Home

Trang Chính

Bản Tin

Sinh Hoạt

Tham Luận

Hoài Băo Quê Hương

Văn Học Nghệ Thuật

Thư Tín

Bài vở xin gửi về địa chỉ sau đây:
3108 E. Sawyer St.
Long Beach, CA 90805

                                                                  

 

 TRẬN ĐIỆN BIÊN PHỦ

Nguyên tác của Henri Navarre
Trọng Đạt dịch

    (Bài 3,  tiếp theo và hết)

      Chỉ Đạo Cuộc Chiến

     Trận ĐBP có thể được lănh đạo khác hơn như thế không? Người ta phải tăng viện, như đă làm, cho đồn lũy và kéo dài cuộc kháng cự gần như tuyệt vọng hay không? Hay đúng hơn có thể phải di tản sớm hơn? Có thể giải cứu từ bên ngoài hay không? Có nhiều câu hỏi cần giải đáp.

    Tăng viện và kéo dài cầm cự

    Béatrice và Gabrielle thất thủ ngày từ ngày 15 tháng ba đă đưa tới khủng hoảng vô cùng trầm trọng. Trước hết là khủng hoảng tinh thần v́ cấp thừa hành nhận thức một cách phũ phàng về sức mạnh của địch, mặc dù đă cảnh giác trước về nó từ ba tháng  qua, trong chiều hướng mà cấp chỉ huy cũng đă linh cảm trước nhưng không biết đúng sự thật. Xúc động mạnh về tâm lư tạo kinh ngạc khiến nhiều người cảm thấy bất lực và nghi ngờ khả năng pḥng thủ. Từ quá tự tin bỗng mọi người chán nản bi quan.

   Chiến thuật cũng bị khủng hoảng, sự sụp đổ một phần lực lượng bố trí của ta, sự xiết chặt của địch, hỏa lực pḥng không ngăn chận và những trận pháo kích mà phi trường phải chịu đă báo cho người ta thấy trước sự sụp đổ của đồn lũy nếu nó không được bên ngoài yểm trợ hoặc phải tự giải cứu ḿnh.

    V́ tiềm lực không quân yếu, thời hạn cần thiết để tập họp mọi phương tiện để giải cứu dù bằng h́nh thức nào ít nhất cũng mười lăm ngày. Mà rơ ràng là khả năng cầm cự của Điện Biên Phủ nếu không được tăng viện th́ không thể giữ được trong khoảng thời gian này.

   Lại nữa tiên đoán những cuộc tấn công cấp kỳ tiếp theo của địch, ta cần che phủ sự chán chường của quân trú pḥng bằng cách chống lại sự xúc động tâm lư. Những tiểu đoàn mới được đưa tới cho họ thấy t́nh thế không phải là hết lối thoát và đồn lũy không bị bỏ rơi (1)

   Mới đầu quyết định tăng viện cho ĐBP bằng nhẩy dù tới giới hạn là ba tiều đoàn để khả dĩ cho phép đại tá de Castrie có thể lấy lại các trung tâm pḥng thủ đă mất nếu không th́ ít ra cũng giữ được.

    Sau khi thả dù ba tiểu đoàn đầu tiên, những tổn thất (của ĐBP) cần gửi tăng viện liên tiếp. Để khỏi tiêu hao những tiểu đoàn dù c̣n lại mà nó cẩn để mở hành quân giải cứu, những đợt tăng viện mới đầu bằng những người riêng rẽ, trước hết có bằng nhẩy dù, rồi những người t́nh nguyện chỉ được huấn luyện tối thiểu dưới đất. Số t́nh nguyện vượt quá xa nhu cầu. Cần chưa tới 500 người để thả xuống, có 1,800 tŕnh diện xin đi trong đó 800 là người Pháp, 450 Lê Dương (2), 400 Bắc phi, và khoảng 150 người Việt. Trong đó có người là thư kư, tùy phái, những người đủ điều kiện hồi hương ở lại thêm.

    Trong những ngày cuối cùng của trận đánh, chiến dịch giải cứu không thực hiện được v́ những lư do sẽ được nói tới sau, một tiểu đoàn nhẩy dù cuối cùng đă được thả xuống mục đích để đồn lũy giữ thêm mấy ngày (3)

    Người ta vẫn thường hỏi tại sao có sự nhiệt t́nh kéo dài kháng cự? Câu hỏi này chỉ được đặt ra- và nhất là đôi khi được giới quân sự đặt - đo lường sự suy thoái tinh thần giới quân sự ở vài nơi. Trong một quân đội có vài truyền thống tinh thần cao mà sự quên lăng tất nhiên có nghĩa là sự kết thúc của quân đội ấy. Không đầu hàng mà không tận dụng tất cả những phương tiện đă có trong chúng ta, đó là một trong những truyền thống ấy. Những người lính bảo vệ ĐBP phải giữ nó bằng mọi giá.

    Tôi đă chẳng v́ danh dự của quân đội làm nguyên do ra lệnh kéo dài chiến đấu, tôi sẵn sàng làm thế cho dù phải đau ḷng với quyết định này. Nhưng những lư do cụ thể đ̣i hỏi ta phải làm thế.

   Trước hết chính phủ không loại trừ khả năng, từ ngày khai mạc hội nghị Genève “một cuộc ngưng bắn ngay” do phía bên kia (CS) đề nghị, do một cường quốc trung lập hay do chính chúng ta. Nó đă cứu được doanh trại mà sự kháng cự đă là lá bài hàng đầu cho các nhà thương thuyết phía ta. V́ sự đồng t́nh với Chính phủ mà trận đánh đă kéo dài tối đa trong niềm hy vọng đó.

