|
NGHỆ THUẬT CHIẾN DỊCH & CUỘC TỔNG TẤN CÔNG
CỦA CS TRONG MÙA HÈ NĂM 1972
NGHỆ THUẬT CHIẾN DỊCH?
Chiến
tranh tại Âu châu thời Nă-Phá-Luân với qui
mô về động viên nhân lực cùng với các phát
triển kỹ thuật, cải tổ hành chánh, chính trị,
kinh tế vào cuối thế kỷ 19 đă khiến các binh
thuyết gia như Clausewitz, de Jomini phải
thẩm định lại các phương thức tác chiến cổ
điển. Cả hai đều chú ư đến phương cách làm
thế nào để một lực lượng quân sự đạt được
những mục tiêu chính trị. Phương cách vừa
nói chính là chiến lược. Một khi hai đạo
quân đối đầu nhau, chiến thuật sẽ quyết định
sự thắng bại.
Chỉ sau chiến tranh thế giới lần thứ I
, người ta mới quan sát
được hai điểm quan trọng :
·
Quân đội tham chiến
có tầm mức lớn hơn nhiều so với
các cuộc chiến tranh trước đó. Trong chiến
tranh thời Nă-Phá-Luân chỉ khoảng 140.000
quân đă tăng đến hơn 3 triệu người trong thế
chiến. Năm 1914, lúc mới bắt đầu chiến tranh,
một BTL chỉ điều động cấp quân đoàn, khoảng
30.000 quân. Sau đó quân đội bành trướng,
tập đoàn quân và phương diện quân được thành
lập. Đại đơn vị nhỏ nhất lúc bấy giờ là sư
đoàn với quân số hơn 12.000 người (A1).
· Các
trận đánh lớn không giải quyết được chiến
tranh. Trận Waterloo chỉ xảy ra
trong một ngày nhưng có đến 45.000 binh sĩ
bị thương vong. Chiến dịch phản công tại
Somme kéo dài trong 5 tháng với số thương
vong là 1.265.000 người. Ngày 18/6/1815,
Wellington chỉ có trong tay 156 khẩu pháo
binh và chỉ tác xạ khoảng vài ngàn đạn khi
đối đầu với Nă-Phá-Luân. Đến thế chiến I,
1400 khẩu pháo binh của Tướng Haig đă bắn
gần 2 triệu đạn chỉ trong một tuần trước
ngày tấn công 1/7/1916. Khu chiến chỉ rộng
khoảng vài dặm vuông lúc ban đầu đă biến
thành chiến trường nhiều dặm về bề rộng cũng
như về chiều sâu. Tuy nhiên Đức, đế quốc Áo-Hung
và đế quốc Ottoman vẫn thành công trong thế
thủ. Cuộc cách mạng công nghiệp tại Âu châu
với những vũ khí tối tân, được sản xuất hàng
loạt vẫn không phải là điều kiện tiên quyết
để chiến thắng (A2). Các trận đánh không là
phương tiện để đạt được các mục tiêu chiến
lược, hay nói một cách khác đi là có một kẽ
hở giữa chiến thuật và chiến lược.
Chiến tranh thế giới lần thứ I và cuộc nội
chiến Nga đă khiến các cấp chỉ huy quân sự
đi t́m một giải pháp để lấp khoảng trống vừa
nói trên. Do diện tích khá rộng, quân đội
Nga lại có giới hạn, kết quả là một trận
đánh không thể nào giải quyết được chiến
tranh. Ngoài ra sự thất bại khi không chọc
thủng được pḥng tuyến của địch đưa đến
chiến tranh hao ṃn và kéo dài trong chiến
tranh thế giới lần thứ I đă khiến hồng quân
Nga t́m ra NTCD, được họ gọi là
оперативное искусство
hay operativnoe iskusstvo. NTCD đă
được hệ thống hóa bởi các binh thuyết gia
Nga như S Kamenev, G Isserson, P Varfolomeev,
A Svechin,
V Triandafilov và M Tukhachevsky trong hai
thập niên 20 và 30 của thế kỷ 20 (A3). Các
nước phương Tây mà điển h́nh là quân đội Mỹ
chỉ mới chú trọng đến NTCD từ giữa thập niên
80. Năm 1986, BTL huấn luyện và học thuyết (TRADOC)
của lục quân Mỹ mới bắt đầu nghiên cứu NTCD
(A4).
Pháp và các nước khác thuộc khối Minh ước
Bắc Đại Tây Dương (NATO) cũng tuần tự áp
dụng NTCD khi tổ chức hành quân (A5). Sau
khi Nam-Tư Lạp-Phu bị sụp đổ và nước Đức
thống nhất trong thập niên 90, quân đội Đức
(Bundeswehr) mới chú trọng trở lại NTCD, đă
được quân đội phát xít Đức (Wehrmacht) sử
dụng rất hiệu quả trong chiến tranh thế giới
lần thứ II. Năm 2001, một BTL chiến dịch
được thiết lập tại Potsdam gần Bá Linh (A6).
Cần biết thêm rằng, NTCD đă được quân đội
Đức sử dụng dưới tên chiến tranh chớp nhoáng
(Blitzkrieg) rất thành công trong hai
năm 1939-1940. Quân đội Ba Lan bị đánh tan
trong ṿng không đến một tháng. Đan Mạch và
Na Uy trong 2 tháng, Ḥa Lan bị chiếm đóng
trong ṿng có 5 ngày, Bỉ phải đầu hàng sau
17 ngày, Nam-Tư Lạp-Phu trong 11 ngày, Hy
Lạp trong ba tuần, Pháp lâu hơn nhưng cũng
không cầm cự được hơn 6 tuần và quân đội Anh
phải rút chạy khỏi lục địa Âu châu (A7).
Nguyên tắc căn bản của NTCD lúc bấy giờ là
phối hợp chiến xa, bộ binh cơ giới và yểm
trợ tiếp cận của không quân (A8). Di
động tính và yếu tố bất ngờ được khai thác
hơn là chỉ dựa vào hỏa lực; với mục đích
thọc sâu, chọc thủng hệ thống pḥng thủ của
đối phương (A9).
Đoạn hồi kư của một sĩ quan cao cấp chỉ huy
cánh quân CS tấn công vào hướng đông Sài G̣n
năm 1975 cho thấy chiến thuật mà họ đă áp
dụng (A10) :
“Anh
nói - Chiến dịch Hồ Chí Minh ta đánh địch có
pḥng ngự, nhưng trong thế chúng đang tan vỡ
về chiến lược. Ta đột phá tuyến pḥng ngự từ
xa, kết hợp vu hồi, h́nh thành bao vây,
trọng điểm là thủ đô ngụy quyền, rồi kết hợp
đột phá tiêu diệt quân địch pḥng ngự với
thọc sâu, lấy thọc sâu là chính, đánh chiếm
những mục tiêu then chốt để dứt điểm toàn bộ”.
