Thế mà đã 51 năm qua. Sàigòn thuở ấy, đối với tôi còn đẹp hơn là cái tên thế
giới mệnh danh: Hòn Ngọc Viễn Đông! Chợ Bến Thành vẫn với lối kiến trúc đặc
thù nỗi bật trên vòm trời Đông Nam Á. Thuở ấy tôi chưa có dịp ngồi trên phi
cơ hay trực thăng để nhìn toàn cảnh thành phố thân yêu. Tôi lạ lùng với xe
điển chạy nháng xanh lè hay thích thú mỗi khi ngồi xe điện đụng nhau trong
khu giải trí Đại Thế Giới. Có lần tôi chứng kiến cảnh Tây đen bị chọi đá lổ
đầu sau khi vụ Trò Ơn biểu tình bị Tây bắn chết. Hình như các trường học tại
Sàigòn Chợ Lớn thuở ấy đều bãi khóa. Tôi thuở ấy
ở tại Ngã Sáu Chợ Lớn cạnh trường mù. Con đường nầy thay đổi nhiều tên lắm.
Khi tôi biết, là tên Jean Jacque Rousseau, rồi Nhơn Vị, rồi Trần Hoàng Quân,
rồi Hoàng Thụy Năm. Nhưng dân Sàgòn Chợ Lớn vẫn quen miện gọi là JJ
Rousseau. Từ Ngã Sáu Chợ
Lớn có thể đi bộ đến Bến Xe Đò Lục Tỉnh. Người ta quen gọi là lục tỉnh,
nhưng bấy giờ đã là Hăm Mốt Tỉnh ở Nam Kỳ rồi. Gần khu nầy còn có hãng thuốc
Mic, Bastos, hãng la ve nước ngọt BGE. Đi quá một đỗi là thấy trường Trung
Học Petrus Trương Vĩnh Ký uy nghi, rồi thấy Chợ Bình Tây tráng lệ. Con đường
Hai Mươi sau đổi là Phan Thanh Giản, chạy qua Ngã Bảy và thẳng về Gia Định.
Xe buýt, xe ngựa, taxi, xích lô máy, xích lô đạp dập dìu. Con đường cũng
chạy ngang Chợ Vườn Chuối gần Chùa Tam Tông Miếu. Mấy năm sau tôi về học tại
Sàigòn và ở vùng Hòa Hưng. Đó là khu phố nhộn nhịp đơn sơ, cuối đường
Éparges. Ngó qua đám ruộng với con rạch nước đen ngòm là phố xá chập chùng
bên đường Mac Mahon sau đổi là Trương Minh Giảng. Cặp vách thành là cổng xe
lửa Hòa Hưng. Chiều chiều nghe xe lửa từ miền Trung về túc còi inh ỏi. Nghe
thét rồi quen rồi nhớ rồi ghiền. Chiều nào vắng tiếng còi là thấy nhớ nhung.
Tôi cứ tưởng là xe bị kẹt. bị trể. Nhưng mà giờ xe lửa làm sao mà sai trái
cho được? Tôi đâu ngờ là vào thời điểm nầy dân Sài gòn nào biết là loạn
lạc đã dấy lên và xe bị trể vì chướng ngại vì mô mìn! Tôi nhiều khi nghe
tiếng còi mà nhớ mỗi lần về thăm nhà ngồi xe đò mà nhìn xe lửa chạy song
song theo quốc lộ 4 từ Sàigòn về Mỹ Tho. Tiếng còi xe lửa nhắc tôi chiều rồi
lo học bài làm bài cho sớm để kịp tuần cuối tháng về quê thăm Mẹ. Mấy năm
học ở Mỹ Tho, tuần nào tôi cũng về quê và chiều chủ nhật thì cởi xe trở lại.
Chợ Điều Hòa Mỹ Tho thứ bảy nào tôi cũng vào mua trầu vàng và cau dầy mang
về cho Mẹ. Bắc Rạch Miễu qua lại sông Tiền khỏi cồn Rồng, qua chiếc tàu chìm
qua cồn Phụng là tới phía Bến Tre. Tàu chìm trơ ống khói giữa sông Tiền nghe
đâu đã bị dội bom vào hồi thế giới đại chiến thứ hai. Những bạn học hay rủ
tôi lội đua ra tàu chìm, nhưng tôi ngại lắm vì sợ ma da và hồm oan lính
chết theo tàu. Tôi chỉ lội qua tàu chìm trước dinh Tỉnh Trưởng Mỹ Tho nơi
Vườn Hoa Lạc Hồng mà cũng thấy sợ cóng người rồi.
