|
khấu khiến cho h́nh thức sân khấu thêm đa dạng,
thêm nhiều khả năng thể hiện sự tái tạo cuộc sống và tâm lư của mọi từng
lớp nhân vật trong xă hội.
Cuộc sống phong phú bao nhiêu th́ sân khấu đa dạng bấy
nhiêu. Sân khấu có nhiều h́nh thức thể hiện như Tuồng, Chèo, Hát Bội, Cải
Lương, Hát Bài Cḥi, Kịch Nói, Kịch Câm. . . .
Mỗi một loại h́nh nghệ thuật sân khấu như Tuồng, Chèo,
Hát Bội, Cải Lương, Kịch. . . đều có một chiều dài lịch sử phong phú và da
dạng, có nhiều đặc trưng nghệ thuật tinh túy khác nhau, cần phải có một sự
nghiên cứu sâu sắc, sưu tầm thật nhiều tài liệu và phải trực tiếp được xem
các nghệ sĩ tài danh ca diễn những danh phẩm liên quan tới loại h́nh nghệ
thuật đó th́ mới có thể hiểu đươc.
Người viết xin mời quí độc giả cùng đi du ngoạn trên
những chặng đường 80 năm của nghệ thuật sân khấu cải lương.
80 năm, những chặng đường của nghệ thuật Sân Khấu
Cải Lương...
Như đă tŕnh bày ở trên, nghệ thuật sân khấu là một nghệ
thuật tổng hợp nhiều ngành nghệ thuật khác nhau nhưng diễn viên mới là chủ
thể sáng tạo của nghệ thuật sân khấu. Do đó những ngành nghệ thuật khác
như hội họa, dàn cảnh, trang trí, ánh sáng ... đều có phận sự hổ trợ cho
nghệ thuật biểu diễn của diễn viên, nếu không th́ tự thân của các ngành
nghệ thuật đó sẽ không có ư nghĩa ǵ trong cái không gian của sân khấu.
Theo dơi những chặng đường của nghệ thuật sân khấu cải
lương là theo dơi sự phát triển của nghệ thuật ca và diễn của người diễn
viên thông qua các soạn phẩm tuồng cải lương và công việc dàn dựng của đạo
diễn.
Đặc trưng của nghệ thuật sân khấu cải lương là ca cổ
nhạc và diễn xuất. Nếu diễn một vở tuồng cải lương mà không có ca
những bài bản cổ nhạc th́ đó là một vở kịch nói chớ không phải cải lương.
Ngược lại, nếu chỉ có ca những bài ca cổ nhạc mà không có diễn xuất th́
người ta sẽ hiểu đó là đờn ca tài tử chớ không phải là hát cải lương.
Đờn Ca Tài Tử: Buổi Sơ Khai của Nghệ Thuật Sân
Khấu Cải Lương
Tưởng cũng cần nhắc qua những ngày mới chào đời của
nghệ thuật sân khấu cải lương.
Hồi năm 1967, Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu Tương Tế, trụ sở số
133 đường Cô Bắc, Saigon có tổ chức hội thảo về đề tài: “Kỷ niệm 50 năm
sân khấu cải lương“. Tham dự buổi hội thảo có các ông: nhà học giả
kiêm khảo cổ Vương Hồng Sển, cụ Á Nam Trần Tuấn Khải, ông Thanh Trung Trần
Văn Khải, nhà nghiên cứu hát bội Đỗ Văn Rỡ, các kư giả kịch trường như các
ông Trần Tấn Quốc (sáng lập viên Giải thưởng Thanh Tâm, tặng huy chương
vàng cho những diễn viên nam, nữ ca, diễn hay nhứt trong năm), kư giả Hồi
Ngọc, Nguyễn Ang Ca, Tô Yến Châu, Phùng Mậu, Lê Hiền, Phong Vân, Ngọc
Linh, Hồng Sơn, các soạn giả cải lương của các đoàn hát đang diễn ở
Saigon, Chợ Lớn, Gia Định, và các nghệ sĩ tài danh Năm Châu, Phùng Há, Ba
Vân, Duy Lân, Ba Thâu, Năm Thiên, Hai Nữ, Kim Cúc, Kim Chưởng, Minh Tơ,
Thành Tôn, Chín Viễn, Tám Vân, Thành Đươc, Hữu Phước, Việt Hùng, Ngọc
Nuôi, Hồng Giang, Thanh Nga, Bích Sơn, Ngọc Hương, Kim Giác, Kim Hồng, Như
Mai... Ban thơ kư đoàn là Thu An, Nguyễn Phương, Ngọc Linh, Kiên Giang,
Ngọc Văn.
Soạn giả Duy Lân, kiêm giáo sư kịch nghệ trường Quốc
Gia Âm Nhạc Saigon, viết và tŕnh bày bản tham luận về “Lịch
Sử 50 năm của sân khấu cải lương (1917 - 1967)“. Bản tham
luận đó đươc toàn thể cử tọa buổi Hội Thảo tán thành. Theo Duy Lân, sân
khấu cải lương đă đươc h́nh thành như sau:
- Năm 1910, ở Mỹ Tho có Ban đờn ca tài tử của ông
Nguyễn Tống Triều hay Tư Triều (đờn ḱm), Chín Quắn (đờn độc huyền), Mười
Lư (thổi tiêu), Bảy Vơ (đờn c̣), cô Hai Nhiễu (đờn tranh), và cô Ba Đắc
ca. Bài ca đươc hoan nghinh nhứt là bản Tứ Đại ốn “Bùi Kiệm - Nguyệt Nga“
.
- Năm 1911, ông Trần Chánh Chiếu, chủ của Minh Tân
Khách Sạn ở ngang ga xe lửa Mỹ Tho, mời Ban Tài Tử Tư Triều đến đờn ca ở
Minh Tân Khách Sạn nên thu hút đươc đông đảo khách hàng.
- Chủ rạp chiếu bóng Casino ở sau chợ Mỹ Tho thấy vậy
mới mời Ban đờn ca tài tử nầy tŕnh diễn mỗi tối Thứ Tư và Thứ Bảy trước
khi chiếu phim.
- Nhà hàng Cữu Long Giang, sau chợ Saigon, đường
Espagne (sau gọi là đường Lê Thánh Tôn) cũng mời Ban đờn ca tài tử Tư
Triều đờn ca. Lúc nầy cô Ba Đắc ca bài Tứ đại oán Bùi Kiệm - Nguyệt Nga có
ra bộ nên khán giả càng ưa thích. Từ đó sanh ra một lối ca tài tử đươc gọi
là Ca Ra Bộ.