Phương pháp bao vây chia cắt cũng đă được
tài liệu của CS phân tích như sau (A11) :
“Tích cực thực hiện chia cắt chiến lược,
chiến dịch trên phạm vi lớn và nhỏ, cắt
đường bộ, đường sông, khống chế hải cảng,
sân bay, đường biển, đường không, h́nh thành
thế bao vây chiến dịch và chiến lược.
Trong chiến dịch Tây Nguyên, ta đă sử dụng
một lực lượng tương đối lớn để cắt giao
thông, chặn đường rút lui h́nh thành thế bao
vây chia cắt cả về chiến dịch và chiến lược
rồi mới mở cuộc tấn công chính. Giải phóng
Tây Nguyên và phát triển xuống đồng bằng Khu
5, ta đă thực hiện chia cắt lớn về chiến
lược. Trong chiến dịch Huế - Đà Nẵng cũng
như trong chiến dịch Hồ Chí Minh, việc đánh
chiếm, phong tỏa các cảng Tân Mỹ, Thuận An,
Sơn Trà, sông Ḷng Tàu; việc khống chế các
sân bay, bến cảng của địch, việc cắt các
đường giao thông huyết mạch như đường 1 và
đường 4 đă chia cắt địch thành từng bộ phận,
làm cho chúng hết đường tăng viện, rút chạy,
ư chí giảm sút đă góp phần quan trọng vào
việc triệt để tiêu diệt quân địch”.
Công điện mật của Đại tướng Vơ Nguyên Giáp
gửi BTL đoàn 559, Tiền phương 559, các sư
đoàn, các đoàn binh khí kỹ thuật, quân đoàn
1, quân đoàn 2 và Trung tướng Lê Trọng Tấn
được gửi đi vào lúc 9 giờ sáng ngày 7/4/1975
có nội dung như sau (A12) :
“Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo
bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ từng phút,
xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết
chiến và toàn thắng”.
Những chi tiết vừa nêu trên cho thấy không
có ǵ quá bí mật về phương cách tác chiến
trong NTCD. Quân đội CSBV áp dụng cách đánh
thọc sâu và bao vây chia cắt của Nga,
với một chi tiết sửa đổi nhỏ. Cách sử dụng
chiến xa trong binh pháp Nga cho phép chiến
xa khai thác cơ hội tại chỗ, không phải chờ
đợi bộ binh tùng thiết (A13). Áp dụng một
cách máy móc binh pháp của Nga trong mùa hè
đỏ lửa năm 1972 đă cho các cấp chỉ huy của
quân đội CSBV thấy rằng làm như vậy sẽ bị
thiệt hại nặng nề nên năm 1975, xe tăng luôn
luôn tiến cùng một lúc với bộ binh nhưng lúc
nào cũng nơm nớp lo sợ sự trở lại của không
quân Mỹ (A14).
Ngày hôm nay, do địa thế cũng như tầm mức
tham dự của nhiều quốc gia, NTCD được các
nước phương Tây áp dụng với cấp trung đoàn
(A15-A16).
Ở đây chỉ định nghĩa sơ lược về NTCD để phân
tích tổng quát chiến trận của mùa hè đỏ lửa
mà trong đó trận đánh tại Trung Lập là một
mắt xích. Chi tiết về tất cả các chiến dịch
của CS trong năm 1972 được tŕnh bày ở một
chỗ khác (A17). Ứng dụng của NTCD tại chiến
trường VN và trên thế giới có thể t́m thấy
trong Phụ Bản L của cùng tài liệu tham khảo
này.
NTCD & CHIẾN TRẬN CỦA MÙA HÈ NĂM 1972
Sau khi chắc chắn được rằng đối phương đă
phán đoán sai lầm, quân đội CS đi lên mức độ
cao hơn của nghệ thuật quân sự khi tung ra 5
chiến dịch lớn (A18-A19) :
-
Chiến dịch Bắc Tây Nguyên
(30/3-5/6/1972) là hướng phối hợp đầu
tiên, bắt đầu từ Tân Cảnh rồi Đắc Tô,
Kon Tum và Plei Ku.
-
Chiến dịch Nguyễn Huệ (4/1-19/1/1972) là
hướng phối hợp thứ nh́ với mục tiêu tiêu
diệt 3-4 chiến đoàn BB của QLVNCH, chiếm
hai tỉnh B́nh Long và Phước Long.
-
Chiến dịch Bắc B́nh Định (9/4-3/5/1972)
là hướng phối hợp thứ ba để chiếm tỉnh
B́nh Định.
-
Chiến dịch đồng bằng sông Cửu Long
(10/6-10/9/1972) là hướng phối hợp sau
cùng, đánh phá b́nh định trên địa bàn
các tỉnh Mỹ Tho, Kiến Tường, Kiến Phong,
G̣ Công và Kiến Ḥa.
-
Chiến dịch Trị Thiên (30/3-27/6/1972) là
hướng tấn công chủ yếu, mục tiêu đánh
chiếm Quảng Trị rồi tiến về phía nam.
Quân CS với các mũi thọc sâu bằng chiến xa
tại Quảng Trị, An Lộc và Tân Cảnh. QLVNCH
phải rút lui, ngăn chận, bao vây tiêu diệt
từng mũi một với sự tái phối trí lực lượng
khi nhận ra được mục tiêu chính của CS và
dưới sự yểm trợ hữu hiệu của không quân Mỹ.
Việc sử dụng chiến xa để đánh tiêu diệt các
BCH, căn cứ, kho tiếp liệu của đối phương (thí
dụ như tại Tân Cảnh) cũng không là điều mới
lạ v́ đă được Đại tá Desportes phân tích.
Đây chính là một trong những phương pháp hữu
hiệu để đánh trúng trọng tâm.
Quân đội Đức đă áp dụng trong chiến tranh
chớp nhoáng để đánh chiếm Ba Lan và Pháp
trong chiến tranh thế giới lần thứ II (A20).