   Một lư do khác là sự cần thiết làm chậm lại chừng nào hay chừng nấy - và nếu có thể được cho tới những trận mưa rào mùa xuân – khi mà Quân đoàn VM sau ĐBP được rảnh tay nó sẽ quay về Đồng bằng Bắc kỳ. Nhận định này do tướng Cogny, trong bức thư ngày 3 tháng năm c̣n xin tôi tiếp tục cho “kháng cự tại chỗ cho tới khi cạn kiệt súng đạn, tiếp liệu .. duy tŕ tối đa khả năng sẵn có” để mà “thực hiện sự kéo dài thời gian cầm chân Quân đoàn VM” mà ông đánh giá “môt điều quan trọng hàng đầu để bảo vệ Châu thổ Bắc Kỳ” 

Chú thích.

(1) Quyết định này đă được Đại tướng Ely, TTM trưởng đánh điện tín chấp thuận (chú thích của tác giả)

(2) Lính Lê dương phần nhiều là người Đức đi lính cho Pháp (chú thích của người dịch)

(3) Việc nhẩy dù xuống ĐBP, mà cho dù là những người nhẩy có bằng hoặc những người tinh nguyện không được huấn luyện là một hành động anh dũng mà không có ǵ đáng kính phục hơn. Có một kư giả vô ư thức đă viết là “bệnh hoạn, nhợt nhạt” và coi đó là “những anh hùng thập cẩm không có cách nào hơn là tự tử”. Mặc dù tôi đă cố gắng hết ḿnh, nhưng không xin được lệnh của Chính phủ - đáng tiếc thay nó cần thiết khi có bằng chứng về báo chí- để truy tố người này ra trước Ṭa án quân sự, ṭa sẽ dựa vào một điều khoản chính số 6 để buộc tội y. (chú thích của tác giả)

     Di tản

    Đồn lũy ĐBP như đầu tiên được nhận định là để ngăn chận đường đi Thượng Lào của Sư đoàn 316 tăng viện nghĩa là chống lại một sư đoàn lớn nhưng nó không có vũ khí nặng.

   Có lẽ ta có thể di tản đầu tháng 12 (1953), chúng ta đă nhận được những tin t́nh báo có thể có sự kéo đến toàn bộ hay một phần của các Sư đoàn 308, 312 và Sư đoàn nặng (đại bác, cao xạ) 351. Sự di tản đúng lư phải thực hiện trước ngày 10-12 v́ sau ngày này Sư đoàn 316 đă tới gần ĐBP, di tản sẽ không thể tránh thiệt hại nặng.

   Thế mà ngày 10-12 (1953) t́nh báo chưa cho biết khoảng hai sư đoàn tiến về hướng Tây bắc và đó không phải là toàn bộ lực lượng ấy đi về phía ĐBP. Một phần có thể hướng qua Sầm Nứa về Cánh đồng Chum. Sự đe dọa tại ĐBP vẫn chưa được thể hiện toàn bộ và những cái ta biết không thể biện minh tí nào cho quyết định di tản.

    Vả lại nếu rút bỏ ĐBP có nghĩa là từ chối bảo vệ Thượng Lào, dù ta bỏ không đánh hoặc dù ta hoăn lại pḥng thủ Luang Prabang, Vạn Tượng, giải pháp mà tôi nói ở trên chắc chắn không có hiệu lực. Đó chính là từ bỏ nhiệm vụ. Đó là cuộc bỏ chạy đáng xấu hổ, nó không xứng đáng với uy tín của nước Pháp và sẽ kéo theo những hậu quả khôn lường. Sau cùng trong mọi trường hợp từ hai tới ba tiểu đoàn và hầu như toàn bộ vũ trang sẽ bị mất.

    Cuối tháng 12 (1953), áp lực tại ĐBP rất nặng nề. Nhưng từ lúc này v́ lư do chủ lực quân địch rất đông đảo đă bao vây đồn lũy, không thể tính chuyện di tản bằng đường bộ hay đường hàng không. Vả lại viện trợ của Tầu tăng mạnh, rất quan trọng đến độ không c̣n tính hàng loạt như trước khi xẩy ra trận đánh và nhất là trong trận đánh. Mối nguy đưa tới không thể biện minh, vào lúc này, để chúng ta bỏ vị trí chiến lược cần thiết và coi như có cơ hội giữ nó để chấp nhận một cách chắc chắn những hậu quả tất yếu của một cuộc rút lui: sự thê thảm của hậu quả chiến lược, chính trị, tinh thần, bỏ lại tất cả vũ khí và thiệt hại lớn lao về nhân mạng (1)

    Tuy nhiên tôi đă nghiên cứu việc ngẫu nhiên này nhưng chỉ riêng khi nào t́nh h́nh đồn lũy trở nên rất nguy kịch. Ư kiến của tướng Cogny rất rơ ràng. Ông viết thư cho tôi ngày 21-1(1954) “Tôi khẩn khoản xin ông để giữ lại ư định bảo vệ căn cứ ĐBP bằng mọi giá”. Ông nhắc lại với tôi chính quan điểm này trong một bức thư từ ngày 9-1, xin tôi đừng làm tổn hại tinh thần của đồn lũy bằng dự tính rút bỏ nơi đây “mọi người đang phấn khởi v́ hy vọng cuộc pḥng thủ thắng lớn”. Vài tuần trước cuộc tấn công, ông đă đề nghị với tôi một kế dụ cho địch đánh (mà tôi không theo).

