|
Thế Chân Vạc Mới Tại Á Châu
Sau hơn 24 thế kỷ, chưa bao giờ sân khấu
chính trị thế giới được chứng kiến những học
thuyết có tầm vóc “kinh bang tế thế” của
thời Xuân Thu Chiến Quốc, tưởng chừng như
chỉ c̣n nằm trong thư viện, nay được đem ra
ứng dụng một cách ngoạn mục và sâu sắc- đó
là học thuyết Hợp Tung và
Liên Hoành.
Vào thời Xuân Thu Chiến Quốc (Thế Kỷ thứ 3
trước Tây Lịch), lúc bấy giờ nước Tần quá
mạnh có khả năng thôn tính sáu quốc gia c̣n
lại. Tô Tần nh́n thấy nguy cơ đó cho nên đă
đem “miệng lưỡi” đi du thuyết. Kết quả sáu
nước Triệu, Hàn, Ngụy, Tề, Sở, Yên đă nghe
theo và đoàn kết lại, lập liên minh để chống
Tần theo kế hoạch gọi là Hợp Tung. Thế nhưng
“vỏ quưt dày, móng tay nhọn”, Trương
Nghi nh́n thấy nhược điểm của thế Hợp Tung
cho nên đă hiến kế Liên Hoành cho vua Tần.
Vua Tần nghe theo, kết quả kế Hợp Tung tan
vỡ, nhà Tần “gồm thâu lục quốc”. Vậy
có thể nói Liên Hoành là “khắc tinh”
của Hợp Tung.
Tại sao Liên Hoành lại là “khắc tinh”
của Hợp Tung ? Mới nh́n bề ngoài, các nước
nhỏ t́m cách liên kết với nhau để đối đầu
với nước lớn là “diệu kế” nhưng nhược
điểm chí tử của liên minh (Hợp Tung) là các
quốc gia thường đặt quyền lợi của ḿnh lên
trên và ngại khó, ngại khổ - tức không chịu
hy sinh, chấp nhận thiệt tḥi trong liên
minh. Do đó, khi có một chút lợi lạc hoặc
“cảm thấy” khó khăn là thoái chí. Ngoài ra,
tâm lư thông thường của bất kỳ liên minh nào
là người ta thường nghi kỵ lẫn nhau.
Quốc gia nào cũng sợ quốc gia kia “xé lẻ”
hoặc “đi đêm” với kẻ thù. Do đó, nếu
không khôn khéo, hành động không minh bạch,
không thường xuyên thông báo cho nhau mọi
động tác…th́ rất dễ gây hiểu lầm. Nắm được
nhược điểm và tâm lư này, nhà Tần đă dùng kế
Liên Hoành để xé lẻ liên minh sáu nước bằng
cách ve văn từng quốc gia và như đă nói ở
trên, kế Hợp Tung tan vỡ.
Ngày nay, do sự tái diễn của lịch sử, việc
ứng dụng Hợp Tung và Liên Hoành đă và đang
diễn ra một các ngoạn mục tại Đông Nam Á.
