Quốc Gia Hành
Chánh    >> Home


TỪ ẢI NAM QUAN ĐẾN MỦI CÀ MAU

     Non sông gấm vóc của người Việt trải dài từ Ải Nam Quan ở tận Miền Bắc đến mỏm đất cuối Miền Nam là Mủi Cà Mau. Cho nên khi nói “từ Ải Nam Quan đến Mủi Cà Mau” th́ người Việt Nam ai cũng biết đó là nói toàn cơi lănh thổ của nước Việt vậy. Nhưng Ải Nam Quan ở trong tỉnh nào của nước Việt? Ở đó có những nét đặc biệt ǵ? C̣n Mủi Cà Mau thật sự nằm trong tỉnh nào? Có ǵ đặc biệt ở tận vùng cuối cùng của Miền Nam này?
     Ải Nam Quan nằm trong tỉnh Lạng Sơn. Lạng Sơn là một trong các tỉnh địa đầu ở phía Bắc của Việt Nam. Trong số 6 tỉnh địa đầu giáp giới với Trung Hoa, Lạng Sơn là tỉnh quan trọng nhất. Đây là nơi qua lại dễ dàng hơn hết trên đường bộ giữa Trung Hoa và Việt Nam từ xưa đến giờ. Các sứ giả Việt Nam sang Trung Hoa hay sứ giả Trung Hoa sang Việt Nam đều phải qua cửa ải Nam Quan. Kể cả những đoàn quân xâm lược từ phương Bắc cũng thường theo ngỏ này tràn vào Thăng Long. Nhưng trước khi đi vào những chi tiết đặc biệt của vùng ải địa đầu quan trọng này, xin hăy nh́n lại một chút phần lănh thổ của Việt Nam từ trước tới giờ.
     Lănh thổ Việt Nam gồm có hai phần : một phần lớn nằm trên đất liền và một phần nhỏ nằm trên biển cả. Phần nằm trên đất liền có diện tích là 329,707 cây số vuông có h́nh dạng giống chư h́nh chữ S với hai đầu mở rộng ra mà người ta thường ví như hai thúng lúa mán trên cây đ̣n gánh. Hai thúng lúa đó là châu thổ sông Hồng Hà và đồng bằng sông Cửu Long, hai vựa thóc lớn của cả nước. Nước Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới từ vĩ độ 8o33 đến vĩ độ 23o22 Bắc bán cầu. Nh́n vào bản đồ ta thấy vĩ tuyến 8o33 đi ngang Mũi Cà Mau ở phía cực Nam và vĩ tuyến 23o22 đi ngang điểm cực Bắc của tĩnh Hà Giang Bắc Việt. Về kinh độ, nước ta nằm trong khoảng 102o và 109o Đông.
     Lănh thổ trên đất liền của nước ta có hai vùng ranh giới khác nhau : một bên là biển cả chạy dài từ Móng Cái ở phía Bắc đến tận Cà Mau ở phía Nam và ṿng qua phía Tây đến tận Hà Tiên. Đây là vùng ranh giới thiên nhiên rất dễ nhận biết. Vùng ranh giới thứ hai nằm trên đất liền giữa Việt Nam và các quốc gia Cam Bốt và Lào ở phía Tây và giữa Việt Nam và Trung Hoa ở phía Bắc. Đây là vùng ranh giới rất khó phân định và là nơi thường xảy ra các vụ tranh chấp, nhất là giữa ta và Cam Bốt cũng như giữa ta và Trung Hoa. Xưa nay vẫn có sự lấn đất qua lại giữa dân ta và dân Cam Bốt ở vùng Châu Đốc nhưng nó không quan trọng và nguy hiểm bằng sự lấn đất trên ranh giới phía Bắc giữa nước ta và nước Tàu. Trên bản đồ hiện hành ta có sáu tỉnh ở Bắc Việt có phần đất giáp giới với Trung Quốc. Từ Tây sang Đông, đó là các tỉnh Lai Châu, Lào Kay, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh. Bây giờ đổi thành 5 tỉnh là Lai Châu, Hoàng Liên Sơn (Lào Kay và Yên Bái), Hà Tuyên (Hà Giang và Tuyên Quang), Cao Lạng (Cao Bằng và Lạng Sơn) và Hải Ninh. Đường dài ranh giới nầy có hơn 1,350 cây số.
