VỀ SỰ SUY THOÁI GIÁO DỤC
VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM
Như mọi người biết
giáo dục vừa là căn bản cho sự đào luyện con người vừa là sự yểm trợ tích
cực nhứt cho công cuộc phát triển quốc gia. Một nền giáo dục tốt hay xấu
nó dựa trên nhiều yếu tố khách quan như: chánh sách giáo duc, sự đầu tư
cho giáo dục, lợi tức của người dân, tánh hiếu học của dân, sự hữu dụng
của mỗi người sau khi được giáo dục đào luyện. Một con người có giá trị và
hữu ích được thể hiện ít nhứt trên ba mặt: có đạo đức, có kiến thức chuyên
môn ít hay nhiều, và có sự hiểu biết về quyền hạn và trách nhiệm công dân
trong cộng đồng xã hội. Cho nên nhìn thực trạng giáo dục của một quốc gia
ta có thể đoán được giá trị phát triển của quốc gia đó. Ngoài ra, mô hình
giáo dục còn phản ánh triết lý chánh trị kinh tế xã hội của nước đó.
Theo tin tức của báo chí trong nước, thì qua hội thảo
lớn của chánh phủ về phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hồi
tháng chín năm 2005, một số viên chức cao cấp ở VN có nhận xét trong buổi
hội thảo rằng nền giáo dục ở đây hiện rất sa sút cần phải có biện pháp gấp
rút cải tiến.
Thực sự tình trạng giáo dục ở VN đã sa sút từ lâu và
khắp moị vùng của đất nước chớ không phải chỉ có ở vùng ÐBSCL. Chúng ta
được biết đã có nhiều sụ việc liên hệ đến giáo dục thường xuyên xảy ra một
cách không bình thường như: có hàng trăm hoc sinh bỏ học ởû Cà mau hay
Thái Bình, Binh Thuận hay một nơi nào đó, độ 30% các ông tiến sĩ trong
nước có trình độ rất kém, nạn mua bán bằng cấp và bằng cấop giả rất trầm
trọng, chương trình học bổ túc văn hóa và học tại chức không có giá trị
nào, sinh viên sau khi tốt nghiệp không có việc làm ở mức độ rất cao…
Nhưng tình trạng tệ hại nhứt theo phía chánh quyền VN, là tại vùng ÐBSCL.
Sự kiện xảy ra như trong cuộc hội thảo nêu trên gây ra
cho nhiều người một phần nhạc nhiên và một phần không ngạc nhiên.
Phần ngạc nhiên là vì vùng ÐBSCL từ 200 năm vốn có đời
sống kinh tế xã hội khá thoải mái, không phải luôn ở trong cảnh nghèo đói,
cho tới khi chánh quyền hiện nay tiếp thu và cai quản nó. Dân cư vùng nầy
có tánh chịu đựng và tinh thần xung phong, khai phá vùng đất mới và kiên
trì chống chỏi với thử thách thiên nhiên. Ða số tuyệt đối coi trọng giáo
dục và giữ đạo lý luân thường. Những người con sanh sống trong vùng nầy
trước kia đã từng thành đạt trên nhiều lãnh vực. Giờ thì họ phải ngậm đắng
nuốt cay và vật lộn trong một cuộc sống không có ngày mai trong xã hội
mới.
Và phần không ngạc nhiên là vì tình trạng giáo dục của
vùng nầy cũng gần giống như tình trạng chung của cả nước. Sau 30 năm dưới
chế độ XHCN, những cái căn bản và tích cực cho việc xây dựng tiền đồ đất
nước thì đi lùi (trong đó có giáo dục, đạo đức gia đình, tinh thần phấn
đấu và trách nhiệm công dân, …), còn những cái tiêu cực thì tiến nhanh
(trong đó có vấn đề tham nhũng, lừa dối, chụp giựt và chia chác tài sản
quốc gia, niềm tin bị đánh mất…). Một xã hội như vậy thì chắc chắn ảnh
hưởng lên việc học hành của người dân.
