|
THEO GỈNG Lư thuyết văn nghệ của Thạch Lam Đây là một tập nghị luận về văn chương mà tác giả khiêm tốn gọi là Vài Ư Nghĩ Về Văn Chương gồm 17 bài tŕnh bầy những ư kiến của ông bàn về những vấn đề của văn chương như tiểu thuyết, độc giả, nhà văn, nhân vật, cảm hứng. . . Ông Phạm Thế Ngũ cho đây là một tập lư thuyết văn nghệ độc nhất của Tự Lực văn đoàn và của cả nền văn chương Việt Nam trước 1940. Những bài nghị luận trên đây đă được đăng rải rác trong hai tờ báo Ngày Nay và Chủ Nhật từ 1939-1940, đă được xếp theo thứ tự thời gian khi in thành sách, xin sơ lược dưới đây. NHỮNG Ư NGHĨ NHỎ Thạch Lam nói phê b́nh cũng khó như sáng tác, một nhà phê b́nh giỏi cũng hiếm như nhà văn viết truyện giỏi, nhà phê b́nh giỏi cần công b́nh, hiểu người khác. Có nhà phê b́nh dầy ṿ một tác phẩm, dùng nó làm một cái bực để nhẩy đi xa. Nhà phê b́nh không có nhiệm vụ t́m tài năng mới, nhưng phải lưu ư những tác phẩm đầu tay để t́m ra một sắc thái riêng mặc dù c̣n non nớt. Bên ta có nhiều nhà người viết văn, làm thơ không chịu học hỏi cứ viết cho xong. Nhà văn giá trị thường cần chăm sóc văn chương của ḿnh, ít khi tự bằng ḷng với ḿnh . Nhà văn phải có sự rung cảm thật mới không bị rơi vào chỗ nghèo nàn vay mượn, không bao giờ bắt chước một h́nh ảnh nếu mắt ḿnh không thấy: “Lông mày thiếu nữ giống như nét xụân sơn” Sự thành thực chưa đủ cho nghệ thuật, một nghệ sĩ không thành thật chỉ là một thợ giỏi khéo tay. Trên đây là những ư kiến ngắn ngủi của Thạch Lam về phê b́nh. Theo ông phê b́nh không dễ như người ta tưởng, nhà phê b́nh giỏi cũng rất hiếm và cần có nhiều đức tính. Người viết văn, làm thơ phải học hỏi như người đi buôn phải khó nhọc, học nghề. . . Ông rất chú trọng vào sự thành thật của người nghệ sĩ. SỰ BỀN VỮNG CỦA MỘT TÁC PHẨM Theo Thạch Lam chỉ có hai loại tác phẩm: - Được lưu truyền măi măi, vượt thời gian, càng về sau càng nổi tiếng. - Chỉ nổi tiếng nhất thời rồi ch́m vào quên lăng, sự lựa chọn của thời gian rất nghiêm khắc và công bằng. Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, mới ra đời được hoan nghênh nhiệt liệt nhưng nay không thấy ai nhắc đến. Cuộc kén chọn của thời gian đă loại cuốn truyện đó v́ nghệ thuật không bền, tâm lư hời hợt. Mốt của Tố Tâm là phong trào lăng mạn cuối mùa lấy ở phong trào lăng mạn thế kỷ 19 văn chương Pháp. Nay các nhà văn đua nhau viết truyện xă hội nhưng chỉ những cuốn nào có nghệ thuật chắc chắn và suy xét đến những tính t́nh bất diệt của loài người mới bền măi măi. Nhà văn phải nh́n sâu vào tâm hồn ḿnh để t́m những tính t́nh cảm giác thành thực. Thạch Lam đề cao những tác phẩm trường tồn bất tử và chỉ trích những người viết hời hợt, theo thời chỉ tạo được những tác phẩm mỏng manh. Ông cũng đề cập đến những lối sáng tác để sách của ḿnh được lưu truyền măi măi. CÁI HẠI CỦA VĂN CHƯƠNG Thạch Lam dẫn lời phê b́nh cuốn truyện của Jolan Foldès của Jean Pierre Maxence: Các tiểu thuyết gia Pháp chỉ thích những cử chỉ anh hùng mà không chú trọng vào tâm lư nhân vật, các nhà văn không biết nh́n cuộc đời, đổi thay với cuộc đời, không diễn tả được những chi tiết, sự kiện. . . Ở An-nam ta, nhiều nhà văn bị ám ảnh bởi văn chương dùng những câu bóng bẩy xa hoa, những cử chỉ anh hùng không chịu đi sâu phân tích cuộc đời, gán cho những nhân vật cái đẹp đẽ, hào hiệp. . .trong các bài tựa, họ bầy tỏ một luận đề, lư thuyết . . . người ta chỉ chú ư xem tác giả có diễn đạt được nó không. Thạch Lam chỉ trích lối văn chương hoa mỹ, giả tạo, theo ông đó là một điều tai hại, cái hay cần phải làm của văn chương là diễn tả được, nói lên được. VÀI Ư KIẾN VỀ TIỂU THUYẾT Mấy năm nay xuất hiện nhiều tiểu thuyết, độc giả cũng tăng: người ta đọc tiểu thuyết để t́m xét những trạng thái tâm hồn bên trong của ḿnh, tiểu thuyết giúp cho đời sống bên trong được dồi dào, sâu sắc. Đọc tiểu thuyết để nghĩ ngợi suy xét t́m trong ư nghĩ nhân vật những tư tưởng của ḿnh. Tiểu thuyết từ xưa đến