     Ngoài phần lănh thổ chính trên đất liền ta c̣n có một phần nhỏ lănh thổ trên biển cả. Đó là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Quần đảo Hoàng Sa ở vào giữa hai kinh tuyền 111o và 113o Đông, giữa hai vĩ tuyến 15o 45’ và 17o 15’ Bắc bán cầu. Quần đảo Hoàng Sa gồm có hai nhóm đảo: nhóm Tuyên Đức (gồm 8 đảo) ở phía Đông và nhóm Nguyệt Thiềm (gồm 7 đảo) ở phía Tây. Khoảng cách củađiểm gần nhất của lănh thổ đất liền của Việt Nam, là Đà Nẳng, đến Hoàng Sa là 200 hải lư. Điểm gần nhất của Hải Nam đến Hoàng Sa là 150 hải lư. Điểm gần nhất của Phi Luật Tân đến Hoàng Sa là 450 hải lư, và điểm gần nhất của Đài Loan đến Hoàng Sa là 620 hải lư.
Quần đảo Trường Sa gồm có nhiều đảo nhỏ trải dài cả 100 hải lư, giữa các vĩ tuyến 8o và 11o 40’ Bắc bán cầu. Trong số các đảo nhỏ nầy có 9 đảo khá quan trọng. Đảo chính là đảo Spratley, tức là Trường Sa. Khoảng cách từ Phan Thiết (điểm gần nhất) đến Trường Sa là 280 hải lư. Hải Nam đến Trường Sa là 580 hải lư. Palawan (Phi Luật Tân) đến Trường Sa là 310 hải lư, và Đài Loan đến Trường Sa là 900 hải lư. Quyển Bạch Thư của bộ ngoại giao VNCH hồi năm 1975 đătrưng dẫn đầy đủ bằng chứng cho thấy ông cha ta đă từng làm chủ ở đây. Người Việt Nam đă đặt chân lên Hoàng Sa và Trường Sa để khai thác làm ăn từ thế kỷ thứ XV, trước khi người Aâu Châu biết và đặt tên Paracels và Spratley cho hai quần đảo nầy. Mở đầu quyển bạch thư chánh phủ VNCH xác nhận rằng Hoàng Sa và Trường Sa dù chỉ chiếm diện tích nhỏ nhưng nó không kém quan trọng đối với người dân Việt. Nó là phần đất đai bất khả phân trong toàn thể lănh thổ VN. Vùng lănh thổ xa xôi nầy cũng đầy thân thương trong quả tim người dân Việt như vùng lănh thổ thân thương khác của cha ông. Do đó chánh phủ VNCH và toàn dân VN, trong quyết tâm bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn lănh thổ của quốc gia, long trọng tố giác sự chiếm cứ của ngoại bang trên vùng lănh thổ nầy. Bạch thư viết: “Bổn phận cao quư và bó buộc nhất của một chánh phủ là phải bảo vệ chủ quyền, sự độc lập và sự vẹn toàn lănh thổ của quốc gia, Chánh phủ VNCH quyết tâm làm tṛn bổn phận đó dù với bất cứ khó khăn nào.”
     Trên đây là phần lănh thổ trên giấy mực mà chúng ta có từ cuối thế kỷ thứ XIX qua Hiệp Ước Thiên Tân hồi năm 1885 giữa Pháp và nhà Thanh bên Tàu . Cụ thể hơn nếu chúng ta có thể đi bằng đường bộ trên con đường chạy dài từ Bắc xuống Nam th́ điểm khởi hành là Aûi Nam Quan và điểm cuối cùng ta đến là Mũi Cà Mau. Câu nói quen thuộc “từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau” được dùng để diễn tả chiều dài của nước ta từ vĩ tuyến 8o33 đến vĩ tuyến 23o27’ vậy. Về sau câu nói nầy trở thành câu tượng trưng cho toàn thể lănh thổ Việt Nam thành ra khi muốn đề cập đến sự vẹn toàn lănh thổ, sự thống nhất đất nước hay sự đoàn kết quốc gia người ta đều có thể nghĩ ngay đến cụm từ nầy (từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau). Mũi Cà Mau và Ải Nam Quan do đó đă trở thành hai địa danh thiêng liêng trong tâm hồn người dân Việt từ bao đời.
     Đất nước của chúng ta càng nh́n về thuở xa xưa chừng nào càng rộng ra và càng lùi sâu về phía Bắc chừng nấy. Chúng ta không có những bản đồ ghi rơ những đổi thay đó qua thời gian dài mấy ngàn năm trước Tây Lịch. Nhưng trong tâm hồn người dân Việt vẫn c̣n những mốc cấm phân chia ranh giới giữa ta và Tàu. Mốc cấm thứ nhất là cột đồng Đông Hán do tướng Mă Viện cấm hồi khoảng năm 42 Tây Lịch. Mă Viện cho cấm trụ đồng nầy để phân chia ranh giới giữa hai nước. Trên cột đồng có khắc câu “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” mà đa số người Việt Nam đều nhớ nằm ḷng. Câu đó có nghĩa là khi nào trụ đồng găy đổ th́ dân Giao Chỉ sẽ bị tiêu diệt. Sợ trụ đồng găy đổ nên ông cha ta, mỗi người một viên đá cứ đem tới màđắp vào dưới gốc trụ đồng cho đến một ngày kia đá chất lên thành núi lấp mất cả trụ đồng. Cột đồng Mă Viện ở đâu, nay ta không c̣n dấu vết ǵ cả. Trước đây trong số các thức giả có người ức đoán vị trí của cột đồng nằm trong vùng đất Cổ Lâu hay ở trong chân núi Phân Mao thuộc Châu Khâm của tĩnh Quảng Tây bên Tàu.