Cái triết lý giáo dục của VNCS là “đào tạo con người
mới xã hội chủ nghiã”. Con người cần được đào tạo trong một cái khung duy
nhứt. Cái mẫu mực con người mới đó rất khó hiểu và kỳ lạ. Cái tiêu chuẩn
để đánh giá cho mọi sự tuyển dụng là “cái chất đỏ” chớ không phải là kiến
thức chuyên môn. Bây giờ, sau 30 năm, có trên 20 triệu con người mới sanh
sau 1975. Ðó là những “con người mới xã hội chủ nghĩa” mà theo những người
cộng sản thì đó là mẫu người tốt hơn con người cũ, một mẫu người như vậy
mới thích hợp trong một xã hội không có người bóc lột người (?!)
Giáo dục là vấn đề phức tạp. Thêm vào đó lại có nhiều
chuyển biến phức tạp trong xã hội VN từ khi đổi mới kinh tế. Nhưng giáo
dục vốn có ảnh hưởng lâu dài. Vấn đề dược đặt ra là: Cái lối giáo dục của
CSVN từ 30 năm qua nó đã vào trong tâm trí những thế hệ trẻ tới mức nào và
nó di hại cho dân tộc đến mức nào?
Khi CS chiếm miền Nam, ngoài sự mất mát tài sản vật
chất, tù đày, một trong những âu lo lớn là thay đổi con người do lối giáo
dục mang lại. Tội nghiệp là những đứa trẻ đã phải ra đời trong hoàn cảnh
đó. Ðó là vấn đề đáng lo ngại nhứt cho tiền đồ đất nước. Song may thay sự
thấm sâu và cải biến con người trong chế độ CS không như họ mong đợi.
Trong lịch sử VN, cái mẫu giáo dục và văn hóa đã từng bị va chạm và biến
cải nhiều lần: trong thời kỳ bị Tàu đô hộ, thời kỳ độc lập của các triều
đại Lý, Lê, Trần, thời kỳ bị Pháp chiếm đóng, thời chiến tranh 1960-1975,
nhưng sự đảo ngược và xáo trộn mạnh và đáng lo ngại nhứt là từ khi Cộng
sản cai trị cả nước.
Song thời thế đổi thay, ba yếu tố mới quan trọng làm
cho con người mới XHCN không đúng như CS muốn và lần lần trở thành con
người khác. Ba yếu tố đó là: Sự sụp đổ phần lớn các nước CS, thứ hai là
đường lối kinh tế thị trường, và sự hội nhập kinh tế toàn cầu. Trong phần
trình bày ngắn sau đây, chúng ta thử xem xét vấn đề qua:
- Hiện trang giáo dục ở vùng ĐBSCL (Chúng tôi lấy vùng
nầy làm điển hình nghiên cứu là vì vùng nầy suy sụp mạnh nhứt)
- Nguyên nhân làm cho sự giáo dục thấp kém.
- Vài suy nghĩ về sự biến đổi kinh tế xã hội và giáo
dục. 1. Hiện trang giáo dục ở vùng ĐBSCL:
Cách tổng quát giáo dục tại vùng ĐBSCL có những vấn đề,
những khó khăn hiện nay (thực sự có từ lâu rồi) như sau đây:
- Tỷ lệ hoc sinh lên trung học đệ nhị cấp và đại học
rất thấp so với các vùng khác.
Tình trạng bỏ học ngày càng nhiều. Theo cuộâc nghiên
cứu của World Bank năm 2004, thì tỷ lệ bỏ học của học sinh tiểu học: toàn
quốc là 3.13%, tại ĐBSCL là 6.22%. Số hoc sinh sau khi tốt nghiệp trung
học tiếp tục lên đại học chưa đầy 5%. Trên thực tế, chúng ta có biết qua
báo chí có hàng trăm học sinh bỏ học ở nhiều nơi như Thái Bình, Bình
Thuận, Cà Mau…Theo báo cáo của World Bank 1992, thì ĐBSCL chỉ có 0.15% dân
số là vào học đại học, trong khi đó tỷ lệ toàn quốc là 0.36%. Nếu so với
các nước ở Á Châu thì đó là tỷ lệ rất thấp. Ví dụ…
- Trường sở rất thiếu. Nhứt là trường tiểu học ở các xã
xa xôi. Nhiều trường nhìn không ra cái trường. Cũng theo báo cáo nói trên
của World Bank thì 80% trường học ở các vùng nghèo nông thôn ở trong trình
trạng tồi tệ.