Có 2 điểm chủ yếu cần lưu ư ở đây. Điểm đầu
tiên là các chiến dịch không nhất thiết phải
bắt đầu cùng một lúc. Sau chiến tranh, chi
tiết này đă khiến nhiều nhà phân tích chính
trị lẫn quân sự cho rằng CS mở một lúc nhiều
mặt trận là một sai lầm (A21-A22); chỉ v́ họ
không chú ư đến NTCD. Điểm thứ nh́ là QLVNCH
vẫn c̣n đủ lực lượng như năm 1972, tại sao
lại thất bại năm 1975 khi CS sử dụng lại bài
bản cũ ?
Điểm đầu tiên, như một binh thuyết gia của
CS giải thích, NTCD mà ông gọi là phương
pháp tác chiến chiến lược, vừa có phương
pháp gối đầu vừa có phương pháp kế tiếp
(A23). Nói một cách khác, các chiến dịch có
thể được phát động cùng thời điểm hoặc khác
thời điểm. Rơ ràng NTCD đă bị đánh giá thấp
hay sai lầm, ngay cả sau khi chiến tranh đă
chấm dứt khá lâu.
Điểm thứ nh́ cũng đă được một sĩ quan cao
cấp của CS giải thích (A24) :
“Chiến cục
Xuân Hè 1972, địch đă sử dụng đội tổng dự bị
chiến lược là Sư đoàn Dù 1 [sic] có hiệu quả.
Sư đoàn Dù đă cứu được An Lộc bị nguy khốn
và sau đó lại cứu được Quảng Trị cũng trong
t́nh cảnh nguy khốn. Đội tổng dự bị chiến
lược của địch (sư đoàn dù) làm được nhiệm vụ
đó là do nó cơ động bằng máy bay lên thẳng.
Sức cơ động nhanh (máy bay lên thẳng) tạo ra
thời gian, không gian và thời cơ, t́nh huống.
Chiến cục Xuân 1975, đội tổng dự bị chiến
lược của địch sử dụng không hợp lư. Sư dù và
sư thủy quân lục chiến của địch lại phân tán
sử dụng vào trực tiếp chiến đấu ở tuyến một
và một phần làm dự bị cho chiến dịch hoặc
chiến lược”.
Nhận xét đúng nhưng chỉ đúng một phần và cho
năm 1975 hơn là năm 1972. Ông đă cố ư bỏ
quên yếu tố quyết định trong cả hai thời
điểm với mục đích để có thể dễ dàng biện
luận cho “chiến thắng thần thánh” của mùa
xuân năm 1975. Một trong những yếu tố quyết
định trong cả hai cuộc tổng công kích là yểm
trợ tối đa của không quân Mỹ mà bộ TTL quân
đội CSBV không ngờ đến trong mùa hè năm
1972; trong khi yếu tố này hoàn toàn thiếu
vắng trong mùa xuân 1975.
Bằng chứng là ở một chỗ khác, khi phân tích
chiến dịch Nguyễn Huệ, ông lại thú nhận tác
dụng của không quân (A25) :
“Ngày 13 tháng 4, Sư đoàn 9 bộ binh có xe
tăng và pháo binh chi viện tổ chức tiến công
thị xă An Lộc (B́nh Long) đánh chiếm một số
mục tiêu ngoại vi thị xă, nhưng khi đột kích
vào tung thâm th́ các mũi tiến công của ta
đều bị địch chận lại. Bằng thủ đoạn phản
kích nhỏ kết hợp với hỏa lực không quân đánh
phá tập trung làm ta bị tổn thất nặng”.
Luận cứ không chặt chẽ nên dễ trở nên mâu
thuẩn. Thượng tướng Thảo viết (A24) :
“Mục tiêu của ta trong năm 1972 là tiêu diệt
một số lữ đoàn, chiến đoàn; loại khỏi ṿng
chiến đấu sư đoàn chủ lực ngụy, mở rộng
vùng giải phóng”.
Có phải mục tiêu chỉ đến mức như vậy? Ông
lại chóng quên v́ cũng chính ông đă từng
định nghĩa trong một tài liệu khác (A25) :
“NTCD là một bộ phận trong thể thống nhất và
hoàn chỉnh của nghệ thuật quân sự, có quan
hệ mật thiết với chiến lược và chiến thuật.
Chiến lược qui định nhiệm vụ cho chiến dịch,
chiến dịch phải phục tùng và thực hiện thắng
lợi yêu cầu nhiệm vụ chiến lược, đồng thời
NTCD chỉ đạo việc sử dụng các h́nh thức
chiến thuật và mọi hành động chiến đấu của
bộ đội để hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch”.
Một đồng chí của ông đă lần nữa xác nhận mục
tiêu của chiến dịch Trị Thiên (chiến dịch
chủ yếu trong cuộc tổng tấn công năm 1972)
do Thường vụ Quân ủy Trung ương đề ra, khi
ghi lại (A26) :
“Trong năm nhiệm vụ trên, nhiệm vụ tiêu diệt
lực lượng quân sự địch, nhất là quân chủ lực
và phương tiện chiến tranh được xác định là
nhiệm vụ quan trọng nhất có tính chất quyết
định, làm cho chúng bị tổn thất nặng nề lực
lượng, phương tiện, tinh thần chiến đấu suy
sụp, làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi
cho ta, tạo điều kiện tiến lên giành
thắng lợi hoàn toàn. Nhiệm vụ rất quan
trọng thứ hai là đẩy mạnh phong trào tiến
công và nổi dậy của quần chúng rộng khắp,
diệt bọn ác ôn, phá ră hệ thống ḱm kẹp của
địch ở nông thôn và đô thị”.
Như vậy trong mùa hè đỏ lửa năm 1972, mục
tiêu của chiến lược sau khi tiêu diệt các
binh đoàn của đối phương phải là chiếm cứ
miền Nam, nghĩa là “giành thắng lợi hoàn
toàn” chứ không đơn giản là để “mở rộng vùng
giải phóng” như Tướng Thảo đă viết. V́ không
thực hiện được mục tiêu chiến lược nên phải
hạ thấp mục tiêu xuống tầm mức chiến dịch.
Hậu quả đưa đến lư luận sai v́ nhận xét như
vậy, ông đă xác nhận một cách gián tiếp rằng
quân đội CSBV không được chỉ đạo tác chiến
với mục tiêu chiến lược, ít nhất là trong
cuộc TCK năm 1972 (xem Bảng A). Hơn thế nữa,
cũng chính ông đă xác nhận thất bại ở mức độ
chiến dịch khi viết (A27) :
“Hành động quân sự điên cuồng của Mỹ, ngụy
từ giữa tháng 5 năm 1972 đến tháng 1 năm
1973, đă gây cho ta không ít khó khăn, làm
cho các chiến dịch của ta diễn ra theo một
chiều hướng khác”.
