ngọc phả Cổ truyện ăn khớp với nhau. Ngọc phả Hùng Vương
ghi rơ là nhân ngày tốt, tháng Mạnh Xuân, năm Hùng Vương thứ 32. Căn
cứ vào đó để ước tính th́ vào khoảng 1243-1250 tức là vào đầu đời Trần
Thái Tông. Người viết lấy tên là Trần Thế Pháp hàm ẩn ư nghĩa rất sâu
sắc là pháp độ thời xa xưa. Trần là xưa cũ, thế là đời c̣n pháp là
pháp độ và người ẩn sĩ này hẳn là không phục chế độ nhà Trần do Trần
Thủ Độ dựng nên. Thế nhưng theo công tŕnh nghiên cứu gần đây của Bùi
văn Nguyên th́ Trần Thế Pháp chính là vua Trần Thái Tông?
Việt Điện U Linh do Lư Tế Xuyên giữ chức
“ Thủ Tạng Thư văn Chính trưởng Trung phẩm Phụng ngự, An Tiêm lộ,
Chuyển vận sứ” biên soạn năm 1329 viết về nước Việt xưa ở Triết Giang.
Nội dung gồm có :
a). 6 truyện Lịch đại Đế vương nói về sự tích 6
vị vua nước Việt.
b). 11 truyện Lịch đại Phụ thần nói về sự
tích 11 vị quan của nước Việt xưa.
d). 10 truyện Hạo khí Anh linh nói về các bậc
anh hùng hào kiệt nhân tài trong dân gian.
(2). ĐVSKTT(Ngoại kỷ) do Ngô Sĩ Liên và các sử
thần đời Lê, Bản dịch của Mạc Bảo Thần Nhượng Tống tr 34 ( Bổ khuyết
theo Khâm Định Việt Sử và các sách ngoài) NXB Tủ sách Sử học Tân Việt
năm 1964.
(3). Theo Kim Định.
(4). “Tout est dit dans les mythes, Reste à
comprendre”.
(5). Xích Qui: Đất Trung nguyên gồm có Tam Giang
Bắc ( sông Hoàng, sông Vị và sông Lạc) và Tam Giang Nam ( sông Nguyên,
sông Tương và sông Dương Tử) cổ thư gọi là Nam Giao. Nam Giao có tên
cổ xưa là Cửa Việt hay Giao Chỉ. Vùng đất này “Kinh Thư” gọi là Xích
Qui phương. Kinh Dương Vương đă chọn tên đất Xích Qui để đặt tên nước
là XÍCH QUI hàm nghĩa ban đầu chỉ tên Việt tộc ở vùng đất đỏ ( basalt)
từ Tam Giang Bắc xuống Tam Giang Nam. Thời Chu gọi tên các nước khác
là quỉ, các sử gia Hán tộc đă lợi dung sự đồng âm dị tự để viết là
Xích Quỉ để miệt thị Việt tộc.
PHONG CHÂU: Tên cổ xưa của Việt tộc gọi là Châu Phong. Theo An Nam Tứ
lộ Đồ chí th́ Phong Châu là vùng vùng Tuyên Quang mà xưa gọi là Đôn
Hoàng. Phong Châu là vùng gió lộng quanh năm tuyết phủ khiến Lư Bạch
cảm hứng làm thơ tả cảnh sắc Phong Châu. Vùng Tam Giang Bắc có cửa Hàm
Cốc Vũ quan c̣n gọi là Bao Trung nh́n xuống Trung nguyên. Từ Dĩnh
Xuyên địa giới nước Sở đi lên phía Bắc phải qua Tà Cốc tức Phong Châu
c̣n gọi là Bao Trung. Phong Châu là vùng ở giữa 2 dăy núi của xứ Tạng
và Tứ Xuyên, nếp đất cấu tạo địa chất theo mạch từ núi HiMalaya xưa
gọi là núi Tu Di hay Thứu Lĩnh là nơi phát nguồn của 4 con sông cùng
chảy xuôi Nam và sang phía Đông. Bốn con sông này cùng họp nhau tại
vùng MIN-YA-KON-KẠ nơi 4 ḍng sông chảy sát liền nhau là sông Minh (
Min) sông Dạ Lang (Ya) sông MéKong ( Cửu Long : Kon) và sông Dương Tử
( Kạ) trước là vùng Ba Thục sau gọi là Tứ Xuyên. Châu Phong ở đây chỉ
vùng núi Dân của đất Ba Thục khác với Phong Châu ở Vĩnh Phú là tên mới
đặt từ địa danh Phong Châu cũ của nước Văn Lang cổ xưa. Phong Châu
cũng chỉ núi nên viết với bộ Sơn.
