Quốc Gia Hành
Chánh    >> Home


Ư Thức Tự Do

     Trước đây không lâu, chắc hẳn trong chúng ta đă có người từng xem cuốn phim kiếm hiệp lịch sử "HERO", do đạo diễn Trương Nghệ Mưu của Trung Cộng thực hiện, vai chính do các tài tử nổi tiếng thủ diễn như Lư Liên Kiệt, Trương Tử Di... Dưới con mắt của một khán giả ngây thơ và vô tư, một cô bạn người Singapore nói cô đă khóc khi xem cuốn phim này. Có lẽ đây cũng là cái nh́n đồng t́nh của nhiều khán giả Á Châu sau khi đă xem phim. Điều này không có ǵ lạ dưới quan điểm của những người đă được nuôi dưỡng và trưởng thành trong bối cảnh của nền văn hóa Khổng Mạnh. Một trong những đoạn gay cấn và then chốt của cuốn phim là khi chàng kiếm sĩ Vô Danh đoạt được thế thượng phong để có thể ra tay hạ sát tên bạo chúa Tần Thủy Hoàng, th́ chàng cao thủ Vô Danh này lại dừng tay, thay đổi ư định của ḿnh vào giây phút sinh tử đó để rồi chấp nhận cái chết như một thánh tử đạo nhằm tôn vinh sự cai trị độc đoán của tên Hoàng Đế. Hay nói một cách khác đi, cuốn phim được thực hiện nhằm mục đích củng cố và bênh vực cho một chế độ toàn trị của Cộng Sản Trung Quốc, trước cao trào tranh đấu đ̣i hỏi dân chủ tự do tại Trung Quốc: Chỉ có một cách duy nhất và hợp lư nhất là phải phục tùng và chấp nhận sự cai trị của tên bạo chúa đó mới có thể cứu vớt hàng triệu sinh linh tránh khỏi cảnh chiến tranh và nhiễu loạn liên tục của Trung Quốc lúc bấy giờ.
     Sự chọn lựa này tiêu biểu một nền văn hóa chú trọng về bổn phận của cá nhân đối với tập thể và cộng động xă hội (bằng cách chấp nhận sự cai trị áp bức của tên bạo chúa) hơn là những giá trị và ư thức về quyền tự do của con người (qua vai tṛ của chàng kiếm sĩ Vô Danh). Đây là một quan điểm hết sức lạc hậu và phản động trước diễn tŕnh tiến bộ văn minh của xă hội và cộng đồng quốc tế hiện nay. Một khi cuộc cách mạng về kỹ thuật thông tin đă khiến chúng ta không c̣n có thể cô lập tách biệt ra khỏi ước vọng chung của cộng đồng thế giới là chung sống trong ḥa b́nh và phát triển trước một thiên niên kỷ mới, th́ Cộng Sản Trung Quốc và Việt Nam lại t́m mọi phương cách để bào chữa và củng cố cho sự sống c̣n của một thiểu số lănh đạo độc tài ngu dốt và thiếu đạo đức. Tập đoàn cai trị này đă dùng cái viễn ảnh hỗn loạn, chậm tiến và chết chóc để hăm dọa dân chúng phải chấp nhận chế độ toàn trị của chúng, và chỉ có chúng mới có thể lănh đạo và đưa dân chúng ra khỏi thảm cảnh đó.
     Điều này làm nổi bật sự khác biệt giữa hai nền văn minh Đông và Tây cũng như ảnh hưởng của nó trong quá tŕnh phát triển chính trị, văn hóa và kinh tế của hai khối trong nhiều thế kỷ qua. Bài viết này nhằm mục đích đi t́m lại nguồn gốc phát sinh của ư thức tự do trong các học thuyết chính trị của Âu Châu và sự phát triển của ư thức này trước khi tiến đến một chế độ chính trị tự do dân chủ ổn định như hôm nay.
     Các chế độ tự do dân chủ đă không bắt nguồn từ một cá nhân duy nhất như Karl Marx của chế độ Cộng Sản. Nhưng chúng ta có thể truy cứu từ những học thuyết chính trị qua các văn bản lịch sử c̣n lưu truyền đến ngày nay của những nhà tư tưởng Âu Châu như St Augustin, Thomas Hobbes và John Lock.
