|
Trận Chiến Tranh 1979
giữa Trung Quốc và Việt Nam
Lời giới
thiệu: Chương 13 trong cuốn “On
China” Tiến sĩ Kissinger vừa cho xuất
bản, dành nói về trận chiến tranh biên giới
giữa Việt Nam và Trung quốc tháng 2/1979 với
nhan đề
“Touching the
Tiger’s Buttock The third Vietnam War”
(Trận chiến tranh Việt Nam thứ 3: Sờ Đít
Cọp) Ông Kissinger đă mang đến cho
chương này những thông tin và lư giải chưa
bao giờ được nói tới. Theo tiến sĩ Kissinger
cuộc chiến đă có những hậu quả thay đổi bàn
cờ thế giới và là lư do gián tiếp đưa đến sự
sụp đổ của Nga hơn 10 năm sau đó.
Cuộc đấu trí giữa Trung quốc,
Việt Nam, Hoa Kỳ và Liên bang Xô viết đang
được tái diễn và lần này giữa Trung quốc,
Hoa Kỳ và Việt Nam. Cao điểm là việc Trung
quốc công khai ngăn chận việc ḍ t́m dầu của
Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế 200
hải lư của Việt Nam ngày 26/5/2011.
Cái khác là vào năm 1979, Việt
Nam công khai xem Trung quốc là kẻ thù và
Trung quốc đang lo t́m cách phá kế hoạch
thôn tính thế giới của Xô viết. Hiện nay
trên nguyên tắc Việt Nam là đồng minh với
Trung quốc, và Hoa Kỳ là nước đang lo t́m
cách ngăn chận ư đồ bá chủ của Trung quốc.
Đối với Việt Nam, dù màu sắc
quan hệ giữa Trung quốc và Việt Nam lúc đó
và lúc này có khác nhau, nhưng sự lo lắng
của người cầm quyền tại Việt Nam vẫn là mối
lo móng vuốt của Trung quốc.
C̣n nữa, vào thập niên 1970 tuy
thất bại tại Việt Nam Hoa Kỳ vẫn c̣n đủ mạnh
để lèo lái thế giới, và Nga chỉ phô trương
nhưng thực chất yếu. Hiện nay Hoa Kỳ đang
gặp nhiều khó khăn, ngân sách thâm thủng, nợ
nần chồng chất, kinh tế suy thoái không biết
c̣n có khả năng lănh đạo thế giới tự do
không. Và Trung quốc đang mạnh và quyết tâm
trở thành đệ nhất siêu cường.
V́ vậy, cái khó của Việt Nam lại
càng khó hơn. Nhưng trong thời nào nhân dân
Việt Nam cũng nhất quyết không chịu Bắc
thuộc.
Xin mời quư bạn xem phần lược
thuật chương 13 cuốn “On China”. Nguyên văn
bản Anh ngữ đính kèm sau bài lược thuật.
Trần B́nh Nam
* * *
Tháng 4/1979 Thủ tướng Hoa Quốc
Phong miêu tả động thái của Liên bang Xô
viết (TBN: hiện nay là Liên bang Nga. Trong
bài lược thuật này khi nói đến Liên bang Xô
viết tôi viết gọn là “Nga”) đối với cuộc xâm
lăng 6 tuần của Trung quốc vào Việt Nam mấy
tháng trước đó như sau: “Chúng tôi đă có thể
“sờ đít cọp, mà cọp không dám vồ”. Cọp đây
là Nga.
Trung quốc xâm lăng Việt Nam nói
là “dạy Việt Nam một bài học” ngày 17/2/1979
sau khi Việt Nam kư Hiệp ước an ninh với Nga
và tấn công lật đổ chế độ Polpot (thân Trung
quốc) tại Cam Bốt. Cuộc xâm lăng rất đắt giá
đối với Trung quốc, nhưng là một thắng lợi
chiến lược của Trung quốc v́ Nga đă không
dám hành động, cho thế giới thấy khả năng
của Nga rất giới hạn. Nh́n trên phương điện
đó trận chiến tranh biên giới 1979 là điểm
khởi đầu tiến tŕnh sụp đổ của Nga, mặc dù
lúc đó không ai dám bạo gan tiên đoán điều
đó. Và trận chiến tranh cũng là cao điểm hợp
tác giữa Hoa Kỳ và Trung quốc trong cuộc
chiến tranh lạnh.