nay là thể văn được ưa chuộng nhất, trước đây ta chỉ có rất ít tiểu thuyết và chỉ phỏng dịch của Tầu sau bắt chước Tầu như Cành Lê Điểm Tuyết, Tố Tâm, Tuyết Hồng Lệ Sử. . Quan niệm hồi ấy vai chính hoàn toàn, toàn là những anh hùng liệt nữ, trai tài gái sắc, trái trung hiếu, gái đoan trinh. . .cái đức bao giờ cũng thắng. Tiểu thuyết hồi ấy chỉ có giá trị luân lư lại rất dài, đa số nhạt nhẽo vô vị, kết cục tốt đẹp. Rồi đến thời kỳ tiểu thuyết có kết cục xấu như t́nh duyên tan vỡ, bi thương đau khổ. . . như bể oan, bể khổ, thuyền t́nh bể ái. . thi nhau xuất bản. . cả hai loại tiểu thuyết luân lư và bi quan đều không đúng với cuộc đời. Sự sống phiền phức hơn. Báo Phong Hóa phá bỏ các lề lối cũ dùng sáo ngữ để thay vào bằng lối văn giản dị, b́nh dân. . . Phong Hóa phấn đấu đa sầu đa cảm. . đánh tan cái văn chương sầu thảm đi gây một nền văn mới. Phong trào ǵ ở nước ta cũng đều nông cạn, tâm hồn người ta là vật khó biết. Văn chương nước ta từ 1935 trở đi có hai phong trào: b́nh dân, xă hội- nhiều người viết về b́nh dân nhưng giả tạo không có thật- văn chương chỉ có khi nhà văn ở đám b́nh dân mà ra, các nhà văn b́nh dân chỉ phô bầy những h́nh ảnh sáo, tâm lư nông nổi bịa đặt. Phong trào thứ hai: tiểu thuyết luận đề thi nhau xuất bản, kết cục giả dối, các nhà văn đua nhau nói đến thanh niên trụy lạc nhưng đó chỉ là ư nghĩ, tâm lư của tác giả không phải tâm lư của bọn thanh niên. Nhà văn phải suy xét tâm hồn ḿnh rồi mới hiểu tâm trạng người khác. Chúng ta không cần bắt chước ai, cứ diễn tả cái tâm hồn An Nam, những tư tưởng mà ta ấp ủ từ lâu, nhiều nhà văn cứ đi theo những khuôn sáo có sẵn không chịu quay về tâm hồn ḿnh. Sự thành thật mới là cái then chốt của người nghệ sĩ, một tác phẩm nào cũng có chút ít tâm hồn nhà văn trong ấy, một nghệ sĩ phải có tâm hồn phong phú, t́nh cảm dồi dào. Nghệ sĩ không bắt chước ai không chịu ép vào khuôn sáo nào. Trong bài này ta thấy rơ khuynh hướng hiện thực và tâm lư Thạch Lam, ông chỉ trích các lối tiểu thuyết luân lư vay mượn của Tầu, trung hiếu, tiết nghĩa Tuyết Hồng Lệ Sử , tiểu thuyết đa sầu đa cảm . . là giả tạo. Cả đến những nhà văn b́nh dân cũng chỉ là hời hợt giả tạo, họ không sống hoà ḿnh hoặc theo sát đám b́nh dân nghèo khổ, những điều mà họ phô diễn chỉ là sáo ngữ, tiểu thuyết luận đề cũng chỉ là sáo ngữ. Theo ông nhà văn phải đào sâu tâm hồn ḿnh rồi từ đó sẽ biết tâm lư người ngoài. Hướng nội, trở về với tâm trạng của nhà văn mới chính là nghệ thuật v́ nghệ thuật là phản ảnh trung thực của tâm hồn, của đời sống. QUAN NIỆM TRONG TIỂU THUYẾT Khuynh hướng tiểu thuyết bây giờ là rất gần sự sống để linh hoạt như cuộc đời, tiểu thuỵết do sáng tác của trí tưởng tượng nhưng người ta muốn nó phải hợp lẽ phải. Xây dựng vai chính hoàn toàn là sai lầm: người rất tốt có thể giận dữ, tàn ác và ngược lại, nhà nghệ sĩ giỏi phải tạo đươc những nhân vật thật và hoạt động. Maurice Barres nói một cuốn tiểu thuyết hay là một tiểu thuyết đă làm cho ta rung động. Nhà văn phải làm sống lại cái không khí bao bọc vai chính, các tác giả Nga, Anh chú ư tới những cái chi tiết nhỏ nên nói chung hay hơn. Tiểu thuyết Pháp xếp đặt chặt chẽ quá không đi sâu vào tâm hồn ta, văn chương Pháp văn chương trí thức, sáng sủa, đẹp đẽ. . André Gide cho như thế là một sự giả dối. Thạch Lam chỉ trích tiểu thuyết luận đề cho rằng các nhân vật và tâm lư phải theo ư định của ḿnh đều ít giá trị, đều không thật, theo tác giả ta phải lấy bài học ở trong đời chứ không buộc cuộc đời theo luận đề của ḿnh. Nhà nghệ sĩ trước hết phải làm thật đă, sự thật bao giờ cũng giản dị, phải bỏ hết cái sáo kêu to mà rỗng, những cái giả dối đẹp đẽ, đi t́m cái giản dị cái sâu sắc và cái thật. Cũng như trong bài trước ở đây Thạch Lam chỉ trích cái hào nhoáng của sáo ngữ, ca ngợi những nhân vật thật, các vai phụ phải phù hợp với cuộc đời, thựïc tế bao quanh và theo ông tiểu thuyết luận đề rất ít giá trị v́ nó không