     St Augustin: Niềm kiêu hănh của con người trước Thượng Đế
    Mặc dù triết lư và lịch sử của Tây Phương bắt nguồn từ Hy Lạp, các triết gia thời đó chưa hề đề cập và khai triển rộng răi về các ư niệm tự do dân chủ trong học thuyết của họ. Aristotle đă thảo luận trong tác phẩm Politics về nguyên nhân của các cuộc cách mạng và lư do tại sao một chế độ này lại phải bị thay đổi bởi một thể chế khác qua các giai đoạn của lịch sử. Ông cho rằng không một chế độ nào có thể thỏa măn con người hoàn toàn. Điều này đă khiến cho nhân loại không ngừng thay đổi các h́nh thức của chế độ cai trị trong một chu kỳ bất tận. Thậm chí Aristotle và cả Plato đều cho rằng thể chế dân chủ có khuynh hướng nhượng bộ cho chế độ độc tài chuyên chế.
     Một trong những nỗ lực đầu tiên thảo luận về ư niệm tự do bắt đầu với Giám Mục St Augustine khoảng 350 năm sau Công Nguyên. Ông sinh tại Thagaste ( hiện là Algeria) và lớn lên ở Carthage (Tunisia). St Augustine chứng kiến một biến cố lịch sử mà trước đó không ai có thể tưởng tượng được là sự sụp đổ của Đề Quốc La Mă trước đạo quân “man rợ” của Goths và Alaric. Ông đă viết nên hai quyển sách đồ sộ tiêu biểu cho nền văn chương Tây Phương vào thế kỷ thứ năm sau Công Nguyên: Confessions vào năm 397 và City of God (413-426). Confessions là một tác phẩm viết theo thể hồi kư đầu tiên trong văn chương của Âu Châu. St Augustine đă mô tả những diễn biến về tâm lư và thể xác qua các giai đoạn trưởng thành của ông một cách thú vị. Một con người trần tục với những thèm muốn của thể xác, từ những băn khoăn của tuổi mới lớn như những lúc dương vật của ông dựng đứng một cách bất trị không ngờ trước được, cho đến những chuyện quyến rũ đàn bà con gái để thỏa măn sự thèm muốn của thể xác. Ông lặn ngụp say sưa, chổi dậy để chế ngự, rồi lại bị rơi vào ṿng cám dỗ của tội lỗi và sự thèm muốn sa đọa.
     St Augustine đă dùng phần đầu của sách Sáng Thế (Genesis) về huyền thoại Adam và Eva khi cả hai c̣n sống trong Vườn Địa Đàng để nói đến sự nổi loạn của con người trần tục. Cả hai phạm tội v́ đă ăn trái cấm và bị đày xuống trần gian làm người. Câu chuyện chỉ giản dị như thế, nhưng nó bao hàm một ư niệm sâu sắc về tự do, làm nền tảng cho thi ca, triết lư, văn chương và các tư tưởng chính trị của Tây Phương. Lúc c̣n ở trong Vươn Địa Đàng, Adam và Eva có một đời sống Hạnh Phúc Thuần Khiết. Họ không phải lo âu về bệnh hoạn, đau buồn hay khổ sở. Cả hai có thể làm t́nh với nhau bất cứ lúc nào cũng được (nhưng không có ư niệm dục vọng về thể xác), muốn ăn uống lúc nào cũng được, và cả hai đều bất tử. Nhưng chính niềm hănh diện tự hào đă khiến Adam và Eva phản kháng lại sự cấm đoán của Thượng đế. Cả hai đă ăn trái cấm. Một hành động phi thường làm sửng sốt kẻ hậu thế. Ho có đầy đủ tất cả mọi thứ mà họ cần thiết, và khi mà sự tuân phục mệnh lệnh của Thượng đế là một điều hết sức giản dị và dễ dàng nhất th́ họ lại phản kháng. Sự phản kháng (hay ư thức Tự Do) là cái tội của niềm kiêu hănh mà con người đă phạm phải trước sự cấm đoán của Thượng Đế. Do đó, con người đă mất đi sự bất tử cũng như sự kiềm chế của chính con người trước những cám dỗ của cuộc đời.