Việt Nam làm các siêu cường bối rối: Nghĩ
cho cùng Trung quốc dính líu vào cuộc chiến
với Việt Nam năm 1979 (TBN: đúng ra phải nói
là dính líu vào cuôc chiến chống Hoa Kỳ của
Việt Nam)cũng giống như Hoa Kỳ đă can thiệp
vào Việt Nam. Cả hai đều đánh giá thấp khả
năng chịu đựng của Việt Nam. Hoa Kỳ nghĩ
rằng Việt Nam là một nước nhỏ cho nên khi
chấp nhận đương đầu với Hoa Kỳ Việt Nam chỉ
là con tốt đầu của một chiến lược thôn tính
Á châu của Nga và Trung quốc. Các nhà chiến
lược Hoa Kỳ nghĩ rằng khi Hoa Kỳ đổ quân vào
Việt Nam, Nga và Trung quốc thấy không thể
ăn được sẽ t́m cách thúc đẩy Hà Nội thương
thuyết.
Điều này đă tỏ ra không đúng, v́
Việt Nam có ư định riêng là thực hiện cho
bằng được Liên bang Đông Dương do Hà Nội
lănh đạo bất chấp Nga và Trung quốc tính
toán ǵ.
Trung quốc cũng hiểu nhầm ư định
của đảng cộng sản Việt Nam. Trung quốc giúp
Bắc việt cốt ngăn không cho Hoa Kỳ thiết lập
căn cứ quân sự tại mạn nam Trung quốc. Trong
khi mục tiêu của đảng cộng sản Việt Nam là
thống nhất rồi sau đó bành trướng thế lực ra
vùng Đông Nam Á.
Để giúp Việt Nam Trung quốc đă
gởi qua Việt Nam 100.000 dân quân giúp bảo
tŕ hệ thống chuyển vận và tiếp liệu. Nhưng
sau khi Hà Nội thắng và thống nhất đất nước
Trung quốc đứng trước một mối đe dọa lớn hơn
sự hiện diện của Hoa Kỳ.
Việt Nam không bao giờ tin Trung
quốc, và điều này có tính lịch sử. Việt Nam
bị Trung quốc thôn tính từ thế kỷ 2 đến thế
kỷ 10, thâm nhập ảnh hưởng Trung quốc từ chữ
viết đến văn hóa, nhưng Việt Nam không để bị
đồng hóa. Từ năm 907 sau khi thu hồi được
độc lập các vua chúa Việt Nam đă dùng văn
hóa Trung quốc làm chất liệu xây dựng một
quốc gia độc lập riêng biệt.
Quá tŕnh chống Trung quốc duy
tŕ độc lập làm cho Việt Nam là một dân tộc
biết tự hào và giỏi chinh chiến. Nếu Trung
quốc xem ḿnh là một nước lớn nằm giữa trời
đất(đại trung) th́ Việt Nam cũng tự coi ḿnh
là một tiểu quốc nằm giữa (tiểu trung) đối
với các nước chung quanh. Trong chiến tranh
chống Pháp và chống Hoa Kỳ Việt Nam đă khai
thác sự trung lập của Lào và Cam bốt, và sau
chiến tranh (1975) đă hành xử như nước đàn
anh của hai quốc gia này.
Khi giúp Việt Nam, Trung quốc
biết rằng rồi ra Trung quốc và Việt Nam sẽ
tranh chấp nhau chiếm thế chủ động tại Đông
Dương và vùng Đông Nam Á (TBN: và đó là lư
do tại sao Trung quốc không muốn Hà Nội
thắng miền Nam, thống nhất đất nước.) Trớ
trêu là trong cuộc chiến tranh chống Hoa Kỳ
(1963- 1975) Trung quốc giúp Việt Nam đánh
đuổi Hoa Kỳ ra khỏi Đông Dương, nhưng thật
ra Hoa Kỳ và Trung quốc có mục đích giống
nhau. Đó là duy tŕ 4 nước Nam, Bắc Việt
Nam, Lào, Cam Bốt độc lập và ngang hàng nhau.