- Năm 1916, thầy André Lê Văn Thận, C̣ tàu ở Sadec
thành lập gánh xiếc có phụ diễn vài màn Ca Ra Bộ. Ông André Thận mời ông
Mạnh Tư Trương Duy Toản làm soạn giả viết tuồng cho gánh hát của ông.
Tuồng hát thời kỳ nầy chỉ là những bài Ca Ra Bộ được kết nối nhau theo lối
kể chuyện. Bài thứ nhứt: Bài Tứ đại oán, Bùi Kiệm thi rớt trở về. Bài thứ
2, B́nh Bán Vắn: Bùi Kiệm và Bùi ông căi nhau về việc thi không đậu. Bài
thứ 3 trở lại bài Tứ đại oán lớp Xang Dài: Bùi Kiệm ghẹo Nguyệt Nga.
- Năm 1917, ông Pierre Châu Văn Tú, chủ rạp hát Thầy
Năm Tú sang lại gánh hát của ông André Thận, lập thành gánh hát Thầy
Năm Tú, có tranh cảnh, y trang, dàn nhạc cổ và nhạc Tây. Soạn giả Mạnh Tư
Trương Duy Toản đươc mời về viết tuồng cho gánh hát Thầy Năm Tú. Các vở
tuồng nổi tiếng lúc ấy là Hạnh Nguyên Cống Hồ, Trang Tử Cổ Bồn Ca. Gánh
hát Thầy Năm Tú diễn thường trực tại rạp hát Thầy Năm Tú ở sau chợ Mỹ Tho,
Thứ Bảy lên hát ở rạp Eden Saigon. Về sau, Thứ Bảy và Chúa Nhựt hát tại
rạp Moderne (tức là rạp Long Phụng ở đường Gia Long sau nầy.)
- Nhóm tài tử miền Tây ở Bạc Liêu có ông Bầu hát bội
Bầu An tục gọi là Phó Tổng An, cha của nhạc sĩ Lê Tài Khị mà sau
nầy giới nghệ sĩ sân khấu cải lương tôn vinh là Hậu Tổ của Cải Lương. Con
của ông Khị là nhạc sĩ Lê Văn Chột (tự Ba Chột) và con rể của ông Khị là
nhạc sĩ Trịnh Thiên Tư, là hai nhạc sĩ có công lớn trong việc ghi chép lại
các bài bản cổ nhạc giúp cho việc truyền dạy cổ nhạc dễ dàng và có nề nếp
quy củ hơn. Ông Trịnh Thiên Tư lại sáng tác các bài ca cổ nhạc để diễn
giải lịch sử Việt Nam từ đời Hồng Bàng đến lịch sử cận đại.
- Môn đệ của nhạc sư Lê Tài Khị có ông Cao Văn Lầu,
cha đẻ của bài Dạ Cổ Hồi Lang, sau nầy là bản vọng cổ và có ông Trần Văn
Trung (tức soạn giả Mộng Vân), cha đẻ của các loại tuồng kiếm hiệp, La Mă.
Ông Mộng Vân đă sáng tác các bài bản ngắn rất đươc phổ biến trong sân khấu
cải lương như: Sương Chiều, Tú Anh, Phong Ba Đ́nh, Phong Nguyệt, Thủ Phong
Nguyệt, Tô Vơ, Giang Tô Điểu Ngữ, Qúy Phi Túy Tửu. . .
- Nhóm đờn ca tài tử miền Đông đứng đầu là nhạc sư Ba
Đôi (Nguyễn Quang Đại) có các môn đệ như nhạc sĩ Giáo Thinh, Tư Nghị, Cao
Huỳnh Cư, Cao Hoài Sang và những môn đệ như Chín Kỳ, Hai Phát, Tư Huyện,
Hai Biểu, Sáu Quư, Bảy Hàm, Hai Khuê, Năm Hưng...
Như đă kể trên, từ Ca Ra Bộ tới Hát Cải Lương, lối hát
mới chỉ cần một khoảng thời gian bảy năm để tự khẳng định cho ḿnh một
phong cách ca diễn mới. Các nhạc sĩ, các ca sĩ trong phong trào đờn ca tài
tử ở các địa phương đều tự rèn luyện ḿnh để trở thành những nhạc sĩ, diễn
viên tiền phong của ngành nghệ thuật sân khấu cải lương.
Ca Ra Bộ th́ chủ yếu là ca, người ca sĩ phải có giọng
tốt, lối ca hay, chỉ cần ca thật hay để diễn đạt t́nh cảm của bài ca, c̣n
điệu bộ th́ chỉ là những cử chỉ minh họa theo lời ca.
Hát cải lương th́ bài ca là bài hát mang tính sân khấu
biểu diễn. Trong hát cải lương, ca và diễn quan trọng như nhau, có trường
hợp phải múa, phải có những động tác h́nh thể để diễn đạt tâm trạng nhân
vật mà không cần lời nói, có khi lời nói đối thoại b́nh thường mà hiệu quả
cao hơn ca.
Từ Ca Ra Bộ tới Hát Cải Lương, nghệ thuật sân khấu cải
lương đă chịu nhiều ảnh hưởng của Hát Bội và các loại h́nh nghệ thuật sân
khấu khác như Hí Khúc Trung Quốc, Kịch của nước Pháp, của nước Anh. Hát
cải lương, nghệ sĩ nào ca hay th́ đươc gọi là kép ca, đào ca hay kép mùi,
đào mùi. Những người không có giọng tốt nhưng diễn hay th́ gọi là kép
diễn, đào diễn, c̣n được gọi theo tính chất của nhân vật mà họ tự diễn như
kép độc, đào độc, kép lẳng, hề, lăo, mụ...
Từ bước đầu h́nh thành, sân khấu cải lương đă chia
thành hai ḍng sân khấu lớn: Cải lương tuồng Tàu và cải lương tuồng Tây mà
người dân mê xem hát gọi là cải lương tuồng cổ và cải lương tuồng xă hội.
Vai tṛ của người soạn giả kiêm đạo diễn (hồi xưa gọi
là thầy tuồng) có ảnh hưởng quan trọng trong việc định h́nh cho loại h́nh
nghệ thuật sân khấu theo ḍng tuồng Tàu hay tuồng Tây thông qua soạn phẩm
sân khấu của ḿnh.
1 - Ḍng sân khấu cải lương tuồng Tàu
Năm 1917, ông Mạnh Tư Trương Duy Toản là soạn
giả, viết tuồng và dạy ca, dạy hát cho diễn viên của gánh hát Thầy Năm Tú.