thật, tác giả không lấy bài học trong cuộc đời trái lại bắt cuộc đời theo luận đề ḿnh, bắt nhân vật phải theo ư định của ḿnh, đó chỉ là một nghệ thuật giả tạo. Sự thực tiểu thuyết luận đề (roman à thèse) bản thân nó không có ǵ là phản nghệ thuật mà vấn đề là người viết có diễn tả được một cách có nghệ thuật hoặc rung cảm được người thưởng thức hay không v́ hầu hết những tác phẩm lớn, những truyện đoạt giải Nobel đều mang một luận đề, chủ đề nào đó, một tác phẩm được coi là siêu nghệ thuật phải nói lên, thể hiện được một chủ đề, một ư nghĩa nào đó thí dụ như nhân bản, t́nh thương chẳng hạn. Qua h́nh ảnh Đoạn Tuyệt, Lạnh Lùng, Nửa Chừng Xuân. . . nhiều người tưởng rằng mọi tiểu thuyết tiểu thuyết luận đề đều là giả tạo, gượng ép mang đầy những kịch tính, kém giá trị văn chương. Nói như vậy th́ oan cho tiểu thuyết luận đề quá. Réssurection, cuốn trường thiên tiểu thuyết bất hủ của Tolstoi, dài gấp bốn gấp năm lần Đoạn Tuyệt, một công tŕnh văn hóa của nhân loại được viết trong chín năm, sửa đi sửa lại nhiều lần. Tolstoi đă nghiên cứu luật pháp, tham dự các phiên ṭa, đi thăm các chặng đường đến Tây bá Lợi Á. . . để tạo cho tác phẩm một giá trị hiện thực, sống động và Réssurection cũng chỉ là tiểu thuyết luận đề, chỉ trích nền tư pháp, giai cấp quí tộc, giáo hội dưới triều Nga hoàng . . và bênh vực cho những người nông dân Nga cùng khổ. Lăo Ngư Ông Và Biển Cả của Hemingway, Nobel 1954, diễn tả và ca ngợi ư nghĩa sự phấn đấu của con người với định mệnh đến cùng chỉ là một tác phẩm luận đề. Giờ Thứ Hai Mươi Năm của Gheorghiu, tác phẩm văn chương tuyệt vời nhất của thế kỷ, kết án gay gắt sự tàn phá và mối nguy hại của nền văn minh cơ khí cũng là một tiểu thuyết luận đề. Trở lại Đoạn Tuyệt, chúng ta đă nghe rất nhiều dư luận phê b́nh đua nhau đả kích cái không khí giả tạo, gượng ép của tác phẩm, có người cho những nhân vật của Đoạn Tuyệt chỉ toàn là nhân vật nộm (Phạm Thế Ngũ). . đến độ sau này khoảng năm 1960 Nhất Linh phải lên tiếng thừa nhận sự thiếu nghệ thuật của tiểu thuyết luận đề. Nhưng vấn đề đặt ra là nó có giá trị hiện thực hay không? Hồi thập niên 30, 40 Đoạn Tuyệt đă từng là sách gối đầu giường của giới phụ nữ v́ người ta thấy thân phận của ḿnh trong tác phẩm. Sự kiện chứng tỏ rằng ít ra truyện đă phản ảnh được sự tác yêu tác quái của một thời phong kiến đă qua mà có thể sự xây dựng nhân vật gượng ép không tự nhiên cho lắm nhưng khuynh hướng a dua đă khiến cho người ta cứ hùa nhau chỉ trích, đả phá mà không chịu thừa nhận giá trị hiện thực của nó ở một khía cạnh nào đó, lối phê b́nh đả phá nhất là đả phá cốt truyện chỉ là một việc quá dễ dàng ai cũng làm được cả. Thực tế chứng tỏ nhận xét của Thạch Lam và nhiều nhà phê b́nh không đúng lắm v́ tiểu thuyết luận Đề của Tự Lực văn đoàn như Nửa Chừng Xuân, Đoạn Tuyệt, Lạnh Lùng. . . lại bán rất chạy. Người đọc, nhất là phụ nữ đă thấy h́nh ảnh thân phận của ḿnh trong tác phẩm và đó chính là giá trị hiện thực của truyện, có thể là cách sắp đạt nhân vật không được tự nhiên cho lắm nhưng ít ra đă thoả măn được sự nhận định của người thưởng thức, ngược lại truyện của Thạch Lam lại bán rất chậm, khó bán hơn. . và như vậy hiện thực quá có đủ khả năng lôi độc giả hay không? đă gọi là tiểu thuyết ta phải thừa nhận sự hiện diện của trí tưởng tượng, chẳng thế mà người Mỹ đă gọi nó là fiction, giả tưởng. . Tôi công nhận sự giả tạo gượng ép của tâm lư nhân vật và diễn tiến cốt truyện trong Đoạn Tuyệt, Lạnh Lùng. . . song về tổng thể ta không thể phủ nhận hoàn toàn tiểu thuyết luận đề về giá trị văn chương cũng như cải cách xă hội được. NHỮNG NGƯỜI ĐỌC TIỂU THUYẾT Có hai hạng độc giả chính: hạng chỉ cốt xem cốt truyện và hạng cốt truyện để suy nghĩ, t́m trong sách những tâm trạng giống tâm hồn ḿnh. Hạng trên chỉ cốt xem truyện không cần câu văn, ư tưởng, họ chỉ chú trọng đến cốt truyện ly kỳ thôi, phần nhiều là các bà, họ không nhận được câu văn hay, ư