Nói về sức mạnh kinh tế, Hoa Lục có khả năng
khuynh đảo toàn thế giới bằng cớ siêu cường
Hoa Kỳ hiện là “con nợ” của Hoa Lục. Nói về
sức mạnh quân sự, Hoa Lục coi như bá chủ ở
vùng này. Tổng cộng Đài Loan, Nam Hàn, Nhật
Bản và thêm 9 nước Đông Nam Á cũng không thể
đối đầu với sức mạnh quân sự của Hoa Lục. Do
những hành động xâm chiếm lănh thổ của các
quốc gia trong vùng liên tục trong 37 năm
qua: Từ xâm chiếm Hoàng Sa năm 1974, đánh
chiếm một phần của Quần Đảo Trường Sa năm
1988 rồi xây dựng căn cứ quân sự và sân bay
tại đây, rồi công bố sát nhập Trường Sa vào
lănh thổ Trung Hoa bằng địa danh Tam Sa, xây
dựng căn cứ quân sự khổng lồ tại Đảo Hải
Nam, cho tàu Ngư Chính phá phách các dàn
thăm ḍ dầu khí của Việt Nam, áp lực để các
quốc gia như Anh Quốc (PB), Hoa Kỳ (Exxon)
phải từ bỏ các hợp đồng khai thác dầu khí
trong vùng quyền lợi kinh tế của Việt Nam,
bắt bớ, giết hại ngư dân Việt Nam với lư do
rất mơ hồ “xâm phạm lănh hải”, công
bố Đường Lưỡi Ḅ xác định chủ quyền trên
biển coi như toàn bộ Biển Đông. Mới đây nhất,
việc hạ thủy Hàng Không Mẫu Hạm Thi Lang…khiến
không riêng ǵ Đông Nam Á mà cả thế giới lo
sợ. Trước viễn ảnh đen tối đó, các nước Đông
Nam Á – giống như một đàn trâu rừng- vội vă
co cụm lại để đối đầu với con sư tử đang
lừng lững tiến tới và một liên minh theo kế
Hợp Tung thời Chiến Quốc h́nh thành. Trong
liên minh này, hai quốc gia trụ cột là Phi
Luật Tân và Việt Nam, sau đó là Nam Dương và
Tân Gia Ba. Phi Luật Tân lớn tiếng nhất và
công khai chống lại Hoa Lục – lư do thật dễ
hiểu v́ Phi Luật Tân ở xa và không có biên
giới đất liền với Hoa Lục. Ngoài ra Phi Luật
Tân c̣n có “bửu bối” Hiệp Ước Pḥng
Thủ Chung kư kết với Hoa Kỳ năm 1951.
Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á
(Association of Southeast Asia Nations) viết
tắt là ASEAN thành lập năm 1967 bao gồm 4
quốc gia Nam Dương, Mă Lai, Phi Luật Tân và
Tân Gia Ba, sau thêm Brunei, Miến Điện,
Kampuchia, Lào và Việt Nam…tổng cộng 9 nước.
Mới thoạt đầu ASEAN không phải là một liên
minh quân sự mà mục tiêu chỉ là “thúc đẩy
phát triển kinh tế và thăng tiến xă hội”
nhưng do thời thế đẩy đưa, do có cùng một
hiểm họa – dù chưa kư kết thỏa hiệp chính
thức- trên thực tế ASEAN đă và đang biến
thành một “liên minh quân sự” tại
Đông Nam Á. Chúng ta có thể khẳng định điều
này qua các cuộc họp cấp bộ trưởng quốc
pḥng đă diễn ra vào Tháng 10, 2010 tại Hà
Nội, Tháng 12 cùng năm tại Đà Lạt và năm nay
(2011) tại Nam Dương. Đấy là không kể hai
cuộc họp cấp bộ trưởng quốc pḥng Asean-
Nhật Bản do Nhật tổ chức ở Tokyo. Xen kẽ,
chúng ta thấy những cuộc thăm viếng và làm
việc liên tục của các tổng tham mưu trưởng
quân đội, cùng các tàu chiến của các nước
trong khối SEAN.
Hơn ai hết, Hoa Lục nh́n thấy thế Hợp Tung
của 9 nước ASEAN nên đă quyết tâm phá vỡ
bằng kế Liên Hoành. Để thi hành, từ trước
đến nay Hoa Lục khăng khăng lập trường chỉ
thương thảo song phương chứ
không chấp nhận thương thảo đa phương. Khi
theo đuổi lập trường đó Hoa Lục nhắm tới:
Không cho, cũng như không chấp nhận
sự can thiệp của quốc tế hay một số cường
quốc khác vào khu vực.
Không chấp nhận tiếng nói thống nhất ngay cả
của ASEAN.