Trong suốt ḍng lịch sử Việt, Hán tộc du mục xâm lấn đẩy Việt
tộc lùi dần xuống phương Nam nên tiền nhân đă mang theo địa danh Phong
Châu xa xưa xuống Vân Nam rồi xuống Bắc Việt Nam bây giờ. Hùng Triều
Ngọc Phả, Thần phả xă Tiên Lát huyện Việt Tŕ tỉnh Hà Bắc ghi rơ là
đến đời Hùng Vương thứ 16 là Hùng Tạo Vương huư Đức Quân Lang ( Tân
Dậu 660-569 TDL ngang với thời Chu Linh Vương) dời đô xuống Việt Tŕ
cũng gọi là Phong Châu. Sử sách Trung Quốc ghi rơ là vào đời Thái
Khang triều Tuỳ đổi tên Giao Chỉ là Giao Châu, đến năm Đại Nghiệp thứ
3 triều Tuỳ sát nhập Phong Châu vào Giao Châu gọi là quận Giao Chỉ.
Phong Châu lúc trước gọi là Phong Châu Thượng ở Vân Nam nơi mà về sau
Đường Trung Tông con Đường Cao Tông vừa lên ngôi được 1 năm th́ bị Vơ
Hậu phế ngôi phải bỏ chạy về Phong Châu. Đến năm 621 triều Đường đổi
Tân Hưng là Phong Châu gồm 6 huyện là Gia Ninh, Tân Xương, An Nhân,
Trúc Lạc, Thạch Đê và Phong Khê. Năm 742, triều Đường lại đổi Phong
Châu là Thừa Hoá, đến năm 758 đổi lại là Phong Châu. Phong Châu là
vùng đất quanh ngă ba Hạc, phần dưới của các thung lũng sông Chảy,
sông Thao, sông Đà. Theo Cựu Đường Thư quyển 41 th́ triều Đường gọi
vùng này là Phong Châu Hạ.
THỦY PHỦ: Tên vùng đất
nơi bố Lạc dẫn 50 con về miền sông nước ven bể. Thời kỳ đó vùng đất
này bao gồm từ cảng Thành Đô Tứ Xuyên tới Quảng Tây Quảng Đông c̣n là
biển cả mênh mông nên sử sách xưa gọi là Nam Hải. Từ trước tới nay
chúng ta cứ nghĩ là Bố Lạc dẫn 50 con xuống nước là thuỷ phủ. Thế
nhưng gần đây thạc sĩ Sử địa người Pháp là P. Gouron và J. Loubet,
thạc sĩ văn chương đă xác nhận địa danh “ Thuỷ Phủ” ( Souifou) trong
tác phẩm “ L’ Asie moins L’AsieRussia” Á Châu ngoịa trừ lănh thổ Đông
Nga năm 1920 được in trên tấm bản đồ Pacilic Osean. Thuỷ Phủ ngày xưa
chính là cảng Thành Đô phủ Trùng Khánh tỉnh Tứ Xuyên bây giờ. Trên tấm
bản đồ New International ATLAS of the world của Geographical
Publishing Company ấn hành năm 1949 cũng có địa danh “ Thuỷ Phủ” là
Suifu, hiện là cảng Thành Đô, phủ Trùng Khánh tỉnh Tứ Xuyên Trung Quốc
bây giờ. Sự thật lịch sử này đă minh chứng hùng hồn tính hiện thực của
huyền thoại Rồng Tiên.
