Ư niệm về thất nghiệp trá h́nh (gisguised unemployment) là một đề tài thường
gây nhiều tranh căi trong ngành kinh tế phát triển của kinh tế học. Cho tới
nay vẫn có nhiều ư kiến khác nhau về ư niệm này.
Năm 1936, Joan Robinson đă tạo ra cụm từ “thất nghiệp
trá h́nh” (diguised unemployment) để diễn tả một hoàn cảnh trong đó một
người công nhân không làm một công việc tương xứng cho khả năng của người
đó. Đó là trường hợp “một người công nhân đă bị mất việc làm phù hợp với khả
năng của ḿnh, khiến người đó phải làm những công việc lặt vặt, quét lá hay
bán trái cây để kiếm một miếng ăn khốn khó” (...a worker “who having lost
well-paid position in industry to which his skill and training entitle him,
doing odd jobs, raking leaves or selling apples to eke out a miserable
living” (1)). Người công nhân đó có một năng suất biên tế thấp chứ không hẳn
là không sản xuất ǵ cả.
Ư niệm này về thất nghiệp trá h́nh đă được mau chóng
đón nhận. Ư niệm này khởi thủy đă được h́nh thành để mô tả một trạng huống
của một công nhân kỹ nghệ, nhưng chẳng bao lâu ư niệm đó đă được du nhập vào
khoa kinh tế nông nghiệp để mô tả trường hợp một công nhân nông nghiệp trong
một nền nông nghiệp thậm nhân (overpopulated agriculture), nơi đó một số
đáng kể những công nhân nông nghiệp bị khiếm dụng và đi đến một hệ quả là sự
đóng góp về sức lao động của một số người trong họ, không làm gia tăng tổng
sản lượng. Thặng dư nhân công (labor surplus) được tin là hiện hữu trong
những nền nông nghiệp đó. Nói cách khác, thặng dư nhân công là một t́nh
trạng trong đó sản xuất biên tế bằng không (marginal product of labor is
equal to zero).
Cái nguyên nhân để tạo nên t́nh trạng thặng dư nhân
công rất là dễ hiểu. Theo W.A.Lewis, khi có quá nhiều người mà có quá ít đất
đai, th́ đó đúng là có t́nh trạng thặng dư nhân công. (When “there are too
many persons on too little lands”) (2). Một kinh tế gia Bulgarie dùng lối ví
von bóng bẩy hơn khi ông nói “khi tôi thấy có ba con cừu và ba con chó và
hai nông dân, th́ tôi gọi đó là t́nh trạng thậm nhân” (“...if I see five
sheep with three dogs and two men, I call that overpopulation”).
Tuy nhiên, điều khó giải thích là tại sao lại có một số
người làm việc mà không sản xuất được thêm chút ǵ; càng khó giải thích hơn
khi có một số người chủ chịu tốn kém để mướn thêm công nhân trong khi những
người được mướn thêm này không góp phần vào sự gia tăng sản lượng. Nếu sản
xuất biên tế là không th́ tại sao lương lại lớn hơn không? Tại sao qua thời
gian lại không có những phương pháp thậm canh được đưa vào để toàn dụng hoá
nhân lực? Một số nhưng kinh tế gia như Eckaus, Lewis, Georgescu-Roegen,
Leibensten, Nurkse, Mellor và Sen đă cố t́m lời giải đáp cho vấn nạn trên.
Theo Eckaus, không có một phương pháp thậm canh nào có
thể thu dụng nhân công một cách vô giới hạn. Luôn luôn có một tỷ suất tối
thiểu giữa đất đai với nhân công. Những phương pháp thậm canh cũng đ̣i hỏi
một số tư bản tối thiểu đối với một đơn vị nhân công. Những quốc gia thiếu
mở mang lại không có đủ tư bản để đầu tư vào việc tận dụng nhân lực. Do đó
sẽ có một phần nhân lực phải dư thừa. Tuy nhiên, lập luận trên của Eckaus,
vẫn chưa giải thích tại sao phần nhân công dư thừa đó lại được thuê mướn và
được trả lương.
