Tháng mười năm 2005 tôi đang khá bận rộn trong việc dọn nhà qua một pḥng
ở một dăy chung cư gần đấy. Tôi vừa bán căn nhà ở trong hai mươi tám năm,
chuẩn bị di chuyển về California, để về hưu nghỉ ngơi, sau hơn ba chục năm
đi làm, từ khi chạy qua Mỹ, sau ngày 30 tháng tư, 1975 đau buồn lịch sử
Việt Nam.
Hôm đó một ngày đầu thu, tiết tháng
mười ở vùng Trung Tây Hoa kỳ, tiểu bang Oklahoma, thành phố Tulsa. Trời đă
khá mát mẻ. Những ngày nóng bức, oi nồng đă qua. Những ngày nắng nóng hừng
hực, nhiệt độ bên ngoài trời nhiều khi lên trên một trăm độ F, trong cái
độ nóng (heat index) trên một trăm hai chục độ là chuyện thường t́nh.
Căn nhà đă có chủ mới trả giá mua,
thủ tục đi vay tiền của ông ta đang xúc tiến nhanh chóng. Có lẽ chỉ khoảng
bốn tuần lễ nữa, chúng tôi phải dọn ra, giao nhà trong t́nh trạng sạch sẽ
ngăn nắp cho chủ mới.
Việc dọn dẹp cũng đă gần xong. Những thùng
sách vở chất chứa trong ba chục năm không ngờ nhiều đến thế. Ngoài một số
lớn tôi gởi bằng bưu điện qua California trước, số c̣n lai tôi đă đành
ḷng mang đi biếu bạn bè thân, những người yêu sách vở, say mê đọc. Tôi
cũng mang một số lớn khác, sách báo, chữ Việt, chữ Anh, đến tặng các thư
viện cộng đồng, nơi có nhiều cư dân Việt Nam cư ngụ. Mấy ông bà quản thủ
thư viện người Mỹ này, lúc đầu có vẻ do dự, không biết trong số người đến
đọc sách tại các thư viện này, có bao nhiêu là cư dân gốc Việt, c̣n đọc
được tiếng Việt? Sau một hồi chờ đợi để các vị này gọi điện thoại hỏi ư
kiến, có lẽ người có thẩm quyền cao cấp hơn, để quyết định. Bỏ ống nói
xuống, ông bà ta nở một nụ cười đón nhận. Tôi, một người mang những tác
phẩm tiếng Việt đi tặng cũng mừng thầm, sách vở ḿnh nâng niu bấy lâu, nay
có chủ mới, được sắp xếp vào những ngăn trên thư viện, và nó sẽ đến tay
người đọc tiếng Việt nào đó trong tương lai. Tôi mừng v́ không nở phải vất
bỏ đi như những vật phế thải, không giá trị.
Tôi ngồi nghỉ ngơi sau vài chuyến chuyển đồ
đạt qua nơi cư ngụ mới, trên thềm hiên nhà. Nh́n căn nhà trống trăi gây
cho tôi cảm thấy bùi ngùi. Gần ba chục năm ra vào, nay phải rời xa nó. Nơi
đây ba đứa con tôi, hai trai, một gái, trong tháng bảy năm 75, từ trại tỵ
nạn Fort Chafee mới đến một vùng đất mới, xứ của người Da Đỏ ngày xưa. Hồi
đó, con trai lớn nhất mới tám tuổi, con gái kế sáu tuổi và cậu út mới hơn
ba tuổi rưởi. Ba mươi năm trôi qua thật nhanh, ba đứa con nay đă thành
đạt, thủ đắc kiến thức nhà trường để ra đời, bắt đầu cho những gia đ́nh
riêng bé nhỏ của chúng và chúng tôi có một cháu nội gái, lên hai và trong
gia đ́nh c̣n lại bây giờ chỉ có hai vợ chồng già hủ hỉ bên nhau.
Vài cơn gió mát thổi mơn trớn trên
khuôn mặt đă khô mồ hôi của tôi. Gió vẫn ŕ rào qua hàng cây trước sân lẫn
tiếng chim nhảy nhót, ca hát trong một buổi trưa êm ả. Tiếng chó nhà bên
hàng xóm sủa vang từ chiếc chuồng trong nhà của người láng giềng bên phải,
làm tôi giật ḿnh, ngẩn nh́n về bóng người đi đến. Ông đưa thư đi giao thư
hằng ngày. Tôi đứng lên chào ông ta và đưa tay nhận gói sách báo ông giao,
nói lời cám ơn. Ông răo bước qua nhà bên cạnh.
Có vài ba cái thư, có lẽ đều là những
thư chứa các hóa đơn diện, nước, rác trong tháng. Có một phong b́ màu
vàng, có lẽ một cuốn sách hay một tờ báo nho nhỏ. Tôi vội mở ra. À, cuốn
Thơ Lan Đàm của người bạn, anh Lan Đàm bên California gởi tặng, với hàng
chữ ghi: “Bản tặng XĐ. Lan Đàm Sept.2005” và một dấu triện son thật đep
của tác giả.
Cả tháng nay tôi đă tháo máy
computer, bỏ vào thùng, chuyển qua nhà mới, bận quá, vẫn c̣n để trong
thùng đó, chưa đem ra, lắp vào mạch điện, liên lạc với bạn bè khắp năm
châu bốn biển qua hệ thống mạng lưới internet và điện thư, email. Mới một
tháng mà như vắng bóng bạn bè lâu lắm, nay cầm cuốn thơ của Lan Đàm gởi
tặng, như đánh thức nỗi nhớ sách vở, đọc hằng ngày trên mạng lưới, trong
tôi.
Cuốn thơ nho nhỏ, xinh xắn, khoảng
một trăm trang. Tôi lật vội vài trang, chọn một bài như “bói Kiều”, gặp
“Bài Trương Quỳnh Như”, một bài thơ lục bát: Ta c̣n rượu, chỉ vắng ngươi
Bài thơ họa dở, t́nh ơi sao buồn
Mối t́nh Trương Quỳnh Như- Tiêu Sơn,
một huyền thoại văn học, t́nh sử buồn nhưng tuyệt đẹp từ ngàn xưa, Khái
Hưng đă viết cuốn tiểu thuyết bất hủ Tiêu Sơn Tráng Sĩ, làm say mê một
thời thanh thiếu niên Việt Nam. Nay Lan Đàm nhắc đến, khơi lại ḍng thi
hứng, đưa vào thể thơ lục bát Việt Nam, thật đẹp, thật thiết tha: Kinh kỳ lạnh những hoàng hôn
Lối quen, lầu cũ bước dồn sợ đau
Tiêu Sơn cách mấy giang đầu
Xa thêm, người đă thay màu áo xưa
Khuê pḥng trằn trọc tiểu thư
Rừng hoang, cổ tự, thiền sư ngậm ngùi
Nến hồng lửa ngọn chẳng vui
Vườn khuya trăng cũng ngủ vùi trong mây
Sương đêm mờ mịt sông đầy
Vạc kêu, ta nhớ vừa say, một ḿnh.
Ḍng thơ lục bát đẹp quá, buồn buồn,
lăng đăng trong không gian nhớ nhung, làm tôi thích thú.Tôi tiếp tục dỡ
thêm các trang thơ khác, phần nhiều trong thể lục bát nhẹ nhàng, trử t́nh,
êm diu.
Vào phần 2 cuốn thơ: Đường Thi
Phóng Dịch, tôi ngạc nhiên đến đến cười lên khúc khích. Lan Đàm đă
phóng dịch các bài thơ trứ danh, bất hủ Đường Thi qua thể Lục Bát đặc biệt
Việt Nam của các nhà thơ tài danh Trung Hoa thời thịnh Đường trên cả ngàn
năm, trong văn học Trung Hoa. Từ Lư Bạch qua Thôi Hiệu, Bạch Cư Dị, Thôi
Hộ, Trương Kế, Vương Duy...
Đây là những bài thơ, những tác giả
mà bất cứ người yêu thơ nào, dù có làm thơ hay không, đă một lần đọc đến,
đều yêu thích.
Đọc bài thơ Đỗ Mục, “Bạc Tần Hoài”,
(Đêm Ghé Bến Tần Hoài), hai câu thơ cuối:
Thương nữ bất tri vong quốc hận
Cách giang do xướng Hậu Đ́nh Hoa
Hai câu thơ quen thuộc quá, tôi nghĩ
ngay đến câu quen thuộc, nghe hoài, như “Quốc Gia hưng vong, thất phu hữu
trách”, những câu thơ, câu cách ngôn gần nhau giữa Trung Hoa và Việt Nam,
cùng chung những tư duy văn hóa. Lan Đàm phóng dịch thật hay: Gái buôn quên chuyện tan nhà
Bờ xa đua hát khúc Hoa Sau Vườn.