     Mốc cấm thứ hai rơ ràng chính xác hơn. Đó là Ải Nam Quan mà h́nh ảnh vẫn chưa và sẽ không bao giờ phai mờ trong sách sử. Đây là một ải quan do Trung Hoa dựng lên trên con đường qua lại giữa hai nước để ngăn chia ranh giới của đôi bên: bên phía Bắc là châu Bằng Tường tĩnh Quảng Tây Trung Hoa, và phía bên Nam là xă Đồng Đăng châu Văn Uyên tĩnh Lạng Sơn của Việt Nam. Bên phía Bắc cửa ải có “Chiêu Đức Đài” do nhà Thanh xây cất để cho sứ bộ Trung Hoa nghỉ ngơi trước khi lên đường sang Việt Nam. Trên cửa ải có tấm biển đề “Trấn Nam Quan”. Bên phía Nam cửa ải có Ngưỡng Đức Đài là phần xây cất của nhà Nguyễn để làm chỗ tiếp đón sứ bộ Trung Hoa sang công cán ở Việt Nam và cũng là nơi nghỉ chân của sứ bộ Việt Nam trên đường sang Trung Quốc. Theo các sử quan nhà Nguyễn th́ Ải Nam Quan ra đời lúc nào không thấy ghi lại trong sách sử. Chỉ biết khoảng đời Lê Cảnh Hưng (niên hiệu của Lê Hiển Tông, 1740-1786), Đốc trấn Lạng Sơn là Nguyễn Trọng Đang khi sửa lại “Ngưỡng Đức Đài” có cho lập bia trên đó có ghi đại lược như sau: “Nước Việt ta có Ngũ Lĩnh, quan ải trước ở đâu không rơ, là v́ diên cách thế nào không ghi đủ. Gần đây lấy địa giới châu Văn Uyên trấn Lạng Sơn làm cửa quan. Cửa quan có Ngưỡng Đức Đài không rơ dựng tự năm nào, có lẽ bắt đầu từ đời Gia Tĩnh nhà Minh”.
     Cửa Nam Quan mang nhiều tên khác nhau tùy triều đại. Cửa Nam Quan c̣n có tên là cửa Pha Lủy, từ đời Lê trung hưng người Tàu gọi là Trấn Nam Quan. Có lúc được gọi là Đại Nam Quan, Trấn Di Quan…Mao Trạch Đông đổi tên là Mục Nam Quan c̣n Hồ Chí Minh th́ gọi là Hữu Nghị Quan. Tuy nhiên cái tên đẹp nhất, quen thuộc nhất và cũng thiêng liêng nhất đối với đa số người Việt Nam vẫn là Ải Nam Quan.
     Ải Nam Quan nằm ở địa đầu tĩnh Lạng Sơn, cách Hà Nội 167 km về phía Đông Bắc. Lạng Sơn là một tỉnh lớn có 6,200 cây số vuông diện tích. Ở phía Bắc, Lạng Sơn giáp giới với tỉnh Cao Bằng và Trung Hoa. Ở phía Tây là tỉnh Bắc Kạn, phía Tây Nam là Thái Nguyên. Phía Nam giáp tỉnh Bắc Giang và phía Đông là tỉnh Hải Ninh. Lạng Sơn ở trên cao độ thay đổi từ 100m đến 1,000 m. V́ xa biển nên hơi lạnh so với Hải Ninh; nhiệt độ trung b́nh ở đây là 21.7 độ C. Con sông quan trọng chảy qua Lạng Sơn là sông Kỳ Cùng, dài 170 km. Khoảng cách từ Hà Nội lên tỉnh lỵ Lạng Sơn là 154 km về hướng Đông Bắc. Từ dây đi thêm 2 km nữa là đến Phố Kỳ Lừa. Phố hay chợ Kỳ Lừa lập ra hồi tiền bán thế kỷ XV, là một nơi buôn bán sầm uất. Ở đây có món nem chua cũng rất nổi tiếng. Từ Kỳ Lừa đi thêm 10 km nữa th́ đến Đồng Đăng, nơi đây có nhiều phong cảnh đặc biệt.. Từ Đồng Đăng đi thêm 5 km nữa là đến Aûi Nam Quan. Phía Tây Phố Kỳ Lừa có động Tam Thanh. Động Tam Thanh cũng gọi là chùa Tam Thanh v́ dây là ba hang động có thờ Phật trong đó. Động nhỏ nhất trong ba động là Động Nhất Thanh trong đó ngoài tượng Phật c̣n có thờ Ngô Th́ Sĩ, cha của Ngô Th́ Nhậm. Ngô Th́ Sĩ đỗ tiến sĩ năm 41 tuổi, làm quan đến Đốc Trấn Lạng Sơn. Oâng là người rất liêm khiết , rất thương dân, lo lắng giúp đỡ dân nên khi chết được dân chúng tạc tượng thờ ở đây. Trước động Tam Thanh có núi Vọng Phu và tượng nàng Tô Thị mà câu chuyện thương tâm đă được nhạc sĩ Lê Thương diễn tả trong những bảng nhạc Ḥn Vọng Phu bất tử của ông. Các địa danh nổi tiếng nầy cũng đă được người dân Việt ghi lại trong những câu ca dao :
     “Đồng Đăng có Phố Kỳ Lừa,
     Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”.