     "Con người do sự kiêu hănh của nó đă làm theo ư muốn của ḿnh. Nhưng điều đó không có nghĩa là con người hoàn toàn làm chủ được vận mệnh của ḿnh. Ngược lại nó phải đối phó với những điều mâu thuẫn do chính ḿnh tạo ra, sống một cuộc đời nô lệ bị trói buộc một cách đáng thương hại, thay v́ một đời sống tự do phóng túng mà ho hằng khao khát... Thực tế cho thấy sự trừng phạt cho cái tội bất phục tùng của con người trước Thượng Đế là chính sự bất tuân phục đó...cho nên con người đă không làm những điều mà hắn đă có thể làm trước đây, mà bây giờ con người lại đi làm những điều mà hắn bị cấm đoán..." (City of God, trang 575).
     Từ đó đến nay, sự thấm nhuần tinh thần tự do bắt nguồn từ sách Sáng Thế đă là nguồn cảm hứng cho nhân loại liên tục đi t́m kiếm chân lư của cuộc đời qua những phản kháng trong các lĩnh vực của đời sống bằng những kết luận mới, rồi lại bác bỏ để đi t́m những câu trả lời khác nữa trong ḍng sống của con người. Từ những quan niệm bảo thủ trong đời sống và văn hóa vào đầu thế kỷ 20 cho đến những cuộc cách mạng về thời trang, âm nhạc, và gần đây là quan niệm cởi mở về hiện tượng đồng tính luyến ái của xă hội Tây Phương vào hậu bán thế kỷ vừa qua.
     Thomas Hobbes: Một cái nh́n bi quan về nhân tính.
     Thế nhưng, từ ư niệm phản kháng qua ư thức về sự tự do bẩm sinh của con người, chúng ta phải chờ đến hàng chục thế kỷ sau mới có được một học thuyết về tự do dân chủ trong sinh hoat chính trị của nhân loại. Thomas Hobbes được nhiều người biết đến hiện nay qua hai quan điểm chính trong lư thuyết chính trị của ông: Sự mô tả t́nh trạng xă hội lúc nguyên thủy của con người như: cô đơn, nghèo đói, đầy dẫy những cảnh dă man chết chóc, và việc cổ xuư cho sự hợp pháp của chế độ quân chủ tuyệt đối.
     Hobbes đă lập thuyết bắt nguồn từ cái nh́n bi quan về bản tính tự nhiên của con người. Ông cho rằng trong t́nh trạng sơ khai của thiên nhiên, mọi người đều b́nh đẳng, bất cứ một người nào cũng đều có thể giết bất kỳ một kẻ nào khác. Sức mạnh và sự thông minh không hoàn toàn ở vào cái thế mạnh, bởi v́ nó có thể bị chế ngự bởi cái tính quỷ quyệt và khôn ngoan của kẻ yếu thế hơn. Con người luôn luôn ở trong một t́nh trạng lo âu và sợ hăi, họ phải chiến đấu không ngừng v́ bản năng sinh tồn của ḿnh. Hobbes đă lập nên lư thuyết của ḿnh, một phần do t́nh trạng nội chiến xảy ra tại Anh Quốc trong những năm của thập niên 1640. Bản tính của Hobbes là một con người nhút nhát, hoảng sợ trước cảnh hỗn loạn giết chóc trong nước, ông đă chạy trốn qua Pháp và ở đó viết nên tác phẩm Leviathan với những đoạn văn nổi tiếng nhất trong lịch sử học thuyết chính trị như sau:
     "Trong xă hội của thời chiến, mỗi cá nhân là kẻ thù của một cá nhân khác. Con người không có được một cuộc sống yên ổn và an toàn nào khác hơn là trông cậy vào sức mạnh và những vật dụng, của cải do chính ḿnh tạo ra. Trong một xă hội như thế, không thể có một nền kỹ nghệ; bởi v́ không có ǵ bảo đảm rằng những ǵ ḿnh làm ra sẽ thuộc về ḿnh: cho nên cũng không thể có văn hóa trên quả đất này; không có kỹ thuật về hàng hải và do đó sẽ không có những hàng hóa được nhập cảnh qua đường biển; không có những dinh thự nguy nga và dụng cụ cơ khí để di chuyển; không có kiến thức trên mặt đất này; không có sự ghi nhận về thời gian; không có nghệ thuật văn chương; không có xă hội; và điều kinh hăi nhất là nỗi ám ảnh triền miên về một cái chết tàn bạo; và đời sống của con người trở nên cô đơn, nghèo đói, dă man và ngắn ngủi."