Tôi tiếp tục dỡ các trang thơ kế
tiếp, đọc bài “Lương Châu Từ” (Khúc Hát Lương Châu) của Vương Hàn, một bài
thơ tứ tuyệt mà hầu như nhiều người thuộc nằm ḷng từ thời trên ghế trung
học:
Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mă thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.
Nhất là câu cuối cùng “Cổ lai chinh
chiến kỷ nhân hồi” (Xưa nay chinh chiến mấy ai trở về), như một lời trối
trăn của những người trai trẻ trong thời loạn ly, khoát lên ḿnh tấm áo
chiến binh, xông pha ra trận tiền, trước ḥn tên, mũi đạn, không hẹn một
ngày về. Lan Đàm tái sáng tạo qua ngôn ngữ lục bát Việt: Rượu đào đầy chén dạ quang
Thèm say, đàn dục lên đàng đi thôi
Sa trường túy lúy ai cười
Xưa nay chinh chiến mấy người hồi hương
Đọc qua Lư Bạch, bài "Tĩnh Dạ Tứ"
(Ư Nghĩ Trong Đêm Lặng ), một bài thơ cổ h́nh như quá gần gũi với mọi
người, như một tiếng thở dài:
Sàng tiền khán nguyệt quang
Nghi thị địa thượng sương
Cử đầu vọng minh nguyệt
Đê đầu tư cố hương.
Lan Đàm chuyển qua Việt ngữ như đồng
sáng tạo nỗi niềm thương nhớ cố hương của kẻ bị lưu đày ngày nay : Trước giường trăng sáng như
gương
Tưởng đâu mù mịt hơi sương xứ người
Ngẩng nh́n vằng vặc giữa trời
Cúi đầu nhớ cố hương vời vợi xa.
Trương Kế trong bài thơ mang nhiều
giai thoại văn chương, "Phong Kiều Dạ bạc", (Đêm Ghé Bến Phong Kiều) :
Nguyệt lạc ô đề sương măn thiên
Giang phong ngự hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
Lan Đàm Việt hóa: Quạ kêu, trăng úa, sương mờ
Bờ phong hiu hắt, lửa đ̣ sầu lay
Thành xa, chùa ẩn đêm dầy
Nửa khuya chuông điểm, khoang đầy vọng âm.
Đọc tiếp bài thơ “Đề Tích Sở Kiến Xứ”
của Thôi Hộ, (“Đề Nơi Gặp Gỡ Lần Trước”):
Khứ niên kim nhật thử môn trung
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong.
Lan Đàm làm sống lại ư thơ người cũ: Năm qua cửa cũ ngày này
Má người đua sắc hoa hây hây hồng
Người giờ biết nẻo nào trông
Hoa như xưa vẫn gió đông cợt đùa.
Thôi Hộ, người thơ xưa, Lan Đàm, người thơ
nay, kẻ đọc thơ xưa và nay, đều cùng thở dài, nhớ người đẹp một thời, má
ửng hồn như cánh hoa anh đào bừng nở đón xuân. Nay người xưa có c̣n trên
cơi đời này, “hoa đào năm ngoái c̣n chào gió đông”?
* * *
Thi ca Việt từ ngàn xưa đă ngưởng mộ và chịu ảnh hưởng khá mạnh mẽ vào nền
văn thơ Trung Hoa và sau này từ thế kỷ 19, khi tiếp xúc với tây phương,
chịu ảnh hưởng thêm, sâu đậm nền văn thơ Pháp. Đây cũng là điều nghich lư
và đau ḷng, trong lịch sử và t́nh tự dân tộc, Trung Hoa và Pháp là hai
nước đă để lại nhiều nỗi oan khiên, khổ đau cho dân tộc và đất nước Việt
Nam qua thời gian đô hộ với chính sách cai trị và bóc lột tàn khốc của họ.
Trung Hoa đă đô hộ nước ta ba lần, gần một ngàn năm và Pháp xâm chiếm,
khai thác, dày xéo đất nước Việt Nam trong gần một trăm năm.