   Tới 15 tháng ba, niềm tin hoàn toàn vào lối thoát của cuộc chiến không những chỉ có tướng Cogny và Dechaux, hai người chỉ đạo cuộc chiến, nhưng tất cả cấp thừa hành. Ngày 4-3, sau khi tôi quan sát đồn lũy lần chót trước cuộc tấn công mà chúng tôi biết đă gần kề, tôi đă hỏi nhiều cấp chỉ huy các đơn vị và thấy họ tin tưởng tuyệt đối. Trước khi đi, về phần tướng Cogny và đại tá de Castrie, tôi hỏi họ cho biết cảm tưởng thật khách quan. Đại tá de Castrie trả lời như sau “Sẽ rất cam go nhưng chúng tôi giữ được nếu các ông có hai hay ba tiểu đoàn trừ bị để tăng viện cho chúng tôi (đă được gửi). Về phấn tướng Cogny, ông nói “Chúng ta tới đây để buộc Việt Minh phải giao chiến” (đó là quan điểm của ông hơn là của tôi) “Không nên làm cho địch bỏ cuộc tấn công”. Nhiệm vụ kháng cự không lùi bước đă được giữ. Ngày nay tôi vẫn c̣n cho rằng không có giải pháp nào khác hơn thế. Một khi đă giao chiến, rút lui sẽ làm sụp đổ hoàn toàn doanh trại. Nó chỉ có thể tiên liệu chuẩn bị chiến dịch lấy tên Albatros khi rất nguy kịch. Khi mà sự kéo dài pḥng thủ không thể thực hiện được nữa.

    Tướng de Castrie đă tiên liệu để phân thành ba nhóm độc lập, lần lượt các hướng Tây Nam, Nam và Đông Nam. Những thương binh và vài đơn vị bảo vệ phải ớ tại chỗ theo lệnh trực tiếp của ông. Đại tá Créveccoeur, tư lệnh các lực lượng tại Lào về phần ông đă đưa tới gần ĐBP những đơn vị chính qui và phụ lực quân trên một mặt trận rộng lớn để đón những đoàn quân có thể thoát ra khỏi đồn lũy. Người ta cũng tổ chức cho những máy bay trinh sát hướng dẫn đường và tiếp tế bằng thả dù cho những đoàn quân này.

    Trong đêm 6 và 7 tháng năm, cảm thấy thua trận, tướng de Castrie quyết định với sự đồng ư của tướng Cogny và tôi, thực hiện rút chạy tối hôm sau nhưng cuộc tấn công liên tục của VM đă khiến khu trung ương thất thủ từ xế trưa ngày 7.

    Đồn Isabelle dự định rút đi lúc chập tối 7 và 8. Họ đụng phải quân phục kích của VM khắp mọi hướng và đă thất bại, chỉ c̣n vài chục người sang được Thượng Lào.

Chú thích

(1) Tháng 4-1956, tướng Giáp trả lời phỏng vấn chủ bút tờ Paris –Match, ông cho biết  quân Pháp không thể rút khỏi ĐBP qua khu rừng Thượng Lào được (chú thích của tác giả).

    Giải vây

   Muốn giải vây ĐBP, người ta có thể dự liệu hoặc bằng không quân ồ ạt hay bộ binh.

   Giải thoát bằng chiến dịch thuần túy không quân có thể được nếu bằng những phương tiện lớn lao. Số lượng của không quân ta c̣n lâu mới thực hiện được chiến dịch lớn như vậy. Chỉ có một lực lượng không quân có thể thực hiện những hiệu quả cao hơn nhiều mới có thể đạt kết quả bằng tấn công hoặc đường giao thông, hoặc pháo binh hay pḥng không địch.

   V́ thế một cuộc tấn công ồ ạt của không quân Mỹ đă được dự tính trong một khoảng thời gian ngắn. Báo chí đă nhiều lần ám chỉ đến nó tại Pháp và Mỹ. Tôi xin nói dưới đây về diễn tiến sự việc theo tôi biết.

    Những ngày đầu tháng tư, tôi biết lời đề nghị của Hoa Thịnh Đốn mà tướng Ely đi công tác tại đó, do một sĩ quan gửi trực tiếp  cho tôi ngay rằng Ngũ giác đài nhận định v́ Trung cộng can thiệp trực tiếp nên Mỹ cũng có quyền làm thế, ông Foster Dulles (ngoại trưởng), người tán thành sự can thiệp ngày 5 tháng tư đă tuyên bố trong một cuộc điều trần nổi tiếng trước Ủy ban ngoại vụ Hạ viện Mỹ, ông cho biết viện trợ Trung cộng có tính trực tiếp nhất là sự hiện diện của một số pháo thủ pḥng không người Tầu trong những dàn pháo quanh ĐBP (1)

    Đại tướng Ely đă yêu cầu tôi phải cho ông biết quan điểm gấp, tôi tŕnh bầy ư kiến cần một cuộc tấn công ồ ạt của không quân Mỹ, nếu thực hiện gấp, để cứu ĐBP. Theo tôi biết ông Tổng cao ủy và cả tôi không hề nghĩ sự can thiệp của Mỹ trên đất VN có thể đưa tới nguy cơ mở rộng cuộc chiến. Tại Triều tiên cũng như khi Bá linh bị phong tỏa, phía CS đă không gây thế chiến mà lúc này họ không muốn.

    Chính phủ Pháp cho tôi biết họ chia xẻ ư kiến này và xin can thiệp. Nhưng h́nh như họ chỉ nói trên đầu môi chót lưỡi cho có lệ chứ không tha thiết.

    Kế hoạch yễm trợ không quân được thảo luận tại Hà Nội, Sài g̣n với các tướng lănh không quân Mỹ thuộc Thái b́nh Dương, trong khi đó, họ được lệnh tiếp xúc với tôi. Người ta có thể huy động khoảng 300 chiến đấu oanh tạc cơ từ hàng không mẫu hạm và 60 oanh tạc cơ hạng nặng từ Phi Luật Tân. V́ lư do hệ thống radar hạ tầng cơ sở của chúng tôi thiếu thốn, không thể nói đến yểm trợ sát ngay trên đồn lũy (ĐBP), trên các khẩu pháo hay cao xạ địch  nhưng tấn công các đường giao thông nhất là căn cứ Tuần Giao là có thể được, theo ư kiến các tướng lănh Mỹ có thể hữu hiệu.

    Lệnh thi hành không hề được ban ra.

    Vấn đề được giải quyết công khai, phía tây phương bao giờ cũng thế. Các nghị viên bị tác động tại Hoa Thịnh Đốn và Paris, họ đă tác động lên các chính phủ. Báo chí phổ biến rộng răi, điều đó dễ hiểu.