     Từ xưa tỉnh Lạng Sơn với cửa Nam Quan đă từng là nơi diễn ra bao nhiêu biến cố lịch s đau thương cũng có nhưng phần lớn là oai hùng của dân tộc Việt. Đây là nơi xảy ra câu chuyện “Hận Nam Quan” với lời dặn ḍ của Nguyễn Phi Khanh bảo Nguyễn Trăi “con phải trở về thay cha báo thù nhà đáp đền nợ nước”, đánh dấu việc Nguyễn Trăi gạt nước mắt nghe theo lời cha đau đớn quay về thao luyện binh tướng pḥ tá B́nh Định Vương dành lại độc lập cho xứ sở. Bao nhiêu binh tướng kiêu hùng của Trung Quốc đă xông vào cửa ải nầy qua dày xéo lănh thổ Việt, rồi cũng bao nhiêu binh tướng đó mua lấy thất bại chua cay hoặc bỏ thây trên quê người hoặc nhục nhă xác xơ chạy trối chết qua cửa nầy về Trung Quốc như Thoát Hoan (nhà Nguyên), như Liễu Thăng (nhà Minh), như Tôn Sĩ Nghị (nhà Thanh).
     Tiếc thay! Lạng Sơn ngày nay phải chứng kiến một cảnh tượng đau ḷng: cửa Nam Quan không c̣n nằm ngay trên biên giới của tỉnh này và tỉnh Quảng Tây nữa, nó đă lùi xa vào phần đất của Trung Hoa.
     Cà Mau là cái phần chót phía Nam của nước Việt. Trước thế kỷ XVII vùng đất này c̣n thuộc về Chân Lạp mà ta quen gọi là Cao Miên. Trên danh nghĩa th́ như vậy nhưng trên thực tế người Khờ Me tức người Miên chỉ có sống rải rác, rất ít ở đây. Phần lớn là rừng rú hoang vu đầy muông thú. Chính quyền Cao Miên không hề có đặt cơ quan cai trị hay liên lạc ǵ với một ít người dân Khờ Me sống thưa thớt rải rác ở đây. Đến cuối thế kỷ XVII có một cựu thần nhà Minh là Mạc Cửu trốn tránh quân Thanh, chiêu mộ một số lưu dân đến khai khẩn vùng này. Năm 1708 Mạc Cửu dâng cả vùng mới khai khẩn ở Cà Mau cho Chúa Nguyễn để xin hàng phục. Vùng này gồm các ấp vừa lập từ Vũng Thơm, Trủng Kè, Cần Vọt, Rạch Giá đến Cà Mau. Lúc này Hà Tiên đă trở thành một thương cảng quan trọng trong vùng. Chúa Nguyễn Phúc Chu phong cho Mạc Cửu làm tổng binh, giữ đất Hà Tiên. Cho đến thời Pháp thuộc, vùng Cà Mau vẫn là vùng đất rộng người thưa, công việc khai khẩn đất hoang vẫn chưa hoàn tất. Nói đến Cà Mau người ta luôn nghĩ đến vùng rừng biển xa xôi đầy muông thú, muỗi mồng, dưới sông đầy cá sấu. Cà Mau có rừng U Minh cũng như Kiến Tường, Cao Lănh có Đồng Tháp Mười, là những vùng đất mênh mông hoang dại, rất ít người lui tới.