Sàigòn về khuya nhìn về hướng phi trường Tân Sơn Nhất sáng trưng thật
đẹp. Nhìn về hướng Ngã Sáu Sàigòn như mặt trời hừng đông. Xóm tôi ở, hầu như
người ta không ngũ. Nhà nào cũng vặn đèn sáng trưng để học bài khuya. Đèn
điện vào những năm 50 bắt đầu yếu dần, người ta phải tăng cường thêm máy
tăng điện thế (survoltage) mới kéo nổi bóng sáng thêm. Lại còn có màn ăn cắp
điện, nhiều khi điện cúp tối thui. Những đêm trăng sáng thì vui lắm. Trẻ em
trong vùng nầy không chơi thân mật bằng nhóm trẻ vùng Ngã Sáu Chợ Lớn. Nơi
đây đất rộng, nhà cửa khang trang, tình láng giềng thể hiện rất tốt đẹp. Còn
khu Éparges có lẽ là xóm lao động, ngoài những nhóm hiếu học còn có nhóm lêu
lỏng đi tắt lên vùng Ông Tạ, Chí Hòa phá phách.
Len lách qua các đường hẹp ngoằn ngoèo ra sát vách tường nhà ga xe lửa
là các vòi nước phông tên công cộng. Những cô gái đẹp dịu hiền sắp hàng lúc
nào cũng trên mười cô, mỗi cô hai thùng nước. Họ, những cô gái gánh nước,
rất tôn trọng thứ tự trước sau. Họ đêm nào cũng gánh mỗi cô ít nhứt là năm
đôi nước để xài cho ngày mai. Họ phải kiên nhẫn và kiên nhẫn chờ luân phiên.
Khi đầy đôi, họ gánh về nhà rồi trở lại nối đuôi theo thứ tự. Năm đôi nước
phải mất ít nhất 4 tiếng đồng hồ! thế mà đêm nào cũng thế, tội cho thiếu nữ
Sài gòn xóm tôi thuở ấy. Chứa nước trong nhà phố chật hẹp thì chỉ một hay
hai thùng phuy. Người con gái xóm tôi ngoài thời giờ học bài làm bài còn
phải đi gánh nước. Cũng có những cô gái ngây thơ nhưng là phận ở đợ, ở mướn
cho người. Cô nào cũng ngoan hiền dễ mến. thỉnh thoảng cũng có vài vụ cải vả
tranh chấp hoặc năn nỉ xin đặt thùng trước. Nhưng rồi cũng không ồn ào chi,
mọi việc dàn xếp trong trật tự và dân chủ. Vòi nước thì có lúc mạnh lúc yếu.
Nước Sàigòn là nhu cầu cũng cấp thiết như là điện. Những lúc ngồi chờ tới
phiên là lúc những mẫu chuyện tâm tình được kể cho nhau nghe. Xa xa là những
bạn trai học bài khuya ra hứng mát. Những mối tình thơ mộng nẩy nở dưới đêm
trăng. Có những cặp thành đôi lứa với tuổi đời quá trẻ, họ đành chấp nhận
dang dở học hành để bền duyên tơ tóc. Tôi nhiều khi lang thang ra Ngã Sáu Lê
văn Duyệt ngắm xe cộ về khuya. Không gì đẹp hơn nhìn xe xích lô máy bánh nhỏ
xíu chạy vù. Xe từ hướng Sáigòn chạy ra phải vòng theo công viên rồi quẹo tẻ
về một trong sáu ngã. Bên lề là xe bán bánh mì thịt nguội, xe bán sữa đậu
nành nóng và bánh ngọt. Trước cổng ga xe lửa còn có quán cà phê mở cử sáng
đêm. Thỉnh thoảng còn thấy bà bán chè đậu đỏ gánh về muộn. Ngồi ăn chè khuya
nhìn những cô gánh nước dưới ánh đèn mờ hay dưới bóng trăng thành thị, tôi
mơ về một viễn tượng tương lai. Mộng nào cũng đẹp. Tôi xây rồi lại xóa. Cô
nào cũng có duyên. Vài mẫu chuyện đổi trao làm suy nghĩ mấy đêm. Nhưng rồi
lại suy nghĩ đường hoạn lộ còn dài. Chữ hiếu chưa báo đền. Rồi tình hình đất
nước nhiễu nhương. Trai thời loạn, nghĩa vụ gần kề. Ôi sao mà ngổn ngang
trăm mối. Những gánh nước đô thành cứ ám ảnh không thôi. Trong khi đó, chỉ
cần băng ngang qua đường rầy xe lửa bên đường Lê văn Duyệt sau nầy, là những
hôp đêm nhảy đầm tới sáng. Nam thanh nữ tú dập dìu. Vòng hết tường thành ga
xe lửa băng ngang cống Bà Xép, Chợ Ông Tạ là Chợ Chí Hòa. Qua khỏi Chợ Chí
Hòa là khu nghĩa địa đất cúng. Nơi đây nhiều
mồ mã lụp xụp của những người tứ
cố vô thân hay những người nghèo khó tại đô thành. Thân xác họ vùi nơi đây
vài ba năm thì bị ủi đi để dành chỗ trống chôn những ngưòi mới. Nơi đây cũng
là nơi chiến địa ngày xưa với những trận Kỳ Hòa Chí Hòa đẫm máu của Gia Định
Thành ngày xưa mà oan hồn còn phảng phất tới Phú Thọ Hòa. Mà thôi đừng đi xa
nữa sẽ tới Trường đua ngựa và Trường kỹ thuật Phú Thọ. Hãy trở lại chợ Hòa
Hưng, vòng vô Khám Lớn Chí Hòa. Con đường vào khám bây giờ người ta xây cất
nhà cửa sát lộ.