    Sau thời gian dài do dự - chính v́ kéo dài khiến cuộc tấn công giảm hiệu lực nhiều- chính phủ Mỹ không muốn vào con đường đă được các cố vấn quân sự cổ vơ.

    Bây giờ phải dấu diếm sự rút lui. Muốn vậy người Mỹ tuyên bố rằng sự can thiệp của họ cần phải có những nước khác chấp nhận cùng tham gia với Mỹ. Thật ra họ t́m một cớ ở phía người Anh mà không có nước này không  mặt trận liên minh nào ở Á châu có thể thành. Người ta đ̣i hỏi sự đồng ư của họ - nếu không chỉ là tham gia tượng trưng - và họ lấy cớ bị khước từ mà người ta biết chắc từ trước để từ chối.

    Sự tránh né của Anh – Mỹ đă gợi ra tại Đông Dương phía người dân cũng như lính một sự xúc động sâu xa về tinh thần.

    Chứng cớ rơ ràng là chúng ta chiến đấu đơn độc. Nước Mỹ chỉ muốn nhận những nguy cơ giới hạn nhỏ và chỉ giúp tài chính. Vả lại chính sách này tự thú nhận, bằng tính ngây thơ đáng mỉa mai, qua lời phó tổng thống Nixon trong một bài diễn văn ngày 20-4 (1954) tại Cincinnati “mục đích được định ra là Chính phủ chủ trương một chính sách không gửi lính Mỹ sang chiến đấu ở Đông dương hay nơi nào khác”. Thật hết ư kiến! C̣n về nước Anh, họ không muốn tí nguy hiểm nào cả.. Đó là họ muốn chúng ta chiến đấu không công bảo vệ quyền lợi cho họ tại Đông Nam Á.

    Trước khi nghiên cứu khả năng mở cuộc giải vây dưới đất, cũng ghi nhận một giải pháp đôi khi có thể coi là khả thi. Nó bao gồm thả những tiểu đoàn dù bên ngoài đồn lũy (ĐBP) và họ sẽ tác chiến ngay sau lưng Quân đoàn VM đang bao vây.

    Giải pháp này - đă được nghiên cứu kỹ - nhưng tuyệt đối không thực hiện  được. Mọi sự đều không thuận lợi: địa thế không cho phép những cuộc nhẩy dù lớn ở khoảng cách thích ứng với đồn lũy và không đủ phương tiện vận chuyển không quân, nó không cho phép ta thả những đơn vị trong những điều kiện thuận lợi. Nếu chúng ta xử dụng vài tiểu đoàn dù cho mục đích này chắc chắn sẽ bị thiệt hại, không có ích lợi ǵ .

    C̣n lại vấn đề giải cứu dưới đất. Việc giải cứu ĐBP có thể được dự liệu hoặc từ Thượng Lào, hoặc từ Châu thổ BV.

    Từ Lào, một chiến dịch được đặt tên là Condor đă được sửa soạn từ 15 tháng 12-1953. Nó gồm đem lực lượng của ta từ Thượng Nam Ou sang vùng Nga Na Son (cách phía nam ĐBP 25 km) ở đó có những vùng nhẩy dù loại thường nhưng hữu dụng, bằng cho nhẩy dù một lực lượng tăng cường quan trọng, rồi tiến tới ĐBP để phá ṿng vây. Chiến dịch thể hiện những trở ngại nghiêm trọng trước hết do thế đất khó khăn giữa Nga Nam Sơn và ĐBP nhưng hoàn toàn có thể thực hiện được.

    Từ ngày 15 tháng ba điều lo âu chính của tôi là tổ chức và thực hiện nó. Nhưng khả năng có thể thi hành được gặp trở ngại v́ thiếu tiềm lực không quân, nhất là lănh vực vận tải. Thật vậy, nhịp độ không ngờ của mặt trận, việc tái cung cấp cho đầy các kho tại đồn lũy sau cuộc khủng hoảng ngày 13, 14 tháng ba đă cần những phương tiện hơn gấp đôi dự kiến của tướng Cogny (200 tấn một ngày thay v́ 96). Việc chuyên chở này đă xử dụng tới hầu như toàn bộ phương tiện không quân. Chỉ tới đầu tháng tư, một khi việc tiếp tế đồn lũy gần xong th́ chiến dịch Condor mới được dự liệu.

    Những kết quả mong đợi là nhiệm vụ các lực lượng bộ binh sẽ tham chiến. Cần từ 15 tới 20 tiểu đoàn để kế hoạch được hữu hiệu. Thế nhưng khả năng của không quân chỉ có thể chuyên chở tối ta 7 tiểu đoàn để bảo toàn ĐBP. Những lực lượng chủ lực quân này không đủ để giải cứu thực sự cho đồn lũy. Vả lại có thể là địch sẽ lấy bớt một ít đơn vị trong Quân đoàn bao vây làm giảm bớt áp lực. Nó là ư kiến riêng của Cogny có chút định kiến về về vấn đề.

    Ngày 6 tháng tư, cần phải quyết định thực hiện trong thời hạn khoảng mười ngày, một chiến dịch đưa bốn tiểu đoàn phát xuất từ Thượng Nam Ou và ba tiểu đoàn nhẩy dù thả xuống sát ĐBP. Ngày 12 tháng tư tướng Cogny v́ nhu cầu tái lập tiếp tế đồn lũy một lần nữa, ông đ̣i xếp lại kế hoạch. Ngày 15 tháng tư cùng lư do đó, ông lại yêu cầu chiến dịch được hoăn lại, lại nữa thành lập trừ bị để có thể lấy đi khỏi Châu thổ Bắc kỳ, nới đây khó xẩy ra trận đánh, ba tiểu đoàn dù cho chiến dịch.