     Tuy c̣n hoang vu như vậy nhưng từ xưa nơi này cũng đă từng là nơi ẩn trốn của Nguyễn Ánh và gia đ́nh trong thời gian bị quân Tây Sơn đuổi bắt. Lúc chay đến xă Khánh An, Cái Tàu, Nguyễn Aùnh cùng đoàn hộ giá tạm trú ở đây một thời gian. Ngày nay c̣n một nền mộ mà người dân ở đây gọi là “Nền Công Chúa”. Đây là nơi chôn cất một nàng công chúa con của Nguyễn Ánh. Nền này đă bị bỏ hoang sau khi hài cốt của nàng công chúa đă được di táng. Sau đó Nguyễn Ánh cùng đoàn tùy tùng lại theo con sông ở đây (sông Ông Đốc) chạy ra ḥn Thổ Châu (Poulo-Panjang) trong vịnh Thái Lan, để từ đó sang Xiêm La cầu viện. Khi đoàn thuyền của Chúa Nguyễn đi khỏi Vàm Rạch Cui một quăng th́ bị quân Tây Sơn đuổi nà theo. Trong thế cùng, Đô Đốc thủy binh Nguyễn Văn Vàng xin vua cởi hoàng bào đưa cho ông để ông mặc vào giả làm Nguyễn Vương hầu đánh lừa quân địch. Nguyễn Văn Vàng bị Tây Sơn giết chết, thây ch́m dưới ḍng sông sâu. Trong cảnh nhá nhem tối quân Tây Sơn tưởng Nguyễn Vương đă chết nên không thèm truy nă nữa. Nhờ đó Nguyễn Vương thoát nạn. Sau này khi Nguyễn Ánh thống nhứt giang sơn, lập nên Triều Nguyễn, liền có chiếu chỉ về Cà Mau lập miếu thờ các công thần đă hy sinh v́ Ngài. Hiện miếu này c̣n tại tỉnh lỵ thường được gọi là Miếu Gia Long. Ở Cái Rắn, xă Tân Hưng, c̣n có cái ao lịch sử gọi là Ao Ngự. Đây là ao có nước ngọt quanh năm và là nơi Nguyễn Ánh đă từng trú ẩn và sử dụng nước ngọt ở ao này.
     Thời Việt Nam Cộng Ḥa, Cà Mau trở thành tỉnh An Xuyên. Tỉnh lỵ ở cách Sài G̣n 344 cây số về phía Nam. Tỉnh An Xuyên phía Bắc giáp với tỉnh Kiên Giang và Chương Thiện, phía Nam giáp biển Nam Hải, phía Đông giáp tỉnh Bạc Liêu, và phía Tây giáp Vịnh Thái Lan. Diện tích toàn tỉnh có khoảng 495 ngàn mẫu tây nhưng rừng cấm chiếm hết gần một phần tư số đó. Cà Mau có bờ biển thật dài, trên 320 cây số, một phần tư là bùn lầy do phù sa bồi lên, nhất là từ vàm rạch Tiểu Dừa đến xóm Rạch Gốc, gần vàm Rạch Đường Kéo. Dân số lúc này gồm có khoảng 271 ngàn người Việt, 3 ngàn người Việt gốc Hoa, và 3 ngàn người Việt gốc Miên. Người ở thành thị có cuộc sống khá tiện nghi cũng như ở các tỉnh lỵ khác mặc dầu ở xa Sài G̣n. Người dân ở ruộng nương th́ chuyên cày cấy trồng hoa quả, đời sống có cực khổ nhưng tương đối dễ dàng. Đặc biệt nơi miền rừng cấm và nước mặn người ta sống bằng nghề đốn củi, cưa cây, chằm lá, dệt chiếu, bắt cua, ba khía, đóng đáy, xây ṇ, giăng lưới, đánh cá gộc và cá mè đường ở ngoài khơi.