Thỏa hiệp riêng lẻ với từng quốc gia, nếu
đạt được sẽ làm tan ră liên minh ASEAN.
Chiến thuật mà Hoa Lục xử dụng là vừa
đe dọa vừa ve văn. Đe dọa là phô
diễn sức mạnh quân sự, đóng thêm hàng không
mẫu hạm, trên đất liền tập trung quân ở biên
giới, trên biển cho tầu Ngư Chính phá phách
các dàn khoan hoặc thăm ḍ dầu khí, bắt giữ
hoặc giết hại ngư dân các nước trong vùng,
đặc biệt là Việt Nam, đồng thời áp lực về
kinh tế. Thậm chí c̣n đe dọa cả các quốc gia
có thiện cảm hoặc liên kết với các quốc gia
trong vùng như cảnh cáo tàu chiến của Ấn Độ
khi tàu này đang di chuyển trong vùng biển
Việt Nam, sau khi thăm viếng Nha Trang, cảnh
cáo cả Hoa Kỳ là không nên can thiệp vào
Biển Đông. Ve văn là hứa hẹn một vài tương
nhượng nào đó, viện trợ thương mại, hoặc đầu
tư v.v…
Xin đừng đánh giá thấp Hoa Lục. Họ có thể sẽ
thành công với kế Liên Hoành. Xét trong 9
nước của ASEAN chúng ta thấy Kampuchia, Lào
hoàn toàn đứng trung lập v́ họ
không mất ǵ, được ǵ trong biến động này.
Miến Điện dù Tổng Thống Thein Sein và 13 bộ
trưởng đă tới thăm Ấn Độ vào ngày 14/10/2011
nhưng vẫn c̣n trong ṿng ảnh hưởng của Bắc
Kinh. Brunei th́ quá nhỏ. Mă Lai và Nam
Dương không có tranh chấp về biển. Tân Gia
Ba tuy cương quyết nhưng ở quá xa. Tóm lại
chỉ c̣n hai quốc gia đứng mũi chịu sào là
Việt Nam và Phi Luật Tân. Hoa Lục có thể “xé
lẻ” Phi Luật Tân bằng cách kư kết hiệp
ước bất tương xâm, nhượng bộ chú ít về lănh
hải mà thực ra những vùng biển này không
phải của Hoa Lục mà là của Việt Nam. Nói
khác đi Hoa Lục theo sách lược “mượn hoa
cúng Phật” hay
“của
người phúc ta”, đồng thời hứa hẹn viện
trợ kinh tế, tài chánh, mở rộng thị trường
cho Phi Luật Tân. Một khi đă “xé lẻ”
được Phi Luật Tân th́ Việt Nam chơ vơ một
ḿnh và liên minh ASEAN sứt mẻ rồi tan vỡ
hoặc trở thành tổ chức “bù nh́n”.
Thế giới không phải không biết tới điều này
cho nên đă phải nhảy vào. Tại sao phải nhảy
vào? Không cần giải thích dông dài, chúng ta
có thể nói ngay: Nếu Hoa Lục khống chế được
Biển Đông th́ ba nước lâm nguy trước tiên là
Nhật Bản, Đài Loan và Nam Hàn rồi sau đó tới
Đông Nam Á rồi Hoa Kỳ, Úc Châu. C̣n Ấn Độ
th́ từ từ chết sau. Nh́n vào bản đồ hàng hải
chúng ta có thể khẳng định tuyến đường từ Eo
Biển Đài Loan rồi dọc theo Biển Đông tới Eo
Biển Malacca là sinh lộ của toàn thế giới.
Năm xưa liên minh sáu nước tan vỡ và bị
Tần tiêu diệt là v́ liên minh này không có
điểm tựa. Giả dụ, lúc bấy giờ có
một cường quốc sức mạnh tương đương với Tần
hỗ trợ th́ liên minh Lục Quốc vững như bàn
thạch. Ngày nay cũng thế, dù liên minh ASEAN
có đoàn kết và quyết tâm như thế nào đi nữa,
nếu đứng một ḿnh, sớm muộn ǵ cũng tan như
bọt nước dưới áp lực của Hoa Lục. Muốn sống
c̣n, Liên minh ASEAN cần một điểm tựa,
nói khác đi liên minh ASEAN phải được đặt
vào thế chân vạc.