- Về đại học, trường đại học Cần Thơ là quan trọng
nhứt. Ðó là trường đã được thành lập từ khoảng năm 1966, trường đại học An
Giang, trước 1975 là trường đại học Hòa Hảo, trường Cao đẳng Tiền Giang
hay trường cộng đồng Tiền Giang cũng có trước 1975. Năm 1996 Canada và Hòa
Lan viện trợ, chánh phủ lập được 7 trường Ðại học cộng đồng trong đó có
một cái ở Rạch giá, một cái ở Tiền giang. Từ năm 1994, Chánh phủ cho thành
lập Ðại học và Cao đẳng dân lập, đó là các trường tư để bổ sung cho hệ
thống đại học công lập không đủ cho nhu cầu. Có nhiều trường dân lập ra
đời, nhưng phần lớn là ở Saigon và Hà nội. Trở ngại chánh là thiếu giáo sư
giỏi cho các trường đại học công cũng như tư. Giáo sư cơ hữu của các đại
học có trước 1975 đã đi gần hết.
Cả trường Ðại học Cần Thơ chỉ có 10 tiến sĩ và 9 thạc
sĩ cơ hữu. Ðại hoc An Giang chỉ có một tiến sĩ, phần lớn là thạc sĩ. Phần
lớn các giáo sư đại học hiện nay đều được đào tạo tại các nước XHCN trước
kia, trong đó phần lớn là con đảng viên ở ngoài Bắc, con đảng viên tập kết
thì lẻ tẻ rất ít. Hoặc là tốt nghiệp trong nước sau 1975. Phần lớn giáo sư
đại học chỉ tốt nghiệp thạc sĩ (tương đương cao học). Mà chúng ta biết,
trước 1986 con tư sản lớn hay con gia đình thuộc chế độ cũ thì không vào
được đại học. Các trường đại học Miền tây không mời được giáo sư từ Sàigon
hay Hà nội có lẽ vì xa xôi hay thù lao thấp. Mà 30 năm qua, các trường
vùng nầy không giành được học bổng đào tạo tiến sĩ ở các đại học tốt ở
ngoại quốc. Cái lỗ trống đó cứ kéo dài cả chục năm rồi.
- Chất lượng giảng dạy rất kém: Trong 10 năm đầu, dân
miền Nam nhận một nền giáo dục bệ rạc và kỳ lạ. Một số cán bộ trình độ lớp
ba cho học bổ túc văn hóa lấy chứng chỉ lớp 12 lên làm trưởng phòng giáo
dục Huyện, hay làm giáo viên. Còn các giáo viên hay giáo sư cũ thì phần
lớn hoặc bị đuổi hoặc đi vượt biên. Họ dạy lếu láo cho hết giờ, bài dạy
dưới sự kiểm soát chặc chẽ của Hiệu trưởng, các bài về chánh trị phải nói
như chỉ thị. Giáo viên không còn được kính trọng như xưa, vì trình độ kém
và mánh mung thêm để sống vì lương quá thấp. Mấy năm gần đây tình trạng có
cải tiến được một chút về lương bổng.
- Về phía chánh phủ: Chánh sách giáo dục hẹp hòi và một
chiều, ngân sách cho nông thôn nói chung, cho giáo dục ở nông thôn rất
thấp.
Vì lý do chánh trị, tiền bỏ ra cho vùng cao nguyên có
tỷ lệ cao hơn cho vùng ĐBSCL. Chương trình nghiên cứu và đào tạo giáo sư,
các trường dạy nghề rất cần cho vùng nầy rất hiếm. Cũng như các vùng khác
trên toàn quốc, trong 10 năm đầu (1975-1985) cái mô thức đào tạo hét sức
cứng rắn, con người như nằm trong cái khuôn cốt để xây dựng Xã hội chủ
nghĩa.
- Về phía cha mẹ học sinh, thì trở ngại chánh yếu là
không có đủ tiền cho con đi học tiếp ở trung học đệ nhị cấp hay lên đại
học. Dù cha mẹ rất mong muốn con mình có mức học khá hơn.