     Cà Mau có những con sông, những kinh rạch, những ḥn cù lao rất nổi tiếng. Người ta thường nghe nói đến sông Trèm Trẹm, sông Ông Đốc, sông Đồng Cùng, rạch Cái Tàu, rạch Bù Mắt, rạch Rau Dừa, kinh Gành Hào, kinh Tắc Vân, kinh Bà Bèo, kinh Cái Rắn, v v . . . Có những địa danh nghe rất thường như Đầm Dơi, Đầm Chim, Năm Căn, Rẩy Chệc. Ḥn Khoai (Poulo Obi) là thắng cảnh đẹp nhất tỉnh An Xuyên. Ḥn cách xa bờ khoảng 12 cây số. Người Huê kiều đến làm rẫy ở đây từ lâu. Đến nay có nhiều bụi khoai ḿ, khoai mỡ củ dài hơn nữa mét, mọc rải rác đó đây và trong kẹt đá. Có nhiều cây xoài và mít gốc to như cây cổ thụ. Đặc biệt ở Ḥn Khoai có nhiều mạch nước ngọt nên đồng bào ở xóm Rạch Gốc, Rạch Tàu, và Rẩy Chệc thường tới đây chở nước đem về uống. Ḥn Khoai có băi trước và băi sau cũng như Vủng Tàu vậy. Phía băi trước có nhiều nhà người Huê kiều ở đây lâu đời. Họ hay trồng những loại cây thuốc Bắc như Xuyên Điền Thất, cây hộ pháp, cây sâm nam, v v . . . Ở băi sau có loại rong biển gọi là long tu mà người dân vùng Rạch Gốc thường lấy về nấu canh ăn cho mát và nêm thuốc. Đường lên ḥn rất đẹp, có nhiều loại hoa rừng đủ màu sắc mọc chen trong kẹt đá. Rẩy Chệc (người Pháp gọi là Jardin Chinois) ở cách vàm Rạch Gốc lối 12 cây số. Người Huê kiều đến đây làm rẩy, trồng rau cải, cây trái từ lâu. Rẩy Chệc có băi cát màu vàng khá đẹp, khi nước ṛng có thể đi ra xa gần 100 mét mới gặp bùn lầy. Ở băi biển có nhiều rau muống biển ḅ dày đặc. Ở đây có loại dưa hấu rất to và rất ngon. Nhờ đất tốt nên có nhiều cây chuối xiêm quày nào quày nấy nhiều trên 10 nải mà trái to như trái chuối hột. Dừa xiêm cũng rất sai, quày dừa trên 20 trái là thường. Bắp cải cái nào cũng to cỡ 3 kí là ít. Kế mí vườn là ven rừng mấm, đước và vẹt cao hơn một mét. Ốc len đeo từng chùm trên các cây vẹt, người ta chỉ cần nắm nhánh vẹt rung rung là óc rơi hàng lô vào giỏ. Nghêu và ba khía ḅ loi nhoi không biết bao nhiêu mà kể.
     Nói đến Cà Mau th́ không thể không nói đến các loại đặc sản sau đây : lươn, ba khía, cua gạch, mật ông, đuôn chà là, rùa và cần đước. Vùng Rạch Muỗi, Cái Rắn, Oâng Tự và Rau Dừa là vùng nổi tiếng có nhiều lươn. Mùa nước thường có nhiều ghe rổi đến chờ mua lươn của những người đặt ống trúm. Lươn nhiều đến đổi mỗi ống trúm trút ra có thể có đến bốn hay năm con lươn. Ba khía ở Rạch Gốc được coi là ngon nhất ở miền Nam. Loại ba khía nầy ăn ṛng trái mấm. Trong hai tháng 7 và 8 ba khía có gạch son, có mùi thơm, chắc thịt, ăn rất ngon, đặc biệt ngon hơn những tháng khác. Nhiều ghe từ miệt trên xuống đây mua ba khía, muối ngay tại chỗ rồi đem đi bán ở các nơi. Cà Mau có “Cua Đầm” sản xuất tại Đầm Dơi và Đầm Chim là loại cua nổi tiếng ngon. Cua có gạch son, đem muối chừng bốn hay năm ngày là có thể ăn được. Vùng rừng cấm miệt Xóm Thủ, Năm Căn, Cái Tàu, Trèm Trẹm có nhiều ong mật làm ổ trên các cây mấm và cây gừa. Muốn ăn (lấy mật) ong th́ phải đóng thứ thuế gọi là phong ngạn. Khi mùa mưa gần dứt thi người ta bắt đầu ăn ong. Mật ong được hứng bằng thúng có trét chai gọi là thúng ong. Một ổ ong lớn có thể đem lại khoản 15 lít mật và 8 nan sáp. Tại rừng cấm c̣n có nhiều rừng chà là, nhất là ở Năm Căn, Đầm Dơi và Cái Keo. Mổi đọt chà là thường có một con đuôn trong đó. Đuôn chà là ngon hơn, thơm hơn đuôn củ hủ dừa. Đồng ruộng Cái Rắn và Rau Dừa là nơi có rất nhiều rùa. Mùa khô rùa thường trốn vào những nơi có nhiều sậy. Người ta đốt sậy cho rùa trồi đầu ra để bắt. Trong một buổi có thể bắt được bốn năm chục con rùa, mỗi con nặng cỡ một kí lô. Rùa được đựng trong bao cà ṛn hay bao bố tời. Cần đước lớn hơn rùa nhiều lắm, có con nặng đến 5 hay 6 kí lô. Thịt cần đước rất dai, ăn không ngon bằng thịt rùa. Cần đước chỉ có ở trong ngọn rạch Cái Tàu và rạch Tiểu Dừa mà thôi.