Ấn
Độ sẽ làm trụ cột châu Á? Ngoại
trưởng SM Krishna đón bà Clinton
ở Dehli hôm 19/7/2011
Do
t́nh cờ của lịch sử, do những biến cố chính
trị đẩy đưa, một thế chân vạc mới vừa h́nh
thành mà cả thế giới đều nhận rơ đó là Trục
Asean - Hoa Kỳ - Ấn Độ. Từ khi giành
được độc lập từ tay Thực dân Anh năm 1947,
Ấn Độ đă thí nghiệm thành công bom nguyên tử
nổ ngầm dưới đất. Với dân số gần 1.2 tỷ (thống
kê 2006) có hỏa tiễn tầm trung mang đầu đạn
hạt nhân, hải quân đứng hàng thứ tư thế giới,
có hàng không mẫu hạm và phát triển nhanh
chóng về kỹ nghệ, nhưng Ấn Độ luôn luôn nghị
kỵ Hoa Kỳ và không bao giờ tập trung vào khu
vực Á Châu, đặc biệt Đông Nam Á. Ấn Độ coi
như sống bên lề Á Châu mà chỉ chú tâm tới
Nam Mỹ, Phi Châu v.v…Thế nhưng cục diện đó
đă thay đổi khi Thủ Tướng Singh của Ấn Độ
thăm Hoa Kỳ vào Tháng 10, 2009 rồi TT.
Obama - vị tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ
công du Ấn Độ vào Tháng 11, 2010. Đặc biệt
chuyến thăm Ấn Độ của Ngoại Trưởng Hillary
Clinton vào Tháng 7, 2011 trong đó bà nói rơ
Ấn Độ không phải chỉ “Nh́n Về Hướng Đông”
mà cần phải hành động. Đó là thông điệp mạnh
mẽ cho biết Hoa Kỳ chấp nhận và cần sự hiện
diện quân sự của Ấn Độ tại Biển Đông. Trước
đó vào ngày 24 Tháng 11, 2008 Nữ Tổng Thống
Ấn Độ cũng đă thăm Việt Nam. Rồi vào ngày 12
Tháng 5, 2001 hai tàu chiến Ấn Độ cập bến
Nha Trang và Trục Asean - Hoa Kỳ - Ấn Độ ra
đời. Chúng ta có thể tiên liệu những ngày
tháng sắp tới đây, các viên chức cao cấp của
Ấn Độ sẽ lần lượt thăm viếng các quốc gia
Đông Nam A, tàu chiến Ấn Độ sẽ tiếp tục hiện
diện tại Biển Đông để bảo vệ các giàn thăm
ḍ dầu khí và thao diễn chung với các nước
trong vùng, song song với Hải Quân Hoa Kỳ.
Tại sao Thế Chân Vạc này lại h́nh thành mau
chóng như vậy? Có hai lư do:
Thứ nhất: Theo BBC, do mối quan hệ
bền vững với Việt Nam trong suốt 40 năm qua,
Ấn Độ đă ủng hộ Việt Nam gia nhập WTO và
ghế ủy viên thường trực Hội đồng Bảo
An LHQ năm 2007, Việt Nam cũng ủng hộ
Ấn Độ trở thành thành viên thường
trực Hội Đồng Bảo An. Theo chuyên gia về
an ninh Iskander Rehman, “Ấn Độ đã và
đang hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực
hải quân nhằm phá bỏ thế độc tôn của
Trung Quốc tại Biển Đông. Một điều thú
vị là không quân và hải quân Việt Nam
và Ấn Độ xử dụng nhiều trang bị của
Nga nên dễ dàng trao đổi cho nhau. Delhi đă
giúp sửa chữa và nâng cấp 125 chiến đấu cơ
Mig 21.