Những số liệu thống kê của chính CS sau
chiến tranh cũng đă chứng minh cho kế hoạch
“mở rộng vùng giải phóng” trong năm 1972 mà
Thượng Tướng Thảo đă đề cập (A28) :
“Nếu như năm 1968, ta đă có một vùng giải
phóng rộng lớn với số dân là 3,304 triệu,
vùng tranh chấp có 1,229 triệu dân, số xă
được giải phóng hoàn toàn có 465 xă. Một năm
sau (năm 1969), vùng giải phóng chỉ c̣n lại
1,48 triệu dân, vùng tranh chấp có 2,108
triệu dân, số xă giải phóng hoàn toàn chỉ
c̣n một nửa (219 xă). Đến cuối năm 1972,
vùng giải phóng bị thu hẹp chỉ c̣n 0,719
triệu dân, vùng tranh chấp vẫn duy tŕ được
số dân là 2,209 triệu dân, số xă được giải
phóng hoàn toàn chỉ giữ ở mức 185 xă. Làm
phép tính so sánh như vậy, chúng ta mới thấy
hết mức độ ác liệt của cuộc chiến tranh”.
BẢNG A : TÓM TẮT MỨC ĐỘ CHIẾN TRANH CỦA MÙA
HÈ ĐỎ LỬA
|
MỨC ĐỘ
(Level) |
MỤC TIÊU
(Objective) |
TRỌNG TÂM
(Center of
Gravity) |
|
CHIẾN LƯỢC |
Đánh chiếm
VNCH |
-
|
|
NT CHIẾN DỊCH |
Tiêu diệt chủ
lực quân của QLVNCH |
Các sư đoàn
1, 3, 5, 22, 23 và lực lượng
tổng trừ bị của QLVNCH |
|
CHIẾN THUẬT |
Đánh phá b́nh
định
Dương đông
kích tây
Cường tập, kỳ
tập, v.v.
|
Quảng Trị, B́nh Định, Đak Tô,
Tân Cảnh, Kon Tum, Plei Ku
Xa
Mát, Tây Ninh, Hậu Nghĩa, Lộc
Ninh, B́nh Long, đồng bằng sông
Cửu Long |
Hăy đọc đoạn trích dẫn sau đây của một tướng
lănh, được mô tả là giỏi nhất trong quân đội
CSBV, người ta sẽ thấy vấn đề được tŕnh bày
tương đối hợp lư hơn (A11) :
“Thực tiễn lịch sử chiến tranh đă chỉ rơ,
tính chất ư nghĩa, phạm vi, mức độ thắng lợi
của chiến tranh phụ thuộc trước hết vào tính
chất ư nghĩa, phạm vi, mức độ tiêu diệt địch
trên chiến trường. Thật vậy, trong thời kỳ
cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, bằng
cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân
1953-1954 mà đỉnh cao là trận tiêu diệt lớn
đập tan tập đoàn pḥng ngự mạnh của địch ở
Điện Biên Phủ, đánh thắng nỗ lực quân sự cao
nhất của địch lúc bấy giờ, ta thực hiện được
tiêu diệt địch về chiến lược bộ phận nên mới
giải phóng được nửa nước. Mùa xuân năm 1968
và năm 1972, ta đă tiêu diệt lớn có ư nghĩa
chiến lược nên đă giành được thắng lợi lớn.
Nhưng trong các thời kỳ lịch sử nói trên, ta
chưa thực hiện được tiêu diệt địch về chiến
lược triệt để nên ta chưa giành được thắng
lợi hoàn toàn. Chỉ đến mùa Xuân năm 1975,
thực hiện được tiêu diệt địch về chiến lược
một cách triệt để nên ta mới giành được
thắng lợi hoàn toàn. Rơ ràng, tiêu diệt địch
về chiến lược là yêu cầu khách quan để kết
thúc thắng lợi hoàn toàn một cuộc chiến
tranh, trừ trường hợp chiến tranh chuyển
sang một giai đoạn khác, dùng phương thức
chính trị là chính để giải quyết vấn đề
trong những điều kiện lịch sử nhất định”.
Đại tướng Lê Trọng Tấn đă sử dụng 3 cụm từ
để phân biệt 3 mức độ tiêu diệt quân của đối
phương là tiêu diệt bộ phận (năm 1954), tiêu
diệt chưa triệt để (1968 & 1972) và tiêu
diệt triệt để (1975). Cụm từ “chưa triệt
để” để thay thế cho hai chữ “thất bại” trong
hai thời điểm 68 & 72. Một khi tổng tấn
công mà lại không thành công th́ phải hiểu
là đồng nghĩa với thất bại. Đến đây th́ Đại
tướng Tấn cũng sai nốt. Điểm chủ yếu sai lầm
trong biện luận của ông là mức độ tiêu diệt
địch. Theo Clausewitz th́ phải tiêu diệt đối
phương một cách hoàn toàn trong khi Tôn Tử
lại chủ trương chiến tranh quân sự chỉ là
biện pháp cuối cùng. Tuy nhiên như giáo sư
Handel đă phân tích một cách rơ ràng, cả
Clausewitz cũng như Tôn Tử đều đồng ư rằng
một khi chiến tranh đă xảy ra th́ phải thật
ngắn gọn, nhanh chóng và có tính cách quyết
định (A29). Do đó sẽ không có những trận
chiến chỉ đưa đến tiêu diệt bộ phận hay chưa
triệt để nếu dựa trên lư thuyết quân sự.
Thực tế là do giới hạn của khả năng chứ
không phải là mục tiêu của kế hoạch hành
quân, bất cứ ở mức độ nào; chiến thuật, NTCD
hay chiến lược (xem Bảng A trên). Do đó
người đọc tinh ư sẽ thấy ngay rằng một tài
liệu nếu có tính cách tuyên truyền hay phóng
đại th́ dù được viết bởi một sĩ quan cao cấp,
vẫn có thể nghịch lư với lư thuyết quân sự.