Năm 1965 Mao đă nói với nhà báo Edgar Snow
rằng Trung quốc có thể chấp nhận sự tồn tại
một nước Nam Việt Nam.
Năm 1971 trong chuyến đi bí mật
đến Bắc Kinh Chu Ân Lai nói với Kissinger
rằng hành động của Trung quốc tại Việt Nam
không phải là tính toán chiến lược hay phục
vụ chủ nghĩa mà chỉ đơn thuần là nhiệm vụ
trả món mợ truyền thống giữa hai quốc gia.
Có lẽ Trung quốc nghĩ Bắc Việt không thể
thắng Hoa Kỳ, và khi Việt Nam bị chia đôi
Bắc Việt Nam phải lệ thuộc vào Trung quốc
như Bắc Hàn sau trận chiến tranh 1950- 1953.
Nhưng khi có dấu hiệu Hà Nội có
thể thắng Trung quốc bắt đầu cho xây dựng
đường sá ở Bắc Lào để chuẩn bị. Năm 1973 sau
khi Hiệp Định Paris được kư kết Kissinger và
Chu Ân Lai bàn với nhau một giải pháp cho
Cam Bốt dựa vào 3 thành phần chính trị:
Sihanouk, chính phủ Lon Nol và Khmer Đỏ nhắm
mục đích chận ảnh hưởng của Hà Nội. Vụ này
không thành v́ quốc hội Hoa Kỳ cấm các hoạt
động quân sự của Mỹ tại Đông Dương.
Kissinger thuật lại rằng tháng
2/1973 khi ông đến Hà Nội bàn việc thi hành
Hiệp Định Paris vừa được bút phê (initial)
hai tuần trước tại Paris, Lê Đức Thọ dẫn ông
đến xem viện bảo tàng quốc gia chỉ để chỉ
cho ông nơi trưng bày chứng tích của cuộc
chiến đấu chống Trung quốc trong suốt chiều
dài của lịch sử Việt Nam.
Sau khi Hà Nội chiếm miền Nam
thống nhất đất nước, bất ḥa giữa hai nước
không c̣n che đậy được nữa. Với tham vọng
lănh đạo vùng Đông Nam Á, Việt Nam trở thành
một khâu trong ṿng vây Trung quốc. Để phá
khâu, Trung quốc bắt đầu đóng chốt tại Cam
Bốt.
Tháng 8 năm 1975, khi Khieu
Samphan thăm Bắc Kinh, Đặng Tiểu B́nh nói
với Khieu Sampang rằng
“Mỹ
đi Nga tới. Hai nước chúng ta có bổn phận
hợp tác nhau chống đế quốc và bá quyền.”
Cuối năm 1975, nạn “cáp duồng”(giết
người Việt) đă đuổi 150.000 người Việt cư
trú lâu đời tại Cam Bốt về Việt Nam. Cùng
trong khoảng thời gian đó người Việt gốc Hoa
bị áp lực rời Việt Nam. Từ tháng 2/1976 đến
đầu năm 1977 Trung quốc chấm dứt dần mọi
viện trợ cho Việt Nam. Hành động của Trung
quốc làm cho Việt Nam càng ngả về Nga. Trong
một buổi họp của Bộ chính trị tháng 6/1976
đảng cộng sản Việt Nam công khai xác định
Trung quốc là kẻ thù chính của Việt Nam.
Cũng trong tháng 6/1976 Việt Nam gia nhập
khối kinh tế Comecon do Nga cầm đầu.
Tháng 11/1978 Việt Nam và Nga kư Hiệp Ước An
ninh (Treaty of Friendship and Cooperation).
Tháng 12/1978 quân đội Việt Nam xâm lăng lật
đổ chính phủ Polpot thân Trung quốc và thiết
lập tại Nam Vang một chính phủ thân Việt
Nam.