Bên cạnh việc huấn luyện thủy thủ và phi
công cho Việt Nam, năm 2005 Hải Quân Ấn Độ
đă cung cấp cho Việt Nam 150 tấn phụ tùng
cho các tàu chiến hạng Petya và OSA-11. Ấn
Độ cũng sẽ giúp huấn luyện thủy thủ đoàn cho
các tàu ngầm mà Việt Nam đang đặt mua từ Nga…Hai
nước có thể cùng thiết lập hệ thống báo động
dọc bờ biển Việt Nam và Ấn Độ có thể điều
chiến đấu cơ tuần tra tới Việt Nam, không
chỉ theo dơi các tuyến hàng hải quan trọng ở
Biển Đông và Eo Biển Malacca, mà c̣n để phát
hiện các hoạt động tàng h́nh ở phía dưới.”
(BBC)
Thứ hai: Ấn Độ không thể nào quên
cuộc chiến tranh với Hoa Lục năm năm 1962.
Những năm gần đây Hoa Lục đă cho tàu chiến
lảng vảng vào Ấn Độ Dương để “hỏi thăm sức
khỏe” Ấn Độ. Hoa Lục luôn luôn dùng gọng ḱm
Pakistan để làm khó dễ Ấn Độ. Đặc biệt khi
mối liên hệ giữa Pakistan-Hoa Kỳ trở nên
chua chát, Pakistan đă cho mời ngay Bộ
Trưởng Công An Hoa Lục tới thăm và tuyên bố
thẳng thừng nếu Hoa Kỳ thù nghịch với
Pakistan th́ Pakistan sẽ liên kết ngay với
Hoa Lục. Ấy là chưa kể gọng ḱm Miến Điện
ngay cạnh sườn phía Đông cũng làm cho Ấn Độ
vô cùng khó chịu. Ấn Độ chính là con “cọp
ngủ” và ngày nay đă “biết thức dậy” và mạnh
dạn tiến về Đông Nam Á. Đây là cơ hội bằng
vàng cho Ấn Độ triển khai kế hoạch pḥng thủ
và xây dựng vị trí cường quốc của ḿnh tại Á
Châu.
Câu hỏi đặt ra ở đây: Tại sao lại là thế
chân vạc Asean - Hoa Kỳ - Ấn Độ
mà không phải là Asean - Hoa Kỳ - Nhật
Bản hoặc Asean - Hoa Kỳ - Úc
Châu? Xin thưa:
1) Nhật Bản bị ràng buộc bởi
Hiến Pháp ngăn cấm không cho đem binh sĩ ra
nước ngoài. Hơn thế nữa h́nh ảnh xâm lược Á
Châu của quân phiệt Nhật năm 1945 vẫn c̣n đó.
Việc tăng cường binh bị của Nhật khiến các
quốc gia Đông Nam Á nhớ lại cơn ác mộng năm
xưa. Nhật nên đóng vai tṛ hỗ trợ cho Thế
Chân Vạc và tạo thế gọng ḱm vào cạnh sườn
Hoa Lục hơn là đem tàu chiến vào Biển Đông.
2) C̣n Úc Châu th́ nhân lực và
tài lực yếu kém chỉ có khả năng hỗ trợ cho
Thế Chân Vạc, chia xẻ trách nhiệm với Hoa Kỳ
và Ấn Độ, đồng thời chặn con đường tiến quân
hoặc rút lui khi các hạm đội của Hoa Lục
tiến vào Eo Biển Malacca hoặc từ Ấn Độ Dương
kéo về. Ngoài ra do yếu tố địa lư, cho dù
Nhật Bản hay Úc Châu có đứng vào Thế Chân
Vạc cũng không thể có ưu thế hơn Ấn Độ. Giả
sử nếu tàu chiến của Ấn Độ bị làm khó dễ ở
Biển Đông, Ấn Độ chỉ cần cho dàn khoảng
500,000 quân ở biên giới th́ Hoa Lục cũng
phải điều động khoảng nửa triệu quân tới đó.