tưởng thâm sâu, họ xem tiểu thuyết cũng như ăn, chỉ cốt ăn cho no. Bên Tây phương ra đời văn chương thoát ly: mạo hiểm, phiêu lưu, trinh thám, nay ở trong nước ta truyện kiếm hiệp rất thịnh hành. Hạng thứ hai theo đuổi cái đẹp, biết thưởng thức câu văn, họ không chú ư cốt truyện. Họ cũng đọc để giải trí nhưng giải trí thanh nhă làm cho tâm hồn họ trở nên dồi dào, coi đọc sách như cái thú thần tiên nhất để luyện cho tâm hồn họ thêm phong phú. Họ chú trọng xem tâm lư nhân vật có đúng hay không, cách diễn tả tâm lư của tác giả ra sao. . .Họ là mực thước đo t́nh độ văn chương, họ nhiều th́ văn chương sẽ thêm phong phú giá trị, họ là bạn tri kỷ của các nhà văn chân chính và những tác phẩm xuất sắc không bị mai một. Thạch Lam phân ra hai hạng độc giả, hạng b́nh dân và trí thức, hạng b́nh dân chỉ chú ư đến cốt truyện, họ ưa thích trinh thám kiếm hiệp, phiêu lưu. . .và hạng độc giả trí thức, tác giả nhấn mạnh vào việc đọc sách, những hạng độc giả trí thức sẽ thúc đẩy sáng tác văn chương, ông cũng chú trọng một lần nữa vào việc mô tả tâm lư nhân vật cho đó là trọng tâm giá trị của văn chương. MỘT VÀI Ư NGHĨ . . . . Có nhiều nhà văn lúc nào cũng nói đến các thứ hoa, mầu sắc, cây cỏ, ấn đầy hoa vào trong văn nên đă trở thành sáo ngữ “bên bờ ngàn liễu rủ ḿnh trong sương lạnh”. Cái đẹp man mác khắp trong vũ trụ, nhà văn phải phát biểu cái đẹp ở chỗ mà không ai ngờ tới. . . . Cái đẹp không phải chỉ ở hoa thơm cỏ lạ mà ở cả ngay trong những búp lá non, sức sống mạnh mẽ. . . văn chương cũng như mỹ thuật, nó cũng có mốt (mode), tùy thời. Cái Hoàn Toàn Lạnh Lẽo Người bao giờ cũng có cái hay cái dở, hèn yếu, chính v́ vậy mà trở nên dễ thương, dễ mến, cái hoàn toàn th́ rất lạnh lẽo, nhân vật mà hoàn toàn lại không được cảm t́nh của người đọc. Tiểu thuyết xưa khiến ta lănh đạm v́ nhân vật hoàn toàn quá không có những hèn yếu băn khoăn, sự bịa đặt dù hoàn toàn cũng không bao giờ bằng sự thật. Cuộc sống luôn luôn đổi thay như gịng sông chảy măi không ngừng, nhà văn t́m ở đó để phác họa trước cái xă hội sắp đến. Thạch Lam nói về cái đẹp của văn chương, nhiều nhà văn ưa sáo ngữ như hoa nở rực rỡ, bên ngàn liễu rủ . . theo ông cái đẹp không phải chỉ ở sắc hoa rực rỡ mà ở khắp mọi nơi, khắp hang cùng ngơ hẻm. Công việc của nhà văn là phải t́m ra cái đẹp đó như trong Hà Nội Băm Sáu Phố Phường, Thạch Lam t́m thấy những cái hay, cái đẹp trong các món quà rong, về nhân vật, ông chỉ trích lối xây dựng nhân vật hoàn toàn v́ dễ làm cho người ta chán, nó giả tạo không lôi cuốn được người đọc. . TIỂU THUYẾT ĐỂ LÀM G̀? Có người cho đọc để giải trí, để thoát ly cuộc đời tẻ mọn hàng ngày, thoát ly hoàn cảnh tham dự những cuộc phiêu lưu. Nhưng tiểu thuyết c̣n đem lại cho ta những thỏa nguyện khác: dạy ta biết sống, biết sung sướng. Người An Nam ta sống tẻ ngắt phẳng lặng như nước ao tù. Đời sống cần là cái đời sống bên trong, đời sống bên trong của chúng ta rất nghèo nàn bạc nhược. Tiểu thuyết sẽ đem sự phong phú đến cho tâm hồn ta, ta sẽ tập cảm xúc sâu sa, biết rung động trước cái đẹp của trời đất, những hành vi cao quí của các nhân vật. Tiểu thuyết làm nẩy nở t́nh yêu thương bằng cách bầy tỏ những điều bất công của cuộc đời. Tiểu thuyết làm cho ta sung sướng hơn nữa, làm ta ham muốn yêu, yêu mọi người, yêu mọi vật. . c̣n ǵ sung sướng hơn, nhà văn có tài là nhà văn diễn tả thấu đáo tâm lư uyển chuyển của con người. Trong bài này Thạch Lam đề cập đến những lợi ích của tiểu thuyết, không phải nó chỉ là môn giải trí mà xa hơn thế! nó là cho ta yêu cuộc sống rung động với cuộc sống, biết sung sướng. Tiểu thuyết diễn tả cái tâm lư uyển chuyển của con người khiến ta tập được những cảm xúc sâu sa, nó mô tả những bất công cuộc đời sẽ làm nấy nở t́nh thương yêu trong ḷng chúng ta khiến ta ham muốn yêu, tác giả ca ngợi những lợi ích về tinh thần mà tiểu thuyết mang lại cho ta trước cuộc sống tẻ nhạt, phẳng lặng này. NGƯỜI NHÀ QUÊ TRONG VĂN CHƯƠNG Nay có nhiều cuốn tiểu thuyết về dân quê ra đời. H́nh ảnh người nhà quê ở đây khác với người dân quê thực, người dân quê trong tiểu thuyết có những đức tính và tật xấu mà dân quê thực không có: nào cô thôn nữ ngây thơ, chất phác, yêu chân thực trong khung cảnh êm đềm, những công việc thanh thoát, giản dị, và nhà văn khác lại tŕnh bầy thôn quê như địa ngục toàn là những đè nén, áp bức, sự quan sát không phải dễ dàng . . . Thạch Lam chỉ trích cả hai cái nh́n về thôn quê kể trên, nó không nên thơ mà cũng chẳng phải chịu tất cả mọi đọa đầy, nhà văn phải ḥa ḿnh phải sống với người dân quê mới t́m ra được nhân vật đích thực cho ḿnh . CUỘC ĐỜI NGHỆ SĨ Tản Đà mất được ba tháng, hưởng ứng báo chí kêu gọi những người yêu văn Tản Đà từ Bắc chí Nam gom góp tiền giúp đỡ thi sĩ nghèo. Nh́n làn sóng cảm t́nh của mọi người, ta thấy ngậm ngùi, giá cảm t́nh ấy được biểu lộ khi ông c̣n sống th́ sự sống của thi sĩ và gia quyến dễ chịu, rộng răi hơn, Tản Đà sẽ khỏi bận tâm những cái thiếu thốn hàng ngày. Người nghệ sĩ cần một cuộc đời chắc chắn, đủ ăn đủ tiêu đủ cho họ chuyên chú tinh thần vào nghệ thuật. Ở các nước khác như Anh, Pháp, Mỹ. . .nghệ sĩ không phải nhờ đến ḷng thương của mọi người, viết một cuốn sách có thể sống vài năm. Những nhà văn nổi tiếng có khi xuất bản mười vạn, hai mươi vạn cuốn, độc giả ở những nước đó rất nhiều, họ đọc để giải trí, t́m thú tinh thần, họ đă xây dựng văn chương nước họ. Ở nước ta, sách vở báo chí mới bột mạnh từ 1933 trở đi, người đọc vẫn c̣n ít, người mua sách ít, thuê, mượn nhiều, một cuốn in vài ngh́n bản, nhà in, xuất bản được lời nhiều, nhà văn không được bao nhiêu, nhà văn ta không tự nuôi nổi ḿnh. Trong bài này Thạch Lam nhân cái chết Tản Đà nói về những nỗi khó khăn của nhà văn, một nhà thơ nổi tiếng được nhiều người ưa chuộng như Tản Đà chết trong cảnh nghèo. Theo ông nhà văn nước ta không nuôi nổi ḿnh, lợi tức thấp quá và ông ao ước. Mua sách, quí sách, đó là cách công hiệu nhất để nâng đỡ những tài năng thất vọng và khiến cho nền văn chương của nước nhà đến chỗ thịnh vượng và phong phú. MỘT VÀI Ư KIẾN Nhà văn phải biết quan sát cả bề ngoài bề trong nữa. Có nhiều nhà văn quan niệm người nghệ sĩ phải chơi bời, trụy lạc. . để tâm trí sáng suốt, sự thật chơi bời không cần cho nghệ thuật chút nào, kẻ không có tài dù chơi bời trụy lạc đến đâu không nảy nở ra tài được, có nhà văn tưởng phải đi nhiều, lăn lộn đó đây, sự thực không cần cuộc đời bao bọc quanh ta cũng cho ta thừa tài liệu. Nhiều nhà văn không dám nh́n vào sự thật. Họ sợ sự thật, tả cảnh bịa đặt, nhân vật có những khuôn sáo tâm lư, họ tránh nh́n cả tâm hồn của họ, nhà văn tả cái khổ của người nhà quê bị bóc lột, đè nén . . . . nhưng nhà văn không chú trọng ǵ tới ư nghĩ, tư tưởng của người nhà quê. Qua một loạt bài kể trên, chúng ta thấy Thạch Lam luôn luôn chú trọng đến sự mô tả nội tâm nhân vật, ông cho rằng dù tả về người nghèo, người sang, dân quê, dân tỉnh, người viết phải luôn lưu ư đến tâm trạng của nhân vật, phải nh́n vào sự thật. SỐ PHẬN CÁC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG Nhiều tác phẩm mới ra không bán được, nếu chúng là những tác phẩm giá trị có thể được hậu thế hoan nghênh, hậu thế sẽ đánh giá lại đúng mức. Nhiều tác phẩm giá trị, nhiều tác phẩm giá trị mới ra bị chỉ trích, độc giả lănh đạm. Các nhà phê b́nh có thể nhầm nhưng thời gian trôi qua, tác phẩm sẽ được đánh giá công bằng. Một người có thể nhầm, một thế hệ có thể nhầm, chứ nhân loại không thể nhầm được như AndréMaurois đă nói. Tuy đến lúc ấy th́ phần thường tác giả không c̣n sống nữa Nhận định của Thạch Lam có thể đúng với một số trường hợp thí dụ cuốn Moby Dick của Herman Melville, tác giả Mỹ viết 1851 măi đến 1920 mới được chú ư và cho đến 1940 người Mỹ mới công nhận ông có thiên tài, khi ấy trên thế giới cũng biết tiếng ông. Ngay chính Thạch Lam thập niên 30, 40 sách của ông bán rất chậm nhưng