Ông Trương Duy Toản giỏi về Nho học nên các vở tuồng đầu tiên của ông viết
là những tuồng viết theo tích của truyện Tàu như Hạnh Nguyên Cống Hồ,
Trang Tử Cổ Bồn Ca, Trang Châu Mộng Hồ Điệp...
Năm 1920, ông Mộc Quán Nguyễn Trọng Quyền,
nguyên là thơ kư của hăng rượu Phước Hiệp do ông Vương Thiệu làm chủ. Ông
Vương Thiệu trước kia là một nghệ sĩ đoàn hát Tiều, giải nghệ để kinh
doanh nghề nấu rượu nên trong những cuộc tiệc liên hoan trong nội bộ của
hăng rượu Phước Hiệp, ông Vương Thiệu rước gánh hát Tiều (những bạn đồng
nghiệp cũ của ông) về hát cho công nhân xem. Ông Nguyễn Trọng Quyền làm
quen với các nghệ sĩ của đoàn hát Tiều, học đờn c̣ và học hát Tiều v́ ông
giỏi chữ Nho và biết nói rành tiếng Tiều, tiếng Quảng. Khi thấy gánh hát
của Thầy Năm Tú, gánh Nam Đồng Ban của ông Hai Cu (Mỹ Tho) thu hút đông
đảo khán giả, việc kinh doanh đoàn hát mang lại nhiều lợi nhuận nên ông
Vương Có (con của ông Vương Thiệu) lập ra gánh hát Tập Ích Ban và mời ông
Nguyễn Trọng Quyền làm thầy tuồng.
Ông Nguyễn Trọng Quyền, bút hiệu Mộc Quán đă sáng tác
cho gánh hát Tập Ích Ban những vở tuồng cải lương Châu Trần Kết Nghĩa, Tây
Sương Kư, Thố Nhận Oan Ương và nhuận sắc tuồng Bội Phu Quả Báo của ông
Phạm Công B́nh. Từ năm 1923 đến năm 1953, ông Mộc Quán Nguyễn Trọng Quyền
làm soạn giả cho các gánh hát Huỳnh Kỳ của ông Bầu Phước Georges, gánh hát
Tái Đồng Ban của ông Hai Cu, gánh hát Hữu Thành của ông Bầu Nguyễn Bá
Phương ở Thốt Nốt, gánh hát Phụng Hảo 3 của ông Bầu Nguyễn Bửu, gánh hát
Kỳ Quan của ông Bầu Năm Hư, gánh hát Thái B́nh của ông Bầu Tư Thới, và
gánh hát Phụng Hảo 4 của ông Bầu Châu Văn Sáu.
Ông Mộc Quán Nguyễn Trọng Quyền làm soạn giả trong 50
năm, sáng tác đươc 85 vở tuồng cải lương và 3 truyện thơ, đa số các tuồng
đó đươc nhà in Phạm Văn Th́n xuất bản và đươc nhiều đoàn hát sử dụng như
tuồng Phụng Nghi Đ́nh, Mạnh Lệ Quân thốt hài, San Hậu (viết theo tuồng hát
bội San Hậu), Tây Sương Kư, Tái Sanh Duyên, Vạn Huê Lầu.
Là thầy tuồng khi nghệ thuật cải lương mới đươc khai
sanh, ông Mộc Quán Nguyễn Trọng Quyền là người thầy trực tiếp chỉ dạy ca,
hát cho các nghệ sĩ Năm Châu, Phùng Há, Năm Phỉ, Ba Vân, Từ Anh, Bảy
Nhiêu, Tư Út, Sáu Trâm, Ngọc Hải, Sáu Ngọc Sương, Tường Vi, Tư Thới, Thanh
Tao. . . Các nghệ sĩ Năm Châu, Bảy Nhiêu, Năm Phỉ mỗi khi nhắc đến ông
Nguyễn Trọng Quyền đều hết ḷng cung kính, gọi là một bậc minh sư. Cô
Phùng Há, Sáu Trâm và Ngọc Hải là học tṛ và là dưỡng nữ của ông Nguyễn
Trọng Quyền. Giới nghệ sĩ sân khấu cải lương tiền phong và các nghệ sĩ tài
danh của những thập niên 1950, 1960, 1970 đều tôn vinh ông Mộc Quán Nguyễn
Trọng Quyền là Hậu Tổ của cải lương.
Ông Nguyễn Trọng Quyền, bút danh Mộc Quán, sanh năm
1876, tại làng Thạnh Ḥa, xă Trung Nhứt, quận Thốt Nốt, tỉnh Long Xuyên,
con của ông Nguyễn Văn Tường và bà Trương Thị Thạnh. Ông Nguyễn Trọng
Quyền bị đứt mạch máu năo, trút hơi thở cuối cùng tại nhà thương Châu Đốc,
ngày 21 tháng 9 năm 1953 (Quư Tỵ).
Ông Mộc Quán Nguyễn Trọng Quyền là người khai sanh ra
ḍng nghệ thuật sân khấu tuồng Tàu. Ông đă viết lời Việt và sửa cách phát
âm theo lối Việt một số bản nhạc của sân khấu hát Tiều, hát Quảng để dùng
trong các tuồng Tàu do ông sáng tác. Các bài bản đó đến nay trở thành cổ
nhạc Việt Nam tuy vẫn c̣n giữ cái tên của nhạc Tiều hay nhạc Quảng cũ như
Ú Liu Ú Xáng, Xang Xừ Líu, Xáng Xáng Ĺu, Khốc Hồng Thiên, Xách Xủi, Tân
Xái Phí, Bạc Cấm Lùng, D́ Phảnh, Mành Bản...
Ông đă sử dụng lối ước lệ và tượng trưng của Hát Bội,
rút kinh nghiệm của loại Hát Tiều và lối hát của Hư Khúc Trung Quốc (thời
Nguyên) để biến chế thành một lối hát tuồng Tàu cho các nghệ sĩ Việt Nam,
(Phùng Há, Năm Phỉ, Năm Châu, Bảy Nhiêu, Tư Thới. . .)
Đặc trưng của lối hát tuồng Tàu (phỏng theo lối hát Hư
Khúc Trung Quốc) như sau:
Trong nghệ thuật biểu diễn tuồng Tàu, yếu tố âm nhạc,
đặc biệt là các bài ca chiếm địa vị chính yếu. V́ vậy những lời thoại đối
đáp giữa các nhân vật không thể tự nhiên như ngôn ngữ ở ngoài đời thường
mà phải ngâm nga, nhấn nhá theo tiết tấu và âm điệu nhạc. Người ta gọi
ngôn ngữ tuồng kết hợp với âm nhạc như vậy là ngôn ngữ đă đươc âm nhạc
hóa.