Trung quốc cảm thấy tứ bề thọ
địch. Phía Bắc, 50 sư đoàn Hồng quân Xô viết;
phía Tây, Afghanistan nằm dưới ảnh hưởng của
Nga. Bắc Kinh cũng nghi Nga đứng sau lưng
cuộc các mạng Hồi giáo tại Iran trong tháng
1/1979. Trong khi đó Nga đang thương thuyết
hiệp ước SAL gia giảm vũ khí chiến lược
(SALT II) với Hoa Kỳ để yên mặt Tây. Và giờ
đây liên minh quân sự với Việt Nam. Trung
quốc tự hỏi: Nga c̣n có mục đích ǵ khác
ngoài việc thắt chặt ṿng vây Trung quốc?
Tây phương và Trung quốc có
những đối sách khác nhau khi bị đe dọa. Tây
phương dè dặt để tránh bùng nổ, trong khi
Trung quốc có khuynh hướng phản ứng mạnh.
Hoa Kỳ đă khuyên Đặng Tiểu B́nh dè dặt sau
khi Việt Nam xâm lăng Cam Bốt. Nhưng Đặng,
mặc dù biết quân đội Trung quốc không tinh
nhuệ như quân đội Việt Nam, vẫn thấy cần
động binh trả đũa để nâng tinh thần quần
chúng và quân đội.
Để chuẩn bị Đăng kết thân với
các nước Đông Nam Á đang bị Việt Nam đe dọa
và t́m cách xích lại gần Hoa Kỳ.
Chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với
Hoa Kỳ: Từ khi tổng thống Carter lên
cầm quyền, Trung quốc và Hoa Kỳ xúc tiến
việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai
nước. Chướng ngại chính là quan hệ ngoại
giao giữa Hoa Kỳ và Đài Loan.
Trước đó Tổng thống Ford đă đề
nghị thiết lập bang giao với Trung quốc, và
sau khi bang giao Hoa Kỳ sẽ duy tŕ một h́nh
thức quan hệ nào đó với Đài Loan, nhưng
Trung quốc không chấp thuận.
Giữa năm 1978 Hoa Kỳ và Trung
quốc đều cảm thấy áp lực của Nga tại Phi
châu, Trung Đông và Đông Nam Á nên nhượng bộ
nhau trong vụ Đài Loan.
Ngày 17/5/1978 Cố vấn an ninh
Zbigniew Brzezinski của Tổng
thống Carter đi Bắc Kinh. Qua chuyến đi
Brzezinski nhận thấy Đặng và Bộ trưởng Ngoại
giao Hoàng Hoa “làm ra vẻ” không quan tâm
đến an ninh của Trung quốc mà chỉ tŕnh bày
bức tranh đe dọa của Nga đối với thế giới,
cho rằng Hoa Kỳ đă quá nhân nhượng với Nga,
và thuyết phục Hoa Kỳ cùng hành động. Trung
quốc hàm ư với Brzezinski nếu Hoa Kỳ do dự
Trung quốc sẽ hành động một ḿnh. Đặng và
Hoàng Hoa cho rằng chỉ có áp lực mới chận
được tham vọng của Nga. Nga chỉ phô
trương chứ không mạnh. Và rằng Nga chỉ
có thể dọa nạt các nước yếu, nhưng sẽ sợ kẻ
làm mạnh.
Về t́nh h́nh ở biên giới phía
nam Trung quốc, Hoàng Hoa nói Việt Nam đang
thành lập Liên bang Đông Dương với sự yểm
trợ của Nga. Hoàng Hoa tiên đoán sẽ có chiến
tranh giữa Việt Nam và Cam Bốt chứ không
phải chỉ có những vụ đụng độ nhỏ ở biên giới
như hiện nay.
Kết quả công tác của Brzezinski
là Hoa Kỳ và Trung quốc đồng ư cần gác qua
các trở ngại để thiết lập bang giao v́ đó là
nhu cầu thiết yếu ổn định thế giới. Ngày
15/12/1978 Hoa Kỳ và Trung quốc tuyên bố
bang giao hai nước sẽ được tái lập ngày
1/1/1979 và Hoa Kỳ chính thức mời Đặng Tiểu
B́nh thăm viếng Hoa Kỳ trong tháng 1/1979.