- Về phía hoc sinh thì việc học không còn là mục tiêu
phấn đấu quan trọng nhứt cho đời mình. Ngoài toán và khoa học thì các môn
khác rất nhàm chán, không có tính thuyết phục. 2.Các nguyên nhân cho sự suy kém giáo dục:
Như trên đã nói nền giáo dục ở DBSCL nói riêng và toàn
cõi đất nước sa sút trầm trọng. Chúng ta thử xét qua 3 mặt chánh:
- Từ truyền thống coi trọng giáo dục của người dân.
- Từ đời sống kinh tế xã hội trong 30 năm qua tại nông
thôn.
- Từ trách nhiệm của chánh quyền.
A/ Truyền thống giáo dục đối với người dân ở ĐBSCL:
Vùng nầy chỉ mới hình
thành vào khoảng 400 năm. Truyền thống của người dân miền tây là quyết tâm
thắng mọi nghịch cảnh, và luôn hướng về phía trước. Cho nên sự học hỏi và
việc tìm tòi để tiến thân là hết sức quan trọng. Trong trăm năm nay, có
rất nhiều người đã thành đạt trong mọi lãnh vực xuất phát từ vùng nầy.
Cuộc sống được thiên nhiên uu đãi, người dân tương đối thanh nhàn hơn,
nhưng điều nầy không có nghĩa là người dân không thích sự học, không coi
trọng sự học như cán bộ cao cấp của Hà Nội nhận xét. Trước 1975 dù những
hiểm nguy chiến tranh, vẫn có rất nhiều học sinh lặn lội đến trường. Vậy
cái lý do học sinh bỏ học nhiều, ít học sinh cố gắng lên đại học nằm ngoài
ý muốn của học sinh và của cha mẹ học sinh, ngoài cái truyền thống của
vùng nầy.
B/ Ðời sống kinh tế xã hội của dân ở ĐBSCL:
Nền kinh tế nông thôn từ
sau tháng tư 1975 đến nay, nhứt là từ trước 1985. Nông thôn quá nghèo là
nguyên nhân chánh của sư suy thoái việc học của người dân ở đây. Theo
Report cuả World Bank (Ngân hàng thế giới) năm 1993 thì lợi tức đầu người
ở nông thôn chỉ có 50 mỹ kim/năm. Nhờ đổi mới kinh tế từ 1986, cũng theo
Report của World bank 2004 thì lợi tức một gia đình nông dân là 750 mỹ
kim, từng đầu người khoảng 100 mỹ kim / năm. (Trung bình toàn quốc vào
khoảng 420 mỹ kim/ng)
Trong lúc đó thì chi phí
cho việc học càng ngày càng tăng.
Muốn học đệ nhị cấp thì
phải vào thị trấn hay thị xã. Nếu đậu vào trường công thì đỡ, còn không
thì nếu học trường tư thì tốn kém mọi thứ không dưới 300.000 đồng một
tháng, còn học đại học ở Saigon tốn kém trung bình 2.000.000 đồng/tháng,
học ở đại học Cần thơ cũng tốn kém trung bình 700.000 đồng/tháng (tức là
học đại học phải tốn từ 50 đến 150 mỹ kim /tháng. Nông dân làm sao có đủ
số tiền nầy. Chỉ có con đảng viên hay một số ngưới làm ăn thương mại lớn
mới chịu nổi. Theo cuộc nghiên cứu của World Bank năm 2002 (đăng trong tập
Vietnam Living Standards Survey) thì có nhiều gia đình không cho con đi
học được vì học phí quá cao là sự minh định điều trên.
Nếu phải tốn kém nhiều để
được tương lai sáng sủa thì chắc cũng có người đi vay nợ cho con học. Ðằng
nầy tình trạng thất nghiệp rất cao (40% ở nông thôn). Tỷ lệ sanh trưởng ở
nông thôn cao, số lao động dôi ra hằng năm rất lớn. Các chương trình đô
thị hóa nông thôn không đáng kể. Các khu kỹ nghệ lớn không đủ sức nhận
thuê người thất nghiệp ở nông thôn. Học ra không có việc làm. Ðiều nầy làm
nản chí thêm cho nhiều gia đình trong việc học.