   Từ ngày 15 tháng tư, cường độ không vận trên ĐBP thu hút nhiều phương tiện của ta đến nỗi những điều kiện mà chiến dịch Condor đ̣i hỏi không thể thực hiện được.

    Những đơn vị từ Thượng Lào tiến hành để tạo cơ sở khởi động cho chiến dịch, nếu thực hiện được hay ít ra là một căn cứ tiếp đón trong trường hợp họ có thể thoát ra được, nó coi như cái nền, chân của chiến dịch trong trường hợp ĐBP thất thủ, để có thể đón nhận tàn quân từ mặt trận nếu chiến dịch Albatros được tiến hành.

     Một chiến dịch giải cứu từ Châu thổ BV chỉ có thể được nếu chận đánh các đường giao thông địch v́ ĐBP quá xa để tiên liệu tấn công Quân đoàn bao vây.

    Ngay sau khi xác định được di chuyển của Quân đoàn VM tại Thượng du, tôi đă lệnh cho Cogny nghiên cứu và đệ tŕnh với phương tiện sẵn có, về những hoạt động tác chiến đến hậu phương địch mà ta có thể   phát dộng được. 

   Chận đánh đường giao thông (Lạng Sơn –Thái nguyên – Yên Bái –Sơn la – Tuân Giao) có thể dự trù được v́ giữa Thái Nguyên và Yên bái, đường đi của nó có thể khiến việc tấn công Châu thổ BV trong tầm tay.

    Nhưng kinh nghiệm có từ lâu chứng tỏ hệ thống tiếp tế VM rất linh động và thay đổi nhanh, để được ngăn chận lâu dài, không những cần đặt một “nút chận” trên tục giao thông nhưng ngăn cấm bằng một ảnh hưởng bền chắc một vùng quan trọng quanh điểm chiếm đóng. Kế hoạch này đ̣i hỏi nhiều lực lượng, vũ khí…

     Vả lại nghiên cứu về những đường tiếp tế mà VM đă chọn và khả năng đổi hướng khiến ta kết luận chỉ có nút giao thông giữa Tuyên quang Yên bái là những mục tiêu rất tốt. C̣n nữa chỉ có đường thứ hai ngăn chận được là thung lũng sông Hồng hà, nó đă được dùng và nối lại Châu thổ BV bằng cầu không vận hoặc bằng đường bộ. 

    Giải pháp thứ nhất không thực hiện được v́ nó đ̣i hỏi phải lập tại vùng Yên Bái Tuyên quang một căn cứ không quân. Thế mà trong vùng này không thể xây dựng được một căn cứ như vậy.

    C̣n về giải pháp đường bộ hoàn toàn, những yêu cầu về phương tiện của tướng Cogny với những con số vượt quá xa khả năng ta có thể cung cấp. Cho dù tiết giảm việc xử dụng – những việc có thể làm được khi Quân đoàn VM tiến vào Thượng du – và ngay cả khi đ̣i hỏi Châu thổ tham gia nhiều hơn mà tướng Cogny đă tiên liệu – cái có thể làm được, bằng sự tiết giảm lực lượng – vấn đề c̣n lại là t́m được từ ba đến bốn nhóm lưu động.

    Thế nhưng sự tấn công của VM tại miền Trung và Hạ Lào cũng như Cao nguyên Trung phần (VN) để cầm chân quân đội chúng tôi và ngăn cản không cho rút ra những lực lượng di động. Chúng tôi không có sẵn lực lượng nào cả, ngay cả những đơn vị mới thành lập phải tham gia trận chiến ngay.

    Trong những ngày cuối tháng tư (1954), tướng Cogny tŕnh cho tôi một kế hoạch về Phủ Doăn sau khi mới nghiên cứu theo chỉ thị của tôi. Mặc dù tiết giảm hơn các chiến dịch trước nhưng ta vẫn không đủ phương tiện. Hơn nữa chiến dịch có khả năng không đáng tin cậy v́ một phần nó không ngăn chận thực sự giao thông địch, phần nữa, địch chống trả dữ dội. Sau cùng cũng theo ư kiến Cogny, chỉ có thể cho kết quả trước 20 tháng tư. Thế nhưng ta chỉ có ít hy vọng kéo dài cầm cự tại ĐBP cho tới ngày đó (thực ra đồn lũy thất thủ ngày 7 tháng năm)

    Dưới nhăn quan giới hạn của Tư lệnh Bắc kỳ, tướng Cogny khẩn khoản xin tôi chấp nhận chiến dịch. Ông xin tôi cho trích ra những lực lượng trên toàn Đông Dương  - trừ quân của ông. Những đạo quân trích ra này có thể đưa tới những thảm trạng toàn diện mà là người chịu trách nhiệm toàn bộ, tôi không dám liều.

    V́ vậy tôi từ chối không bị lôi cuốn vào một dự tính ly kỳ và chịu tổn thất vô ích . Tôi không hối tiếc (2). Nếu tôi chấp thuận th́ ĐBP đă không được cứu mà ngày nay cũng sẽ chẳng có Lào, Miên, và Việt Nam tự do (3).

   Quan điểm khác biệt giữa tôi và Cogny chỉ có lần này về chỉ đạo trận chiến ĐBP và tôi đă có ám chỉ trước đây

 Chú thích.

 (1) Lư luận của ông Foster Dulles rất đúng với sự thật như dưới đây.

   1- Một tướng Tầu đóng tại đại bản doanh VM quanh ĐBP.

   2- Dưới quyền ông ta có khoảng 20 cố vấn kỹ thuật quân sự Tầu ở đại bản doanh. Nhiều cố vấn khác ở cấp sư đoàn.

   3- Những đường giây điện thoại đặc biệt được nhân viên Tầu thiết lập và và xử dụng. Nhân viên tổng đài toàn là người Tấu.

   4- Rất nhiều đại bác 37 ly pḥng không xung quanh ĐBP, pháo thủ những khẩu cao xạ này là người Tầu.

