Quốc Gia Hành
Chánh    >> Home


VƠ NGUYÊN GIÁP

Tiêu máu của dân như tiêu giấy bạc giả
Phùng Quán

“Sự sống và chết của hàng mười ngàn người trong chiến tranh, dù họ là đồng bào, không có nghĩa lư ǵ. Giáp cải chính không bao giờ nói thế, nhưng dù ông nói hay không th́ cũng không quan trọng. Điều quan trọng là ông điều khiển trận chiến, kể cả khi thắng, thản nhiên một cách chai đá trước những thiệt hại cho binh sĩ của chính ông”. (“Vietnam at War”, page 12)

        Vơ Nguyên Giáp là người có thể nói đă chỉ huy Quân đội miền Bắc, dù có lúc bị thất sủng, chống lại Pháp từ 1946 đến 1954, và chiến tranh Nam Bắc sau này từ 1959 cho đến 30 Tháng 4, 1975, nên chúng tôi bắt đầu viết về vị tướng này.

        Vơ Nguyên Giáp sinh năm 1911, con ông Vơ Quang Nghiễm và bà Nguyễn Thị Kiến, một gia đ́nh địa chủ, ở làng An Xá, tỉnh Quảng B́nh, giáp với hai tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An ở phía Bắc. Theo lịch sử, ba tỉnh ấy không kính trọng những quan cai trị, dù cho đó là Trung Hoa, Pháp, hay cả Việt Nam nữa. Dân ở đó đă theo Lê Lợi, vào những năm 1418-1427, chống lại nhà Minh Trung Hoa. Chống lại Pháp năm 1880 và năm 1930. Họ cũng nổi loạn năm 1956, chống lại cuộc cải cách ruộng đất được thi hành một cách tàn bạo do Trường Chinh cầm đầu. Sau đây là trích bản tin của Vơ Trường Sơn:

        "Cuộc nổi dậy của nông dân Quỳnh Lưu gây một chấn động lớn v́ nó xảy ra ngay tại tỉnh Nghệ An, quê quán của Hồ Chí Minh... Hồ Chí Minh rất căm hận hành động nổi dậy, nên đă dùng các sư đoàn Nam Bộ Tập Kết để đàn áp, giết và đày ải hơn 6.000 nông dân, đồng thời cố t́nh bít kín mọi tin tức liên quan đến cuộc nổi dậy này không lọt ra thế giới bên ngoài.

        Bản tin mà chúng tôi dịch ra từ "Vietnam At War" trang 256, nói không phải Sư đoàn Nam Bộ, mà là Sư đoàn 325 đóng ở Vinh, với đa số lính quê quán ở Nghệ An.

        "Cuộc nổi loạn của dân quê Bắc Bộ chống lại "Cuộc Cải Cách Ruộng Đất" rùng rợn của Trường Chinh biến thành bạo động ở Nghệ An, ngày 2 Tháng 11, 1956. Sự nổi loạn công khai hoàn toàn làm cho Hồ và các đồng chí bất ngờ, gây chấn động cho giới lănh đạo. Không những dân quê nổi loạn, mà nó lại xẩy ra ở Nghệ An, nơi Hồ sinh ra, và đă từ nhiều năm là pháo đài của cộng sản. Cuộc nổi loạn mau chóng lan ra toàn tỉnh. Địa phương quân không ngăn chặn được, và Hồ ra lệnh cho Giáp đàn áp. Giáp điều động Sư đoàn 325 đóng ở Vinh, gần đó (cách xa Quỳnh Lưu khoảng 70 cây số). Giáp do dự khi ra lệnh cho sư đoàn. Lính của sư đoàn phần nhiều quê quán ở Nghệ An và những tỉnh lân cận, và đa số cũng là dân quê. Có thể Sư đoàn 325 sẽ ngả theo phe nổi loạn. Nhưng đó là hoàn cảnh trong chiến tranh Đông Dương, tầm quan trọng của tiếp viện vượt lên trên chiến lược, chiến thuật và những yếu tố tâm lư. Sư đoàn 325 có thể đi bộ tới nơi nổi loạn, nhanh chóng. Những sư đoàn khác đồn trú ở xa, phải nhiều ngày mới tới nơi. Phải dẹp ngay tức khắc cuộc nổi loạn trước khi lan rộng. Thế là Sư đoàn 325 lại nghe thấy tiếng kèn thúc quân, tuy rằng có một vài nốt than phiền. Không đếm xỉa ǵ tới những ư nghĩ thầm kín, hay t́nh cảm, Sư đoàn 325 mau chóng dập tắt ngọn lửa nổi loạn, trong máu. Không có con số chính thức. Nhưng một vài giới chức tuyên bố 1.000 dân quê đă bị giết, và 6.000 người bị đưa đi đầy. Tài liệu "Ngũ Giác Đài" cho rằng hàng ngàn người đă chết".  