Tháng 4/1979 sau khi hai bên đă
thiết lập bang giao, quốc hội Hoa Kỳ thông
qua luật “Quan Hệ với Đài Loan” (Taiwan
Relations Act)cam kết bảo vệ Đài Loan.
Ṿng du thuyết chống Nga và Việt Nam của
Đặng Tiểu B́nh: Trong 2 năm 1978 và 1979
Đặng thực hiện một loạt thăm viếng các nước
Đông Nam A để rỉ tai và tuyên truyền chính
sách chống bá quyền Nga và Việt Nam tại Đông
Nam Á, đồng thời vận động mua bán hiểu biết
kỹ thuật, đặc biệt tại Nhật và kêu gọi người
gốc Hoa tại các nước Đông Nam Á mang tiền
bạc về đầu tư ở quê Mẹ.
Các nước Đông Nam Á vốn không sợ
Nga và Việt Nam bằng sợ Trung quốc. Ở nước
nào cũng có một cộng đồng người Hoa sẵn sàng
làm việc cho Bắc Kinh hơn là trung thành với
nước đang sống (và mang quốc tịch), và đó là
một mối đe dọa lớn. Tuy nhiên Đặng thành
công làm cho các nước Đông Nam Á ít sợ Trung
quốc hơn trước.
Đặng Tiểu B́nh công du Hoa Kỳ
sau khi bang giao được thiết lập và trước
khi Trung quốc đánh Việt Nam. Cốt ư của
Trung quốc là cho thế giới hiểu rằng Hoa Kỳ
ủng hộ việc Trung quốc đánh Việt Nam. Cũng
như năm 1958 Mao cho pháo kích Kim Môn & Mă
Tổ 3 tuần lễ sau khi Khrushchev đến thăm Bắc
Kinh để khéo léo cho thế giới hiểu rằng Nga
khuyến khích Mao làm mạnh.
Trên thực tế Trung quốc có thông
báo cho Hoa Kỳ biết sẽ đánh Việt Nam trước
khi Đặng Tiểu B́nh lên đường đi Mỹ, nhưng
Hoa Kỳ không hứa hẹn ǵ. Tuy nhiên Đặng đă
thành công làm cho Nga dè dặt nếu định trả
đũa.
Trong chuyến đi Hoa Kỳ Đặng làm
tất cả những ǵ cần thiết cho Trung quốc:
ngoại giao, mậu dịch, xin yểm trợ kỹ thuật,
tuyên truyền cảnh giác thế giới tham vọng
của Nga có thể đưa đến Thế giới Chiến tranh
lần thứ 3 … Nhưng Đặng tránh không kư kết
một Liên Minh Quân sự với Hoa Kỳ. Đặng tạo
ra một sự thỏa thuận an ninh bất thành văn
để chống Nga tại Á châu. Đặng muốn một NATO
Á châu, nhưng là một NATO không văn bản.
Đặng cho Hoa Kỳ biết Trung quốc sẵn sàng
dùng quân sự để chận đứng sự bành trướng của
Nga tại Á châu dù quân đội Trung quốc c̣n
yếu kém nhiều mặt. Đặng cảnh giác tổng thống
Carter rằng Việt Nam sẽ không ngừng ở Liên
bang Đông Dương. Sau Đông Dương sẽ là Thái
Lan và các nước Đông Á khác!
Trung quốc có nghĩ đến một cuộc
tấn công quy mô của Nga vào biên giới phía
bắc Trung quốc do sự ràng buộc của Hiệp Ước
An ninh Nga- Việt. Nhưng Đặng nói với Tổng
thống Carter rằng một cuộc tấn công ngắn hạn
(của Trung quốc vào Việt Nam) sẽ không cho
Nga đủ th́ giờ chuẩn bi nhất là đang vào mùa
đông giá tuyết. Đặng nhấn mạnh, nếu Nga đánh,
Trung quốc cũng không sợ. Trung quốc đă cho
di tản 300.000 ngàn dân sống dọc biên giới
và đặt các sư đoàn Bắc phương trong t́nh
trạng sẵn sàng. Điều Trung quốc cần là thái
độ “ỡm ờ” của Hoa Kỳ để làm cho Nga lúng
túng.