     Bản năng sinh tồn là nguyên tắc đạo đức trong lập thuyết của Hobbes: tất cả những điều gọi là công lư và đúng đắn đều có quan hệ mật thiết đến việc đóng góp cho mục đích tranh đấu để sinh tồn, c̣n ngoài ra những điều bạo ngược, bất công là những điều sẽ đưa dẫn đến chiến tranh và chết chóc. Tuy Hobbes không phải là một lư thuyết gia về dân chủ, nhưng chính nỗi ám ảnh trước cái chết đă đưa Hobbes đi đến việc lập nên một tiền đề làm nền tảng cho tư tưởng tự do hiện đại.
     T́nh trạng hỗn loạn của con người trong xă hội sơ khai khiến cho họ sử dụng tất cả những ǵ cần thiết để duy tŕ đời sống của ḿnh, kể cả dùng vũ lực để tồn tại. Để chấm dứt t́nh trạng vô trật tư như thế, con người phải tạo nên một nhà nước dựa trên nền tảng của một khế ước xă hội, trong đó tất cả mọi người sẽ đồng ư từ bỏ cái quyền hạn chiếm hữu tất cả mọi thứ, và phải giới hạn quyền tự do của ḿnh trong việc đối xử với kẻ khác ở một mức độ mà ḿnh sẵn sàng chấp nhận cho kẻ ấy đối xử với ḿnh. Tuy nhiên theo lư thuyết của Hobbes, con người phải trả một cái giá rất đắt để đánh đổi lấy sự duy tŕ mạng sống của họ. Sự chấp nhận một khế ước của xă hội không hẳn hoàn toàn là sự khởi đầu tốt đẹp cho sự tự do của con người, mà có thể đưa đến một vấn đề nan giải khác nữa. Hobbes so sánh nhà nước của ông với Leviathan : "Thượng Đế đă tạo ra Leviathan với một sức mạnh vô song và gọi nó là Vua cua sự Kiêu Hănh, Vua của tất cả những niềm kiêu hănh của các đứa con". Hobbes tin vào sự cai trị của một chế độ quân chủ tuyệt đối, nhưng chế độ quân chủ này không đặt trên cái quyền thừa kế thiêng liêng để cai trị của nhà vua, mà chế độ quân chủ của ông được tạo nên do sự thỏa thuận của số đông các con dân (không qua h́nh thức bầu cử kín của một hệ thống có nhiều đảng phái chính trị như hiện nay) để chấp nhận sự cai trị của một nhà nước quân chủ có quyền lực tuyệt đối.
Nhược điểm trong lư luận của Hobbes là chế độ quân chủ chính danh này dễ đưa đến một chế độ quân chủ áp bức nếu không có một cơ chế dân chủ nào để biểu thị cho công dân trong nước biết rằng chế độ quân chủ đó c̣n có tính cách chính danh để cai trị nữa hay không?
     John Lock: Nền tảng của ư niệm nhân quyền
    Bốn mươi năm sau khi Thomas Hobbes cho ra đời quyển Leviathan, John Lock, một bác sĩ người Anh, sau khi chạy trốn sang Ḥa Lan v́ âm mưu nhằm lật đổ vua Charles Đệ Nhị, đă trở về nước sau cuộc Cách Mạng 1688 và cho xuất bản cuốn sách mỏng tựa đề Second Treatise of Government để biện minh cho cuộc Cách Mạng lật đổ vua Charles Đệ Nhị.
     Cùng bắt đầu với quan điểm lập thuyết của Hobbes, con người đă tự bỏ quyền tự do tuyệt đối của ḿnh để thành lập một nhà nước nhằm bảo vệ quyền tự do này. Nhưng sự khác biệt về ư niệm chính danh của nhà nước là điều xuất chúng trong học thuyết của Lock: các công dân có quyền chọn bất cứ một h́nh thức nhà nước nào mà họ mong muốn , cũng như có quyền thay đổi chính phủ đó vào bất cứ lúc nào. Trong học thuyết của Lock hoàn toàn không có ư niệm tuyệt đối. Bởi v́ nếu chính nhà nước mà người dân đă từ bỏ quyền tự do của ḿnh để tạo nên lại cướp mất tài sản và lấy mất sinh mệnh của ḿnh, th́ con người lại trở về t́nh trạng hỗn loạn của xă hội lúc ban đầu với sự ám ảnh của cái chết. Vậy th́ không có lư do ǵ người dân lại phải từ bỏ t́nh trạng tự nhiên ấy để chịu nép ḿnh dưới sự kiểm soát của nhà nước!