Sen giải thích rằng sở dĩ có phần thặng dư nhân công
vẫn được thuê mướn mặc dầu năng suất biên tế của nhân công rất thấp hoặc
không có. Theo Lewis, tiền lương không phải được ấn định bởi năng suất biên
tế của nhân công, mà bởi truyền thống dựa trên năng suất trung b́nh của nhân
công. C̣n đối với những nông dân tự canh tác th́ phần thu nhập của họ là
phần trung b́nh của năng suất của toàn gia đ́nh. (28)
Leibenstain th́ nghĩ rằng tiền lương không thể nào bị
cạnh tranh để có thể hạ xuống không được. Theo ông, sự tương quan giữa mức
lương và năng suất giải thích tại sao phần thặng dư nhân lực lại được thuê
mướn. Mức lương cao giúp công nhân có thể được ăn uống đầy đủ, điều này giúp
cho năng suất cao. Trái lại, mức lương thấp, khiến công nhân không được ăn
uống đầy đủ khiến cho năng suất thấp. Điền chủ hiểu rằng họ sẽ có lợi hơn
nếu mức lương không xuống dưới một mức nào đó. (29) Do đó, theo ông, sự hiện
hữu của sự kiện thất nghiệp trá h́nh là một khả dĩ trên phương diện lư
thuyết.
Nurkse, trong t́nh trạng một nền nông nghiệp với mật độ
dân số quá cao, năng suất của nhân công biên tế không những có thể bằng
không mà c̣n có thể bằng âm. Ngay trong t́nh trạng đó, mặc dầu năng suất của
nhân công biên tế là số âm, năng suất trung b́nh vẫn là số dương. Nurkse nêu
ra trường hợp của một số các quốc gia Á Châu để bảo vệ cho lập luận của ông.
Trong những thập niên của cuối thế kỷ 19, nhiều quốc
gia Á Châu đă hưởng thụ được những lợi ích của y khoa Tây phương giúp cho
mức tử vong giảm đột ngột trong khi mức sinh sản giữ vững; điều này khiến
cho dân số tăng vọt, trong khi đất đai khả canh và tư bản coi như không thay
đổi.
Có một số những cuộc khảo sát đă được thực hiện để t́m
kiếm những dữ kiện để chứng minh sự hiện hữu của thất nghiệp trá h́nh.
Cuộc khảo sát thực hiện bởi Buck, Warriner và
Rosenstein-Rodan trong những năm 1930s và 1940s đưa ra những con số thống kê
ở Trung Hoa và các quốc gia thuộc Đông Nam Âu Châu cho thấy là một số lớn
các công nhân nông nghiệp tại những quốc gia đó đă rảnh rỗi trong một thời
gian khá dài trong năm. Những dữ kiện thu thập bởi Buck trong thời kỳ
1929-1933 cho thấy là chỉ có 35% những lao động nam tuổi từ 15 đến 60 là làm
việc toàn thời gian. (33) Tuy nhiên cuộc nghiên cứu này vẫn chưa chứng tỏ
được là lao động biên tế không đóng góp cho tổng sản lượng.
Năm 1939, công cuộc khảo cứu của Doreen Warriner cho
thấy là từ một phần tư cho tới một phần ba nhân công nông nghiệp của Đông Âu
là thặng dư. Rồi năm 1943, Rosenstein-Rodan cũng đi đến kết luận tương tự
khi ông nói rằng khoảng 20 tới 25 triệu nhân công trong số từ 100 đến 110
triệu nhân công của miền Nam và Đông Âu Châu Âu là hoàn toàn hoặc bán phần
thất nghiệp. (35)
Năm 1956, Mellor và Stevens ấn hành một bản nghiên cứu
về 104 nông trại tại vùng Bang Chan, Thái Lan. Cuộc nghiên cứu này khảo sát
năng suất trung b́nh và biên tế của công nhân nông nghiệp Thái. Mọi nông
trại được giả định là có những công việc đồng áng giống nhau. Lợi tức của
nông dân được thu thập qua những cuộc phỏng vấn cá nhân. Mellor và Stevens,
đi đến kết luận là một phần nông dân không đóng góp vào tổng sản lượng. Nói
cách khác, năng suất của công nhân biên tế bằng không. (38)
Một cuộc nghiên cứu khác của Mujumdar, chú trọng về
thất nghiệp trá h́nh và thất nghiệp theo mùa tại Ấn Độ cũng đi đến kết luận
tương tự. Mujumdar thực hiện cuộc khảo sát trong năm 1954-1955 tại chín làng
của vùng Bombay Karnatak. Cuộc khảo cứu đi đến kết luận là có tới 71% nông
dân của vùng này bị ảnh hưởng của thất nghiệp trá h́nh. (39)
Tuy nhiên, cũng có những cuộc khảo cứu khác th́ lại đi
đến kết luận là không có sự kiện thất nghiệp trá h́nh.