   5- Để phục vụ mặt trận, khoảng 1,000 xe tiếp tế mà khoảng một nửa đă  tới từ 1 tháng ba, những xe cam nhông này do tài xế Tầu lái.

   6- Tất cả những viện trợ cộng thêm vào pháo binh, đạn dược và đoàn kỹ thuật do Trung cộng cấp

    Chỉ riêng sự hiện diện của những pháo thủ Tầu xử dụng cao xạ pḥng không hiển nhiên cho thấy sự can thiệp trực tiếp của Trung cộng. C̣n lại chỉ là viện trợ giống như chúng ta nhận của Mỹ. Nhưng sự hiện diện rơ ràng thừa sức biện minh cho sự can thiệp của Mỹ. (chú thích của tác giả).

(2) Tháng  tư năm 1956, trả lời phỏng vấn của chủ bút báo Paris-Match tướng Giáp nói nếu Pháp mở cuộc tấn công từ Châu thổ BV với lực lượng đă có sẽ không có một tí hy vọng thành công. Ông ta ám chỉ sự thất bại như chiến dịch Lorraine năm trước. (chú thích của tác giả).

(3) Tức QGVN hay VNCH (chú thích của người dịch)

       Nguyên Do Thất Thủ Điện Biên Phủ

    Một điều rơ ràng là những sự thiếu sót và sai lầm có thể lấy ra từ quan niệm và việc tổ chức pḥng thủ cũng như lănh đạo cuộc chiến.

   Sự phân tán doanh trại trong đồn lũy giữa các trung tâm pḥng thủ phía ngoài và vị trí trung ương có lẽ cần thảo luận lại.

    Một số đơn vị tác chiến xoàng (nhất là những tiểu đoàn Thái) đáng lư phải được thay thế trước khi xẩy ra trận đánh bằng những đơn vị thiện chiến hơn lấy từ Châu thổ BV.

   Chắc chắn có sự lạm dụng những cuộc pḥng thủ phụ, nó tạo sự phân chia bên trong vị trí chúng tôi đă gây trở ngại cho cuộc phản công.

    Một số tổ chức tại địa thế không được bảo vệ đầy đủ và không chống lại được đạn đại bác và súng cối hạng nặng.

   Việc xử dụng những quân trừ bị cần bàn lại.

   Kế hoạch chống pḥng không địch không đủ do ở nhiều chuyên viên quá lạc quan đă khiến cho địch biết quan niệm của ḿnh, họ đánh giá thấp khả năng đối phương.

   Trong một số lănh vực, cấp chỉ huy tại Hà Nội không có hành động đủ mạnh trên đồn lũy (ĐBP)

    Sau cùng sự phối hợp những hoạt động bộ binh và không quân được cấp tham mưu Hà Nội bảo đảm vào hạng xoàng, nó không tồn tại đủ trong trận đánh.

    Những thiếu sót và sai lầm này không thể qui trách nhiệm cho cấp chỉ huy đồn lũy và cho bộ chỉ huy không quân nhưng nhất là Lục quân Bắc Việt, chịu trách nhiệm chuẩn bị và điều khiên trận chiến. Tôi, với tư cách Tư lệnh chịu trách nhiệm tổng quát toàn bộ.

    Dù tầm quan trọng thế nào, nó không thể vượt quá mức độ chưa hoàn chỉnh không thể tránh được trong toàn bộ cuộc chiến và trong bất cứ trường hợp nào chỉ có một ảnh hưởng nhỏ tới kết quả trận đánh.

   Những nguyên nhân sâu xa về sự sụp đổ của ĐBP ở chỗ khác.

    Trước hết chúng ta thiếu phương tiện (1). Lực lượng bộ binh ta quá yếu. Chúng ta thiếu từ 6 tới 8 nhóm (groupe) mà chỉ có nó mới giải cứu được hữu hiệu. Chúng ta đă trả giá cái mà trước đây chúng ta đă để Quân đoàn VM lấy trong quá khứ (2).

    Về mặt phẩm cũng không đủ để bù vào sự yếu kém về lượng. Các đơn vị của chúng ta chiến đấu với cấp chỉ huy yếu kém. Đa số sĩ quan và hạ sĩ quan không đủ kinh nghiệm chiến trường. Họ được huấn luyện xoàng. Tỷ lệ yếu kém phía VN (đi lính cho Pháp) lại càng cao hơn ngay cả trong những   đơn vị thiện chiến. Sự yếu kém về mặt phẩm quân đội chúng tôi – nhất là bộ binh – đă được thể hiện rơ trong suốt trận đánh. Ở đó ta cũng trả giá những sai lầm chồng chất trong quá khứ mà chính là chỉ muốn đánh trận chiến rẻ tiền. 

    Những phương tiện không quân Pháp c̣n thiếu hơn nữa nguyên do những yêu cầu tăng viện của tôi không được thỏa măn hoặc gửi tới quá trễ. Nếu tăng viện đă được gửi tới kịp thời sẽ khiến ta tham chiến trong những điều kiện thuận lợi hơn v́ địch đă thiết lập và trang bị xử dụng những phương tiện nếu nó không chận đứng ta th́ cũng kiềm chế ta rất nhiều. Cung cấp vào giờ phút cuối trong những điều kiện ngẫu nhiên và rối loạn không thể tả được th́ chẳng làm ǵ được. Vả lại một khi viện trợ Trung cộng tăng ồ ạt là lúc ta cần một lực lượng không quân có khả năng mạnh hơn mười lần. Chỉ có người Mỹ là có thể cung cấp cho chúng tôi nhưng như đă thấy, ta đă xin họ nhưng chỉ là vô ích. Khối lượng viện trợ lớn đột ngột gia tăng ồ ạt là nguyên nhân khiến ĐBP sụp đổ. Đó là v́ đứng trước một h́nh thức chiến tranh hoàn toàn mới tại Đông Dương mà ta được đưa vào, nó là bất ngờ đối với Pháp.