Nói tóm lại, Bộ TTL quân đội CSBV đă tính
toán sai lầm khi phát động cuộc TCK năm
1972. Trong chiến tranh, những sai lầm
thường phải trả giá bằng máu. Tài liệu
của Mỹ cho biết quân đội CSBV thiệt hại
khoảng 100.000 quân, nghĩa là phân nửa lực
lượng lúc bắt đầu cuộc TCK (A30-A31)
Trận chiến mùa xuân năm 1975 xảy ra giống
hệt như trong mùa hè năm 1972. Quân CS cũng
với các mũi thọc sâu bằng chiến xa tại Ban
Mê Thuột, Quảng Trị và Hậu Nghĩa. Năm 1975,
yếu tố không quân mạnh mẽ không c̣n nữa
khiến các mũi ngăn chận không đủ sức đối phó
với địch quân. NTCD đă được các cấp chỉ huy
của QLVNCH gọi dưới tên là di tản chiến
thuật. Một khi các cuộc di tản quá xa khiến
giới hạn chiến dịch được nâng lên tầm mức
cao hơn, cho đến khi phía bị tấn công không
c̣n lực lượng trừ bị nào nữa (A32). Sau
chiến tranh, Trung tướng Toàn, nguyên là Tư
lệnh quân đoàn III của QLVNCH lúc bấy giờ,
đă viết (A33):
“Về khía cạnh quân số, cán cân chênh lệch
quá rơ rệt, và chúng ta không c̣n quân
trừ bị để tăng cường
, nhưng không thể làm
ǵ hơn được”.
Cùng với hy vọng đă vượt quá khả năng (A33)
:
“Sự thực, trong lúc này, với địa thế trống
trải của Vùng III, và sự tập trung của các
Quân Đoàn của Cộng Sản, Tướng Toàn có thể
ngăn chận quân Bắc Việt, và chỉ cần một tuần
không yểm B-52 là có thể giải quyết khối
lượng quân số khổng lồ gần 20
Sư Đoàn Cộng Sản”.
Ước muốn, dù không thiết thực của ông, cũng
đă nói lên được tính cách thiết yếu của yểm
trợ không quân mà ông nghĩ rằng vẫn có thể
giúp đảo ngược được t́nh thế. Tuy nhiên cần
phải nhận chân được rằng trận chiến năm 1975
đă kết thúc ngay tại mức độ chiến dịch.
Chiến dịch HCM được CS mở ra ngày 26/4, trên
thực tế không cần thiết để đạt được mục tiêu
chiến lược. Điều này cũng giải thích tại sao
người ta không nh́n thấy được những trận
đánh lớn trong chiến dịch HCM. Đây chính là
sự khác biệt giữa hai thời điểm 1972 và 1975
khi xét trên quan điểm nghệ thuật quân sự.
Hầu hết các tướng lĩnh của CS đă thụ huấn
tại học viện quốc pḥng Voroshilov
của Nga. Trong chương tŕnh huấn luyện, môn
học NTCD chiếm khoảng 40 giờ. Binh thư của
CS xác nhận thời điểm NTCD được áp dụng trên
chiến trường VN như sau (A34) :
“Chiến dịch ra đời khi các phương tiện vận
chuyển đă cho phép bộ đội cơ động trên quy
mô lớn, các phương tiện truyền tin đă bảo
đảm cho người chỉ huy điều hành nhiều trận
đánh trên phạm vi rộng.
Cho đến nay, nghệ thuật chiến dịch với tư
cách là lư luận và thực tiễn chuẩn bị và
thực hành các loại chiến dịch được công nhận
là một bộ phận hợp thành của nghệ thuật quân
sự. Ở Việt Nam, khái niệm đó mới dùng từ
cuối cuộc kháng chiến chống Pháp”.
Do đó người ta không ngạc nhiên khi quân đội
CSBV bắt đầu chuyển từ chiến tranh bất đối
xứng (asymmetric warfare)
sang chiến tranh qui ước th́ đă có ngay
những chiến dịch như B́nh Giă
(2/12/1964-3/1/1965), Đồng Xoài
(10/5-22/7/1965), Ba Gia (28/5-20/7/1965),
v.v. cho đến trận chiến sau cùng cũng lại là
một chiến dịch. Đó là chiến dịch HCM.
Trong chiến tranh, QLVNCH không áp dụng NTCD
cũng như nghiên cứu NTCD của đối phương. Sau
khi chiến tranh kết thúc, một sĩ quan cao
cấp của QLVNCH chỉ phân tích chiến lược và
chiến thuật cho thấy sự thiếu sót này (A35).
Nói như vậy không có nghĩa là quân đội CSBV
đă thắng được cuộc chiến tranh nhờ đă áp
dụng thành công NTCD. Thất bại của CS trong
chiến dịch Quảng Trị năm 1972 là một minh
chứng. NTCD có thể giúp đánh thắng một trận
đánh nhưng cũng chính nghệ thuật này cho
thấy thắng một trận đánh không hẳn sẽ thắng
được cuộc chiến tranh. Tuy nhiên, nếu QLVNCH
phản ứng lại với NTCD th́ có thể hậu quả của
các chiến dịch B́nh Giă, Đồng Xoài, Ba Gia,
v.v. đă khác đi ? Làm ảnh hưởng đến toàn
diện cuộc chiến tranh, từ lúc đó và lẫn cả
về sau. Giả thuyết này sẽ được phân tích
trong từng chiến dịch riêng rẽ nên không
được đề cập đến ở đây.
Nguyễn Đức
Phương

TÀI LIỆU THAM KHẢO
:
A1.
H Strachan, The First World War - A New
Illustrated History, trang 173-174; Simon &
Schuster UK Ltd., London, 2003.
A2. The First Day of the Somme, trang
18-25; Military Times, số 3, December 2010.
A3. R W Harrison, The Russian Way of
War - Operational Art, 1904-1940, trang
137- 152; University Press of Kansas,
2001.
A4. T J Gough, Department of the Army -
Historical Summary - Fiscal Year 1986;
Center of Military History, United
States Army, Washington, D.C., 1995.
A5. Général (2S) Jean Marie Veyrat, A
propos du niveau des actions militaires,
Stratégique, opératif ou tactique, trang
31-34; Doctrine, No. 7 - Stratégie,
“Opératique” et Tactique: La place des
forces terrestres, Décembre 2005.
A6. Generalmajor J Ruwe, A doctrinal
process : Towards a new organization of
Command and Control within the
German Army, trang 51-53; Doctrine, No. 5 -
Commanding Organization in
Operation, Décembre 2004.
A7. N Stewart, The Changing Nature of
Warfare 1700-1945, trang 105; Holder &
Stoughton, 2001.
A8. L Deighton, Blitzkrieg - From the
Rise of Hitler to the Fall of Dunkirk, trang
155- 159; Pluriform Publishing Company
BV, London, 1993.
A9. A Wiest & M K Barbier, Strategy and
Tactics - Infantry Warfare, trang 35; Amber
Books Limited, London, 2002.