Tổng thống Carter và Cố vấn An
ninh Brzezinski có ư kiến khác nhau trước ư
định đánh Việt Nam của Đặng. Brzezinski muốn
đánh. Carter trong thâm tâm do dự, nói
“Không” với Đặng, nhưng bằng một cung cách
có thể hiểu ngầm là “Có”.
Carter nói với Đặng rằng sau khi
Việt Nam xâm lăng Cam Bốt, khối Asean, Liên
hiệp quốc đều lên án Việt Nam hiếu chiến như
Nga và Cuba. Nếu bây giờ Trung quốc đánh
Việt Nam dư luận thế giới đang chống Việt
Nam trở nên có cảm t́nh với Việt Nam. Hơn
nữa chính sách của Hoa Kỳ không khuyến khích
bạo lực. Hoa Kỳ nghĩ rằng việc đánh Việt Nam
sẽ làm mất sự ổn định trên thế giới. Nhưng,
Hoa Kỳ có thể giúp cung cấp tin tức t́nh báo
cho Trung quốc. Tin t́nh báo đầu tiên là Hoa
Kỳ biết Nga không chuyển thêm quân đến biên
giới Nga-Hoa. Trong một cuộc họp riêng giữa
Carter và Đặng (và chỉ một phiên dịch viên)
Đặng nói với Carter lợi ích chiến lược quan
trọng hơn dư luận thế giới. Và Trung quốc
phải “dạy Việt Nam một bài học” nếu không
thế giới sẽ xem Trung quốc là yếu kém.
Ngày 4/2/1979 Đặng rời Hoa Kỳ.
Trên đường về Đặng ghé lại Nhật Bản (lần thứ
hai trong ṿng chưa quá 6 tháng) và không do
dự cho thủ tướng Nhật Masayoshi Ohira biết
Trung quốc sẽ đánh Việt Nam trong nay mai.
Chuyến đi của Đặng qua các nước
Miến Điện, Nepal, Mă Lai Á, Sigapore, Nhật
và Hoa Kỳ xem như thành công đưa vai tṛ của
Trung quốc lên cao trên b́nh diện quốc tế,
đồng thời cô lập Việt Nam.
Cuộc chiến tranh Việt Nam lần thứ 3: Ngày
17/2/1979 Trung quốc xua khoảng 300.000 quân
gồm hải lục không quân, quân chính quy và
địa phương
quân từ các tỉnh Vân Nam và Quảng Tây tiến
vào Việt Nam nói là “Cuộc phản công đánh
Việt Nam bảo vệ biên giới”. Cuộc hành quân
rầm rộ không khác ǵ cuộc đổ quân vào Bắc
Hàn tháng 11 năm 1950. Trung quốc tuyên bố
cuộc tấn có giới hạn và nhắm mục đích chận
kế hoạch bành trướng của Việt Nam.

Đặng Tiểu B́nh đă đoán đúng. Nga
không nhảy vào trận để bênh Việt Nam. Một
ngày sau khi chiến tranh bùng nổ Nga tố cáo
“Trung quốc phạm tội gây chiến, và nhân dân
Việt Nam anh hùng sẽ đánh thắng Trung quốc
như đă từng đánh thắng…”, đồng thời cho
không vận vũ khí (một cách giới hạn) đến Hà
Nội, và gởi hạm đội đến Vịnh Bắc Việt đề
pḥng quân đội Trung quốc đổ bộ lên vùng
Thanh hóa Nghệ An. Nói cách khác, Nga giúp
Việt Nam những ǵ có thể làm nhưng tránh
không để bị lôi vào một cuộc chiến tranh quy
mô với Trung quốc có thể làm cho Hoa Kỳ phải
nhập cuộc. Thái độ của Nga không khác ǵ 20
năm trước đó Nga đă không tích cực giúp
Trung quốc trong vụ khủng hoảng trên eo biển
Đài Loan do việc tranh chấp hải đảo Kim Môn
Mă Tổ đưa đến việc chạm trán tưởng chừng có
chiến tranh giữa Trung quốc và Hoa Kỳ. Như
với cuộc chiến biên giới với Ấn Độ năm 1962,
Trung quốc dùng chiến thuật biển người đánh
ồ ạt trong 29 ngày bất chấp tổn thất rồi rút
quân sau khi chiếm giữ những vùng đang tranh
chấp và các điểm cao chiến lược tại biên
giới.