Pepalasis và Yotopoulos dùng phương pháp đại tượng để
nghiên cứu thất nghiệp trá h́nh tại Hy Lạp trong thời kỳ từ 1953 đến 1960.
Hai tác giả đo lường thặng dư nhân công bằng cách so sánh số nhân công khả
dụng với số nhân công cần thiết để tạo ra một suất lượng nào đó. Hai tác giả
cố t́m hiểu về số lượng nhân công có thể loại trừ và số lượng nhân công thất
nghiệp theo mùa. Nhân công có thể loại trừ, theo hai tác giả này là nhân
công nếu loại trừ trong ṿng một năm th́ sẽ không làm giảm tổng sản lượng.
Hai tác giả thực hiện cuộc khảo cứu bằng cách sử dụng con số thống kê. Hai
tác giả nhận thấy rằng thất nghiệp trá h́nh kinh niên là điều không có thực.
(41)
T.W.Schultz ủng hộ lư thuyết thất nghiệp trá h́nh trong
bản phúc tŕnh Liên Hiệp Quốc 1951 nhưng bác bỏ lư thuyết đó trong một ấn
hành của ông, nhan đề “Transforming Traditional Agriculture” năm 1956.
Schultz đưa ra ba trường hợp khảo sát để chứng minh là lư thuyết về thất
nghiệp trá h́nh trong nông nghiệp chỉ là một quan niệm sai lầm.
Tại Peru, chính quyền cho xây cất một con đường theo
triền núiù Andes dẫn tới vùng Tingo Maria. Công cuộc xây dựng con đường đă
thu hút nông dân từ những nông trại dọc theo con đường. Như vậy là đă có sự
giảm sút đột ngột của số cung nhân công. V́ sự thay đổi xảy ra trong một
thời gian ngắn, những yếu tố sản xuất khác được coi như không thay đổi. Kết
quả cho thấy là tổng sản lượng nông nghiệp của vùng cũng bị giảm tức th́.
(42)
Tại vùng Bel Horizonte, Ba Tây, sự gia tăng đột ngột
của công tŕnh xây cất tại thành thị đă thu hút nông dân bỏ công việc đồng
áng để tới làm việc tại thành thị. Do vậy, hậu quả là tổng sản lượng nông
nghiệp của vùng đó cũng bị giảm. (43)
Một khảo sát khác có đối tượng là nền nông nghiệp Ấn
Độ. Năm 1918-1919, Ấn Độ trải qua một dịch cúm lớn lao, tạo nên cái chết của
hàng nhiều ngàn người. Nạn dịch tàn phá một cách đột ngột. Số tử vong đạt
đến cao điểm trong ṿng vài tuần lễ, rồi giảm sụt cũng mau chóng. Những
người sống sót không bị mất năng lực trong thời gian lâu. Schultz nghĩ rằng
nạn dịch là mộtï trường hợp rơ rệt trong đó số lượng nhân công trong nông
nghiệp giảm thiểu đột ngột trong khi những yếu tố khác về tư bản và kỹ thuật
không thay đổi. Ông nhận thấy là nạn dịch đă làm giảm thiểu 9 phần trăm nhân
công và như là hậu quả làm giảm 3.8 phần trăm đất canh tác. Ông cũng nhận
thấy một sự cố nổi bật là ở tỉnh nào có số tử vong cao, cũng có số đất đai
khai thác bị giảm sụt cao. Ông kết luận là:” Khó có thể t́m thấy bằng chứng
để hỗ trợ cho chủ thuyết rằng một phần nhân lực tại Ấn Độ trong thời kỳ có
nạn dịch mà lại có năng suất của nhân công biên tế bằng không.” (44)
Schultz t́m cách giải thích thêm là quan điểm cho là có
sự hiện hữu của thất nghiệp trá h́nh đă phát xuất từ cái nh́n hời hợt ở một
thời ḱ có sự gia tăng của sản lượng nông nghiệp song song với sự giảm sút
của nhân công. Nhưng sự kiện này xảy ra là do có sự cải cách về kỹ thuật
canh tác song song với sự đầu tư thêm vốn. Ông cho rằng lư thuyết chủ trương
rằng năng suất của nhân công biên tế tại những nền nông nghiệp của một số
quốc gia nghèo bằng không, là một sai lầm.