A10. Thượng tướng Hoàng Cầm, Chặng đường
Mười Ngh́n Ngày, trang 426; nxb Quân Đội
Nhân Dân, Hà Nội, 2001.
A11. Đại tá Nguyễn Duy Tường & Cử nhân
Bùi Thu Hương, Đại Tướng Lê Trọng Tấn với
Đại Thắng Mùa Xuân 1975, trang
194 & 68-69; nxb QĐND, Hà Nội, 2005.
A12. Lê Văn Yên & nhiều người khác, Đại
Thắng Mùa Xuân 1975 - Văn Kiện Đảng, trang
259; nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà
Nội, 2005.
A13. J M House, Combined Arms Warfare in
the Twentieth Century, trang 90-91;
University Press of Kansas,
2001.
A14. Trung tướng Nguyễn Ḥa, Thời Khắc
Lịch Sử Của Binh Đoàn Quyết Thắng Anh
Hùng, trang 13-14; Nhiều tác giả, Thần Tốc
Quyết Thắng, nxb Công An Nhân Dân,
2004.
A15. Lieutenant-colonel de Marsac,
Réflexions sur la préparation opérationnelle
en régiment aujourd’hui. Tài liệu
đă dẫn trên (A6), trang 3-5.
A16. Colonel G Nuyttens, Repfrance in the
“kingdom of insolence” - The organization of
operation PAMIR in Afghanistan.
Tài liệu đă dẫn trên, trang 63-67.
A17. Nguyễn Đức Phương, Chiến Tranh Việt
Nam Toàn Tập, ấn bản thứ nh́, sẽ xuất bản.
A18. D Andradé, Trial By Fire - The 1972
Easter Offensive, America's Last Vietnam
Battle; Hipocrene Books, New York,
1995.
A19. Đại tá, thạc sĩ Phạm Vĩnh Phúc &
nhiều người khác, Tóm Tắt Các Chiến Dịch
Trong Kháng Chiến Chống Mỹ, Cứu
Nước (1954-1975), trang 279-352; nxb QĐND,
Hà Nội, 2001.
A20. V Desportes, Comprendre La Guerre,
trang 341-342; Editions Economica, Paris,
2000.
A21. H Kissinger, White House Years,
trang 1301; Little, Brown and Company,
Boston, 1979.
A22. Lieutenant General P D Davidson,
Vietnam At War - The History: 1946-1975,
trang 708; Sidgwick and Jackson
Limited Publishers, London, 1988.
A23. Nhà giáo nhân dân, Giáo sư, Thượng
tướng Hoàng Minh Thảo, Mấy Vấn Đề Về
Nghệ Thuật Quân Sự, trang 14; nxb CTQG, Hà
Nội, 2001.
A24. Thượng tướng, Giáo sư Hoàng Minh
Thảo, Mấy Vấn Đề Về Nghệ Thuật Tác Chiến
Chiến Lược, trang 20-21; nxb QĐND, Hà Nội,
2001.
A25. Thượng tướng, Giáo sư Hoàng Minh
Thảo, Tổng Chủ biên, Lịch Sử Công Tác Đảng -
Công Tác Chính Trị Chiến Dịch
Trong Kháng Chiến Chống Pháp và Chống Mỹ
1945-1975, trang 509, 668 & 560; nxb QĐND,
Hà Nội, 1998.
A26. Thượng tá, TS. Hồ Khang, Chủ biên,
Lịch Sử Kháng Chiến chống Mỹ cứu nước
1954-1975, trang 43, Tập VII; nxb QĐND, Hà
Nội, 2007.
A27. Đại tá Nguyễn Duy Tường & nhiều
người khác, Lịch Sử Tổng Cục Chính Trị Quân
Đội Nhân Dân Việt Nam, Tập I (1944-1975),
trang 711; nxb QĐND, Hà Nội,
2004.
A28. Thượng tá Trần Phấn Trấn, Chủ biên,
Lịch Sử Quân Giới Nam Bộ Và Cực Nam
Trung Bộ (1954-1975), trang 339-340; nxb
QĐND, Hà Nội, 1998.
A29. M I Handel, Masters of War -
Classical Strategic Thought, trang 73-74,
Second, Revised Edition; Frank Cass
& Co. Ltd., London, 1996.
A30. H G Summers, Jr., Historical Atlas
of the Vietnam War, trang 178; Houghton
Mifflin Company, New York, 1995.
A31. P Gutzman, Vietnam A Visual
Encyclopedia, trang 141; PRC Publishing
Ltd., London, 2002.
A32. Cao Văn Viên, Những Ngày Cuối Cùng
của Việt Nam Cộng Ḥa, trang 234; Vietnam
bibliography xuất bản, Virginia,
2003.
A33. Trung-Tướng Nguyễn-Văn-Toàn, Đại-Tá
Lê-Bá-Khiếu & Tiến-Sĩ Nguyễn-Văn,
Những Sự Thật Chiến Tranh Việt Nam
1954-1975, trang 473-474. Tác giả xuất bản,
California.
A34. Thượng tá Lê Huy Ḥa, Chủ biên, Bách
Khoa Tri Thức Quốc Pḥng Toàn Dân, trang
509-510; nxb CTQG, Hà Nội, 2003.
A35. Colonel Hoang Ngoc Lung, Strategy
and Tactics; U.S. Government Printing
Office, Washington, D.C., 1980.
Chiến tranh chớp nhoáng của Đức hay
chiến thuật thọc sâu của Nga chỉ
được phát triển từ thập niên 30 của
thế kỷ 20. Tuy nhiên từ năm 1916,
quân đội Đức đă sử dụng các toán đột
kích với công binh chiến đấu
(storm-troops) tạo thành các mũi
thọc sâu để làm tê liệt hệ thống chỉ
huy và kiểm soát (C&C), phá vỡ pḥng
tuyến của đối phương. Thí dụ điển
h́nh được các sử gia cho là tiền đề
của lối đánh thọc sâu sau này đă xảy
ra ngày 24/10/1917. Quân đội Đức sử
dụng mũi thọc sâu đánh chiếm thị
trấn Caporetto tại phía bắc nước Ư.
Hai yếu tố bất ngờ và vận tốc tác
chiến nhanh chóng khiến quân đội Ư
phải rút lui và cơ nguy đưa đến bại
trận hoàn toàn sắp xảy ra. Liên quân
Anh và Pháp phải trực tiếp can thiệp
mới cứu được Ư. Một trong những sĩ
quan chỉ huy cấp đại đội của Đức
trong trận đánh này là Trung úy, sau
này là Thống chế Rommel đă áp dụng
kinh nghiệm của trận đánh vào chiến
trường sa mạc Bắc Phi khá thành công
trong hai năm 1941-42 của chiến
tranh thế giới lần thứ II (Stormtroop
Rommel’s First War, trang 14-21;
Military Times, February 2011).