C/ Trách nhiệm của chánh quyền:
Ở một nước chậm tiến hay
đang phát triển, hầu hết người dân không thể lo liệu việc học cho con em
mình được. Chánh quyền phải có vai trò và trách nhiệm chánh. Ðể cho nền
giáo dục tụt hậu là một tội; đưa vào đầu trẻ con những loại giáo dục u mê
sai trái là một tội khác đối với nhân dân.
Tại nước có dân chủ thì ý
nguyện giáo dục của người dân được đặt ra dưới các chương trình hay ngân
sách thảo luận tại quốc hội. Ở VN thì chỉ có hình thức. Các cơ quan chức
năng thì phải có chưong trình hành động, đi sát với nhu cầu người dân và
nhu cầu phát triển vùng. Ðây là vùng nộng nghiệp rất quan trọng chẳng
những cho VN mà cho cả thế giới, vì mỗi năm thặng dư gần 4 triệu tấùn gạo.
Căn bản kinh tế VN là kinh tế nông nghiệp mà chánh phủ coi nhẹ khu vựïc
nông thôn, kể cả đầu tư ngoại quốc như từ 1988 đến 2002 chỉ bằng 7,96%
tổng số dự án và chỉ bằng 3,3% vốn đầu tư. Trong cơ cấu kinh tế và sự phân
bố đầu tư như vậy, về đường dài không có tác dụng thuận lợi cho phát triển
toàn diện quốc gia mà còn làm trầm trọng thêm bất công xã hội.
Trong khoảng 10 năm trở
lại đây, có nhiều nước và nhiều định chế quốc tế đã giúp nhiều cho VN
trong đó có nhiều chương trình giáo dục. Như mới đây World Bank giúp 50
triệu mỹ kim để cải tiến chất lượng (enhance the quality) và cải thiện
quản trị trong giáo dục (strenghthen administration the Government’s
Education program) (bản tin của World Bank June 29-2005), đó là hai lãnh
vực còn quá yếu. Cơ quan International Association cho vay để cải tiến
trường sở và tăng thêm cách giảng dạy của giáo viên.v.v. Nhưng cũng không
cải thiện được tinh trạng giáo dục là bao.
Từ khi đổi mới kinh tế,
chánh quyền VN có cải tiến phần nào giáo dục như tăng ngân sách cho giáo
dục, nhưng hãy còn quá thấp so với các nước trong vùng. Ngân sách giáo dục
của VN trong khoản 2-3%, trong lúc đó tại các nước Á Châu trung bình 5-6%.
Chánh phủ cho mở hệ thống trường tư để đáp ứng phần nào số học sinh gia
tăng. 3. Vài suy nghĩ về chuyển biến kinh tế xã hội và
giáo dục
Tác hại sai lệch và kém cỏi của VN trong 30 năm qua đặt
ra cho chúng ta một cảm nghĩ xót xa. Ðã có trên 20 triệu trẻ em đã qua cái
lò tôi luyện như vậy và nay thì phần lớn đã vào đời trong một xã hội đầy
dẫy tiêu cực mà bắt buộc các em phải chạy để sống còn. Nhưng may thay nhờ
những yếu tố bên ngoài tác động mạnh là cho “con người xã hội chủ nghĩa”
mà CSVN muốn đào tạo ra nó bị biến cải nhiều.
A/ Về mẫu người được đào tạo theo đảng CSVN:
Trước hết cái chách sách
giáo dục của đảng là đào tạo “con người mới xã hội chủ nghiã” mà đảng và
Nhà nước muốn xây dựng trong 10 năm đầu (75-85) trong một cái khuôn kín.
Gần như cha mẹ là hai tác nhân sản xuất, đứa bé là một sản phẩm của xã
hội. Ðảng lo việc nuôi dưỡng từ khi đứa bé biết đến trường, rồi ra đi làm,
vào đoàn vào đảng, làm việc hết mình “theo lời Bác Hồ dạy” và rồi chết như
một phương tiện sản xuất, không cần suy nghĩ vì ‘đảng luôn luôn đúng”.