Về sự tích Kinh Dương Vương, giáo sư Trần Đại Sĩ Giám Đốc Viện
Pháp Hoa đă đến núi Thiên Đài tỉnh Hồ Nam để nghiên cứu thực tế biên
giới cổ xưa của Việt tộc. Đền Thiên Đài nằm trên ngọn núi Thiên Đài
cao 180 mét bên bờ sông Tương gần hồ Động Đ́nh. Núi Thiên Đài nằm
trong dăy Quế Dương tỉnh Hồ Nam. Tương truyền xưa kia là nơi Kinh
Dương Vương lập đàn tế trời, hiện trong đền c̣n đôi câu đối khắc trên
đá :
“ Thiên Đài đại đại phân Nam Bắc,
Lĩnh địa niên niên dữ Việt Thường”.
“Đền trời măi măi phâm Nam Bắc,
Ngũ Lĩnh ngàn năm đất Việt Thường”.
Tương truyền thời Hai Bà Trưng, tướng Đào Hiển được giao trấn
giữ tại đây để ngăn cản bước tiến, tiêu hao sinh lực quân Hán rồi rút
quân. Thế nhưng Đào Hiển nh́n cảnh đất nước bị quân giặc xâm chiếm đă
cùng hơn một ngàn tướng sĩ dùng đao quyết tử thủ cho đến người cuối
cùng. Dân địa phương lập miếu thờ vị danh tướng đất Việt cùng tất cả
anh hùng vô danh hi sinh bảo vệ đất nước. Trong miếu có câu đối :
“ Nhất kiếm Nam hồ kinh Vũ Đế,
Thiên đao Bắc lĩnh trấn Lưu Long”.
(6-7). Lê Mạnh Thát: Lục độ Tập kinh và Truyền
thuyết khởi nguyên Dân tộc.
(8). H.Maspéro: La Chine Antique p 102 viết là
Thiếu Điển nhưng cũng có sách viết là Thiếu Diễm. Các sử gia “Đại Hán”
đều cho rằng Hoàng Đế khởi nguyên của Hán tộc. Tư mă Thiên trong Sử kư
quyển I Ngũ Đế bản kỷ xem Hoàng Đế là quốc tổ Hán tộc. Đặc biệt không
chép về Thần Nông. Sách Thế Bản viết : “Việt họ Mỵ, con Tước cùng Tổ
với Sở, là hậu duệ của Chúc Dung. Chúc Dung chỉ là cách đọc ngược tên
của Viêm Đế tức Đế Viêm”. Sách sử Trung Quốc viết là Viêm Đế, Hoàng Đế
theo cú pháp Hán tự nhưng người Việt viết là Đế Viêm, Đế Hoàng, Đế
Nghiêu, Đế Thuấn … Theo sách “ Sơn Hải Kinh” th́ Chúc Dung thực ra là
cháu 3 đời của Đế Viêm, đó chính là nhân vật Đế Minh trong truyện cổ
tích họ Hồng Bàng. Tư Mă Thiên trong Sử Kư phần “ Câu Tiễn Thế gia” đă
xác nhận Câu Tiễn là miêu duệ của vua Vũ tức là con thứ của Đế Thiếu
Khang nhà Hạ, họ Hạ Hầu. Cổ sử Trung Quốc ghi năm Quí Tỵ 2.148 TDL,
vua Vũ nhà Hạ hội chư hầu ở Cối Kê và năm Quí Măo 2.085 TDL, vua Thiếu
Khang nhà Hạ phong cho con thứ là Vô Dư ở đất Việt. Cổ thư Trung Hoa
cũng chép là Hoàng Đế cưới vợ cho con ở đất Thục, đẻ ra con đầu ḷng
là Đế Cốc. Đế Cốc là cháu Đế Thiếu Hạo thuộc “ bái Điểu tộc” là tộc
người thờ chim ( Âu Việt). Đế Nghiêu, Đế Thuấn đều là ḍng dơi Thần
Nông của Việt tộc v́ thế các vua Sở đều nhận là hậu duệ của Hiên Viên
Hoàng Đế.
(9). Khoahọcnet.com: Theo Nguyen Nguyên @
khoahoc. Net : Thử đọc lại truyền thuyết Hùng Vương.