        Đến năm 1924, Giáp vào học ở Trường Quốc Học Huế. Bắt đầu tham gia cách mạng từ năm 14 tuổi. Người hướng dẫn cho Giáp làm cách mạng là cụ Phan Bội Châu. Bị Pháp lùng bắt, cụ trốn sang Tàu. Ở đấy cụ gặp Hồ Chí Minh với bí danh Lư Thụy. Mỗi người lănh đạo một nhóm cách mạng và như vậy họ chống nhau. Người Pháp bảo rằng vào năm 1925, Hồ cho mật thám Pháp biết tin cụ Châu đang trốn ở Thượng Hải lấy một số tiền 100.000 đồng (Theo Bùi Tín th́ số tiền ấy là HK $10.000). Nhiều năm sau Hồ chứng minh sự phản bội ấy về hai phương diện: Bắt giữ và đem xử cụ Châu gây nên bất măn ở Việt Nam, và đó là điều mà cách mạng đang cần; Hồ cũng cần có tiền để tài trợ cho phong trào cộng sản ở Canton. (Bản tiếng Anh ở “Vietnam At War”, trang 4).

        Năm 1927 (khi 15 tuổi), Giáp cùng với những học sinh khác ở Quốc Học, tổ chức băi khóa, chống đối sự bất công lộ liễu của Pháp. Phong trào bị dập tắt mau chóng. Giáp bị đuổi học, trở về quê ở An Xá. Rồi có một ngày một người bạn ở Huế về thăm và họ nói chuyện cách mạng và chính trị. Trước khi người bạn rời khỏi An Xá, anh ta thâu nhận Giáp vào đảng Tân Việt, mà mục đích là làm cách mạng quốc gia và sau đó đến quốc tế. Tuy đảng Tân Việt không phải là cộng sản, nhưng có khuynh hướng mạnh ngả theo cộng sản. Ít lâu sau, khi ấy khoảng 16 tuổi Giáp trở lại Huế hoạt động bí mật cho Tân Việt cho đến năm 1930. Vào mùa xuân năm đó đảng Tân Việt, trong đó có Giáp, gia nhập một đảng quốc gia khác, Việt Nam Quốc Dân Đảng, nổi loạn chống Pháp bất thành. Giáp bị bắt và bị xử tù 3 năm.

        Ở trong tù, Giáp gặp một người con gái cách mạng với bí danh Minh Thái, tên thật là Nguyễn Thị Quang Thái. Đến năm 1937 hay 1938 Giáp cưới Thái làm vợ. Cuộc t́nh này đem lại cho Giáp một đứa con gái, nhưng kết thúc trong đau đớn. Minh Thái cũng như cô chị Minh Khai đều là cán bộ cộng sản.

        Để có thể sống tự túc, năm 1938, Giáp dạy học môn sử ở Trường tư thục Thăng Long Hà-nội. Giáp ở trọ nhà giáo sư Đặng Thái Mai, rồi lấy cô con gái đầu ḷng của ông, Đặng Bích Hà, làm vợ, một thời gian sau khi Minh Thái người vợ thứ nhất bị Pháp bắt tra tấn cho đến chết, như được kể ở đoạn sau.

        Vào ngày 26 Tháng 9, 1939, chính phủ Pháp đặt cộng sản ra ngoài ṿng luật pháp ở Pháp và thuộc địa. Riêng ở Việt Nam, mật thám Pháp bắt trên 1.000 đảng viên, bắt buộc đảng cộng sản phải t́m cách đối phó. Trung Ương Đảng Bộ ra lệnh cho Giáp và Phạm Văn Đồng chạy trốn qua Trung Hoa, để học chiến tranh du kích. Vợ của Giáp, và cô chị Minh Khai được lệnh phải ở lại Việt Nam làm liên lạc và thông tin. Nhiều năm sau, Giáp kể lại ngày chia tay với người vợ trẻ trong đau đớn khắc khoải. Ông viết,

        “Vào ngày 3 Tháng 5, 1940, lúc 5.00 giờ chiều, tôi đi đến Hồ Tây, như là đi dạo mát thông thường. Đồng chí Thái với bé Hồng Anh (con gái của Giáp) bế trong tay đang chờ tôi trên đê Cổ Ngư... chúng tôi không nghĩ rằng đó là lần chót chúng tôi gặp nhau”.

        Bị mật thám Pháp lùng bắt, vợ của Giáp và cô chị chạy trốn khỏi Hà-nội vào Vinh. Tháng 5, 1941, mật thám Pháp bắt cả hai chị em và con gái Giáp. Minh Khai, cô chị, bị Pháp chém đầu. (Tiếng Pháp trang 145). Vợ của Giáp th́ bị xử tù 15 năm. Theo t́nh báo Mỹ, th́ mật thám Pháp cột hai ngón cái treo người lên rồi đánh cho đến chết, năm 1943. (Tôi khóc quư vị ạ!!!).

        Vào năm 1940 nghe tin Đức đă đánh bại Pháp với lối chiến tranh chớp nhoáng (blitzkrieg), Hồ Chí Minh đoán biết rằng, t́nh h́nh Đông Dương sẽ thay đổi mau chóng, nên ra lệnh cho Giáp và Đồng quay trở về Việt Nam, thay v́  đi Yenan. (Diên An)

        Sau đó toàn thể cán bộ Cộng Sản Việt Nam, khoảng 30 người, trở về Việt Nam và lập ra một căn cứ tạm thời ở vùng rừng núi biên giới Việt/Hoa. Ở Pắc Bó, Cao Bằng. Khi ấy Giáp thành lập toán tự vệ đầu tiên gồm một số ít người trang bị thô sơ. Trong những năm 1943 và 1944, toán tự vệ của Giáp bành trướng, nhưng những hoạt động của họ cũng chỉ là khủng bố, và ăn cướp. Vào ngày 19 Tháng 12, 1944, Hồ ra lệnh cho Giáp thành lập “Đơn Vị Tuyên Truyền Giải Phóng Quân”, tiền thân của “Quân Đội Nhân Dân Việt Nam” tiếng Anh là “People’s Army of Vietnam” (PAVN).

        Giáp không học qua một trường quân sự nào, và trước khi chiến tranh Pháp/Việt Minh xảy ra cuối năm 1946, kinh nghiệm của Giáp về quân sự không có ǵ đáng kể. Những điều về quân sự mà Giáp học được là qua sách vở và kinh nghiệm. Vào năm 1946, trong lúc chập chững bước vào nghề quân sự, Giáp cho rằng những điều chỉ dẫn trong sách “Seven Pillars of Wisdom” của T.E. Lawrence như là thánh kinh. Lawrence đă dạy cho Giáp những sự thật căn bản về chiến tranh, và cái nh́n sâu sắc và nhiều tưởng tượng của Lawrence đă phát huy ra nhiều khái niệm về chiến tranh cách mạng như được biết đến ngày nay. Bài học đầu tiên của Giáp là về chiến lược và chiến thuật của chiến tranh không quy ước. Ông nhận thấy mục đích của Ả-rập không phải là tiêu diệt quân đội Thổ ở ngoài mặt trận, nhưng mà là đuổi người Thổ ra khỏi đất đai Ai-cập. Theo khái niệm của Lawrence, việc đuổi quân Thổ có thể đạt được bằng cách phân tán sức mạnh quân sự của Thổ và tiêu hao nó. Mục đích ấy có thể đạt được bằng cách duy tŕ thường xuyên và thay đổi sự đe dọa của Ả-rập làm cho Thổ bắt buộc phải rải quân ra khắp vùng sa mạc trong những đồn bót pḥng thủ. Ngoài ra, Ả-rập có thêm một đồng minh nữa - thời gian. Một thời gian kéo dài cộng với sự thiếu khả năng thường trực của Thổ để đánh bại Ả-rập, lâu dần làm suy giảm tinh thần binh sĩ Thổ ngoài mặt trận, và các tướng, và cuối cùng là chính phủ. Đó cũng là điều đă xảy ra ở Việt Nam. Một mặt kéo dài chiến tranh, một mặt vận động chính trị, tuyên truyền, gây nên trong dư luận thế giới một quan niệm về thứ chiến tranh vô nhân đạo do Mỹ phát động, cậy mạnh ăn hiếp yếu, và đồng thời vận động quần chúng Mỹ chống chiến tranh. Cuối cùng Mỹ tuy không thua, nhưng phải bỏ cuộc.

        Giáp bắt đầu thành lập đơn vị “Tuyên truyền Giái phóng quân”, ngày 22 tháng 12, 1944. Hai ngày sau khi thành lập, vào đêm Giáng sinh, đơn vị của Giáp tấn công và tiêu diệt hai đồn của Pháp ở Phai Khat và Na Ngan. Người ta kể rằng Giáp đă làm cho đồn binh của Pháp bị bất ngờ, ông cho 34 người mặc đồ lính thân binh rồi đi vào cửa chính.

        Những thành công ấy giúp cho Giáp tuyển mộ thêm được lính và nâng quân số từ trung đội lên đại đội. Vào đầu mùa xuân 1945, quân số của Giáp từ một đại đội lên thành năm. Rồi cứ thế tăng dần lên.

        Một dịp may hiếm có, là vào ngày 9 Tháng 3, 1945, Nhật đảo chính Pháp. Cuộc đảo chính ấy giải tán nền hành chánh Pháp, phá vỡ hệ thống an ninh. Quân Nhật khi ấy chỉ đóng trong các thành phố, bỏ ngỏ miền quê cho Việt Minh thao túng. Họ tự do đi lại, tuyển mộ thêm được binh lính và vào giữa năm 1945, họ thành lập được một quân đội 10.000 người, kiểm soát được một vùng rộng lớn ở phía Bắc Thái Nguyên.

        Ngày 19 tháng 8, 1945, dân chúng Hà-nội, có tôi tham dự như đă kể ở trên, đă biểu t́nh cướp được chính quyền không đổ máu. Mấy hôm sau ông Hồ và Vơ Nguyên Giáp mới kéo nhau về Hà-nội nhận chính quyền, từ tay dân chúng. Rồi đến ngày 2 Tháng 9, tổ chức tuyên bố độc lập ở vườn hoa Ba Đ́nh. Hôm đó tôi cùng với một số bạn, không ở gần khán đài, đứng ở ṿng ngoài quan sát, ngăn chặn phá hoại. 

        Việc cướp được chính quyền không đổ máu ở Hà-nội giúp cho Giáp và cộng sự nhận định rằng chiến tranh cách mạng là một cuộc chiến tranh toàn diện, phối hợp dân với quân, chính trị với quân sự.

        Từ khi chiến tranh khởi sự ngày 19 tháng 12, 1946 cho đến năm 1949, quân đội của Giáp luôn luôn ở thế bị động. Chỉ lo bảo toàn lực lượng. Khi quân Pháp tới th́ họ rút. Khi Pháp rút, th́ họ lại trở về. Một anh bạn của chúng tôi làm chính trị viên Tiểu Đoàn, vào năm 1947 có tâm sự. Đóng quân ở trong làng được dân làng giúp đỡ, nơi ăn, chốn ở. Khi quân Pháp kéo về, Tiểu Đoàn rút lui êm, để mặc cho quân Pháp đốt nhà, hiếp dâm đàn bà, con gái. Khi quân Pháp rút, Tiểu Đoàn lại được lệnh trở về. Ăn nói làm sao với dân làng!!! Lấy cái mo mà úp vào mặt.

        Ngoài việc đọc sách của T.E. Lawrence như đă nói tới ở trên, Giáp cũng đọc thêm sách của Clausewitz, Tôn Tử và nghiên cứu sử Việt, với những vị nữ anh hùng như Trưng Trắc, Trưng Nhị, và những trận đánh lịch sử của vua Lê Lợi với học giả Nguyễn Trăi. Năm 1418, vua Lê Lợi và Nguyễn Trăi lănh đạo cuộc cách mạng chống nhà Minh ở Thanh Hóa. Giải phóng được Thanh Hóa, dùng tỉnh này như là một căn cứ, vua Lê giải phóng thêm tỉnh Nghệ An. Đến năm 1426, vua Lê kéo quân về bao vây Đông Đô (Hà-nội). Khi các tướng đề nghị tấn công tiêu diệt quân trong thành, bắt Vương Thông ra trị tội, nhà Vua bảo, tấn công thành tốn nhiều công sức, phải đổ máu nhiều. Vậy cứ để cho quân bao vây nghỉ ngơi, khi viện binh tới, đánh tan viện binh th́ thành phải đầu hàng. Năm 1427 khi viện binh do Liễu Thăng chỉ huy bị đánh tan ở ải Chi Lăng, Liễu Thăng bị chém chết, th́ Vương Thông đầu hàng.

        Một số tướng đề nghị nhà Vua bắt Vương Thông chém đầu về những tội, cưóp của, giết người, hăm hiếp. Nhà Vua bảo, giết tướng đă đầu hàng, ta tỏ ra thiếu lượng khoan dung. Không những thế nhà Minh có thể đem quân sang trả thù. Chiến tranh đă 10 năm, máu đổ đă nhiều, bây giờ là lúc nên để cho quân dân nghỉ ngơi, kiến thiết đất nước. Và nhà Vua theo lời khuyên của Nguyễn Trăi, giúp cho Vương Thông thực phẩm, và phương tiện, để đem đám tàn quân về Tàu. Chấm dứt chiến tranh.

        Nghiên cứu về chiến lược 10 năm kháng chiến của vua Lê, nhưng không làm như vua Lê, đối xử khoan hồng với quân bại trận Vương Thông. Giáp và ông Hồ lấy căm thù giai cấp đấu tranh làm phương châm hành động, đă trả thù những tù binh của Pháp bị bắt ở Điện Biên Phủ. Trong số 8.507 người bị bắt, th́ 5 tháng sau chỉ c̣n 3.290 người sống sót được hồi hương.

        5.217 người đă chết trong khi:

        - Đi bộ mỗi ngày từ 20 đến 30 cây số đến trại tù, cách xa 400 cây số, hàng trăm người đă chết ở dọc đường;

        - Bị cầm tù, đau ốm không được săn sóc, hành hạ, bỏ đói, sỉ vả.

        Họ đối xử với quân nhân và công chức Việt Nam Cộng Ḥa cũng gần giống y như thế. Sau ngày 30 tháng 4, 1975, hàng 100.000 quân nhân, công chức bị đưa vào trại tù cải tạo. Cũng bị cho ăn đói, sỉ vả, học tập nhồi sọ. Có bao nhiêu người chết, không có thống kê, nhưng có lẽ cũng phải hàng ngh́n người làm phân bón cho cây rừng xanh tốt.

        Đọc sách để nghiên cứu về chiến tranh dầu sao cũng chỉ là lư thuyết. Giáp cũng c̣n phải học bằng kinh nghiệm. Và những bài học đó phải trả bằng xương máu của quân dân miền Bắc. Đó là những sai lầm trong các trận đánh năm 1951, 1968, và 1972, mà chúng tôi sẽ kể ra chi tiết, trong những bài sau.

        “Đối với Giáp, một nửa đầu năm 1951 là một thảm bại, một trong những điểm thấp nhất của sự nghiệp. Ông thất bại trong thử thách của một tướng thành công - không có khả năng để sắp đặt một kế hoạch tấn công, thi hành kế hoạch, và cương quyết đứng vững và không than van trước những khó khăn. Tại sao ông vẫn giữ chức vụ chỉ huy, kể cả quyền hành chính trị, là một điều khó hiểu. Ông không thể tồn tại trong chức vụ ở bất cứ một quân đội nào trên thế giới. Nhưng ông vẫn tồn tại. Một điều không kém quan trọng, ông học từ những thất bại đau đớn của 1951. Từ những thất bại đó, ông phát huy ra một chiến lược mới, và có linh tính sắc bén hơn về trận chiến, và ông lại chiến đấu. Rất ít cấp chỉ huy trong lịch sử không xứng đáng như thế, có được một cơ hội thứ hai. Không người nào thành công”. (Nhưng Giáp đă thành công v́ Việt Minh chấp nhận hy sinh 10 người chỉ để đổi lấy 1. Giáp cứ việc "tiêu máu của dân như tiêu giấy bạc giả").

        (For Giáp, the first half of 1951 was a disaster, one of the low points of his career. He failed the tests of a succesful general - the capacity to originate a workable plan of offensive operations, the ability to carry it out, and the character to stand firm and uncomplaining under adversity. How he remained in command, even with his political, is unfatho-mable. He would not have survived professionally in any other army in the world. But survive he did. Of equal importance, he learned from the bitter lessons of 1951. From these defeats he would develop a new strategy and a surer battlefield touch, and he would fight again. Few commanders in history have been given such an unearned second chance. None have made as much of it.- "V.A.W", Page 114)

 

        Giáp cũng bị phe Nguyễn Chí Thanh, Lê Duẩn, được ông Hồ hỗ trợ, phê b́nh là theo chủ nghĩa xét lại. Thanh không chỉ tấn công Giáp, mà cả vợ Giáp nữa. Thanh bảo rằng vợ của Giáp đă sang Moscow vào đầu thập niên 1960 để học lịch sử, và quen thân với Krushchev. Rồi qua vợ, Giáp thân thiện với Krushchev, và luôn luôn liên lạc với Krushchev qua thư từ. Kruschchev ảnh hưởng mạnh tới Giáp. Dĩ nhiên là Giáp chối.

 

        Giáp c̣n gặp rắc rối thêm nữa. Vào tháng 6 hay 7, 1963, theo nguồn tin t́nh báo, Giáp cùng với vợ dùng trực thăng bay từ Hà-nội đến vịnh Hạ Long để đi bơi. V́ vấn đề an ninh, cận vệ của Giáp mời những người tắm biển đi chỗ khác chơi, để Giáp và vợ có thể bơi riêng với nhau. Câu chuyện được đồn đăi rộng răi ở Hà-nội. Dân chúng phê b́nh rằng, họ không có tiền mua một chiếc xe đạp để đi làm, trong khi Giáp và vợ dùng trực thăng để đi bơi.

 

        Theo nguồn tin t́nh báo, Nguyễn Chí Thanh theo lệnh Hồ - và Thanh phải lấy làm thích thú - đến thăm Giáp tại nhà và đă khiển trách Giáp và vợ, nói với bà ấy rằng "Giáp vẫn c̣n giữ thái độ trưởng giả v́ bà. Ông ấy không có những đức tính của một cán bộ cách mạng". (V.A.W. trang 273).

 

        Cuộc tranh chấp trở nên bẩn thỉu và chỉ chấm dứt khi Nguyễn Chí Thanh chết. Tin chính chức th́ bảo Thanh bị kích tim phải đưa về Hà-nội để chữa trị, rồi chết ngày 6 Tháng 7, 1967. Tin t́nh báo th́ bảo Thanh bị mảnh bom ghim vào ngực.

 

       Sau cái chết của Thanh, Giáp trở lại là chỉ huy quân sự tối cao của Cộng sản Việt nam. Cho đến năm 1972.

 

        Năm 1972, sau những trận đánh "Mùa Hè Đỏ Lửa" với những thất bại nặng nề, Giáp bị hạ bệ, và Văn Tiến Dũng lên thay thế chỉ huy quân đội Bắc Việt. Giáp vắng mặt ở Hà-nội một thời gian, tin tức t́nh báo cho biết Giáp đi sang Nga để chữa bệnh.

 

        Như thế là sau 29 năm, bắt đầu với sự thành lập đội "Tuyên Truyền Giải Phóng Quân" cho đến khi trở thành một quân đội tân tiến, Giáp đă mất chức chỉ huy quân đội ở mặt trận. Chỉ c̣n giữ hư vị Bộ trưởng Quốc pḥng.

        Cá nhân chúng tôi nhận định về tướng Giáp như sau:

        “Vơ Nguyên Giáp chỉ huy một quân đội thắng trận, được người ta đề cao. Không biết rằng, chiến lược của ông là một thứ chiến lược ḍ dẫm, lấy mạng sống con người ra làm vật thử nghiệm. Thật là độc ác! Thua trận này, ông bày trận khác. Đơn vị nào bị chết nhiều, gần như xóa sổ, ông vẫn giữ tên cũ, rồi lấy lính khác cho vào thay thế. Làm như là đơn vị không bị thiệt hại ǵ ".

        Tỉ dụ như trận tấn công Lộc Ninh ngày 29 Tháng 10, 1967 của Trung đoàn 273 Sư đoàn 9. Khi lính Việt Cộng ḥ hét xông lên, xáp chiến, th́ pháo thủ Mỹ nạp vào súng một loại đạn gọi là "Beehive" rồi bắn thẳng ra trước. "Beehive" khi bắn ra có hàng trăm mảnh vụn sắc như dao cạo. Việt Cộng bị chết 850 người bỏ xác tại chỗ. Trung đoàn coi như bị xóa sổ.

        Việc sử dụng Trung đoàn 273 ở Lộc Ninh là một sai lầm. Đó là một đơn vị được huấn luyện kỹ lưỡng, một đơn vị ưu tú của Sư Đoàn 9, nên để dành cho cuộc tấn công Tết Mậu Thân sau này.

        Trung đoàn 273 mới sẽ được thành lập kém xa Trung đoàn 273 cũ về khả năng chiến đấu. (The new 273d which had to be formed could not approach the original 273d in effecti-veness.- V.A.W. trang 420).

        Wikipedia:

        Although successful in the long term, Giáp military strategies were enormously costly and were often victories through attrition.

        "Tuy thành công trong lâu dài, nhưng chiến lược của Giáp vô cùng đắt giá và nhiều khi thắng bằng chiến tranh tiêu hao".

 

        General Westmoreland—his American counterpart—when commenting on Giap's costly tactics, "such a disregard for human life (i.e. Giap's own men) may make a formidable adversary, but it does not make a military genius."

 

       Tướng Westmoreland - đối thủ Mỹ của Giáp - khi b́nh luận về chiến thuật đắt giá của ông, "một sự coi thường mạng sống con người (binh sĩ của chính ông) có thể là một đối thủ đáng nể, nhưng nó không làm nên một thiên tài quân sự."

 

       Ông Hồ và ông Giáp không quan tâm tới sự thiệt hại về nhân mạng, bao nhiêu người bị giết v́ “cải cách ruộng đất”, bị chết v́ chiến tranh không quan trọng. Chỉ cần Cộng Sản chiếm được chính quyền và bảo vệ được chính quyền. Để làm ǵ? Để trở thành!!! “Tư bản, đỏ”. Với cái giá phải trả là hàng triệu người mất mạng.

       “Dưới con mắt người Âu-châu, người ta không thể tưởng tượng được rằng ông Hồ dám hi sinh một cách khủng khiếp mạng sống của con người như ông đă làm. Nhưng vào năm 1946, khi chiến tranh với Pháp lờ mờ hiện ra, ông cảnh cáo họ, “các ông có thể giết 10 người của chúng tôi mỗi khi chúng tôi giết một người của các ông, những dù bất lợi như thế, các ông sẽ thua và tôi sẽ thắng”. Người Pháp tin tưởng vào khả năng trội hơn của ho, coi thường lời cảnh cáo và kết cục bị thất bại nặng nề. Các sĩ quan cao cấp của Mỹ cũng thế, duy tŕ ảo tưởng rằng những vũ khí tối tân của họ rồi ra sẽ bẻ gẫy tinh thần kẻ thù. Nhưng, như nhà chỉ huy sáng chói của Hồ, Tướng Vơ Nguyên Giáp đă nói với tôi ở Hanoi, năm 1990, điều ông quan tâm hơn hết là chiến thắng. Khi tôi hỏi, ông có thể trong bao nhiêu lâu chống lại được sự tàn sát của Mỹ, ông nói như quát, “20 năm, có thể là 100 nămnếu cần để chiến thắng, bất chấp thiệt hại”. Sự thiệt hại nhân mạng thật khủng khiếp. Khoảng 3 triệu quân nhân Bắc Nam và dân chúng đă chết". (Trong đó có 925.000 quân nhân Bắc Việt. "Phá Ngục Tù", trang 17 và 206).

        To Western eyes, it seemed inconceivable that Ho would make the tremendous sacrifices he did. But in 1946, as war with the French loomed, he cautioned them, "You can kill 10 of my men for every one I kill of yours, yet even at those odds, you will lose and I will win." The French, convinced of their superiority, ignored his warning and suffered grievously as a result. Senior American officers similarly nurtured the illusion that their sophisticated weapons would inevitably break enemy morale. But, as Ho's brilliant commander, General Vo Nguyen Giap, told me in Hanoi in 1990, his principal concern had been victory. When I asked him how long he would have resisted the U.S. onslaught, he thundered, "Twenty years, maybe 100 years — as long as it took to win, regardless of cost." The human toll was horrendous. An estimated 3 million North and South Vietnamese soldiers and civilians died. (Stanley Karnow).

 Trần văn Kha
"Tại Sao Chúng Ta Thua"