Sau cuộc tấn công, Hoa Quốc
Phong tuyên bố: “Nga chỉ dọa như rộn ràng
chuyển quân nơi biên giới, gởi hạm đội đến
Biển Đông, nhưng không dám can thiệp. Chúng
ta đă có thể “sờ đít cọp”.
Một tháng sau, tiến sĩ Kissinger
thăm Bắc Kinh. Giữa Đặng Tiểu B́nh và
Kissinger có cuộc trao đổi đáng nhớ:
Đặng: Sau khi thăm Hoa Kỳ trở về, chúng tôi
đă đánh Việt Nam. Ở quư quốc tôi đă hỏi ư
kiến tổng thống Carter. Tổng thống Carter
trả lời “nước đôi” nhưng nghiêm túc bằng
cách đọc ư kiến của ông đă được ghi sẵn trên
giấy. Tôi nói với tổng thống chúng tôi sẽ
hành động một ḿnh và nhận trách nhiệm một
ḿnh. Nghĩ lại phải chi chúng tôi đánh sâu
hơn vào Việt Nam th́ tốt hơn.
Kissinger: Có thể là vậy.
Đặng: Quân đội Trung quốc lúc đó có khả năng
tiến sâu vào Hà Nội, nhưng chúng tôi không
làm.
Kissinger: Nếu làm th́ quư vị đă đi quá xa
với mục tiêu đă định.
Đặng: Ông nói đúng. Nhưng chúng tôi có thể
tiến sâu hơn 30 km nữa. Chúng tôi đă chiếm
tất cả các cứ điểm pḥng thủ. Con đường tiến
vào Hà Nội mở rộng thênh thang.
Dư luận chung trong giới sử gia
cho rằng trận đánh của Trung quốc là một
thất bại tốn kém v́ trong cuộc Cách mạng Văn
Hóa quân đội chỉ được học tập chính trị mà
thiếu rèn luyện quân sự, vũ khí lỗi thời,
tiếp vận yếu kém, chiến thuật cứng nhắc.
Quân đội Trung quốc chỉ có thể tiến sâu vào
Việt Nam với chiến thuật biển người với một
giá rất đắt về nhân mạng.
Trong một tháng
Trung quốc tổn thất hơn 50.000 binh sĩ, xấp
xỉ bằng con số tổn thất của Hoa Kỳ tại Việt
Nam từ năm 1964 đến 1975.
Tuy nhiên các sử gia đă không
đánh giá đúng mức tính toán chiến lược của
Trung quốc. Đánh Việt Nam cốt ư của Trung
quốc là chận đà bành trướng của Nga trên thế
giới.
Về mặt này Trung quốc đạt được
kết quả mong muốn. Trận đánh làm cho Trung
quốc và Hoa Kỳ dễ bắt tay nhau hơn trong nỗ
lực chống Nga. Hai chuyến đi đáng ghi trong
sự bắt tay này.
Tháng 8/1979 Phó tổng thống
Mondale đi Bắc Kinh bàn thế trận ngăn chận
Việt Nam thành lập liên bang Đông Dương. Cái
khó của Hoa Kỳ là chính sách này đ̣i hỏi Hoa
Kỳ ủng hộ Polpot trong khi Polpot đang bị
thế giới kết tội diệt chủng. Do đó Hoa Kỳ và
Trung quốc dàn xếp để Hoa Kỳ giúp các lực
lượng Cam Bốt chống Việt Nam qua trung gian
Thái Lan và công nhận ghế của chính phủ lưu
vong Cam Bốt tại Liên hiệp quốc. Sau đó Bộ
trưởng Quốc pḥng Harold Brown đi Bắc Kinh
thảo luận kế hoạch hợp tác quân sự, qua đó
Hoa Kỳ chuyển nhượng một số hiểu biết kỹ
thuật quân sự (chưa từng nhượng cho Nga) và
bán vũ khí cho Trung quốc.