Trong thời gian 10 năm nầy các gia đình tại miền Nam bị quá nhiều đòn
cưỡng bức trong cái chánh sách gọi là “cải tạo xã hội xã hội chủ nghĩa”
với những biện pháp kinh hoàng: Xua đuổi dân đi kinh tế mới, giam hàng
trăm ngàn người làm việc dướùi chế độ cũ, tịch thu tài sản công kỹ thương
gia, nông dân phải vào tổ hợp sản xuất, tich thu tiền (đổi tiền). Người
dân miền nam đón chế độ mới trong sợ hãi và bàng hoàng. Rồi dần dần những
cái mới chẳng những không hay mà còn lố bịch, nguời dân miền nam có phản
dù phần lớn tiêu cực. Nhưng điều nâỳ chứng tỏ rằng sự nhồi nắn người miền
nam trở thành “con người mới” không đạt kết quả như CSVN muốn. Tuy nhiên
trong nền giáo dục một chiều và đóng khung như vậy đã làm cho những người
trẻ không có dịp thấy và so sánh những cái tốt những cái hợp lý hơn tại
các quốc gia khác trên thế giới. Cộng thêm bộ máy tuyên truyền to lớn làm
người dân cảm nghĩ như có sự an bài. Dù trong lòng không thích không muốn,
nhưng bề ngoài vẫn giả bộ tuân theo. Ðó là một trong những điều mà CS đem
đến nhanh cho dân là sự lừa dối. Ðảng lừa dối cán bộ, cán bộ viên chức dối
dân, dân dối chánh quyền.
Tóm laiï trong 10 năm
đầu, xã hội miền Nam tan nát từ kinh tế lẫn tinh thần mà bắt đầu từ giáo
dục và chúng ta chưa bao giờ thấy trong lịch sử Việt Nam. Suy nghĩ có lúc
thấy lo ngaị. Nhưng có một số điều làm chúng ta tin tưởng cái giáo duc và
văn hóa xấu thế nào cũng bị đào thải. Những dữ kiện đó là: Trung Hoa ngày
xưa cố áp đặt văn hóa lâu đời của họ lên dân tộc Việt trong thời gian cả
ngàn năm nhưng đã không thành công, sự sụp đổ của phần lớn các nước Cộng
sản làm cho CSVN phaiû thay đổi một số điều, Và quan trong nhứt là trong
giai đoạn cải cách kinh tế và hội nhập toàn cầu.
B/ Các chuyển biến mới:
Mặc dầu cho tới nay CSVN
vẫn nói là tiếp tục đi theo chủ nghĩa xã hội. Nhưng vì có những biến
chuyển mới từ bên trong cũng như từ ngoài làm cho mẫu hình xã hội đó bị
méo mo . Do đó cái con người mới xã hội chủ nghĩa cũng không có trên thực
tế nữa. Ngày nay đảng CSVN còn cần phải duy trì lý thuyết Mác Lê và tư
tưởng Hồ Chí Minh là cốt để cho đảng bớt phân hóa và để hù dọa dân mà
thôi.
Những tác động mạnh làm
chuyển biến một xã hội thiếu căn bản vững chắc có thể tóm tắt sau đây: 1. Sự thất
bại hoàn toàn của việc xây dựng xã hội chủ nghĩa, cái mà CSVN tuyên bố lúc
đầu là “thời kỳ quá độ” để tiến lên xã hội cộng sản thì đã biến mất. Những
điều dạy ở học đường, ở đoàn thiếu nhi, đoàn thanh niên, ở nơi làm việc, ở
tổ dân phố, đều không giống xã hội thực sự. Một xã hội ngày nay sa đọa gần
như vô phương cứu chữa: ở nhà trường thì hiệu trưởng báo cáo láo cho tỷ lệ
học sinh giỏi cao, thi cử thì gian lận, mua bán bài thi, 1/3 tiến sĩ có
trình độ rất kém, học tại chức chỉ là mua bằng để có chức vụ cao để tham
nhũng nhiều. Ngoài xã hội ai cũng chạy theo tiền, không còn nhân nghĩa,
trộm cướp giết người, đĩ điếm tràn lan, các vùng xa xôi không việc làm ùa
vào các thành phố lớn sống nhờ những rơi rớt của đảng viên, không có cái
gì mà khỏi phải lo tiền mà được việc. Cái xã hội nay thật quái gở: 95% dân