Về động tác h́nh thể th́ cũng không phải diễn như ở
cuộc sống b́nh thường mà là phải đươc nâng lên thành múa, thành vũ đạo.
Người trong nghề gọi là các động tác được cường điệu, đươc vũ đạo hóa. Ví
dụ từ việc dâng trà, cách phất tay áo, tay vuốt râu, mỗi bước đi...nói
chung để biểu lộ cảm xúc của nhân vật th́ động tác h́nh thể phải được cách
điệu hóa, đươc nâng lên thành vũ đạo kết hợp nhuần nhuyễn với cách ca ngâm
và hát thay cho những lời đối thoại b́nh thường.
Trong nghệ thuật hát tuồng Tàu (theo loại hát của Hư Khúc Trung Quốc), một
điểm quan trọng không thể thiếu là khi động tác h́nh thể được "vũ điệu
hóa" và lời thoại được "âm nhạc hóa" th́ tiết tấu của ca và diễn phải được
"cường điệu hóa". Tiếng trống, thanh la và tiếng mỏ đệm theo động tác diễn
xuất của diễn viên làm tăng thêm biểu cảm tâm lư của nhân vật mà họ thụ
diễn, làm tăng thêm kịch tính của lớp diễn đó, đến độ diễn viên chớp mắt,
đảo tṛng con ngươi, ngón tay run rẩy đều theo nhịp trống điểm. V́ vậy,
tiết tấu có một vai tṛ đặc biệt trong việc biểu diễn hư khúc, trong việc
hát tuồng Tàu, tiết tấu kết hợp chặt chẻ với động tác hát, nói lối, diễn,
đánh vơ, múa bộ, đồng thời tiết tấu là một thủ pháp thiết yếu dùng để làm
tăng thêm kịch tính.
Các gánh hát Tập Ích Ban, Huỳnh Kỳ, Văn Hí Ban, Văn Vơ
Hí Ban, Tiến Hóa, Phụng Hảo, Tam Phụng, Nam Phi, Thái B́nh, Nam Phong. . .
đều hát tuồng Tàu và theo phong cách biểu diễn như đă kể (1920 - 1950).
Về sau, các đoàn hát Thanh B́nh - Kim Mai, Minh Tô,
Huỳnh Long, Khánh Hồng... hát những vở tuồng của ông Mộc Quán Nguyễn Trọng
Quyền, tuy có cải sửa đôi chút hoặc giản lược những bài bản của Tàu nhưng
cách diễn xuất, điệu bộ và nhạc nền vẫn giữ lối cách điệu hóa như xưa và
bỏ việc đánh trống chiến, bỏ gỏ thanh la.
2 - Ḍng sân khấu cải lương tuồng Tây.
Ḍng sân khấu tuồng Tây song hành với ḍng sân khấu
tuồng Tàu để tạo nên những sắc thái đa dạng cho ngành nghệ thuật sân khấu
cải lương non trẻ.
Năm 1917, Ông Pierre Châu Văn Tú, du học bên
Pháp trở về nước, đem áp dụng những điều sở đắc của ông về nghệ thuật sân
khấu Pháp trong việc xây dựng một rạp hát (rạp hát Thầy Năm Tú ở sau chợï
Mỹ Tho), lập một đoàn hát cải lương với bảng hiệu là gánh hát Thầy Năm Tú
và một xưởng chế tạo máy hát dĩa với nhản hiệu “La voix du maitre“.
Thầy Năm Tú đă nâng h́nh thức Ca Ra Bộ thành h́nh thức
hát cải lương, có tuồng tích do soạn giả Mạnh Tư Trương Duy Toản sáng tác.
Đêm diễn cải lương của gánh hát thầy Năm Tú có phông, màn, tranh cảnh
trang trí, có dàn đèn, có dàn đờn cổ nhạc đờn cho diễn viên ca và khi màn
hát buông xuống, có dàn đờn tân nhạc đờn giúp vui cho khán giả trong khi
chờ dọn cảnh màn sau. Tuy nhiên không phải ông Châu Văn Tú là người khơi
nguồn cho ḍng sân khấu cải lương tuồng Tây mà chính là nghệ sĩ Năm Châu,
kép hát của gánh Thầy Năm Tú, mới là người có công lớn trong việc mở một
lối đi cho sân khấu, khác với các vở tuồng Tàu đang rất thịnh hành trong
thời điểm nầy.
Nghệ sĩ Năm Châu, tức Nguyễn Thành Châu, sanh
ngày 09 tháng 01 năm 1906, tại tổng Thuận Trị, làng Điều Ḥa, quận Châu
Thành, tỉnh Mỹ Tho. Cha của anh là công chức Ṭa Bố tỉnh Mỹ Tho, v́ làm
mích ḷng ông Tỉnh Trưởng người Pháp, bị thuyên chuyển ra làm việc ở đảo
Phú Quốc. Anh Năm Châu học năm thứ hai trường Collège de Mỹtho (Ban Trung
Học), khi băi trường, anh ra Phú Quốc thăm cha. V́ băo tố, tàu bè không
trở về đất liền kịp ngày tựu trường, anh bị trễ nên bị cúp học bổng và bị
đuổi. Gia đ́nh định cho anh học tiếp ở trường Taberd, nhưng anh quyết định
tự lập, theo nghiệp cầm ca, anh gia nhập gánh hát Thầy Năm Tú năm 1922.
Năm 1923, nghệ sĩ Năm Châu gia nhập gánh hát Trần Đắc,
anh sáng tác vở tuồng cải lương đầu tiên là Nghĩa Bộc Thủ Phần, vở tuồng
kế là Tiễn Biệt Phu.
Năm 1924, anh sáng tác các vở: Tái Sanh Duyên, Mổ Tim
Tỷ Can, Thôi Tử Thí Tề Quân, Vơ Ṭng Sát Tẩu, Anh Hùng Náo Tam Môn Nhai.
Những vở nầy trước đây soạn giả Mộc Quán Nguyễn Trọng Quyền sáng tác cho
gánh hát Tập Ích Ban. Khi mới vào nghề sáng tác, nghệ sĩ Năm Châu vẫn phải
dựa theo cốt truyện Tàu và mô phỏng theo một số tác phẩm của bậc tiền bối
Nguyễn Trọng Quyền, nhưng dưới ng̣i bút của nghệ sĩ Năm Châu, cũng là
những truyện như Anh Hùng Náo Tam Môn Nhai, Vơ Ṭng sát tẩu. . . lời văn
bớt những chữ nho, bớt điển tích của Tàu và bài ca nặng về những bài bản
cổ nhạc Việt Nam. V́ vậy cùng là một tựa tuồng, cốt chuyện giống nhau
nhưng cách diễn những vở tuồng của nghệ sĩ Nguyễn Thành Châu sáng tác đă
lượt bỏ khá nhiều lối ca, lối diễn theo phong cách tuồng Tàu.