Tướng Svechin đă tóm tắt một cách
ngắn gọn những mức độ trong nghệ
thuật quân sự như sau : chiến thuật
thực hiện những bước đầu tiên để có
thể tập trung những bước nhảy kế
tiếp của NTCD và được chiến lược
hướng dẫn đến mục tiêu (D Jordan &
nhiều người khác, Understanding
Modern Warfare, trang 90; Cambridge
University Press, New York, 2008).
Tác giả của đoạn văn này là Thượng
tướng Hoàng Cầm, lúc bấy giờ là
Thiếu tướng Tư lệnh quân đoàn 4 và "anh"
để chỉ Trung tướng Lê Trọng Tấn, Phó
Tổng TMT quân đội CSBV, Phó Tư lệnh
chiến dịch HCM kiêm Tư lệnh mặt trận
phía đông Sài G̣n năm 1975.
Việc áp dụng học thuyết quân sự của
Nga trên căn bản đă sai lầm ngay từ
khởi điểm. Binh thư của Quân đội
Nhân dân Việt Nam viết : Học thuyết
quân sự Việt Nam có bước phát triển
nhảy vọt khi được lư luận quân sự
Mác-Lê Nin soi sáng (Thượng tá Lê
Huy Ḥa, Chủ biên, Bách Khoa Tri
Thức Quốc Pḥng Toàn Dân, trang 540;
nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội,
2003). Trong khi đó, Marx đă xác
nhận trong bản cương lĩnh rằng CS
muốn phá bỏ ranh giới quốc gia và
dân tộc (Karl Marx & Friedrich
Engels, The Communist Manifesto,
trang 63; Arcturus Publishing
Limited, London, 2010). Quan niệm
của Lênin về một nước Nga chủ nghĩa
xă hội mạnh mẽ để phát huy các nước
CNXH chư hầu càng củng cố thêm quan
niệm về quốc tế vô sản (C Rice, The
Making of Soviet Strategy, trang
648-676; P Paret, Chủ biên, Makers
of Modern Strategy From Machiavelli
to the Nuclear Age, Oxford
University Press, 1999). Do đó, cuộc
"kháng chiến chống Mỹ” không phải để
cứu nước và dân tộc VN mà chỉ để
phục vụ cho sự bành trướng của chủ
nghĩa CS. Quan trọng hơn nữa là có
lẽ các nhà biên soạn binh thư của
QĐND cũng không biết được rằng Marx,
Engels và Lênin đều bị ảnh hưởng rất
nhiều bởi Clause-witz (A Gat, A
History of Military Thought from the
Enlightenment to the Cold War, trang
494-514; Oxford University Press,
2001). Như vậy chủ nghĩa xă hội vẫn
là con đường xa nhất để đi đến chủ
nghĩa tư bản; không những trên
phương diện xă hội, chính trị mà
ngay cả trong các vấn đề về quân sự.
Quan trọng nhất trong nghệ thuật
quân sự là trọng tâm. Theo định
nghĩa của cơ học chất rắn (Mechanics
of Solids), trọng tâm là điểm tập
trung khối lượng của một vật thể.
Nếu v́ một lư do nào đó, trọng tâm
đi lệch ra khỏi mặt chân đế th́ vật
thể có thể bị sụp đổ một cách dễ
dàng, dưới tác dụng của chính trọng
lượng hoặc của một lực đẩy ngang
tương đối nhỏ. Trong vũ thuật, đây
là vị trí cân bằng vững chắc nhất.
Thế đứng tấn của người luyện vơ
chính là để củng cố trọng tâm của
ḿnh. Đặt căn bản trên cơ học Newton
và dựa vào kết quả từ những trận
đánh tiêu diệt của Nă-Phá-Luân,
Clausewitz đă định nghĩa : Trọng tâm
là cái nôi của mọi sức mạnh và
chuyển dịch mà từ đó tất cả sự vật
lệ thuộc. Đó là điểm mà tất cả năng
lượng phải hướng vào (C V
Clausewitz, On War, trang 595-596; M
Howard & P Paret hiệu đính và dịch
thuật, Princeton University Press,
Princeton, New Jersey, 1984). Cũng
theo Clausewitz th́ trọng tâm có ư
nghĩa rất tổng quát, có khi đó là
quân đội địch, hoặc thủ đô của đối
phương hay là tâm lư dân chúng vùng
địch hậu. Thí dụ trong cuộc TCK tết
Mậu Thân năm 1968 th́ trọng tâm là
dư luận của quần chúng Mỹ. Lúc khác,
khi đối đầu với một liên minh th́
trọng tâm phải là đồng minh mạnh
nhất. Khẩu hiệu "đánh cho Mỹ cút,
đánh cho ngụy nhào" của VC chính là
xác định đối tượng để tác chiến theo
nguyên tắc của Clausewitz. Chiến
tranh lạnh chấm dứt, nhưng lại được
tiếp nối bởi những cuộc xung đột vũ
trang v́ chủng tộc, tôn giáo, v.v.
khiến ngày hôm nay trọng tâm được
định nghĩa một cách rơ ràng hơn nữa.
Học thuyết của lục quân Pháp xác
nhận : Dân chúng luôn luôn là trọng
tâm của các cuộc xung đột (Armée de
Terre, Tactique Générale, trang X
Préface; Editions Economica, Paris,
2008).
Ở đây từ "chiến cục" đồng nghĩa với
NTCD.
Sau khi chiến tranh chấm dứt và
trong khi trả lời một sĩ quan Mỹ,
cựu Trung tướng Trần Văn Minh,
nguyên là Tư lệnh sau cùng của không
quân VNCH đă phân tích sự khác biệt
giữa 2 thời điểm 1972 và 1975. Theo
ông th́ năm 1975, bộ binh của CS
mạnh hơn trong khi khả năng yểm trợ
không quân của VNCH lại yếu đi. Ông
nhắc lại chiến trường An Lộc năm
1972, Mỹ tận dụng hết khả năng của
oanh tạc cơ B-52 và vận tải cơ C-130
trong khi năm 1975 tại Phước Long và
Ban Mê Thuột, không quân VNCH đă cố
gắng sử dụng thám thính và chiến đấu
cơ nhưng không thể nào thực hiện
được mức độ oanh tạc cũng như khả
năng không vận của không quân Mỹ, đă
thực hiện trong năm 1972 (Thiếu tá
A. J. C. Lavalle, Airpower and the
1972 Spring Invasion, trang 104;
U.S. Government Printing Office,
Washi-ngton, D.C., 1976).