     Dân Cà Mau thờ cúng những ai, có những tín ngưỡng ǵ đặc biệt? Ngoài việc thờ ông bà tổ tiên là tín ngưỡng truyền thống của dân tộc Việt ở mỗi nhà, người dân Cà Mau c̣n có những đền thờ, chùa chiềng, đ́nh miễu đặc biệt chỉ có ở địa phương này như chùa Bà Mă Châu, và miễu Ông Thần Minh. Chùa Bà Mă Châu nằm cạnh ty bưu điện cũ, trước mặt là ngă ba sông Gành Hào. Chùa khá đồ sộ nguy nga, cột bằng đá xanh, cửa bằng cây danh mộc, kèo và đ̣n tay đều có chạm trổ công phu. Công tŕnh xây dựng, tu bổ chùa này là công của các Bang Triều Châu, Hải Nam, và Quảng Đông. Rất nhiều người, nhất là người Huê kiều, đến đây cầu nguyện, cúng kiến, xin xăm, vay tiền làm ăn, xin trái cây về ăn nêm thuốc. Miễu Ông Thần Minh thờ ông Nguyễn Hiền Năng. Ông làm tri huyện thời vua Minh Mạng, trấn nhậm huyện Long Xuyên năm 1837. Cà Mau hồi này thuộc huyện Long Xuyên. Ông cai trị nghiêm nhặt. Ông rất thương mến người bổn xứ nhưng lại ít có cảm t́nh với người Huê kiều. Do đó có sự hận thù của người Huê kiều đối với Ngài tri huyện. Năm 1851 trong nước có nhiều loạn lạc. Nhân cơ hội này một số người Huê kiều do họ Quách và phủ Liếm cầm đầu xúi giục nổi lên đánh phá xóm làng. Loạn quân vây đánh huyện lỵ. Quan huyện và phu nhân cũng là người giỏi vơ hết ḷng chống cự nhưng sức yếu thế cô bị giặc giết chết. Cả đứa con nhỏ trong tay bà vợ cũng bị giặc giết không nương tay. Người ta đồn rằng quan huyện Nguyễn Hiền Năng rất linh thiêng sau khi chết. Nhiều người Huê kiều họ Quách thường bị chết bất ngờ và thảm thiết. Một số người Huê kiều hợp nhau xây mộ đá và dựng miếu thờ Ngài ngay trên mảnh đất mà xưa kia bọn giặc đă vùi thây Ngài cùng với vợ con. Từ đó họ Quách mới được yên ổn làm ăn. Nhớ ơn Ngài, mỗi năm đến ngày 6 tháng 7 âm lịch người Huê kiều chung đậu tiền bạc cùng người bổn xứ làm lễ cúng tế Ngài rất long trọng.
     Rừng Cà Mau có rất nhiều loại cây rất đặc biệt này: cây gừa, cây tràm, cây vẹt, và cây mấm. Gừa thường mọc thành giàn cao vút trên 10 mét, nhất là ở rừng, dớn, như Trèm Trẹm, Cái Tàu, Rạch Giếng, Gịng Kè và Rạch Giồng. Gừa chỉ dùng để làm củi mà thôi. Củi gừa tốt hơn củi tràm. Tro gừa dùng để gội đầu rất tốt. Rừng tràm dày đặc ở miệt U Minh vi tràm hạp với nước dớn. Cây tràm lớn và ngay thẳng có thể dùng làm cột nhà, làm đ̣n tay, hay làm cừ. Tràm dùng làm hàng rào cũng rất tốt. Cây đước mọc thẳng ngay lên nền trời, có thể cao đến 20 mét. Đước được dùng để làm than hay làm củi. Than đước là loại than tốt nhất v́ nóng nhiều và ít khói. Loại đước tốt th́ người ta đem hầm để làm than (than đước) c̣n loại xấu th́ người ta để làm củi. Rừng đước có rất nhiều ở vùng Xóm Thủ, Năm Căn, Nhưng Miên, và Ông Trang. Cây vẹt cũng mọc theo các rừng cấm vùng nước mặn và quanh năm ngập nước. Vẹt thường mọc rậm rạp có khi chen chân vào không lọt. Vẹt thường chỉ được dùng để hầm than hoặc làm củi. Than vẹt xấu hơn than đước v́ nóng ít hơn nhưng lại nhiều khói hơn. Cây mấm là loại cây tạp thường mọc theo mé sông Rạch Gốc và Rẩy Chệc. Ở đâu có rừng mấm là ở đó có ba khía ngon, v́ ba khía ăn trái mấm. Cây mấm chỉ được dùng để làm củi hầm than đước hay than vẹt. Cây mấm cũng rất hữu ích cho ven biển và bờ sông. Rể mấm rất nhiều và ăn sâu xuống đất nên có thể giữa đất cho đừng bị lở.