Áp lực của Trung quốc làm cho
Việt Nam và Nga tiêu hao năng lực. Việt Nam
duy tŕ một đạo quân 1 triệu người để bảo vệ
biên giới và pḥng chống một trận đánh thứ
hai của Trung quốc làm cho kinh tế Việt Nam
suy kém v́ thiếu lao động sản xuất. Riêng
Nga mỗi năm viện trợ cho Việt Nam gần 1 tỉ
mỹ kim nên sức cạn kiệt dần và đó là một
trong những nguyên nhân đưa đến sụp đổ sau
này. Khi Nga không c̣n sức viện trợ cho Việt
Nam, Việt Nam phải rút quân khỏi Cam Bốt.
Nh́n chung Trung quốc đă thành
công ngăn chận Nga và Việt Nam thống trị
Đông Nam và kiểm soát eo biển Malacca. Kẻ
thua cuộc chính là Nga.
Mực kư Hiệp ước An ninh với Việt
Nam chưa khô (mới 1 tháng) nhưng Nga ngồi
yên bất động khi Trung quốc đánh Việt Nam là
một dấu hiệu suy yếu của Nga. Phải chăng do
cảm nhận này, một năm sau Nga quyết định can
thiệp vào Afghanistan để lại chuốc lấy thất
bại.
Nh́n lại trận chiến tranh Việt
Nam lần thứ 3 năm 1979 cũng như việc quyết
định đổ quân vào trận chiến Triều tiên năm
1950 Trung quốc đă thành công chiến lược to
lớn v́ biết lượng định ván cờ thế giới và
tính toán khéo léo “lấy ít đánh nhiều, lấy
yếu đánh mạnh” như “Nghệ Thuật Chiến Tranh”
của Tôn tử. Trong cả hai cuộc chiến Trung
quốc đă chọn đúng thời gian và không gian để
nhảy vào cuộc. Lần thứ nhất tại Triều tiên
khi quân đội Hoa Kỳ tiến sát biên giới Trung
quốc-Triều Tiên; lần thứ hai khi Việt Nam
xâm lăng Cam Bốt.
Về cuộc chiến biên giới Hoa-Việt
năm 1979, Phó thủ tướng Geng Biao đă tóm tắt
với cố vấn an ninh Brzezinski như sau: “Nga
giúp Việt Nam là một phần trong sách lược
toàn cầu của Nga. Nga và Việt Nam không chỉ
nhắm Thái Lan sau Cam Bốt. Mục tiêu nhắm tới
c̣n là Mă Lai Á, Singapore, Indonesia và eo
biển Malacca. Nếu Nga-Việt thành công Asean
sẽ sụp đổ và con đường biển huyết mạch của
Hoa Kỳ và Nhật Bản qua eo biển Malacca sẽ bị
nghẽn. Trung quốc đă ngăn chận không cho
t́nh trạng bi đát này xẩy ra. Trung quốc
chưa có sức đánh với Nga, nhưng thừa sức
đương đầu với Việt Nam”.
Thực tế Trung quốc đă hành đọng
và trả một giá vật chất và nhân mạng rất cao.
Tuy nhiên Trung quốc đă chứng tỏ cho Hoa Kỳ
thấy Nga không mạnh như Hoa Kỳ đă tưởng, và
Trung quốc không sợ Nga.
Thủ tướng Lư Quang Diệu của
Singapore chí lư khi đánh giá cuộc chiến
biên giới Việt Nam như sau: “Báo chí Tây
phương đánh giá bài học Trung quốc tặng Việt
Nam là một thất bại, nhưng theo tôi trận
đánh đó đă thay đổi hướng lịch sử của Đông
Á.”
Trần B́nh Nam
lược thuật
June 5, 2011 |