     Lock đă đặt ra nền tảng lư thuyết, không những cho sự h́nh thành các quốc gia Tây Phương hiện nay với những quyền hạn nới rộng của người dân, cũng như sự thiết lập các tổ chức đại diện của dân chúng và chủ quyền của người dân, mà ngay cả tạo cơ sở cho sự h́nh thành của chủ nghĩa tư bản với những sự bất b́nh đẳng cùng tính năng động của cơ chế tư bản đó.
     Chúng ta hăy trở lại t́nh trạng sơ khai của thiên nhiên, con người dĩ nhiên sở hữu thân xác của họ mà cả sức lao động của chính ḿnh. Nhưng họ c̣n sở hữu những thứ ǵ nữa? Lock cho rằng con người sở hữu tất cả những ǵ liên hệ đến sức lao động của ḿnh: các của cải vật chất của thiên nhiên là của chung, nhưng những thứ đó trở thành vật sở hữu của con người khi họ dùng sức lao động để gặt hái, đào xới, mà không cần có sự đồng ư của người khác. Bởi v́ nếu cần phải có sự chuẩn nhận này th́ con người sẽ bị chết đói v́ ho không được chạm đến những phẩm vật thừa mứa đầy dẫy trên mặt đất này. Đây là ư niệm quyền tư hữu lần đầu tiên được Lock đưa vào học thuyết chính trị. Xă hội con người được thành lập, ngoài mục đích duy tŕ một cuộc sống ổn định của các cá nhân, mà c̣n bảo vệ quyền tư hữu các của cải do sức lao động và sự thông minh của con người tạo ra để đem đến một cuộc sống thịnh vượng và đầy đủ cho con người. Sau đó cùng với sự phát minh của tiền tệ, con người có thể tích luỹ của cải, tiền bạc để mua sức lao động của những kẻ không có đất đai. Lock chấp nhận sự bất b́nh đẳng qua sự tích luỹ của cải là một điều hiển nhiên của con người trong t́nh trạng sơ khai lúc ban đầu. Do đó ngoài quyền tự do cá nhân của con người, quyền tư hữu lần đầu tiên được đề cập đến trong học thuyết chính trị mà sau nay được ghi vào trong luật pháp của Hoa Kỳ. Nó cũng mở đầu cho hàng loạt những quyền căn bản khác nữa của con người đă được triển khai qua quá tŕnh tranh đấu và được công nhận trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập và Hiến Pháp của Mỹ về sau này.
     Trong tác phẩm Second Treatise of Government, Lock chủ trương vai tṛ của chính quyền nhằm mục đích duy tŕ an ninh và bảo vệ quyền tư hữu của người dân. Một trong những phương cách để ngăn ngừa tính cách độc đoán của chính phủ là phân chia quyền hạn của nhà nước, và nếu nhà nước cấm đoán quyền tự do của người dân th́ họ có quyền phản kháng lại nhà nước. Nhưng đó không phải là một cuộc nổi loạn mà là một cuộc nổi dậy hợp pháp nhằm đ̣i lại những quyền tự do tuyệt đối mà con người đă từ bỏ trước đây để gia nhập vào khối cộng đồng chung này. Không một ai có thể đặt ḿnh lên trên bản hiến pháp, một văn bản luật pháp tối cao của một quốc gia. Nhưng nếu có kẻ nào vượt qua ranh giới đó, dân chúng có quyền dùng vũ lực để lật đổ kẻ bạo ngược đó.
     Sau John Lock chúng ta c̣n có những nhân vật lẫy lừng khác đă đóng góp vào cuộc tranh luận về tư tưởng tự do dân chủ như Voltaire, Montesquieu, Rousseau... Nhưng chúng ta có thể cho rằng phần lớn những điều cốt yếu cần thiết cho một sinh hoạt tự do dân chủ đă được đề cập đến trong học thuyết chính trị của Lock. Điều này cho phép chúng ta nh́n trở lại quan điểm của các chế độ Cộng Sản c̣n tồn tại ở Á Châu, đặc biệt là Đảng Cộng Sản Việt Nam, hơn 300 năm sau khi học thuyết chính trị tự do dân chủ được triển khai, vẫn c̣n đang áp dụng một chế độ toàn trị độc đoán trong chính sách cai trị của họ.