Nhưng cuộc đời và hạnh phúc con người là
một chuổi lẫn lộn giữa khổ đau và hạnh phúc, giữa tiêu cực và tích cực.
Nền văn thơ cũng vậy, phản ảnh cuộc đời, giữ lại cái đẹp trong văn chương,
quên đi những điều bất hạnh.
Những vần thơ dịch lục bát của Lan
Đàm như một thể hiện Việt hóa những cảm xúc tự ngàn xưa qua rung động thi
vị rất Việt Nam ngày nay của một tâm hồn ḥa nhập vào cái đẹp của nhân
loại.
Trong thi ca Việt Nam, thể loại thơ
lục bát mang trọn vẹn nét đẹp hiền ḥa, thơ mộng nhưng cũng đầy ư chí độc
lập,của một dân tộc. Các nhà thơ nổi danh của Việt Nam như Nguyễn Du,
Nguyễn Bính, Huy Cận, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Tất Nhiên vv... đă xử dụng
nhuần nguyễn, biến hóa khôn lường ngôn ngữ Việt trong thể thơ lục bát Thể
thơ lục bát cũng c̣n là hơi thở dân gian, qua các câu ḥ, câu vè, câu cách
ngôn mang nhiều ẩn dụ văn chương, lịch sử, luân thường, đạo lư.
Một thể thơ mang tính đại chúng như
vậy, nên đại đa số người làm thơ, từ các nhà thơ thành danh đến những
người vừa tập tểnh bước vào con đường thi ca, đều xử dụng đến. Biên giới
ngôn ngữ thơ, giữa tài hoa và “chập chững, vụng về” chỉ xê xích nhau trong
đường tơ, kẻ tóc và tùy thuộc sự cảm nhận của người đọc thơ, người thưởng
ngoạn.
Lan Đàm trên nửa thế kỷ âm thầm trong
vườn thơ, ghi lại cảm xúc của ḿnh về các vấn nạn nhân sinh, đă xử dụng
thể lục bát thật nhuần nhuyễn, làm mới ư thơ, ngôn ngữ và cấu trúc bài
thơ, tạo cho người đọc một cảm giác xao xuyến, lâng lâng, chia xẻ với tác
giả.
Có một lần, tôi không nhớ rơ, tôi đọc trên
báo Thời Luận của anh Đỗ Tiến Đức, hay trên trang nhà Quốc Gia Hành Chánh,
một bài thơ lục bát, nhan đề “Tháng Giêng, Nhớ Long Ân”, một người bạn của
anh mà tôi mới gặp một lần, nhưng để lại nhiều ấn tượng đáng mến. Anh Long
Ân đă qua đời, Lan Đàm nhớ về bạn, trong hai bài lục bát thật xót xa. Bài
Hội Hữu và bài Tháng Giêng, Nhớ Long Ân: Một ly rượu đỏ đủ say,
Dăm câu thơ cổ đủ ngày dài thêm
Cội mai vàng rực bên thềm,
Ừ, quên mời bạn cỏ mềm tương tư.
(Hội Hữu) Th́ thôi, rượu cạn b́nh không
C̣n chi để rót cho ḍng sông xưa.
Tóc tiên vườn cũ ơ thờ
Trà quên lưu khách, thu vừa tàn phai.
Th́ thôi, im ngủ sông dài
Nửa chai, chắc đủ gởi người chút ta.
Chiều hội hữu, khói hương pha,
Lạnh cà phê đắng, vàng hoa mộ phần
Th́ thôi, đời vẫn phù vân
Cây ngô đồng đă mấy lần lá rơi.
Cơn say thiên cổ xa rồi
Hóa thân người, vạt nước trôi lạnh lùng
(Tháng Giêng, Nhớ Long Ân).
Hai bài bài thơ hài ḥa, đẹp như một
bức thảm lụa đầy nhớ nhung, nhắc đến Long Ân, người bạn chí thân của anh,
nhà thơ tài hoa mệnh bạc, đă in cuốn thơ “Rót Rượu Cho Ḍng Sông”, năm
2003.
Thơ lục bát Lan Đàm thật đẹp. Gập tập
Thơ Lan Đàm, tôi vẫn c̣n bồi hồi./.