Năm 1926, nghệ sĩ Năm Châu gia nhập gánh hát Tái Đồng
Ban của ông Bầu Hai Cu (cha của kép Hai Giỏi, người chồng quá cố của cô
Năm Phỉ). Năm Châu sáng tác vở Mộc Quế Anh dâng cây.
Thành phần đào kép của gánh hát Tái Đồng Ban gồm nhiều
nghệ sĩ tài danh như bên đào có: Phùng Há, Ba Liên, Ba Nhàn, Ba Điều, Tư
Nhỏ, Sáu Trâm, Sáu Ṭ; bên kép có: Năm Châu, Tám Mẹo, Ba Du, Tư Út, Hai
Ngỡi, Hai Bông, Bảy Nhiêu, Tư Thới, Tư Chơi. Gánh Tái Đồng Ban mời ông Mộc
Quán Nguyễn Trọng Quyền làm thầy tuồng v́ vậy các vở tuồng ăn khách cũ của
ông ở gánh Tập Ích Ban được dựng lại như tuồng Giọt Máu Chung T́nh (tức Vơ
Đông Sơ - Bạch Thu Hà), Phụng Nghi Đ́nh, Hoa Mộc Lan. . .
Minh sư xuất cao đồ, ông Mộc Quán Nguyễn Trọng Quyền
chẳng những đào luyện nghệ thuật ca hát, diễn xuất cho các nghệ sĩ Năm
Châu, Bảy Nhiêu... mà c̣n dạy cho các nghệ sĩ nầy kỷ thuật sáng tác tuồng
cải lương. Năm Châu và nhóm nghệ sĩ trong gánh hát Tái Đồng Ban như Tư
Chơi, Tư Trang, Năm Nở, Duy Lân, Bảy Nhiêu sáng tác được nhiều tuồng cải
lương. Một số tuồng của các soạn giả vừa kể thiên về tuồng xă hội Việt
Nam, dựa theo cốt truyện của các tiểu thuyết của ông Hồ Biểu Chánh (Ngọn
Cỏ Gió Đùa, Tội Của Ai, Kiếp Nghèo Phận Bạc, Những trẻ lạc loài..). hoặc
tiểu thuyết của nhóm Tự Lực Văn Đoàn (Hồn Bướm Mơ Tiên, Đoạn Tuyệt, Hoa
Rơi Cửa Phật, Gánh Hàng Hoa, Nửa Chừng Xuân, Một Tối Tân Hôn...)
Đến cuối thập niên 1930, nghệ sĩ Tư Chơi có
những sáng tác mới, không dựa theo các tiểu thuyết của Tây hay của Việt
như các vở tuồng Khúc Oan Vô Lượng, Gánh cải Trạng Nguyên, Lỡ Tay Trót Đă
Nhúng Chàm, và nghệ sĩ Tư Chơi là người nghệ sĩ đầu tiên sử dụng nhạc Pháp
lời Việt trong các vở tuồng Hoạt Kê Hài Hước của anh. Các vở Hoạt Kê Hài
Hước (opérette) viết theo luật Tam Duy Nhất của nền kịch cổ điển Pháp
(Hành động duy nhất, Thời gian duy nhất, Địa diểm duy nhất) và các bài ca
thịnh hành của Pháp như J’ai deux amours, C’est à Capri, Tant qu’il y aura
des étoiles, Marinella, Tango Chinois,... được viết lời Việt dùng trong
các vở Hoạt Kê Hài Hước đó.
Từ những năm 1929 đến năm 1936, nghệ sĩ Năm Châu chuyển
hướng sáng tác, anh lấy cốt truyện của tiểu thuyết Pháp hoặc lấy các vở
kịch cổ điển của nước Pháp, nước Anh để sáng tác thành tuồng cải lương.
Năm 1929, nghệ sĩ Năm Châu sáng tác vở Bằng Hữu Binh Nhung (phóng tác theo
Les trois mousquetaires). Những vở phỏng dịch hoặc phóng tác theo tiểu
thuyết và kịch cổ điển Anh, Pháp của Năm Châu, Duy Lân có:
Áo người quân tử (L’homme en habit)
Túy Hoa vương nữ (Marie Tudor của Victor Hugo)
Giá tṛ và danh dự (Le Cid của Corneille)
Bằng hữu binh nhung (Les trois mousquetaires)
Miếng thịt người (Le marchand de Venise)
Gió ngược chiều (Ruy Blas)
Tơ vương đến thác (Trà Hoa Nữ) (La dame aux camélias)
Cánh bườm đen (Tristan et Iseult)
Giai nhân và ác quỷ (La belle et la bête)
Sân khấu cải lương tuồng Tây là tiếng gọi chung những
vở tuồng không phải diễn theo phong cách cải lương tuồng Tàu (y phục cổ
trang, ca diễn theo tŕnh thức vũ đạo hóa, âm nhạc hóa với tiết tấu cường
điệu.). Cải lương tuồng Tây gồm có những vở phóng tác theo kịch Anh, kịch
Pháp hoặc tiểu thuyết của Pháp, và những vở tuồng xă hội Việt Nam phóng
tác theo các tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, Phú Đức, Nhất Linh, Khái Hưng,
nhóm Tự Lực Văn Đoàn...
Phong cách diễn xuất tuồng Tây chú trọng ca và diễn
xuất tự nhiên, gần với cuộc sống thật thường ngày theo chủ trương của nghệ
sĩ Năm Châu là xây dựng “Một sân khấu Thật và Đẹp”.
3 - Năm 1930 - 1940, thời kỳ bá chủ của các loại
tuồng Tiên, tuồng Phật và tuồng kiếm hiệp La Mă.
Năm 1930, nạn kinh tế khủng hoảng đổ ập xuống Đông
Dương nói chung và miền Nam nói riêng, làm ảnh hưởng tới đời sống của mọi
tầng lớp trong xă hội. Lúa gạo xuống giá chỉ c̣n một cắc hai (0,12) một
giạ 40 lít mà dân chúng không có tiền để mua, lấy đâu ra tiền để mua vé
coi hát. Những gánh hát đại ban như gánh hát Trần Đắc, Huỳnh Kỳ, Nghĩa
Hiệp Ban, Nam Hưng Ban, Phước Trung Nam, Đồng Thinh, Phước Tường đều lần
lượt bị ră gánh.