Vùi đầu trong sách vở rồi lên đại học rồi vào trường chuyên môn rồi
động viên rồi lưu lạc đó đậy…Tôi xa Sàigòn lúc nào không hay. Khi nhớ lại
thì chánh quyền thay bậc đổi ngôi. Những đứa bạn gánh nước hàng xóm hồi nào
nay con đùm con mang. Có đứa cũng là bà sĩ quan nầy mệnh phụ kia. Có đứa còn
trẻ đẹp mà phải quấn khăn tang chồng. Còn tôi thì nỗi trôi về địa phương
chinh chiến, khói lửa ngập tràn. Rồi vào một mùa xuân giặc tràn vào, tôi
phải xa rời quê hương xứ sở. Sàigòn giờ chắc là thay đổi nhiều lắm…
Vào cuối năm 1995, tức là hơn hai mươi năm sau tôi có dịp trở lại
Sàigòn để nhìn mặt mẹ già lần cuối. Mẹ tôi giờ cũng thành người thiên cổ. Mẹ
tôi đã lìa trần một năm sau khi đã nhìn thấy mặt con mà Mẹ tưởng đâu đã bỏ
thây trong cơn loạn lạc 1975. Tôi trở lại phi trường Tân Sơn Nhất vào lúc 12
giờ khuya. Từ trên phi cơ nhìn xuống, Sàigòn với ánh điện vàng khè như lệ
nhỏ. Ra khỏi phi trường đường phố âm u vắng lặng. Nghe nói dân chúng bây giờ
tăng thêm mấy triệu người từ miền ngoài vào, nhưng không còn cảnh nhộn nhịp
về đêm như thuở xưa. Tôi ở Sàigòn ba đêm ngày không đi dạo phố xá, nên không
biết Sàigòn hoa lệ cở nào. Tôi rời Sàigòn trở lại Hoa Kỳ vào lúc 3 giờ sáng.
Sàigòn thì lúc nào cũng âm u, như Sàigòn đã chết ở lòng tôi tự thuở nào! Tôi
có gặp lại vài người láng giềng ngày xưa, mà con gái của họ là bạn của tôi
thuở nào. Tôi có hỏi thăm thì tình cảnh cũng không khá giả gì. Cũng chồng
con đùm đề và buôn gánh bán bưng độ nhựt. Có đứa bạn gái mà một dạo tôi dạy
kèm toán đố thì cũng vất vả theo chồng về làm ruộng rẩy thật tội nghiệp. Tôi
ngậm ngùi đi ngang phông tên nước ngày xưa, thấy cũng vẫn còn đó. Tôi không
can đảm ra xem cảnh gánh nước đêm khuya. Tôi vẫn biết lại cũng những cô gái
trẻ trung với những thùng thiếc chờ tới phiên hứng nước. Tôi có để ý thấy
khung nền xi măng quanh phông tên nước bể vụn chắc là người gánh phải đông
hơn ngày trước. Tôi chạnh lòng nhớ lại những đôi nước giữa đô thành đêm
khuya một dạo. Cuộc đời như nước đổ trôi đi. Nguồn mội thì không thay đổi.
Có ai biết được dưới lòng đất sâu mạch nước đã chuyển dòng? Trên mặt đất
bằng người ta đâu cần để ý. Hể nước yếu đi thì người ta đóng ống thép xuống
sâu, dùng máy bôm mạnh sẽ có nước. Nhưng trong nước có hồn người, có tâm
tình trong trắng của những cô gái Sàigòn không biết đua chen theo cuộc sống
phồn hoa. Họ chỉ biết mang nước về nhà xây dựng hạnh phúc gia đình. Xóm ga
xe lửa bây giờ chắc là nhà đã đổi chủ, những gia đình uống nước Hòa Hưng sau
cuộc đổi đời mất nước giờ biết trôi dạt về đâu?
Ngày xưa tôi cũng đã từng uống nước Hòa Hưng, đã từng tắm gội từng lon
nước Hòa Hưng vì nước đô thành khan hiếm lắm. Thế mà giờ nầy tôi cũng không
còn cơ hội nào uống được nước nguồn Đồng Nai nước sông Sàigòn. Ngày xưa hồi
còn nhỏ bé mà tôi cũng biết quý nước khi về học tại Sàigòn. Biết quý mà
không biết giữ, nên giờ tôi có hối tiếc cũng bằng thừa! Nhưng mà làm sao để
giữ nước Sàigòn, tôi vẫn còn thắc mắc mãi cho đến ngày tàn trên bước đường
lận đận lưu vong.