làm việc đầu tắt mặt tối đề nuôi 5% đảng viên cán bộ và gian doanh. Một
người nông dân chỉ kiếm được độ 100 mỹ kim / năm, trong lúc đó một Tổng
giám đốc thua cá độ banh 1,5 triệu mỹ kim / một tháng, hay một nhân viên
Bộ Thương mại có thể bán quota quần áo xuất cảng có vô và chục ngàn đô một
tháng. Không thể kể hết. Cảnh tượng đó làm mọi người trong đó có cái mới
vào đời suy nghĩ và có thể đưa tới sự phủ nhận hay bất mãn ít nhứt ngấm
ngầm. 2. Sự sụp
đổ của khối cộng sản Liên Xô và Ðông Aâu chứng tỏ một cách rõ ràng chủ
nghĩa cộng sản đi ngược lại yêu cầu tự do dân chủ, và công bằng xã hội của
người dân ở các nưóc. Dù có kềm kẹp hay biện minh cách nào thì cũng không
che dấu được trong thời đại ngày nay. 3. Sự đổi
mới kinh tế theo đường lối kinh tế thị trường mà đảng CSVN bắt buộc phải
theo là vì sự sống còn của đảng. Ðường hướng nầy nó tạo ra nhiều mâu thuẫn
to lớn trong đảng viện giàu và nghèo, trong sự cách biệt về cuộc sống càng
ngày càng lớn giữa đảng viên và dân chúng do sự hình thành nhanh chóng lớp
tư sản đỏ, một loại “quí tộc” mà trong lịch sử VN chưa bao giờ có.
Nhờ đổi mới, kinh tế VN
có đạt được một số kết quả: Mức độ phát triển khá 7-8%/năm, lợi tứ đầu
người trung bình từ 200 mỹ kim năm 1986 lên 450 mỹ kim năm 2004, xuất cảng
tăng từ 5 tỷ mỹ kim 1986 lên 28 tỷ năêm 2004. Nhưng haỹ nhớ VN hiện nay
vẫn là 20 nước nghèo nhứt thế giới. Kinh tế càng phát triển thì xã hội
càng sa đoạ, chênh lệch giàu nghèo càng cao (trung bình người giàu có thu
nhập gấp 10 lần người nghèo).
Sự thay đổi về cơ cấu
kinh tế với sự phát triển khu vực tư doanh và sự thu hẹp khu vực quốc
doanh bắt buộc nội dung giáo dục phải thay đổi cho thích nghi cung cách
làm ăn mới, và sự chọn lựa ngành học của học sinh cũng thay đổi. Những
thay đổi nhanh chóng của xã hội khiến cho các đầu óc ngu khờ của các lãnh
đạo bị loại dần và hy vọng cửa học đường sẽ có vài luồng khí mới có phần
khai phóng hơn. Ðây là cơ hội để các ý niệm tự do dân chủ thấm vào từ từ
mà trong nền giáo dục như 10 năm đầu thì khó mà vào được. 4. Sự cố
gắng hội nhập toàn cầu. Ðây là bước thay đổi quan trọng trong một nước
cộng sản. Trong thời kỳ đầu để tiến nhanh tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội,
thì chỉ có cộng sản chơi với cộng sản thôi. Nay thì với trật tự thế giới
mới, với chủ trương coi trọng thương doanh. Trong 150 nước trên toàn cầu
giao thương nhau chỉ có 4 nước là cộng sản còn bao nhiêu là tự do. Vấn đề
“Ai thắng ai” thật rõ ràng. Bốn nước cộng sản còn lại phải theo nền kinh
tế tự do. Nếu không thì chết. Rồi dần dần đảng cộng sản bị biến thể, nó
không còn là đảng của hai giai cấp cốt lõi là công nông nữa mà nay có thêm
loại đảng viên là tư sản, vốn là kẻ thù của giai cấp vô sản. Khi đã gia
nhập cuộc chơi chung mà tư bản chủ đạo thì chắc chắn phải là sự đổi thay.
Không phải đổi thay trên bình diện ngoại giao hay chánh trị mà trên thực
tế cuộc sống, nó chi phối hết mọi người.
Những diễn biến trên phải tới dù chậm hay mau. Dù chánh
sách giáo dục của Nhà nước xã hội chủ nghĩa có cản ngăn cũng khó.