Nhiều đạo giáo mới ra đời trong thời gian đất nước lâm
vào cơn khủng khoảng nầy (đạo Cao Đài khai đạo nhằm ngày rằm tháng 10 năm
Bính Dần 1926; Ḥa Hảo khai đạo ngày 18 tháng 5 năm 1939...) dân chúng quá
khổ sở nên vào chùa, gia nhập đạo giáo để khẩn cầu Trời Phật cứu khổ cứu
nạn, giúp cho mưa thuận gió ḥa, nông ngư đắc lợi.
Ông Trương Văn Thông, Bầu gánh hát Tân Thinh để
tâm đến việc người dân sùng đạo khi gặp cảnh khó khăn, nên chủ trương cho
gánh hát Tân Thinh của ông hát những tuồng Tiên, tuồng Phật như: Thích Ca
đắc đạo, Ngũ Nương Tiên xuất thế, B́nh Linh Hội, Hổn Ngươn trận, Quan Âm
Diệu Thiện... Ông bầu Trương Văn Thông lại cho áp dụng nhiều tṛ xảo thuật
như mỗi bước đi của thái tử Sỉ Đạt Ta là nở một hoa sen, hoạt cảnh trong
10 phút đổi 7 cảnh từ tạo thiên lập địa tới triều đại vua cha của Sỉ Đạt
Ta, nhiều cảnh Phật hóa phép diệt quỷ, trừ ma tới cám dỗ khi Người tu dưới
cội bồ đề... Dân đang cầu mong có phép Tiên phép Phật cứu khổ cứu nàn, vô
xem hát của gánh Tân Thinh, dân thấy những cảnh hóa phép của Tiên, của
Phật nên rất thích. Gánh hát Tân Thinh vẫn thu hút đông đảo khán giả ngay
trong thời kỳ cả nước ta đang lâm vào cơn kinh tế khủng hoảng nhờ vào các
tuồng Tiên, tuồng Phật kể trên.
Gánh hát Văn Vơ Hí Ban bắt chước gánh Tân Thinh, hát
tuồng Tam Tạng thỉnh kinh, Mục Liên Thanh Đề, Quan Âm Thị Kính, cũng thu
hút được nhiều khán giả.
Gánh hát Thỉ Phát Khuê hát tuồng Quan âm Diệu Thiện,
Phập nhập Niết Bàn.
Gánh hát Tân Thiếu Niên hát tuồng Phong Thần, Phong
Kiếm Xuân Thu, Tôn Tẩn đại chiến Hải Triều, Na Tra lóc thịt, Nam Du Huê
Quang, Bắc Du Chôn Vơ, Đông Du Bát Tiên, Tây Du Tam Tạng. . . Các gánh hát
triệt để khai thác các tṛ xảo thuật, thần tiên đấu phép, thăng thiên, độn
thổ...
Tuồng Tiên, tuồng Phật lấn áp các loại tuồng Tàu, tuồng
tâm lư xă hội nhưng thời gian đó không lâu v́ sau cuộc khủng hoảng kinh tế
(năm 1934) dân chúng tỏ ra không thiết tha ǵ đến các tuồng Tiên, Phật đó
nữa.
Năm 1934 đến năm 1945, môn phái tuồng Kiếm Hiệp ra đời
và bản vọng cổ trở thành bản nhạc vua sân khấu.
Khi miền Nam thoát khỏi nạn khủng hoảng kinh tế, lúa
gạo có giá trở lại, mức sống của người dân được nâng cao nên nhu cầu xem
hát, giải trí cũng tăng. Lúc đó ở Saigon ngoài hai hăng dĩa hát có từ
trước là hăng Pathé, Béka, nay có thêm mấy hăng mới: Asia, Odéon,. Tửu
quán Đức Thành Hưng ở đường d’Espagne (nay là đường Lê Thánh Tôn) là trung
tâm thi thố đờn ca cổ nhạc, quy tụ được rất nhiều nam, nữ danh ca của các
miền Lục Tỉnh.
Những danh ca vọng cổ trong làng dĩa nhựa được yêu
chuộng nhất trong thời điểm nầy có các nữ danh ca: Tư Sạng, Ngọc Nữ, Năm
Cần Thơ, Ba Bến Tre, Ba Trà Vinh, Tư Bé, Hai Đá, Ba Được. . .Nam danh ca
có: Năm Nghĩa, Tám Thưa, Hồng Châu, Năm Phồi, Ba Giáo, Tám Bằng, Thanh
Tao, Tư Xe, Bảy Bửu, Út Trà Ôn, Bảy Cao...
Bản vọng cổ từ nhịp 8, tăng lên thành nhịp 16, rồi 32
nhịp, được kỹ thuật ca luyến láy và những giọng ca thiên phú làm tăng thêm
giá trị đến độ bản vọng cổ được coi là một bản nhạc vua của sân khấu cải
lương. Những danh ca vọng cổ dù chưa rành kỷ thuật diễn xuất cũng được
trao cho vai kép chánh v́ thời điểm nầy khán giả thích nghe ca vọng cổ.
Soạn giả Mộng Vân (Nguyễn Văn Trung) là soạn giả
từ năm1932 đến năm 1952, người Bạc Liêu, muốn khai thác tối đa những giọng
ca vọng cổ của các danh ca Bạc Liêu nên ông lập ra một môn phái mới, đó là
môn phái tuồng kiếm hiệp kỳ t́nh. Tuồng của soạn giả Mộng Vân viết dựa
theo các tiểu thuyết kiếm hiệp xuất bản tại Hà Nội mà người ta gọi là loại
tiểu thuyết ba xu. Tiểu thuyết kiếm hiệp như Long H́nh Quái Khách, Bồng
Lai Hiệp Khách, Người Nhạn Trắng, Thiếu Lâm Trường Hận, Hỏa thiêu Hồng
Liên Tư, Lục Kiếm Đồng, Bích Liên Giáo Chủ... của các tác giả Lư Ngọc
Hưng, Lâm Tuyền, Thanh B́nh, Hải Bằng...Các tuồng kiếm hiệp của Mộng Vân
sáng tác cũng giữ nguyên tựa của tiểu thuyết, được cung cấp cho ba đoàn
hát lớn, ba đoàn hát nầy theo phong cách diễn xuất của loại tuồng kiếm
hiệp mà kỷ thuật dàn dựng và ca diễn được quy định theo một tŕnh thức như
sau: “Đấu poignard, nhảy cửa sổ, ca vọng cổ, phựt đèn màu”. Soạn
giả Mộng Vân sáng tác thêm nhiều bài bản nhỏ để hát trước khi vô vọng cổ,
làm cho bản vọng cổ thêm hấp dẫn, đa dạng và khiến cho khán giả thích thú
đến độ phải vỗ tay khi nghe nghệ sĩ danh ca vô chữ Ḥ đầu của bài vọng cổ.