     Cộng Sản Việt Nam: Một quan niệm chính trị lạc hậu của thế kỷ 17 ?
    Hơn ba mươi năm sau khi Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam, với sự phát triển không ngừng về kinh tế, chính trị của các quốc gia lân bang trong vùng Đông Nam Á, cũng như việc thế giới đă trải qua một cuộc Cách Mạng lớn lao về mạng lưới tin hoc (Internet), Cộng Sản Việt Nam không c̣n có thể bưng bít, sử dụng thủ đoạn tuyên truyền lừa dối dân chúng như những năm chiến tranh trước đây để bám víu vào chủ thuyết cộng sản hầu biện hộ cho việc duy tŕ một thể chế toàn trị ở Việt Nam.
     Những ngôn từ mà cộng sản hay thường dùng như "Đỉnh cao của trí tuệ của Đảng" đă trở thành một thứ tṛ hề không thể nào che dấu dân chúng trong nước về bản chất thực của bè lũ lănh đạo ở Hà Nội. Trước kỳ đại hội đảng cộng sản vừa qua, đă có những cuộc tranh luận cổ xúy cho sự h́nh thành một chế độ dân chủ đa nguyên ở Việt Nam. Tuy nhiên một trong những lư do được đưa ra để bác bỏ việc áp dụng chế độ dân chủ là sẽ làm chậm bước phát triển về mặt kinh tế của đất nước do sự tranh chấp quyền lợi của các đảng phái chính trị, thay v́ nhằm tập trung lực lượng và tài năng vào việc phát triển đất nước. Họ cho rằng cần một chính phủ có đầy đủ quyền lực để thúc đẩy bước phát triển hiện nay hầu bắt kịp các nước lân bang. Nếu không đất nước sẽ rơi vào t́nh trạng nghèo đói và chậm tiến. “Việc áp dụng chế độ dân chủ đa nguyên vào lúc này là một chuyện phiên lưu”. (Quang Linh "Việt Nam có nên chọn con đường đa nguyên chính trị hay không?"). Gớm thay cho cái lưỡi không xương của kẻ mang danh trí thức của chế độ Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy chưa một quốc gia nào áp dụng nền kinh tế thị trường trong chế độ dân chủ tự do là một chuyện phiên lưu. Ngược lại đó c̣n là điều tất yếu cần thiết cho sự thành công của một nền kinh tế thị trường. Dân chúng của các nước đó không những được tự do kinh doanh và thu hoạch những lợi lộc do chính công lao và tài năng của ḿnh tạo ra, mà c̣n tự hào về một môi trường xă hội tự do đề cao nhân phẩm con người. Lập luận đó chẳng qua là một lối ngụy biện của những kẻ mang danh trí thức nhưng v́ miếng cơm manh áo lại cúi ḿnh đi đánh giầy cho một tập đoàn lănh đạo vừa mù, vừa điếc. Mù v́ chỉ biết đi theo đường lối chỉ dậy của Cộng Sản Trung Quốc, đưa đất nước vào con đường phiên lưu của một “nền kinh tế thị trường định hướng theo xă hội chủ nghĩa”. Phiên lưu v́ chính Trung Cộng cũng đang ṃ mẫm đi t́m lối thoát để cứu văn cho sự bế tắc của chủ nghĩa Cộng Sản trước cái tính năng động của một nền kinh tế thị trường đang đ̣i hỏi những thay đổi cấp bách trong cơ sở lư luận của chế độ Cộng Sản. Nếu không nói thẳng là sẽ đưa đến sự phá sản của ư thức hệ Cộng Sản. Điếc v́ dù họ đă được nghe rất nhiều trong các buổi thuyết tŕnh của các phái đoàn kinh tế nước ngoài về sự cần thiết phải sửa đổi những luật lệ căn bản về tài sản, thuế khóa, tài chính, ngân hàng cho phù hợp với nền kinh tế thị trường, nhưng tập đoàn lănh đạo Việt Nam vẫn trân tráo ca ngợi cái chính sách kinh tế què quặt, một thứ quái thai mà chế độ Cộng Sản Á Châu đang nỗ lực đánh bóng để họ có thể kéo dài thêm thời gian ngồi trên đầu trên cổ mà ḅn rút tài sản của nhân dân.