Trên phương diện NTCD, lực lượng trừ
bị được sử dụng để phản công chứ
không phải dùng để thay thế cho tổn
thất. Năm 1975, Bộ TTM/QLVNCH không
cho thấy có ư định tổ chức một cuộc
phản công nào trong khi lui binh để
chận đứng sự truy kích của địch quân.
Đây là một điểm đáng ngạc nhiên v́
các binh thuyết gia phương Tây như
Clausewitz (C V Clausewitz, On War,
trang 271; M Howard & P Paret hiệu
đính và dịch thuật, Princeton
University Press, New Jersey, 1989)
hay Bá tước de Jomini (Baron A H de
Jomini, Art of War, trang 242;
Lionel Laventhal Limited, London,
1992) đều cho rằng phải tổ chức phản
công trong khi lui binh. Trong khi
viết hồi kư và trước khi đi xa, có
lẽ Trung tướng Toàn vẫn chưa quên
cuộc phản công trong thế thủ để
chiếm lại chi khu Kiến Đức trong
chiến dịch Quảng Đức (30/10-10/12/19
73) khi ông c̣n là thiếu tướng tư
lệnh quân đoàn II ?
Quân sử cho thấy rằng phải làm như
vậy mới có thể hy vọng tránh được
thất bại hoàn toàn. Để thực hiện
phản công với mục đích ổn định mặt
trận th́ những yếu tố cần thiết là
tài ba của cấp chỉ huy và chấp nhận
sự mạo hiểm chứ không phải v́ thiếu
quân số (Field Marshall E V Manstein,
Lost Victory, trang 472-474;
Presidio Press, California, 1994).
Tháng 8/1943, Thống chế Manstein chỉ
huy cuộc lui binh chiến lược gồm 3
quân đoàn Đức trên chiến trường rộng
(450 dặm Anh) và phải vượt qua sông
Dnepr, con sông rộng nhất Âu châu.
Phương diện quân Veronezh của Nga
dùng chiến thuật thọc sâu và bao vây
chia cắt để tiêu diệt các đại đơn vị
của Đức. Ngày 15/11/1943, Đức phản
công chiếm thành phố Zhitomir khiến
mặt trận phía Đông được ổn định trở
lại (A Roberts, Chủ biên, The Art of
War - Great Commanders of the Modern
World, trang 321-322; Quercus
Publishing Plc, London, 2009 &
Images of War, trang 899, tập 3, số
33; Marshall Cavendish Ltd., London,
1995).
Quân số tổng cộng gần 200 000 người
(Đặng Hữu Lộc, Chủ biên, Lịch Sử
Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
(1944-1975), trang 772-773; nxb QĐND,
Hà Nội, 2005). Theo một sĩ quan cao
cấp của CS th́ tỉ lệ giữa quân đội
CSBV và QLVNCH trong chiến dịch HCM
là 3:1 (Đại tá Kiều Bách Tuấn &
Trung úy Bùi Thu Hương, Đại tướng
Hoàng Văn Thái Tổng Tập, trang 266;
nxb QĐND, Hà Nội, 2007).
Căn cứ
trên danh số các lực lượng tham dự
th́ quân đoàn III/QLVNCH phải chống
lại cuộc tấn công bởi 5 quân đoàn
của CS (Hồ Sơn Đài & Trần Nam Tiến,
100 Câu Hỏi Đáp Về Gia Định - Sài
G̣n TP. Hồ Chí Minh - Chiến Dịch Hồ
Chí Minh, trang 94-97; nxb Tổng Hợp,
TP. HCM, 2007) :
·
Trên
hướng bắc, quân đoàn 1 (hai sư đoàn
320B, 312 và trung đoàn 95B; sư đoàn
308 ở lại miền Bắc làm lực lượng trừ
bị)
·
Từ
hướng đông-nam, quân đoàn 2 (ba sư
đoàn 304, 325, sư đoàn 3 của quân
khu V và trung đoàn 116 Đặc công)
·
Trên
hướng tây-bắc, quân đoàn 3 (ba sư
đoàn 10, 316, 320A cùng hai trung
đoàn Gia Định 1 và 2)
·
Từ
hướng đông , quân đoàn 4 (hai sư
đoàn 7, 314 và trung đoàn 52)
·
Từ
phía tây-nam là đoàn 232, tương
đương cấp quân đoàn, gồm ba sư đoàn
3, 5, 9; bốn trung đoàn biệt lập và
một trung đoàn đặc công.
Do đó tỉ lệ giữa hai bên ít nhất
phải là 5:1. Nói ít nhất là v́ trên
thực tế các quân đoàn của QLVNCH do
gắn liền với nhiệm vụ an ninh lănh
thổ của các vùng chiến thuật nên
không thể điều động được cấp số của
quân đoàn. Ngược lại trong khi tác
chiến, các quân đoàn của CS huy động
được đúng cấp số của tất cả các đơn
vị trực thuộc. Đối phương cũng nhận
biết như vậy (Trung tướng - GS Hoàng
Minh Thảo, Mấy Vấn Đề Về Nghệ Thuật
Chỉ Đạo Tác Chiến Chiến Lược Trong
Cuộc Tổng Tiến Công Và Nổi Dậy Mùa
Xuân Năm 1975, trang 75; Thượng tá
Nguyễn Văn Minh & nhiều người khác,
Đại Thắng Mùa Xuân 1975 Nguyên Nhân
Và Bài Học, nxb QĐND, Hà Nội, 2003)
:
“Về địch th́ chúng mới tổ chức đơn
vị cao nhất là cấp sư đoàn. Tuy địch
có đặt đơn vị quân khu, vừa có tính
chất quân khu - là đơn vị lănh thổ,
lại vừa có tính chất là quân đoàn -
đơn vị tác chiến tập trung, nhưng
địch không có tổ chức cấp quân đoàn
riêng, có bộ máy chỉ huy, tham mưu
riêng, tách ra khỏi hoàn toàn bộ máy
của quân khu. Như thế, về tổ chức
lực lượng tác chiến chiến lược, ta
cũng tiên tiến hơn địch”.
Từ của ngày hôm nay để chỉ chung
chiến tranh du kích, chiến tranh nổi
dậy hay chiến tranh phiến loạn.
|