nay đă được độc giả và giới phê b́nh đánh giá lại. Bài này tác giả tŕnh bầy không được sáng sủa cho lắm, ông đưa nhiều dẫn chứng mơ hồ luộm thuộm làm cho người đọc rất bối rối. VÀI Ư NGHĨ VỀ SỰ ĐỌC SÁCH Đọc sách đối với chúng ta bây giờ là phương pháp hay nhất để hiểu biết thêm. Từ trước đến nay chúng ta bắt được cuốn nào th́ đọc cuốn nấy, nếu đọc có phương pháp sẽ lợi ích nhiều hơn. Nhiều nhà văn đọc sách rồi lấy ư của tác giả khác làm của ḿnh, đọc thế không có lợi ǵ. Phải đọc thế nào để sách chỉ dạy cho ta biết suy nghĩ và nhận xét cuộc đời, ta cảm thấy cái thú vô song khi thấy trong sách những điều mà ta đă băn khoăn trước đây. Ta luôn luôn tỏ ra một độc giả hoạt động nghĩa là không hoàn toàn bị động trước tác giả khác. Đọc sách vừa là cái ham thích, vừa là công việc ích lợi. Thạch Lam chủ trương đọc để tiếp thu những cái hay của tác giả khác nhưng vẫn giữ được độc lập của ḿnh. CẢM HỨNG VÀ LÀM VIỆC Nay có nhiều tác phẩm cẩu thả ra đời, không chịu gọt rũa sửa chữa ǵ cả. Tất cả những nhà văn thiên tài Tây phương đều đáng cho chúng ta bắt chước, họ làm việc ghê gớm, gọt rũa câu văn câu thơ của ḿnh: Flaubert đă viết đi viết lại Madame Bovary, Balzac cũng viết nhiều lần, sửa đi sử lại nhiều lần. . . Tolstoi sửa bản thảo có khi tới bẩy lần. Sự dễ dàng cẩu thả chẳng bao giờ làm nên một tác phẩm hay, Buffon nói “Thiên tài chỉ là một sự kiên nhẫn nhiều lần” . . Trong bài này Thạch Lam khuyên các nhà văn phải kiên nhẫn và cố gắng sửa chữa tác phẩm của ḿnh v́ nay có nhiều sáng tác rất cẩu thả. Theo ông có gọt rũa, sửa đi sửa lại như các nhà văn lớn mới mong thành công được. THEO GỈNG Nay sách xuất bản rất nhiều, thi phẩm ấn hành như bướm bướm, đáng phàn nàn là những văn phẩm ấy viết rất vội vàng cẩu thả. Những tác phẩm ra đời mỏng mảnh cả về h́nh thức lẫn tinh thần. Hiện nay chúng ta không có người viết cho trẻ em, nay không có tác phẩm của nữ lưu. Bài này chỉ là những ư nghĩ vụn vặt không mạch lạc, bố cục lỏng lẻo. SỰ SỐNG TRONG TIỂU THUYẾT Có văn phái cho tiểu thuyết phải giống cuộc đời, có phe cho tiểu thyuyết phải tạo ra những cái ǵ không có thực, có văn phái cho tiểu thuyết là câu chuyện tưởng tượng có đầu đuôi. Các nhà văn Pháp, Ư theo dịnh nghĩa chặt chẽ trên: tiểu thuyết có đầu đuôi hẳn hoi, thu hết tất cả về hai nhân vật chính. Tiểu thuyết Anh, Nga gồm nhiều nhân vật hiện ra với cái đời sống riêng của họ, tiểu thuyết Anh, Nga linh động như cuộc đời, các sự hoạt động của nhân vật khiến ta thấy rơ hoàn cảnh xă hội. Văn chương Anh, Nga gần sự thực, gần cuộc đời hơn các nền văn chương khác. Cũng giống như ở bài trên, bài này bố cục lỏng lẻo, ư nghĩa mơ hồ. CÂU CHUYỆN BÊN GỐC LIỄU Đây là một bài tùy bút hay và có ư nghĩa nhất trong toàn bộ cuốn Theo Gịng. Lúc ấy vào đầu mùa thu, trời không lạnh, tác giả và mấy người bạn đứng bên cây liễu trước nhà bên hồ Tây cạnh một bụi tre nhỏ. Tác giả nói khi ông nh́n cành tre gió thổi vút một chiều, ông cảm thấy một vang động âm thầm trong tâm hồn, trong tiếng sào sạc của lá tre . . chúng ta được nghe những lời nói của tâm hồn ấy. Chúng ta vẫn vui mừng những cái đă làm cho ông cha ta vui, đau khổ những cái ǵ cha ông ta đă xót xa, có lần đi thăm chùa Hương Tích lần đầu tác giả tưởng nh́n lại cảnh cũ quen thuộc từ lâu. . trong tâm hồn ta bao nhiêu mầm giống các t́nh cảm phức tạp của loài người. . .