     Thực tế là sau 30 năm qua, một thời gian quá dài cho cộng sản VN để thực hiện việc xây dựng đất nước, nhưng cho đến ngày nay Việt Nam vẫn bị xem là một quốc gia Phi Châu ở Đông Nam Á. Những thay đổi bề ngoài nếu có tại các thành thị lớn, chỉ do hậu quả của việc đầu tư kỹ thuật và tư bản ngoại quốc vào Việt Nam, chứ tập đoàn lănh đạo Việt Nam không có một đóng góp đáng kể nào trong chính sách kinh tế để khuyếch trương và nâng đỡ tài năng trong nước trong việc quản trị và điều hành nền kinh tế quốc gia. Tập đoàn lănh đạo ngu dốt Hà Nội đă không có một sức sáng tạo nào khác hơn là đi theo bước chân của đàn anh Trung Cộng để bảo vệ những đặc quyền đặc lợi của một thiểu số lănh đạo. Thay v́ áp dụng các thể chế pháp luật cởi mở để thúc đẩy sinh hoat kinh tế của dân chúng trong nước, họ vẫn bám víu lấy những luật lệ lạc hậu cố hữu để làm cản trở tính năng động của một nền kinh tế tư bản tự do. Hơn nữa cộng sản VN đă loại bỏ ra ngoài biết bao nhiêu tài năng và trí thông minh của dân chúng ở bên trong và ngoài nước trong các vai tṛ chủ chốt cần thiết cho việc lănh đạo nền kinh tế, để bảo vệ cho quyền thế và địa vị của bè lũ hầu bóc lột mồ hôi và xương máu của nhân dân. (Xin xem bảng xếp hạng dưới đây về mức độ tham nhũng tại Việt Nam).
     Trở lại câu chuyện của cuốn phim "Hero" đă được nói đến ở phần đầu, khối cộng sản Á Châu đă không ngần ngại dùng cái viễn ảnh của một đất nước bị ch́m đắm trong cảnh chiến tranh, chết chóc để đe dọa dân chúng nếu họ không chấp nhận một chế độ toàn trị, qua vai tṛ của tên bạo chúa trong cuốn phim. Đó thật là một điều khủng khiếp nói lên sự thật về một chế độ cai trị khi mà tập đoàn lănh đạo không c̣n một điều ǵ khác hơn để biện minh cho sự tồn tại của ḿnh bằng cách đe dọa sự sinh tồn của dân chúng ( tương tự như quan niệm bản năng sinh tồn của Thomas Hobbes vào thế kỷ 17) ở ngay trong một xă hội tiến bộ văn minh của nhân loại vào thế kỷ 21 như hiện nay. Đảng cộng sản VN đang làm điều đó khi họ cho rằng dân chủ đa nguyên chỉ đem lại một xă hội phân tán, chậm tiến và nghèo đói. Chỉ có một cách duy nhất là phải chấp nhận cái chế độ toàn trị đó mới là sự chọn lựa đúng đắn để họ có thể tiếp tục bóc lột, tham nhũng và củng cố địa vị của bọn chúng trong cấu trúc của xă hội VN hiện nay. Có lẽ không một người dân nào với một tŕnh độ hiểu biết b́nh thường lại có thể chấp nhận được cái lư luận phi lư đó để dung thứ cho sự tồn tại của một chế độ đầy dẫy những bất công và tham nhũng như thế. Thiết tưởng đă đến lúc toàn dân phải đứng lên đ̣i lấy lại cái quyền tự do tuyệt đối của con người.
     Lương Định Văn


     Chỉ số xếp hạng tham nhũng

Rank Country CPI Score
1 Iceland 9.7
2 New Zealand 9.6
5 Singapore 9.4
6 Sweden 9.2
9 Australia 8.8
14 Canada 8.4
15 Hongkong 8.3
17 USA 7.6
40 South Korea 5.0
59  Thailand 3.8
77 Laos 3.3
78 China 3.2
97 Mozambique 2.8
103 Swaziland 2.7
107 Vietnam 2.6

Điểm cho từ 10 (trong sạch) cho đến 0 (Thối nát hết thuốc chữa)
Source: Internet Centre for Corruption Research