Mặc dầu những sự kiện mà Schultz nêu ra trong những
cuộc khảo sát của ông là không thể chối căi, Schultz đă phạm phải lỗi lầm
trong cách ông sử dụng những sự kiện đó để hỗ trợ cho lập luận chống lư
thuyết thất nghiệp trá h́nh của ông.
Schultz cho rằng ảnh hưởng của nạn dịch đối với sản
lượng nông nghiệp vào năm 1918-1919, là một cơ hội tốt để quan sát hậu quả
của sự giảm sút đột ngột của nhân công với một nền nông nghiệp. Thực ra,
trái với quan điểm của Schultz, nạn dịch không phải là một trường hợp thích
hợp để chứng minh hay phủ nhận t́nh trạng thất nghiệp trá h́nh. Theo đúng
lẽ, một sự rút lui của nhân công ra khỏi khu vực nông nghiệp phải là một
tính toán tự nguyện và đặt trên những tính toán kinh tế. Trái lại, nạn dịch
đă ảnh hưởng đến sự sử dụng nhân lực tại những gia đ́nh nông dân Ấn Độ, mà
không cần biết rằng những nông dân bị ảnh hưởng có là thặng dư hay không.
Schultz cũng mắc phải lỗi lầm về lập luận trong hai
khảo sát kia. Trong hai trường hợp của công cuộc xây cất đường ở Peru và
trường hợp có sự gia tăng đột ngột của xây cất ở thành phố Bel Horizonte, Ba
Tây, những nông dân ở vùng lân cận khi quyết định tạm thời bỏ công việc đồng
áng, đă biết rằng sản lượng của họ sẽ bị sút giảm, nhưng họ vẫn đi làm công
việc xây cất v́ họ sẽ nhận được lợi tức cao hơn. Do vậy sự sút giảm về tổng
sản lượng nông nghiệp có thể tiên đoán được.
Cuộc nghiên cứu của Pepalasis và Yotopoulos về nạn thất
nghiệp trá h́nh tại Hy Lạp đă đi đến một kết luận dựa trên căn bản của một
đơn vị đo lường gọi là “nhân công cần thiết” để sản xuất một số lượng nông
phẩm nào đó. Tuy nhiên, dựa trên căn bản nào mà hai tác giả đó có thể thiết
lập được đơn vị “nhân công cần thiết” trên? Hai tác giả muốn dựa trên một
nền nông nghiệp khả dĩ của Hy Lạp hay dựa trên nền nông nghiệp đương thời
của Hy Lạp. Nên nhớ rằng những kết quả đo lường được từ một thí điểm sẽ cách
xa rất nhiều về tư bản, kỹ thuật, mật độ dân số và nhất là về yếu tố tổ
chức. Kết luận của Pepalais và Yotopoulos là một điều rất đáng nghi ngờ nếu
không giải quyết được những nghi vấn trên.
Thực ra ư niệm về sự thất nghiệp trá h́nh trong nông
nghiệp là một ư niệm rất đơn giản phát xuất từ một nhận xét là có quá nhiều
nông dân canh tác trên những mảnh đất nhỏ nhoi. Từ một nhận xét đơn giản và
hiển nhiên đó, một số kinh tế gia muốn biến nhận xét đó thành một phương
tŕnh toán học và rồi muốn t́m cách chứng minh điều đó bằng một phương pháp
định lượng. Đó là sự sai lầm lớn của những kinh tế gia đó.