(10). Kim Định: Việt Lư Tố nguyên, Triết lư cái
Đ́nh.
(11). Bùi văn Nguyên : Việt Nam và Cội nguồn Trăm
họ tr 52.
(12). Bùi văn Nguyên : Sđd tr 30.
(13,14). Hoàng Thị Châu: Mối liên hệ về ngôn ngữ
cổ đại ở Đông Nam Á qua tên sông ở Việt Nam.
(15). Theo các nhà Tiền sử học th́ Chủng
Malaynesian thiên cư qua Cam Túc rồi vượt ngă ba sông Vị đến định cư ở
Hà Nam, vùng sông Bộc mà cổ sử gọi là Bách Bộc tức Lạc bộ Trĩ. Cổ sử
cũng ghi Rhuan Nguyễn là tên nước Nguyễn ở tỉnh Cam Túc, đến thế kỷ
thứ nhất dời xuống Giang Nam (một số thi sĩ nổi tiếng như Nguyễn
Triệu, Nguyễn Tịch, Nguyễn Hàm (1161) sau đó họ Nguyễn thiên cư xuống
Việt Nam hội nhập với chi tộc Nguyễn đă định cư tại đây từ lâu ngay từ
đợt thiên cư đầu tiên cách đây 6 ngàn năm.
(16). Thời đại Hùng Vương: Nước Văn Lang: bờ cơi
tên nước và dân cư của Văn Tân, Nguyễn Linh, Lê Văn Lan, Nguyễn Đổng
Chi và Hoàng Hưng. Từ Lang tiếng Hán bắt nguồn từ ngôn ngữ cổ Malaya
hiện c̣n dùng ở Mă lai đó là T’LANG. T’ Lang, về sau biến thể thành
làng trong tiếng Việt.
(17). Nước Văn Lang trong thời Hùng Vương của
Nguyễn Linh.
(18). Hậu Hán Thư: Mă Viện truyện, Nhâm Diên
truyện – Kết luận của Đào Duy Anh hoàn toàn sai lầm khi cho rằng Lạc
Việt chỉ là nhóm Việt Tộc ở miền Bắc VN. Cái thiếu sót sai lầm của các
sử gia VN ta là cứ sao y bản chánh Hán sử nên cứ cho là 15 bộ của quốc
gia Văn Lang chỉ nằm trong phạm vi Bắc Việt Nam mà thôi. Thực tế, Lạc
Việt trải rộng khắp Trung Nguyên . ĐDA chép là vua Sở sai Bạch Khơỉ đi
kư kết Hiệp ước Liên minh với các nước Bách Việt thực ra là Ngô Khởi .
(19). La tất : Lộ Sử. Chữ Lạc trong sách “ Dật
Chu Thư” viết là Lộ. Lộ nhân Đại trúc được sách “ Lă thị Xuân Thu”
giải thích là Lạc Việt chi duẩn nghĩa là măg trúc của người Lạc Việt.
Như vậy La tất viết Lộ Sử chính là sử Lạc Việt.
(20). Tư Mă Thiên: Bạch Khởi Vương tiền truyện.
(21). Nguyễn Đoàn Tuân: Truyện Kiều, Hồn tính
Việt ngàn đời.
(22,23). Bùi văn Nguyên : Sđd tr 116.
(24). Theo Vũ Ngọc Khánh – Vua Hùng trong đời
sống tâm linh người Việt. Một số địa phương như Vĩnh Phú, Hà Tây, Hải
Hưng, Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Hà Tĩnh v.v… nhân dân không những tôn thờ
Hùng Vương như Quốc Tổ mà người ta thờ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân
và Âu Cơ làm Thần Thành Hoàng. Hàng năm từ ngày 18 đến 24 tháng giêng,
làng mở hội nghênh tế cả ba: Cha, Con trai và con dâu, Phục rượu là từ
cổ có nghĩa là rước nước có tế nữ quan đi theo kiệu của Âu Cơ .v.v…
(25). Dual unit – Theo Kim Định.
PHẠM TRẦN ANH