     Nói đến cây mấm người ta chắc phải nhớ đến vai tṛ hy sinh mở đường của nó, cũng giống như vai tṛ mở đường của ông cha ta trên đường vào Nam khai khẩn đất hoang biến thành những dải đất ph́ nhiêu cho cháu con sau này. B́nh Nguyên Lộc đă viết một truyện ngắn rất hay nhan đề “Rừng Mấm” mà ở đây chúng xin trích dẫn đoạn sau cùng để làm kết luận cho bài này.
     “. . . Nơi đây, đất  đă hết, mà chỉ c̣n bùn. Tràm mọc tới mé đất cuối cùng th́ dừng lại, như là dân ở biên giới một nước kia dừng lại nơi b́a lănh thổ ḿnh.
     Hết tràm th́ có một khoảng trống, nữa bùn, nữa đất, trên ấy cỏ ống rậm ŕ và chim cao cẳng đủ loại đáp đầy trong cỏ.
     Tràm đứng trước băi cỏ mà nh́n dân láng giềng mọc trên bùn đen. Đó là những cây ốm nhom chen nhau mà mọc cao lên, cây này cách cây kia không đầy bốn gang tay.
     Bờ biển thoai thoải dốc xuống, trông rừng cây lạ ấy như một đạo binh xuống núi, tuôn hăm thành hầu lập công.
    Nh́n xuống gốc cây, ông nội bảo.
     - Nước chưa lớn hẳn, để lộ bùn đen dưới gốc cây ra. Bùn đen từng nơi lại trắng xóa những đóa hoa năm cánh, hai màu đen trắng đối chọi nhau trông rất đẹp.
     - Cây ǵ mà lạ vậy ông nội? Trổ bông ngay dưới gốc?
    -  Bông trổ trên đầu những cái rể ăn lên mà người ta gọi là Rể gió. Cây này là cây mấm. Đây là rừng mấm đây.
     - Cây mấm? Sao con không nghe nói đến cây mấm bao giờ?
     - Con không nghe nói v́ cây mấm không dùng được để làm ǵ hết, đến làm củi chụm cũng không được.
     - Vậy chớ trời sanh nó ra làm chi mà vô ích dữ vậy ông nội, lại sanh hằng hà sa số như là cỏ ấy?
     - Bờ biển này mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra hàng mấy ngàn thước. Phù sa là đất bùn mềm lũn và không bao giờ thành đất thịt được để ta hưởng, nếu không có rừng mấm mọc trên đó cho chắc đất. Một khi kia cây mấm sẽ ngă rạp. Giống tràm lại nối ngôi mấm. Rồi sau mấy đời tràm, đất sẽ thuần, cây ăn trái mới mọc được.
     Thấy thằng cháu ngơ ngác chưa hiểu, ông cụ vịn vai nó mà tiếp:
     - Ông với lại tía của con là cây mấm, chơn giẫm trong bùn. Đời con là tràm, chơn vẫn c̣n lấm bùn chút ít, nhưng đất đă gần thuần rồi. Con cháu của con sẽ là xoài, mít, dừa, cau.
     Đời cây mấm tuy vô ích, nhưng không uổng, như là lính ngoài mặt trận vậy mà. Họ ngă gục cho kẻ khác là con cháu của họ hưởng. . .
     Ông nói điều này, không biết con hiểu được hay không. Là tổ tiên ta ngày xưa từ Bắc, Trung vào đây đều chịu số phận làm cây mấm hết, từ xứ Đồng Nai nước ngọt cho tới đây, ở đâu cũng hoang vu cả.
     Họ đă ngă rạp trong chốn ma thiêng nước độc này để lót đường cho con cháu họ đi tới, y như là đàn kiến xung phong, tốp đầu liều chết đuối, lội qua tô nước rọng hũ đường để làm cầu cho bọn đi sau vào đến nơi có chất ngọt. Nhiều lớp tiên phuông đă ngă gục như rừng mấm. Rồi th́ ông sơ, ông cố con, ông nội đây là tràm mới kiếm được miếng ăn . . .
     Ông nội vui vẻ quá, v́ bổng sực nhớ lại những câu ḥ của thế hệ người tiên phuông đi khai thác đất hoang ở miền Nam, mà ngày nay thế hệ tràm không hát nữa. Ông cất giọng khàn khàn lên:
     Ḥ . . . ơ . . . Rồng chầu ngoài Huế,
     Ngựa tế Đồng Nai.
     Nước sông trong sao cứ chảy hoài,
     Thương người xa xứ lạc loài đến đây.”
                        (B́nh Nguyên Lộc, Rừng Mấm)

Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm