Vào một đêm tối trời của những ngày cuối tháng
tư, trên chiếc ghe máy ở trại tị nạn Cộng Sản
(trước đó là trại tù binh Cộng Sản) ở Phú
Quốc, chúng tôi đang đợi để được đưa về sân
bay, từ đó lên Air VN trở về Sài G̣n sau
chuyến công tác đặc biệt. Bỗng dưng Đài Phát
Thanh Quốc Gia ngưng phát thanh, và loan báo
Tổng Thống VNCH sẽ có một bài nói chuyện quan
trọng trước quốc dân. Radio được mở to, để
át tiếng sống vỗ, và nghe cho rơ hơn. Ai ngờ…
sau khi kể ra một số vấn đề và lên án Mỹ, TT
loan báo từ chức và chuyển giao quyền cho Phó
TT/Trần Văn Hương…mọi người trên ghe đều ngỡ
ngàng và im lặng. Một im lặng đến khó hiểu v́
hụt hững trước tin bất ngờ nầy.
Tại sân bay Phú Quốc cũng như sân bay Tân Sơn
Nhất, bỗng chốc trở thành hoang vắng, người
người với nét mặt ngơ ngác, vội vă.
Thế rồi chuyện phải đến đă đến. Sài G̣n sụp
đổ. Cảnh nước mất nhà tan; cảnh gia đ́nh phân
tán, chia ly,… tiếp theo đó là một cuộc di cư
vĩ đại, rồi những cuộc vượt biên, vượt biển
với nhiều khổ lụy thương tâm không bút mực nào
diển tả hết được. Những thảm trạng trả thù man
rợ có, tinh vi có từ phía bọn Việt Cộng khát
máu và nham hiểm.
Những ai thoát được ra nước ngoài trước 30
tháng 04 năm 1975, và sau ngày nầy, không có
dịp để làm chứng nhân cho một giai đoạn lịch
sữ dời đổi vô tiền khoáng hậu trên đất nước
thân yêu.
Người viết vào những ngày cuối tháng tư 1975, chỉ c̣n vỏn vẹn vài ngàn đồng tiền VNCH. May
mắn có bà chị từ Cam Ranh vào, và c̣n ra ngân
hàng kịp rút được một ít tiền; rồi bà cho một
ít để sống qua ngày. Chúng tôi mua vài tạ gạo
để thủ. Không phải chỉ để nuôi mấy miệng ăn
của gia đ́nh tôi: gồm vợ chồng, một cô lớn
nhất 5 tuổi, cô kế 4 tuổi, cô thứ ba 3 tuổi,
và cô út 6 tháng; mà c̣n bao biện cả bên ngoại
và nội; cũng như họ hàng chạy giặc từ miền
Trung vào.
Làm sao bây giờ ! Lại phải áp dụng bài học
“mưu sinh thoát hiễm”
từ quân trường Thủ Đức.
Tôi đạp xe xuống Ông chú họ ở đường Kỳ Đồng,
gần ngă ba Kỳ Đồng và Trương minh Giảng, để
mướn chiếc xe xích lô. Ông Chú họ xoè to mắt
nh́n tôi ! chắc ư ông thầm hỏi là liệu tôi đạp
nỗi hay không? hoặc ư thứ hai là đi làm việc
như thế mà một tháng không có đồng lương của
Chính Phủ là đă phải chạy đôn chạy đáo như
thế nầy hay sao ? Tôi liền trả lời: “Chú đừng
lo, con tuy ốm nhưng vẫn khoẻ để đạp xích lô
được. Hồi c̣n đi học, ở Nha Trang, con có đạp
thử, và chở bạn bè đi chơi ṿng ṿng trong khu
Xóm Mới”.
Thế là sáng hôm sau, Ông Chú họ lấy xe lại từ
một người khác và giao xe cho tôi đạp kiếm
tiền nuôi gia đ́nh.Thật tội nghiệp cho ai đó
đă bị tôi vô t́nh dành mất phương tiện sinh
sống. Nhưng biết làm sao hơn !
Thưa các bạn, có ở trong chăn mới biết chăn có
rận. Có lội xuống nước mới biết nước lạnh như
thế nào; có đạp xích lô rồi mới biết đường xá
ở Thủ Đô Sai G̣n, con đường nào dốc, chiếc cầu
nào thật nguy hiểm khi ngồi trên yên xe xích
lô để chở khách đổ dốc xuống cầu. Nhất là khi
có hai bà khách vừa to lại vừa mập: một bà
ngồi sát bên trong, bà kia ngồi me mé phía
trước…thật khó mà giữ thăng bằng chiếc xe khi
đổ dốc; không khéo th́ cả khách, lẫn người đạp
xe, và cả chiếc xe văng tung tóe đi ba phương
tám hướng, tai nạn sẽ thăm khốc như thế nào ?
Thật nhiều lúc hú hồn, và mỗi lần như thoát
được tai nạn, tôi lại thầm cảm tạ ơn Trên.
Lần xuất quân thứ nhất, tôi chở một cô bé bán
rau từ chợ B́nh Tây về chợ An Đông. Lúc đó
khoảng bốn giờ sáng; cô vẫy tay và hỏi tôi giá
bao nhiêu ? Tôi đâu biết gía bao nhiêu để trả
lới cô ta; tôi bèn nói đại “ thường cô trả bao
nhiêu th́ nay trả cho tôi bấy nhiêu.” Cô nói 7
đồng.tôi cười và thế là chúng tôi phụ nhau
chất rau lên xe. Rau chất tràn ngập cả xe.
Nh́n qua lại tôi không biết cô nầy sẽ ngồi chổ
nào. Cô nói chú đừng lo, cháu quen rồi. Vứa
nói, cô vừa vịn vào thành xe và nhảy phốc lên
chễm chệ ngồi trên cao. Che khuất luôn tầm
nh́n của tôi. Cứ mỗi lần đạp, tôi lại nhún
người qua phải rồi qua trái để dễ quan sát
đường phía trước. Dù có đèn đường, nhưng ai
lại không nhớ câu vè “đèn Sai g̣n ngọn tỏ ngọn
lu…”…tôi lại cận thị; làm sao thấy rơ đâu có ổ
gà đâu không có. Đùng một cái, bị sụp phải ổ
gà, cả xe, cả cô bán rau, lẫn thằng tôi bắn
tung tóe trên đường. Thú thật lúc đó không
biết đau là ǵ nữa, v́ sợ quá sức tưởng tượng.
Chỉ c̣n biết lo nh́n xem cô bán rau té nằm ở
đâu ? rồi vội vàng chất rau lên xe và đạp
tiếp; kẻo sợ Công An tới hỏi giấy tờ th́ nguy
to.
Không phải chỉ có vậy, c̣n có nhiều những mẫu
chuyện làm tôi nhớ măi trong lúc đạp xe xích
lô; trước hoặc sau khi ở tù trong các trại tập
trung của bọn Việt Cộng. Trong những ngày c̣n
tranh tối tranh sáng của tháng tư, 1975; có
nhiều khách bày tỏ ḷng thương hại và đưa
tiền rất rộng răi; và trước khi bước đi c̣n
dặn ḍ “tôi biết anh chỉ đạp xe v́ thời cuộc,
nên cẩn thận và giữ ǵn sức khoẻ…”; không kịp
nhận một lời cảm ơn từ người viết.. Cũng có
một số khách ăn mặc bảnh bao, cho tiền rộng
răi, và nhắc nhở “ làm mệt nhưng nhớ tắm rữa
và ăn uống điều độ, đề bào vệ sức khỏe…” Những
câu dặn ḍ, khuyên răn nầy, làm tôi vô cùng
cảm động và thấu hiểu thêm được t́nh người một
cách sâu sắc và thấm thía. Bên cạnh những h́nh
ảnh, những căn dặn, những an ủi đầy ắp t́nh
nguời vừa kể; cũng không thiếu ǵ những ê chề,
những sự việc khiến ḿnh phải suy nghĩ và b́nh
tĩnh, sáng suốt. Có một số không ít, xem đồng
tiền to hơn bánh xe ḅ ! Cứ nghĩ bỏ tiền ra,
muốn nói ǵ th́ nói, muốn có thái độ ra sao
tùy tiện. Từ Chợ Lớn về chợ Bến Thành, hay về
chợ Tân B́nh, với hai bà to tổ bố, trả giá có
$5 tiền VC, quá bèo, mà c̣n nói: “chú xẹt
một cái là tới rồi !” Hoặc giả: “mấy
thằng cha xích lô thế nầy, mấy thằng cha xích
lô thế nọ…” nghe thật tủi thân !
Người viết chọn tựa đề “Xích lô ơi, cảm ơn
bạn” để nhân cách hóa chiếc xích lô như một
người bạn thân thiết, một người bạn đường sống
chết có nhau. H́nh ảnh chiếc xe xích lô bạn
đang thấy trong bài nầy được đặt hàng từ VN,
để nhắc tôi nhớ lại quảng thời gian có ư nghĩa
nhất trong cuộc đời. Người viết luôn yêu mến
cái nghề đạp xích lô, quư trọng những bác phu
xích lô; và sẽ trân quư măi chiếc xe nầy như
một nhắc nhở rằng: “Cư An Tư Nguy” bốn chữ nầy
ghi trên phù hiệu SVSQ Thủ Đức năm nào.
Xích lô ơi, xin cảm ơn và chào bạn.
Cao
xuân Thức
California, 24 tháng 09 năm 2009