    Sự xuất hiện th́nh ĺnh một hỏa lực tàn phá của pháo binh và súng cối hạng nặng đă khiến cho quân trú pḥng hoảng sợ, họ chưa chuẩn bị tinh thần. Ngay cả năm 1940 những đơn vị ta bị không quân Đức tấn công phải nằm bất động dưới đất, những người lính chiến tại ĐBP đôi khi tinh thần c̣n xuống thấp hơn thế. Phản ứng của họ nhanh nhưng quá chậm để ngăn ngừa sụp đổ hay cho phép lấy lại những điểm chính của trận địa đă lọt vào tay địch, nó đă ảnh hưởng tai hại ngay tới trận đánh. 

    Máy bay trinh sát bị pḥng không địch ngăn cản khiến pháo binh ta không được chỉ điểm, báo cáo trở nên bối rối khi bị địch pháo mà không chuẩn bị được, pháo binh ta bị bất lực khi đó nó không c̣n là ưu thế của ta trên chiến trường Đông dương như trước nữa.

    Sự ngạc nhiên cũng đến với Không quân bỗng nhiên đứng trước màng lưới pḥng không dầy đặc không ngờ của địch và bị buộc phải giải quyết ngay những vấn đề mới như thả dù ở độ cao và bảo vệ những cuộc thả dù. Cần phải có thời gian để thích ứng về tinh thần vật chất. V́ đă yếu do thiếu phương tiện nên hiệu quả c̣n giảm

    Có sự bất ngờ tại ĐBP, nhưng sự bất ngờ này hoàn toàn không do lỗi ở sở t́nh báo quân sự Đông dương. Họ hoạt động đúng, trong khả năng hữu hạn của họ. Nhưng khả năng của họ chỉ có giới hạn: gần như hoàn toàn mù tịt về những chuyện bên Trung cộng và những tin từ những cơ quan khác, nhất là họ không biết ǵ – trừ khi ngay lúc này – những ư định của bộ chỉ huy VM.

    Những điểm mơ hồ vừa nêu trên cũng chỉ là b́nh thường, nếu bù lại bên địch cũng mơ hồ như ta. Nhưng tiếc thay sự thật không như vậy, v́ những tin tức do báo chí cho họ biết hay ṛ rỉ ồ ạt như thác Niagara có tầm vóc chính phủ Pháp.

    Mặc dù vậy chúng tôi cũng luôn có những tin tức  gần chính xác về địch, về hiện tại và những chuyện sẽ sẩy tới trong thời hạn vài tuần, những cái chúng tôi không thể biết đó là những việc họ dự định trong thời hạn xa xôi.

    Trong những điều kiện ấy, sự tiến hành ĐBP đă được nhận định như qui luật trong trường hợp ấy, theo qui cách “kẻ địch tương lai” mà sức mạnh của họ được ước tính bằng cho tăng lên trong chiều hướng hợp lư cái mà ta biết về “kẻ địch bây giờ”, nghĩa là Việt Minh tháng 11-1953. Khi người ta xây cái cầu 10 tấn, người ta sẽ dự liệu một giới hạn an toàn lên tới 15 hoặc ngay cả 20 tấn nhưng không thể lên tới 100 hay 150 tấn. Đó là cách chúng tôi đă làm. Nếu sức mạnh của địch chỉ nhân lên 2 hay 3, chúng tôi chịu được sự tấn công của địch, v́ chúng tôi đă bố trí xong. Nhưng nó lại là một hệ số nhân quá lớn trong nhiều lănh vực: Khả năng vận tải và sửa chữa đường giao thông, hỏa lực pháo binh và pḥng không.

    Chính v́ cái lănh vực cuối cùng mà yếu tố bất ngờ rất lớn. Chúng tôi biết rơ VM có pháo binh và pḥng không. Chúng tôi biết tầm quan trọng của nó vá cách họ bố trí đạn dược. Chúng tôi đă tiên đoán số khấu pháo và kho đạn sẽ tăng lên, nhưng chúng tôi đă định giới hạn cho khả năng gia tăng này. Đó là trong trường hợp giới hạn này dă bị vượt quá xa mà sự bất ngờ nằm trong đó.

    Người ta nói “Chỉ huy là tiên liệu”. Dĩ nhiên là thế, nhưng nếu một cấp chỉ huy chỉ tiên đoán cái quá tệ sẽ khiến ḿnh không dám làm ǵ cả.

   Nếu t́nh trạng quá tệ sẩy đến, nếu sự tiên đoán của chúng tôi bị đảo lộn đó là v́ Chính phủ đă không theo ư kiến của Tư lệnh (tức Navarre), dấn thân vào hấp lực tàn nhẫn của Hội nghị Genève. Quyết định thiếu suy nghĩ để tham dự Hội nghị vào lúc ta đang dự cuộc chơi mà không thể bỏ được, quyết định đă hoàn toàn thay đổi dữ liệu của vấn đề. (3)

    Cấp lănh đạo VM năm trước không muốn gây thiệt hại cho Quân đoàn của họ dù là ở trong trận đánh kéo dài tại Nasan, hoặc trong cuộc tấn công Cánh đồng Chum. Không có Hội nghị Genève họ sẽ không liều tự hủy hoại lực lượng lớn của họ mà không chắc ǵ đă thắng. Không bao giờ họ chấp nhận tự đưa ḿnh vào một hoàn cảnh tồi tệ như vậy để theo đuổi cuộc chiến. Họ cũng sẽ không bao giờ được Trung cộng viện trợ ồ ạt mà cường quốc này đă từ chối cho tới lúc đó v́ sợ bị lôi cuốn vào cuộc đại chiến.

    Chính Hội nghị Genève đă cho VM một cơ hội ḥa b́nh nhanh và thắng lợi, đă nâng cao tinh thần họ đến độ chơi liều hết ḿnh để bảo đảm một thắng lợi huy hoàng của cơ hội bất ngờ.