Trong những sự cố kinh tế nói chung, và nhất là những
sự cố kinh tế nông nghiệp nói riêng, rất khó có thể ép những sự cố đó vào
khung của những phương tŕnh toán học.
Thất nghiệp trá h́nh trong nông nghiệp là một hiện
tượng có thực và rất dễ được những người không chuyên môn cũng nhận thức
được. Nhưng từ một nhận xét đó mà suy ra là năng suất của nhân công biên tế
bằng không và do đó có thể rút đi một số nhân công mà không làm giảm sụt
tổng sản lượng là một lối nh́n có tính cách đóng khung.
Có hai yếu tố để khiến cho cách lập luận đóng khung
trên chỉ gần đúng mà không hoàn toàn đúng.
Yếu tố thứ nhất là tính tiểu mô (microeconomic) của nông nghiệp. Đơn vị kinh
tế gia đ́nh là đơn vị kinh tế áp đảo tại những nền nông nghiệp chậm tiến,
nơi mà hiện tượng thất nghiệp trá h́nh lan tràn và là mục tiêu của những
tranh luận.
Yếu tố thứ hai là tính khả phân hữu hạn của nhân công
(đơn vị nhỏ nhất của nhân công là một nông dân).
Thí dụ tại một gia đ́nh nông dân có ba người thuộc
thành phần sản xuất. Giả sử rằng nếu có ba người th́ có sự thặng dư nhân
công, nhưng nếu chỉ c̣n hai người th́ lại thiếu nhân công. V́ một lư do nào
đó, một người rút lui khỏi công tác sản xuất. Tổng sản lượng của gia đ́nh
nông dân đó chắc sẽ bị sút giảm. Tuy vậy, v́ tính khả phân hữu hạn của nhân
công, người ta không thể rút đi một nửa công nhân được.
Thí dụ khác: một gia đ́nh nông dân có ba người thuộc
thành phần sản xuất. Giả sử rằng nếu có ba người th́ có sự thặng dư nhân
công, nhưng nếu chỉ c̣n hai người th́ lại thiếu nhân công. V́ một lư do nào
đó, một người rút lui khỏi công tác sản xuất. Tổng sản lượng của gia đ́nh
nông dân đó chắc sẽ bị sút giảm. Tuy vậy, v́ tính khả phân hữu hạn của nhân
công, người ta không thể rút đi một nửa công nhân được.
Thí dụ khác: một gia đ́nh nông dân có năm người thuộc
thành phần sản xuất. Giả sử, v́ số đất đai có hạn, gia đ́nh đó chỉ cần có ba
người th́ đạt được năng suất tối đa. Trong trường hợp này, nếu hai người rời
gia đ́nh th́ tổng sản lượng vẫn không sút giảm. Vậy th́ sự rút ra một số
nhân công khỏi khu vực nông nghiệp có ảnh hưởng tới tổng sản lượng nông
nghiệp hay không cũng c̣n tùy thuộc vào mức độ thặng dư của nhân công.
Trong thí dụ 1, trường hợp một gia đ́nh nông dân có ba
người thuộc thành phần sản xuất và một người bỏ đi, hai người c̣n ở lại có
thể mướn thêm tá điền để giúp họ giữ mức sản lượng khỏi giảm sút. Tuy nhiên,
nếu tại một khu vực nông nghiệp, nếu v́ một biến cố nào đó như sự cố xây
dựng một con đường, nạn dịch v.v... mà có nhiều nông dân bỏ gia đ́nh đi một
cách đột ngột th́ kết quả c̣n tùy thuộc vào số cung của tá điền và khả năng
quản trị của những nông dân c̣n ở lại.
Tóm lại, hiện tượng thất nghiệp trá h́nh có thể hiện
hữu mà không nhất thiết là năng suất của nhân công biên tế bằng không. Trong
những nền nông nghiệp sinh tồn (subsistence agriculture), người ta tin rằng
lương bổng của công nhân được ấn định bởi mức sinh tồn (subsistence level).
Như vậy, một khi nếu năng suất của những nhân công biên tế thấp hơn mức sinh
tồn, khi đó ta có thể nói là nạn thất nghiệp trá h́nh hiện hữu. Phạm Trung Nhạc
(1). Gerlad M.Meier, Leading issues in Development Economics, p17.