Các bài bản nhỏ đă làm giàu thêm cho vốn liếng cổ nhạc đó là: Giang Tô,
Phong Nguyệt, Thủ Phong Nguyệt, Tô Vơ Chăn Dê, Lạc Xuân Hoa, Nhạn Về, Kiều
Nương, Sương Chiều, Tú Anh, Uyên Ương Hồ Vũ, Vạn Huê Trường Hận, Chi Hoa
Trường Hận...
Ba đoàn hát hát các tuồng kiếm hiệp La Mă đó là gánh
Phát Thanh của Bầu Ba Tẹt (tức kép Thiện Tâm), gánh Hậu Tấn - Bảy Cao và
gánh Hậu Tấn - Năm Nghĩa. (Các danh ca vọng cổ Năm Nghĩa, Bảy Cao, Ba
Khuê, Năm Phồi đều là người quê quán ở Bạc Liêu, đồng quê hương với soạn
giả Mộng Vân). Các danh ca đệ tử của soạn giả Mộng Vân đều trở thành các
bầu gánh hát nổi danh, tiếp tục con đường sáng tác và biểu diễn các tuồng
kiếp hiệp: nghệ sĩ Thiện Tâm (Ba Tẹt, Bầu đoàn Phát Thanh), Bảy Cao (Bầu
đoàn Hoa Sen), Năm Nghĩa (Bầu đoàn Thanh Minh), Vân Sinh (Bầu đoàn Hương
Hoa), Ba Khuê (Bầu đoàn Hữu Tâm), Thanh Tao (bầu đoàn Thanh Tao), Út Trà
Ôn (bầu đoàn Thống Nhứt)...
Cải lương tuồng kiếm hiệp La Mă đă đẩy lui các loại
tuồng Tiên, tuồng Phật và làm cho các loại tuồng Tàu, tuồng Tây và tuồng
xă hội Việt Nam phải chịu một thời gian điêu đứng.
Nối tiếp con đường sáng tác các tuồng kiếm hiệp của
Mộng Vân có hai soạn giả Sáu Phát và Sáu Hải.
Soạn giả Sáu Hải có tŕnh độ Tây học, anh không sáng
tác các tuồng theo truyện kiếm hiệp xuất bản ở Việt Nam mà dựa theo những
truyện kiếm hiệp Tây Phương để phóng tác (truyện le Capitan, Le pont de
soupire của Michel Zévaco, truyện Le compte de Monte Cristo, ...) Tuồng
của soạn giả Sáu Hải bao giờ cũng chú trọng văn chương trau chuốc, kỷ
thuật tinh tế. Ngày nay nhiều bài ca như các bản Nam Xuân qua Nam Ai,
những bản Oán ca độc chiếc của Sáu Hải c̣n lưu lại là những áng văn chương
rất hay, được dùng trong việc dạy ca của các ḷ cổ nhạc.
4 - Thời Vàng Son của sân khấu cải lương.(1954 -
1975)
Từ năm 1945 đến năm 1954, các đoàn hát cải
lương chỉ hát được ở những thành phố lớn v́ t́nh h́nh an ninh ở các quận,
huyện, làng xă không được bảo đảm. Các đoàn hát diễn lại những tuồng Tàu,
tuồng kiếm hiệp, tuồng Phật (Quan Âm Thị Kính) và ít hát tuồng xă hội và
nhất là ít có tuồng tích sáng tác mới v́ trong thời kỳ có chiến tranh Việt
Pháp, t́nh h́nh kiểm duyệt rất là khó khăn.
Từ Năm 1954 đến năm 1975, có thể nói đây là một thời
vàng son của sân khấu cải lương.
Năm 1954, ḥa b́nh được lập lại, dân chúng làm ăn phát
đạt, nhu cầu giải trí gia tăng, việc giao thông thuận lợi nên nhiều nghệ
sĩ vay tiền để lập gánh hát mới hoặc phát triển thêm những cơ cấu tổ chức
của gánh hát cũ. Thời điểm nầy có những gánh hát đại ban như Thanh Minh
(Thanh Minh Thanh Nga), Hoa Sen, Việt Kịch Năm Châu, Kim Thanh - Út Trà
Ôn, Thủ Đô Ba Bản, Kim Chung, Dạ Lư Hương, Hữu Tâm, Hương Hoa, Việt Hùng -
Minh Chí, Kim Chưởng, Hương Mùa Thu, Trăng Mùa Thu, Trâm Vàng, Ánh Chiêu
Dương, Thúy Nga - Phước Trọng, Thủ Đô Tấn Tài, Út Bạch Lan - Thành Được,
Thanh Hương - Hùng Minh, ...
Những soạn giả cải lương được khán giả ái mộ có Năm
Châu, Tư Trang, Năm Nở, Duy Lân, Mộng Vân, Bảy Cao, Năm Nghóa, Tư Thới, cô
Bảy Nam, Trần Văn May, Thiếu Linh, Nguyễn Phương, Lê Khanh, Mộc Linh, Hà
Triều Hoa Phượng, Hồng Khâm, Kiên Giang Hà Huy Hà, Viễn Châu, Ngọc Huyền
Lan, Ngọc Văn, Hồi Ngọc, Thu An, Vân An, Ngọc Linh, Nhị Kiều, Phương Ngọc,
Nguyễn Liêu, Thế Châu, Hồng Kinh, Minh Nguyệt, Yên Ba, Loan Thảo, . . .
Đoàn Hoa Sen của ông Bầu Bảy Cao theo khuynh hướng
tuồng cải lương chiến tranh, được khán giả tặng cho danh hiệu tuồng “cắc
bùm”, gồm có các vở Nợ Núi Sông, Mộng Ḥa B́nh, Đàn Chim Sắt, Đêm lạnh
trong tù.
Đoàn Thanh Minh (Thanh Minh Thanh Nga) dẫn đầu loại
tuồng dă sử Việt Nam và các tuồng xă hội cận đại: (dă sử) Đồ Bàn Di Hận,
Biên Thùy Nổi Sóng, Hồi Trống Vân Lâu, Nẻo Tắt Hoành Sơn, Áo Gấm Khôi
Nguyên, Cầu Gỗ Hồng Mai Thôn, Núi Liễu Sông Bằng, Đường Lên Xứ Thái, T́nh
Tráng Sĩ, Đường Về Núi Lam, Cành đào Thăng Long... Các vở tuồng xă hội có:
Tấm ḷng của biển, Con gái chị Hằng, Đêm Vĩnh biệt, Rồi ba mươi năm sau,
Tần nương thất, Đôi mắt người xưa, Bóng chim tăm cá, Bọt biển, Chuyện t́nh
và tiền, Lệnh của Bà, Chuyện t́nh 17, Hoa đồng cỏ nội, Chuyện xóm ḿnh,
Chén trà của quỷ, Tiền rừng bạc biển, Bông hồng cày áo, Vàng sáu bạc mười,
...
Mỗi một đoàn hát tùy theo quan điểm nghệ thuật của
người chủ Bầu, chọn cho gánh hát của ḿnh một loại h́nh nghệ thuật sân
khấu thích hợïp. Ví dụ đoàn hát Phụng Hảo của bà Bảy Phùng Há th́ thích
tŕnh diễn những vở tuồng Tàu; đoàn Kim Chưởng, đoàn Hương Mùa Thu hát
những vở tuồng hương xa, kiếm hiệp; đoàn Việt Kịch Năm Châu, đoàn Thanh
Minh Thanh Nga, đoàn Dạ Lư Hương th́ chuyên diễn tuồng xă hội cận đại;
đoàn Minh Tơ, Huỳnh Long chuyên hát tuồng Tàu theo lối cải lương Hồ
Quảng...
Các soạn giả sáng tác các vở tuồng tự do theo quan điểm
của ḿnh, tŕnh bày nhiều vấn đề xă hội và lư giải theo quan niệm và sở
thích riêng. Đặc biệt là trong giai đoạn sân khấu cải lương phát triển rầm
rộ đó, soạn giả, thầy tuồng, họa sĩ và các chuyên viên kỷ thuật sân khấu
có nhiều thuận tiện để áp dụng những thành tựu khoa học, văn học và mỹ
thuật của xă hội vào trong tác phẩm của ḿnh.
5- Sân khấu cải lương sau năm 1975. . .
Sau năm 1975, tất cả các đoàn hát cải lương cũ bị giải
tán hết. Những đoàn mới thành lập là do Đảng và Sở Văn Hóa Thông Tin dựng
lên và quản lư với danh nghĩa là đoàn cải lương tập thể và đoàn hát Quốc
Doanh. Các đoàn cải lương tập thể đều do cán bộ của Sở Văn Hóa Thông Tin
làm trưởng đoàn. Có các đoàn cải lương Saigon 1, Saigon 2, Saigon 3, đoàn
Thanh Nga, đoàn Phước Chung, đoàn Hương Mùa Thu, 2 đoàn cải lương tuồng cổ
Minh Tơ và Huỳnh Long, hai đoàn kịch nói Kim Cương và Bông Hồng. Một đoàn
cải lương Quốc doanh Đoàn Văn Công.
Năm 1975, rạp hát cải lương có: Hưng Đạo, Nguyễn Văn
Hảo, Quốc Thanh, Thăng Long, Kim Châu, Đại Đồng Cao Thắng, rạp Olympic,
rạp Kinh Thành (Cầu Ông Lănh), rạp Long Vân, rạp Lao Động B, rạp Lệ Thanh
B, rạp Hào Huê Chợ Lớn, rạp Thủ Đô, Kinh Thành (Kim Biên), rạp Cây Gơ, rạp
Quốc Thái, rạp Cao Đồng Hưng, Rạp Đại Đồng Gia Định, rạp Kinh Thành Tân
Định, rạp Ḥa B́nh...(20 rạp dành cho hát cải lương).
Đến năm 2000, tất cả các rạp hát kể trên, trừ rạp Hưng
Đạo là c̣n dành cho hát cải lương, c̣n các rạp hát kia đă được Sở Văn Hóa
kư họp đồng cho mướn làm vũ trường, dancing hoặc restaurant, nhà hàng tổ
chức tiệc cưới...
Các đoàn hát cải lương tập thể cũng lần lượt được giải
tán, chỉ c̣n lại ba đoàn cải lương quốc doanh Trần Hữu Trang 1, 2, 3.
Soạn giả được tự do sáng tác tuồng cải lương theo “định
hướng xă hội chủ nghĩa”. Khi nào đề cương tuồng được Ban chỉ huy trại sáng
tác thông qua (đúng định hướng XHCN) th́ được vô trại sáng tác. Phải được
Hội đồng duyệt của Trại sáng tác thông qua phát thảo 1, người sáng tác sẽ
viết kỹ hơn, có viết bài ca thành phác thảo 2. Phác thảo 2 được thông qua
th́ mới tới việc hoàn chỉnh vở tuồng trên kịch bản. Rồi được thông qua lần
thứ ba, tuồng sẽ được đưa lên sàn tập. Lại được kiểm duyệt khi chạy đường
giây. Khi được thông qua lần thứ tư th́ tuồng sẽ được hội đồng duyệt duyệt
sơ khảo. Và lần duyệt thứ năm là duyệt phúc khảo. 5 lần kiểm duyệt mà qua
được trót lọt hết th́ mới hát cho khán giả xem.
Đến khán giả th́ khán giả không xem nữa v́ họ muốn
coi hát chớ không phải đi nghe thông cáo hay xem chỉ thị. Trên đây là
một lời tự thú của một soạn giả, bạn của tôi ở trong nuớc gởi thơ cho tôi.
Đó cũng là một lời giải thích tại sao Cải Lương bị khán giả bỏ rơi, cải
lương đang dẩy chết!
Quí vị đă du ngoạn trên các nẽo đường lang thang của
nghệ thuật sân khấu cải lương từ năm 1917 đến năm 2005, chỉ là như cỡi
ngựa xem hoa, với một bài báo ngắn, người viết chỉ có thể nói một cách
tổng quát sự h́nh thành và những bước trưởng thành của nghệ thuật sân khấu
cải lương. Nếu đi sâu từng bộ môn như văn chương, cốt chuyện tuồng cải
lương, hội họa trang trí, cổ nhạc, nhạc nền...v..v..th́ mỗi ngành nghệ
thuật đó đều đ̣i hỏi phải có những công tŕnh nghiên cứu nghiêm túc.
Như trên đă kể, nghệ thuật sân khấu là một loại h́nh
nghệ thuật của nhiều ngành nghệ thuật khác tổng họp như văn, thơ, nhạc,
múa, hội họa, kiến trúc... Những thành tựu của các ngành nghệ thuật vừa kể
có góp phần làm phát triển nghệ thuật sân khấu cải lương và ngược lại,
nghệ thuật sân khấu cải lương cũng ảnh hưởng tới sự quảng bá và sự phát
triển của các ngành nghệ thuật tổng hợp đó.
Soạn giả Nguyễn Phương
|