    Chính Hội nghị Genève đă khiến Trung cộng cho VM một khối viện trợ lớn lao để lấy ưu thế trên bàn hội nghị, từ nay không c̣n hiểm nguy nữa, nó là nguyên nhân mà những phương tiện vật chất của chúng tôi bỗng nhiên đứng trước một vị trí quyết định v́ bị thua xa địch.

    Ngày mà Hội nghị Genève được quyết định tổ chức th́ số phận của ĐBP đă được xác định rơ.

Chú thích

(1) Gồm lực lượng, hỏa lực (chú thích của người dịch)

(2) Ư nói trước đây VM đă thành lập nhiều sư đoàn mà Chính phủ Pháp không cho tăng viện thêm lực lượng tại Đông dương để cân bằng. (chú thích của người dịch)

(3) Ư nói Chính phủ Pháp quyết định tham dự Hội nghị Genève khi trận đánh đang diễn ra đă khiến cho ĐBP bị ảnh hưởng tai hại (chú thích của người dịch)

          Những Hậu Quả Của Trận Điện Biên Phủ

     Suốt năm mươi sáu ngày chiến đấu kịch liệt, quân trú pḥng bộ binh tại ĐBP đă cho thế giới biết tinh thần quả cảm của những người lính tại các trận Camerone, Sidi-Braham và Verdun luôn luôn là của chúng ta. Suốt năm mươi sáu ngày, những chiến sĩ tầu bay – thuộc Không quân và Hải quân – đă phấn đấu tới cùng ngày đêm, trong thời tiết xấu, qua màng lưới hỏa lực pḥng không dầy đặc nguy hiểm chết người ghê gớm. Họ cũng anh dũng không kém ǵ binh chủng bạn Lục quân.

    Đối với tất cả những người chiến sĩ ấy, báo chí Pháp và ngoại quốc đă tỏ ḷng kính mến không tiếc lời, một tờ báo viết “Một đạo quân khác dưới quyền các cấp chỉ huy khác đă đầu hàng từ lâu rồi”. Cũng có một tờ khác viết “Trong quân sử chưa hề có một cuộc vây hăm được cầm cự ngoài đất trống bởi một lực lượng yếu hơn và không có hy vọng được giải cứu, quả là một chiến tích kỳ diệu”. Tờ New York Times tuyên bố “Đó là trận chiến đấu tới hơi thở cuối cùng theo truyền thống anh hùng của nước Pháp. Đó là trận chiến mà con người đă chứng tỏ ḷng can đảm thuần túy và nó đă làm sống lại niềm tin chúng ta không những ở nước Pháp nhưng ở tinh thần bất khuất của con người”

    Một trang sử mới vinh quang vừa được viết trong lịch sử quân đội chúng ta. Nó đă có một thời gian ngắn làm sống lại trong quần chúng Pháp tinh thần quốc gia đă bị cùn nhụt từ lâu. Một chính phủ xứng đáng với danh nghĩa có thể khai thác sự bộc phát này

   Những người lính chiến tại ĐBP không phải chỉ cứu được danh dự.

   Họ đă giữ cho Lào không bị địch chiếm. Họ đă làm đổi hướng phần lớn lực lượng di động của địch khỏi Châu thổ BV cũng như tại Trung và Nam Đông dương. Họ đă ngăn VM giành thắng lợi lớn trên một điểm sinh tử hơn ĐBP mà họ đang cần cho Hội nghị Genève. Hơn nữa họ đă gây cho đich tổn thất nặng đến nỗi không thể mở chiến dịch mới trong nhiều tháng.

    Đồn lũy đă làm tṛn nhiệm vụ. Nó được ghi vào truyền thống những thành lũy ngăn chận lớn mà vai tṛ vinh quang của mọi thời đại là ngăn chận địch về một hướng chính và bằng những bức tường của nó đă chận đứng một Quân đoàn bao vây có lực lượng đông hơn.

   Lịch sử đă có nhiều thành lũy mạnh bị sụp đổ.

   Mayence, năm 1793, được 22,000 người bảo vệ (Pháp) dưới quyền tướng Kléber, thất thủ sau khi đă chận đứng 45,000 liên quân Áo-Phổ trong bốn tháng.

   Plevna, năm 1877 do 35,000 quân Thổ bảo vệ đă phải đầu hàng quân Nga sau năm tháng trấn giữ, đă khiến Nga mất 44,000 người.

   Liege, 1914, do tướng Leman (Bỉ) bảo vệ, sau mười ngày cấm cự chống những lực lượng đông hơn rất nhiều, nhờ sự hy sinh của ông mà quân Bỉ rút lui có trật tự .

    Sebastopol, năm 1942, đă thất thủ sau khi làm chậm lại chiến dịch hè một tháng để đưa quân Đức vào Stalingrad.

   Sự thất thủ, “nhiệm vụ hoàn thành”, chỉ kể tới những đồn lũy này, mà không có nơi nào trong số này bị coi như thảm bại nhưng đă ngăn chận được cuộc chiến.

    Nhưng chiến tranh Đông Dương không như những cuộc chiến khác, cuộc chiến mà đất nước (Pháp) không bao giờ hiểu quyền lợi quốc gia, đă mễt mỏi mà nó đă khiến người ta cho rằng nó chẳng c̣n ư nghĩa ǵ. Đó là cuộc chiến mà đa số các nhà chính trị gia chỉ t́m cớ để kết thúc.

    V́ thế những hậu quả của việc thất thủ ĐBP có vẻ như có thể quan trọng hơn nhiều cái mà tôi đă biện bạch, về quan điểm quân sự cái thất bại mà chúng ta vừa chịu.

   (Dịch từ trang 235 tới 258 trong Agonie de l’indochine, các mục La Conduite De La Bataille, Les Causes De La Chute De Dien Bien Phu, Les Conséquences De Dien Bien Phu)

     Trọng Đạt

 

Copyright @ 2005 quocgiahanhchanh.com
Webmaster@tranbachthu