đó là thiên năng. Tâm hồn nghệ sĩ chung đúc bao nhiêu tâm hồn trước, đúc bằng bao nhiêu nước mắt và nụ cười, tâm hồn nghệ sĩ phức tạp và phong phú đủ mầu sắc và mầm non của t́nh cảm con người. Nghệ sĩ có tâm hồn người lành, người ác, hiền nhân, tiểu nhân, tâm hồn ông thánh , thằng ăn trộm . . người ta thường hiểu sai: tâm hồn nghệ sĩ là một tâm hồn trong sạch, cao thượng, đó chỉ là người quân tử chứ không phải người nghệ sĩ, người nghệ sĩ tả cành tre bằng những nét có linh hồn. Có hai lối quan sát: bề ngoài và bề trong. Trông bề ngoài chỉ thấy trạng thái sự vật một cảnh tượng không có ánh sáng bên trong soi tỏ, giảng giải và làm thành rộng răi. Phái tả chân chỉ diễn tả được cái ǵ họ thấy, chỉ tạo được những nhân vật máy không có con mắt của linh hồn th́ bao giờ soi thấu cái bí mật của tâm lư. Nghệ sĩ là sản xuất của bao nhiêu thế hệ, là những cái sinh sản bất ngờ, những cái đột nhiên kỳ dị của vũ trụ. Theo Thạch Lam, tâm hồn người nghệ sĩ đứng trước cây đào trổ hoa rực rỡ, một cành tre trước gió phải thấy được cả những tâm hồn của cây cỏ rung động. Hoa mai nở trong làn sương, cỏ non nghiêng trước gió xuân, chúng ta cảm thấy linh hồn của hoa cỏ ấy một cách đầy đủ và gần gũi hơn chúng ta cảm thông linh hồn một người bạn. Tâm hồn người nghệ sĩ là sự chung đúc của bao tâm hồn trước, đây là sự khai triển những ư tưởng mà tác giả đă diễn tả trong các bài trước đây, Thạch Lam nói người nghệ sĩ phải nh́n thấu tâm trạng của con người, của cuộc đời và ngay cả cành tre, hoa, cỏ . . .người nghệ sĩ khác người ở chỗ nh́n thấu được cả tâm hồn của cành tre, cây liễu. Khi thấy các lá tre gió thổi vút một chiều, tôi cảm thấy một vang động âm thầm và kín đáo trong tâm hồn. H́nh như có một cảm giác ǵ thanh thoát và lạnh lẽo, một cái ǵ vừa cứng cỏi lại vừa chua sót, vừa tha thiết lại vừa lănh đạm như tâm hồn một nhà ẩn dật thời xưa chán những điều thế tục, dấu cái tài năng không được ai biết trong rừng núi. . . . . tre cũng như thông được người xưa lấy làm biểu hiệu của người thanh cao, danh lợi không phàm, và trong ngọn gió đầu sương vẫn giữ được tâm hồn ngay thẳng Theo Gịng của Thạch Lam gồm mười bẩy bài nghị luận, nhận định về văn chương được coi như cuốn lư luận văn học duy nhất của Tự Lực văn đoàn, ông Vũ Ngọc Phan trong Nhà Văn Hiện Đại đă đánh giá nó rất thấp như sau. C̣n quyển Theo Gịng của ông, tức là quyển b́nh luận về văn chương, là một quyển mà ư tưởng rất là rời rạc, tan tác như bèo trôi, “ḍng tư tưởng cần phải có chút liên lạc hơn nữa” C̣n Đinh Hùng, năm 1965 lại ca ngợi hết lời như sau. Đó là những bài khảo luận nho nhỏ. . . viết bởi một ư thức sáng sủa, một giọng văn đơn sơ, dễ hiểu mà vẫn có những cảm nghĩ thâm trầm sâu sắc. . . bởi một ng̣i bút đứng đắn mà vẫn giản dị, nhũn nhặn,không ḷe đời, không thích đưa ra những vấn đề có vẻ uyên bác, không bao giờ dùng những danh từ đao to búa lớn để thiên hạ phải nghĩ rằng ḿnh thông thái T́m Hiểu Thạch Lam Thêm Một Vài Khía Cạnh (Tạp Chí Văn Sài G̣n 1965) Các nhà phê b́nh trong nước có khuynh hướng ca ngợi tập tiểu luận này rất nhiều. Theo tôi nghĩ đúng như Thạch Lam dùng cái tiêu đề có vẻ khiêm tốn Vài Ư Nghĩ Văn Chương, đây chỉ là một tập hợp của những ư kiến, nhận định. . về văn chương, tiểu thuyết không sâu sắc và sáng sủa cho lắm, giá trị toàn bộ trên trung b́nh. Nh́n toàn bộ cuốn sách tôi thấy nó thiếu một tinh thần nhất quán, nhiều bài được diễn tả một cách mơ hồ, rời rạc thí dụ như trong bài Sự Sống Trong Tiểu Thuyết Thạch Lam kết luận như thế này. Nghệ thuật và văn chương, muốn tiến hoá măi măi, lúc nào cũng tươi thắm và mạnh mẽ không sợ khô héo hay cằn cỗi, bao giờ cũng phải đi theo, bao quát cố vượt lên trên cái sống tiềm tàng và ngấm ngầm trong tâm hồn người cũng như trong vũ trụ. Giọng văn ấy không đơn sơ, dễ hiểu, giản dị, nhũn nhặn, không ḷe đời. . . như ông Đinh Hùng nhận định. Nh́n toàn bộ bẩy bài nhận định tôi nhận thấy tác giả quá chú trọng vào việc t́m hiểu bên trong, mô tả trạng thái tâm hồn của con người, đa số các bài nhấn mạnh vào sự thực, không sợ sự thực, như tả một người nhà quê phải thể hiện diễn tả được một cách trung thực tư tưởng, tâm trạng của người nhà quê có nghĩa là phải sống theo sát người dân quê mới diễn tả hiện thực được. Nếu tôi không lầm th́ tác giả cho sự hiện thực và việc mô tả tâm lư là tiêu chuẩn duy nhất của nghệ thuật, cốt truyện, ư nghĩa, chủ đề. . của tác phẩm đều không có ǵ đáng nói. Trong bài nói về những người đọc tiểu thuyết Thạch Lam chia ra làm hai hạng: hạng chỉ chú trọng về cốt truyện và hạng không cần biết cốt truyện chỉ chú ư đến tâm lư nhân vật. Những người này không bao giờ cần biết cốt truyện về sau ra làm sao. Tiểu thuyết có cốt truyện ly kỳ và rắc rối chỉ khiến họ bực ḿnh v́ không được biết rơ tâm hồn các nhân vật.. . .Họ cốt chú ư đến cách diễn tả tâm lư của tác giả có đúng hay không, hời hợt hay sâu sắc Nếu nhận định của ông đúng th́ tiêu chuẩn nghệ thuật của văn chương quá đơn giản và cuối cùng chỉ có tiểu thuyết hiện thực và tiểu thuyết tâm lư là có giá trị và đáng được đề cao. Trên thực tế nhận định của Thạch Lam có thể hiện được trọn vẹn cái hay của văn chương không? Trên thực tế tiêu chuẩn nghệ thuật của văn chương rất phức tạp chứ không đơn giản như ông nói: Theo tôi biết có trên tám mươi phần trăm độc giả chú trọng vào cốt truyện và những cuốn tiểu thuyết được coi như những tác phẩm vượt thời gian, không gian phần nhiều có cốt truyện hay đủ khả năng, nếu không nói là thừa để lôi cuốn người đọc như Thủy Hử, Giờ Thứ Hai Mươi Năm, Hồn Bướm Mơ Tiên chẳng hạn. Những tác phẩm có giá trị về lịch sử như Tam Quốc Chí, Chiến Tranh Và Ḥa B́nh, Cuốn Theo Chiều Gió, Sông Don Thanh B́nh (Sholokhov) đă diễn tả một cách tuyệt diệu cuộc chiến giành độc lập của dân Cosaques vùng sông Don hoặc Gịng Sông Thanh Thủy của Nhất Linh, một tài liệu lịch sử có giá trị về giai đoạn khởi đầu của cuộc chiến tranh Quốc Cộng. Nhiều tác phẩm có giá trị về xă hội như Godfather của Mario Puzo diễn tả cái thế giới xă hội đen rùng rợn gớm ghiếc mà ít người biết tới. Có những tác phẩm đầy chất thơ, thi vị như Vang Bóng Một Thời của Nguyễn Tuân hay Đôi Bạn của Nhất Linh. . . Những truyện hay có ư nghĩa, có luận đề như Lăo Ngư Ông Và Biển Cả thể hiện cái triết lư phấn đấu với định mệnh đến cùng của Hemingway. Và c̣n nhiều tiêu chuẩn khác nữa. . . tiêu chuẩn nghệ thuật văn chương hoặc cái hay của văn chương rất phức tạp, nhiêu khê chứ không đơn giản như Thạch Lam nghĩ. Ông nói văn chương Nga, Anh gần với cuộc đời, gần với sự thực hơn Pháp nhưng không thấy ông trích dẫn những tác giả nào, cuốn truyện nào gần với cuộc đời, những tác phẩm nào duy lư mà không thực. Trang 71 Thạch Lam viết: Giờ tôi nói đến Dostoievsky, nhà viết tiểu thuyết, có giá trị nhất thế kỷ và trên hoàn cầu. Nhận xét trên đây cho thấy Thạch Lam là nhà phê b́nh rất chủ quan, ông đề cao Dostoievsky v́ nhà văn hào này là một bậc sư về tả hướng nội, người mà ông cảm phục nhất nhưng lại ít độc giả tán thưởng, nhiều người đọc nửa chừng rồi bỏ dở, không hiểu ông ấy nói cái ǵ. Tôi đă can đảm đọc hết các tác phẩm tiêu biểu của ông (Les Frère Karamazov, Crime et Chatiment, L’idot. . ) vài lần để cố t́m cái hay của nó, tôi công nhận ông có những nét độc đáo khác thường, ông thành công ở truyện vừa vừa (không dài không ngắn) nhiều hơn truyện dài, ông đưa ra những chủ đề to tát vĩ đại. . song tác phẩm của ông cũng c̣n quá nhiều khiết điểm, dài ḍng thừa thăi. . người ta có cảm tưởng ông viết feuilleton đăng báo, không sửa chữa bản thảo ǵ mấy. . độc giả nhiều người than phiền đọc vỡ đầu mà không hiểu ông nói cái ǵ. Không riêng ǵ Thạch Lam, nhiều nhà phê b́nh cũng ca ngợi Dostoievsky không tiếc lời, họ ca ngợi ông như một triết gia, nhà tâm lư học sâu sắc. . . . nhưng nhà phê b́nh ca ngợi th́ nhiều, độc giả lại ít, có một số thực sự hâm mộ nhà văn hào này, nhiều người thấy thiên hạ khen hay cũng hùa theo khen hay chứ thực ra chẳng biết nó hay chỗ nào. Chính v́ Thạch Lam chú trọng quá nhiều vào tâm lư nhân vật coi thường cốt truyện mà tác phẩm của ông hồi ấy bán rất chậm, trong khi truyện của Khái Hưng, Nhất Linh như Hồn Bướm Mơ Tiên, Nửa Chừng Xuân, Đoạn Tuyệt . . bán chạy như tôm tươi, một năm in tới bốn mươi, năm mươi ngàn bản. Nhưng dù sao đối với thời ấy Theo Gịng đă có một giá trị nhất định của nó và cũng đă đóng góp vào việc giúp cho người đọc hiểu biết thêm về văn chương và tiểu thuyết. Trọng Đạt |