Chắc chắn lúc đó sức mạnh quân sự của Hoa
Lục ở Biển Đông sẽ bị phân tán rất nhiều. Do
đó có thế nói cho tới bây giờ, liên minh
Asean - Hoa Kỳ - Ấn Độ là liên minh hoàn hảo
nhất.
3) Theo lịch sử, v́ Ấn Độ
không phải kẻ thù của Tây Phương cho nên Thế
Chân Vạc này c̣n được hỗ trợ từ xa - trước
mắt chúng ta nhận thấy có Đức và Ḥa Lan.
Anh, Pháp c̣n đang đứng nh́n v́ vướng mắc
kinh tế, tài chính với Hoa Lục. Nhưng ở vào
thời điểm chín muồi nào đó, chắc chắn cũng
sẽ ngả theo Liên Minh Chân Vạc này.
Tạm kết luận: Khi một liên minh quân sự
h́nh thành chắc chắn không phải để chơi.
Lịch sử thế giới đă chứng tỏ rằng liên minh
quân sự ra đời là để ngăn chặn hay phát khởi
một cuộc chiến tranh. Liên minh càng lớn th́
cuộc chiến tranh càng khốc liệt. Liên Minh
Áo-Hung-Phổ-Ottaman và Liên Minh
Đức-Ư-Nhật trong Đệ I và Đệ II Thế Chiến
đă minh chứng điều này. Trong hơn thập niên
qua, thế giới cũng đă chứng kiến một vài
liên minh quân sự h́nh thành rồi phát khởi
vài cuộc chiến tranh mà số tử vong cũng đă
lên tới vài triệu người đó là Liên Minh
Mỹ-Anh trong chiến tranh Iraq, Liên
Minh Đơn Phương Mỹ một ḿnh đánh trước
rồi lôi kéo đồng minh sau trong chiến tranh
Aghanistan, Liên Minh Bắc Đại Tây Dương
(NATO) và một số quốc gia Hồi Giáo
trong chiến tranh Libya.
Với thời gian qua đi, theo ḍng kư ức mờ
phai của nhân loại, dù mau quên thế nào đi
nữa, chắc chắn lịch sử thế giới cũng không
thể nào không nhớ tới Liên Minh Chân Vạc mới
đang h́nh hành tại Á Châu. Tại sao vậy? Bởi
v́:
Nếu thế chân vạc Asean - Hoa Kỳ - Ấn
Độ bền vững và thành công th́ Đông
Nam Á nói riêng và thế giới nói chung sẽ
hưởng một nền ḥa b́nh lâu dài. Lành thay!
Nếu thế chân vạc Asean - Hoa Kỳ - Ấn Độ yếu
đi và thất bại, thế giới sẽ phải đương đầu
với Đệ III Thế Chiến khốc liệt hơn cả Đệ I
và Đệ II Thế Chiến. (*) Bất hạnh thay!
Đào Văn B́nh
California
Tháng 10, 2011
Cước chú: (*)
Trong Đệ I Thế Chiến, 70 triệu quân được huy
động ra mặt trận và lớn nhất trong lịch sử
nhân loại do mức độ tử vong và tàn phá của
nó. Trong Đệ II Thế Chiến khoảng 62 triệu
người đă chết. Nếu Thế Chiến III bùng nổ,
không biết bao nhiêu triệu người chết, bao
nhiêu thành phố bị tàn phá, phóng xạ nguyên
tử lan tràn như thế nào và hậu quả vài trăm
năm sau ra sao, nhưng theo nhà bác học
Einstein th́ sau đó nhân loại sẽ dùng gạch
đá để đánh nhau. |